Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Chủ Nhật, 13 tháng 7, 2014

Cây kim ở trong bọc dẻ lâu ngày:

Vũ Khoan: Trung Quốc tranh thủ Hội nghị Genève 1954 để "ngồi chiếu trên", chủ trương chia cắt nước ta lâu dài

Nhiều chuyện diễn ra trên bàn cờ quốc tế chịu tác động lớn lắm của các cường quốc do đó phải luôn luôn chăm chú theo dõi những tính toán, động thái và những sự dàn xếp giữa họ với nhau.

Xu hướng của Liên Xô và Trung Quốc lúc ấy là muốn hòa hoãn với phương Tây, riêng Trung Quốc muốn lợi dụng tình thế để xác lập vị trí nước lớn của mình, trong bối cảnh ấy ta cũng chủ trương đàm phán hòa bình.

Tại Giơ-ne-vơ năm 1954 ai và vì sao đã có “sáng kiến” chia cắt nước ta thành hai miền? Tìm ra sự thật về việc này không dễ chút nào. May thay, các tài liệu mật thời đó lâu dần đã được giải mã.

Không chỉ phương Tây mà Trung Quốc cũng có lập trường tương tự, chủ trương chia cắt Đông dương thành hai miền hoặc theo vĩ tuyến 20, hoặc theo vĩ tuyến 16.

Để đạt được yêu cầu đó, ngày 2/3/1954, Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc đã gửi cho Trung ương Đảng ta một bức điện trong đó đề nghị: “…Nếu muốn đình chiến, tốt nhất nên có một giới tuyến tương đối cố định, có thể bảo đảm được một khu vực tương đối hoàn chỉnh. Trên thực tế, giới tuyến đình chiến hôm nay có thể trở thành ranh giới chia cắt trong ngày mai…Đường giới tuyến này càng xuống phía Nam càng tốt. Có thể tham khảo vĩ tuyến 16 độ Bắc”.

Những thông tin trên cho thấy rõ, lúc đó Trung Quốc muốn tranh thủ việc tham gia Hội nghị Giơ-ne-vơ để xác định vị thế nước lớn, “ngồi chiếu trên” với các nước ủy viên thường trực Hội đồng bảo an Liên Hợp Quốc để dàn xếp các công việc thế giới, và để đạt được yêu cầu này đã cùng các nước lớn khác dàn xếp giới tuyến đình chiến, thực chất là ranh giới chia cắt lâu dài. 

Các tài liệu đã được công bố cho thấy lúc ấy thái độ Liên Xô tương đối “bị động”, tập trung chủ yếu vào các vấn đề châu Ấu, “khoán” các vấn đề Viễn Đông cho Trung Quốc. 

Đây lại là một bài học “nhớ đời” củng cố quyết tâm kiên trì đường lối độc lập, tự chủ trong quan hệ quốc tế.

Giơ-ne-vơ để lại bài học gì?

Vũ Khoan
12-07-2014
Thấm thoắt đã 60 năm kể từ khi diễn ra hai sự kiện lịch sử của nước ta liên quan mật thiết với nhau. Đó là chiến thắng Điện Biên Phủ và Hiệp định Giơ-ne-vơ về Đông dương. Về hai sự kiện này đã có cơ man bài viết, cuốn sách; bổ sung điều gì mới mẻ thật khó. Tuy nhiên mỗi người lại có thẻ rút ra điều gì đó có ích cho mình và tôi muốn chia xẻ vài suy ngẫm rất riêng tư về những bài học rút ra qua Hội nghị Giơ-ne-vơ năm 1954 qua một số tài liệu vừa đọc được.
Lúc Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết, tôi còn rất trẻ, mới 17 tuổi, đang theo học tại Khu học xá Nam ninh (Quảng Tây – Trung Quốc) và đương nhiên không hiểu biết gì nhiều về sự kiện này. Trong tiềm thức của tôi chỉ còn đọng lại kỷ niệm về niềm hân hoan trong buổi lễ chào mừng Đoàn đại biểu Chính phủ ta ở Hội nghị Giơ-ne-vơ do Phỏ Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Phạm Văn Đồng dẫn đầu trên đường về nước ghé thăm Trường Niềm vui ấy chộn lẫn đôi chút nỗi buồn không được về lại Hà nội giải phóng sau 9 năm xa cách mà phải đi Liên Xô học tiếng Nga để chuẩn bị phục vụ các chuyên gia Liên Xô sắp sang giúp ta xây dựng lại miền Bắc. Thế rồi số phận run rủi, đang học mới hơn 1 năm, tôi được lấy ra làm việc tại Đại sứ quán nước ta ở Liên Xô và từ ngày đó cuộc đời tôi gắn bó với nghiệp ngoại giao. Xem như vậy có thể nói Hiệp định Giơ-ne-vơ vô hình chung đã tạo nên bước ngoặt trong đời tôi.
Làm việc trong ngành ngoại giao, đương nhiên tôi phải đi sâu tìm hiểu lịch sử ngoại giao Việt Nam, trong đó Hiệp định Giơ-ne-vơ là một mốc quan trọng. Võ vẽ vào nghề, lâu dần tôi ngộ ra một điều là muốn hiểu được các sự kiện quốc tế thì trước hết phải tìm hiểu xem sự kiện ấy diễn ra trong bối cảnh nào? Đối với Hội nghị Giơ-ne-vơ năm 1954 tôi mầy mò tìm kiếm tư liệu để giải mã cho bản thân một số điểm còn thắc mắc. Trước hết đó nguồn gốc xuất xứ của Hội nghị từ đâu, do ai đề xuất, để làm gì…?
Hóa ra mọi chuyện đều do sự dàn xếp giữa các nước lớn: Liên Xô, Anh, Pháp, Mỹ. Còn nước Cộng Hòa Nhân dân Trung Hoa lúc ấy chưa lấy lại được ghế ủy viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc nên không được tham gia dàn xếp việc triệu tập Hội nghị.
Đầu những năm 50 thế kỷ trước là cao điểm của “chiến tranh lạnh”. Dưới tác động của nó, thế giới chia thành hai phe rõ rệt và đã trải qua sự đụng đầu trong cuộc khủng hoảng Béc-lin năm 1948 và các cuộc chiến tranh Triều tiên 1951 và Đông dương đã kéo dài 9 năm trời.
Đúng lúc đó, J.Xta-lin qua đời, nội bộ lãnh đạo Liên Xô trượt dần vào khủng hoảng và có nhu cầu hòa hoãn với phương Tây. Không biết lãnh đạo ta thời đó đánh giá thế nào về cục diện thế giới? Mới đây Nhà xuất bản Chính trị quốc gia có phát hành cuốn “Điện biên phủ, Hội nghị Giơ-ne-vơ. Văn kiện Đảng” , trong đó tôi tthấy tại cuộc họp ngày 31/3 và 1-2/4/1953 của Ban Thường trực Liên Việt Tổng Bí thư Trường Chinh có nhận định:” Làm cho tình hình thế giới bớt căng thẳng, đó là lo lắng chính của phe ta hiện nay trên thế giới…(phe) ta đề ra các vấn đề xung đột có thể giải quyết hòa bình giữa các nước có liên quan…”[1]
Còn Pháp kiệt quệ do chiến tranh Đông dương, Anh muốn vớt vát vai trò quốc tế đang mai một dần nên chấp nhận sáng kiến của Liên Xô triệu tập hội nghị tứ cường ở Giơ-ne-vơ để giải quyết những khúc mắc với nhau ở châu Âu. Riêng Mỹ lúc đầu muốn duy trì căng thẳng để thao túng Tây Âu, kiềm chế Liên Xô nên không muốn họp song sau cũng đồng ý tham gia không phải để đi đến hòa hoãn mà là phá rối. Quả nhiên hội nghị tứ cường chẳng đi đến thỏa thuận nào về các vấn đề châu Âu nhưng lại thỏa thuận sẽ thảo luận vấn đề đình chiến ở Triều tiên và Đông dương. Đơn thương độc mã trong cuộc đối đầu với phương Tây, Liên Xô đòi phải có sự tham gia của Trung Quốc là nước lớn ở Viễn Đông có chung biên giới với cả Triều tiên lẫn Đông dương. Đây chính là cơ hội ngàn vàng đối với Trung Quốc đang khát khao tranh thủ sự công nhận quốc tế, xác lập vai trò nước lớn của mình.
Không biết đối với những người nghiên cứu quan hệ quốc tế khác thì thế nào chứ đối với cá nhân tôi thì những điều nói trên dậy cho một bài học: nhiều chuyện diễn ra trên bàn cờ quốc tế chịu tác động lớn lắm của các cường quốc do đó phải luôn luôn chăm chú theo dõi những tính toán, động thái và những sự dàn xếp giữa họ với nhau.
Liên quan tới chuyện này trong tôi lại nẩy sinh thắc mắc: thế lập trường của ta thế nào? Tiếc rằng, cho tới nay tôi vẫn chưa tiếp cận được những tư liệu gốc về quá trình thảo luận và ra quyết định của lãnh đạo ta về việc tham gia Hội nghị Giơ-ne-vơ cũng như các phương án đàm phán, thỏa thuận. Trong cuốn sách nói trên tôi thấy TBT Trường Chinh nói: “khẩu hiệu đề ra có cái mới là bây giờ ta đề ra đấu tranh ngoại giao” bên cạnh đấu tranh quân sự và đấu tranh về ruộng đất; “lập trường bất di bất dịch của ta là độc lập, thống nhất, dân chủ và hòa bình” với 4 phương châm: (i) những mục đích không thay đổi nhưng có con đường thẳng, có con đường quanh co; (ii) nắm vững nguyên tắc là tôn trọng chủ quyền Việt Nam, bình dẳng, tự nguyện có lợi cả hai bên; (iii) lực lượng chủ quan là điều kiên căn bản để đi tới thắng lợi và (iv) luôn luôn đặt lợi ích của ta trong lợi ích của phong trào hoà bình, dân chủ xã hội chủ nghĩa.[2] Một sự kiện gây tiếng vang lớn lúc đó là bài trả lời phỏng vấn của Bác Hồ cho phóng viên báo Thụy Điển Expressen ngày 26/11/1953, trong đó nói:”…nếu Chính Phủ Pháp đã rút được bài học trong cuộc chiến tranh mấy năm nay, muốn đi đến đình chiến ở Việt Nam bằng cách thương lượng và giải quyết vấn đề Việt Nam theo lối hòa bình thì nhân dân và Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cong hòa sẵn sàng tiếp muốn ý kiến đó…Cơ sở của việc đình chiến ở Việt Nam là Chính phủ Pháp thật thà tôn trọng nền độc lập thật sự của nước Việt Nam”[3]. Nói tóm lại, ta cũng chủ trương điều chỉnh chính sách, mở mặt trận đấu tranh ngoại giao với mục tiêu, phương châm nói trên.
Xem như vậy có thể thấy xu hướng của Liên Xô và Trung Quốc lúc ấy là muốn hòa hoãn với phương Tây, riêng Trung Quốc muốn lợi dụng tình thế để xác lập vị trí nước lớn của mình, trong bối cảnh ấy ta cũng chủ trương đàm phán hòa bình.
Tiếp đến, điều băn khoăn, ray rứt nhất khi nói tới Hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954 là ai và vì sao đã có “sáng kiến” chia cắt nước ta thành hai miền? Tìm ra sự thật về việc này không dễ chút nào. May thay, các tài liệu mật thời đó lâu dần đã được giải mã.
Trong báo cáo đầu tiên gửi về nước ngày 4/5/1954, Đồng chí Phạm Văn Đồng cho biết lúc đầu là Anh, sau đó cả Mỹ và Pháp chủ trương chia cắt Đông dương thành hai miền hoặc theo vĩ tuyến 20, hoặc theo vĩ tuyến 16[4].
Không chỉ phương Tây mà Trung Quốc cũng có lập trường tương tự. Cuốn “Chu Ân Lai và Hội nghị Giơ-ne-vơ” của tác giả Tiền Giang do Nhà xuất bản Lịch sử Đảng Cộng sản Trung Quốc xuất bản tháng Giêng năm 2005 có cho biết: Trong “Ý kiến sơ bộ” (thực chất là Đề án của Trung Quốc tham dự Hội nghị Giơ-ne-vơ) có nói: “Tại Hội nghị Giơ-ne-vơ, cho dù Mỹ có cố gắng tìm mọi cách cản trở việc đạt được một hiệp định có lợi cho sự nghiệp hòa bình, chúng ta vẫn sẽ nỗ lực hết sức để đạt được sự nhất trí và một thỏa thuận nào đó nhằm giải quyết vấn đề, thậm chí là một thỏa thuận tạm thời hoặc thỏa thuận riêng biệt nhằm tạo thuận lợi cho việc mở racon đường hiệp thương giữa các nước lớn để giải quyết các tranh chấp quốc tế”…
Để đạt được yêu cầu đó, ngày 2/3/1954 (tức là 2 tháng trước khi Đồng chí Phạm Văn Đồng gửi về nước bản báo cáo nói trên), Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc đã gửi cho Trung ương Đảng ta một bức điện trong đó đề nghị: “…Nếu muốn đình chiến, tốt nhất nên có một giới tuyến tương đối cố định, có thể bảo đảm được một khu vực tương đối hoàn chỉnh. Trên thực tế, giới tuyến đình chiến hôm nay có thể trở thành ranh giới chia cắt trong ngày mai…Đường giới tuyến này càng xuống phía Nam càng tốt. Có thể tham khảo vĩ tuyến 16 độ Bắc”.[5]
Những thông tin trên cho thấy rõ, lúc đó Trung Quốc muốn tranh thủ việc tham gia Hội nghị Giơ-ne-vơ để xác định vị thế nước lớn, “ngồi chiếu trên” với các nước ủy viên thường trực Hội đồng bảo an Liên Hợp Quốc để dàn xếp các công việc thế giới, và để đạt được yêu cầu này đã cùng các nước lớn khác dàn xếp giới tuyến đình chiến, thực chất là ranh giới chia cắt lâu dài. Các tài liệu đã được công bố cho thấy lúc ấy thái độ Liên Xô tương đối “bị động”, tập trung chủ yếu vào các vấn đề châu Ấu, “khoán” các vấn đề Viễn Đông cho Trung Quốc. Đây lại là một bài học “nhớ đời” củng cố quyết tâm kiên trì đường lối độc lập, tự chủ trong quan hệ quốc tế.
Mặt khác tôi cũng ngộ ra rằng, những cái ta giành được ở Hội nghị Giơ-ne-vơ năm 1954 như đình chiến, quân Pháp phải rút khỏi Đông dương, miền Bắc được giải phóng, các nước tham gia Hội nghị “cam kết tôn trọng chủ quyền, độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của các nước trên (tức là Việt Nam ,Lào và Căm-pu-chia)”[6] là nhờ ở những hy sinh to lớn, thắng lợi vẻ vang của quân dân ta trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp mà đỉnh cao là chiến thắng Điện Biên Phủ. Tuy nhiên trên bàn thương lượng chỉ có thể đạt được những điều đã giành được trên chiến trường. Về vấn đề phân chia vùng tập kết, đồng chí Phạm Văn Đồng đã kiên trì khá lâu phương án lấy vĩ tuyến 13 song các nước khác lại dàn xếp phương án vĩ tuyến 16 – 17 và cuối cùng phương án lấy vĩ tuyến 17 làm giới tuyến đã được chọn lựa.
Về việc này, ngay sau khi ký Hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954, Hội nghị lần thứ 6 (khóa II) Trung ương Đảng ta đã chỉ rõ: những thắng lợi của ta “đã làm cho lực lượng so sánh giữa ta và địch biến chuyển có lợi cho ta nhưng chưa phải biến chuyển căn bản có tính chất chiến lược”[7]. Đứng trên quan điểm lịch sử mà soi xét thì thỏa thuận Giơ-ne-vơ năm 1954 phản ánh tương quan lực lượng lúc bấy giờ, ta khó đạt được kết quả lớn hơn, nhất là cả hai nước tài trợ chủ yếu cho nước ta là Liên Xô và Trung Quốc đều muốn hòa hoãn với phương Tây.
Từ đây lại nẩy sinh một bài học khác là nước ta luôn phải đối mặt với các thế lực hùng mạnh bên ngoài nên chỉ có thể tiến từng bước. Điều này được thể hiện rõ trong giai đoạn 1945 – 1946 khi ta chủ trương “hòa để tiến”. Điều này lại được thể hiện qua Hiệp định Giơ-ne-vơ và lặp lại qua Hiệp định Pa-ri năm 1973 qua đó ta mới đạt được yêu cầu “Mỹ cút”, chứ chưa đạt được mục tiêu “ngụy nhào” – điều mà năm 1975 mới giành được.
Còn một khía cạnh nữa là vấn đề Lào và Căm-pu-chia tại Hội nghị Giơ-ne-vơ. Số là, các lực lượng kháng chiến Lào và Căm-pu-chia không được dự Hội nghị và Hiệp định Giơ-ne-vơ mới chỉ đưa tới việc giải phóng miền Bắc Việt Nam, còn lực lượng Pathét Lào phải tập kết về hai tỉnh Sầm nưa và Phong Sa Lỳ; ở Căm-pu-chia lực lượng Khơme Issarak phải hòa nhập vào thể chế Vương quốc. Lợi dụng thực tế đó một số thế lực xuyên tạc rằng, Việt Nam đã “bỏ rơi” hai nước láng giềng anh em !
Xem lại các tài liệu thì câu chuyện hoàn toàn không phải vậy.Trong bài phát biểu của Đồng chí Trường Chinh được trích dẫn ở trên có đoạn nói “Kẻ xâm lược phải ngừng bắn, đi đến ký hòa ước, ngoại quốc rút quân khỏi Đông dương…Việt – Miên – Lào thống nhất lập trường nên nói Đông dương. Nếu bây giờ chỉ đề ra rút quân đội ngoại quốc Việt Nam thì các bạn Miên – Lào sẽ nói ta thế nào?”. Và tại Hội nghị Giơ-ne-vơ, Đồng chí Phạm Văn Đồng đã dành toàn bộ bài phát biểu đầu tiên cho việc đòi đại diện các lực lượng kháng chiến Lào và Căm-pu-chia phải được tham dự Hội nghị như các thành viên bình đẳng. Lập trường chính đáng này được nhắc đi nhắc lại nhiều lần tại các phiên họp của Hội nghị, được nêu trong kiến nghị 8 điểm đưa ra ngày 10/5/1954…trong đó điểm 1 nhấn mạnh: “Nước Pháp phải công nhận chủ quyền và nền độc lập của nước Việt Nam trên toàn lãnh thổ Việt Nam, cũng như chủ quyền và nền độc lập của nước Khơ-me và nước Pathét Lào”.
Ngày 27/5 Bộ Chính trị điện cho Đoàn ta ở Hội nghị cho ý kiến chỉ đạo: “đồng ý khi bàn vấn đề ngừng bắn và đình chiến cần tranh thủ thực hiện ngừng bắn và đình chiến trên ba nước…Mưu của địch là: nếu chúng phải ngừng bắn ở Việt Nam thì chúng đem bớt quân sang Khơme, Pathét Lào hòng tiêu diệt lực lượng kháng chiến của nhân dân hai nước đó, củng cố địa vị ở đó để sau này quay lại đánh ta…Các anh nên xem lúc nào thuận lợi, đặt lại vấn đề Hội nghị Genève phải mời đại biểu hai chính phủ kháng chiến Khơme và Pathét Lào tham dự…”. Điều thú vị là Bộ trưởng Ngoại giao Pathét Lào là Nu Hắc và Bộ trưởng Ngoại giao Khơme kháng chiến Keo Pha lúc đó đã có mặt tại Giơ-ne-vơ để phối hợp đấu tranh.
Điều dễ hiểu là các nước phương Tây chỉ chấp nhận đại diện các chính quyền gắn bó với họ, không chấp nhận đại diện các lực lượng kháng chiến Lào và Căm-pu-chia tham dự Hội nghị; tách vấn đề Việt Nam bàn riêng; liên quan tới Lào và Căm-pu-chia chỉ đòi cái gọi là quân đội Việt Nam rút khỏi hai nước này, còn mọi chuyện coi như đã an bài.       
Theo cuốn “Chu Ân Lai và Hội nghị Giơ-ne-vơ” nhắc tới ở trên, lúc đầu lập trường của Liên Xô và Trung Quốc đống nhất với ta trong chủ trương giải quyết cả gói ba vấn đề Việt Nam, Khơme và Pathét Lào nhưng “sau trung tuần tháng 5, Chu Ân Lai đã xác định rõ không thể dùng kế hoạch cả gói để giải quyết vấn đề Đông dương, cách tốt nhất là phân biệt đối xử”…Ngày 27/5 Chu Ân Lai đưa ra Hội nghị lập trường 8 điểm và cùng ngày Tân Hoa Xã phát đi bản tin được Chu Ân Lai trực tiếp phê duyệt, trong đó nói “ về các khu vực tập kết quân đội, tình hình của 3 nước Đông dương – Việt Nam, Căm-pu-chia, Lào hoàn toàn khác nhau…vì vậy biện pháp giải quyết cũng không giống nhau” và trong cuộc gặp với Đồng chí Phạm Văn Đồng đêm 12/7 Chu Ân Lai đã nêu phương án quân Pathét Lào tập kết ở hai tỉnh Thượng Lào, còn Căm-pu-chia nên đồng ý rút quân Việt Nam, không đặt ra vấn đề tập kết quân (lúc ấy phía ta dự kiến nếu phải tập kết thì quân Pathet Lào rút về các tỉnh dọc biên giới với Việt Nam). Một tình tiết đáng chú ý là trước đó, ngày 20/6 Chu Ân Lai đã tiếp Ngoại trưởng Chính quyền Phnôm pênh Tep Phan và 21/6 đã tiếp Ngoại trưởng Chính quyền Viên chăn Sananikon bàn bạc nhiều nội dung về quan hệ giữa họ với Trung Quốc và với Việt Nam, về giải pháp tại Hội nghị Giơ-ne-vơ với nhiều tình tiết không ngờ. Tiếc rằng, do khuôn khổ bài viết không trích dẫn được; ai quan tâm nên tìm đọc.
Các tài liệu tôi mới được tiếp cận cung cấp đầy đủ căn cứ để khẳng định rằng, trước sau như một Việt Nam kiên trì bảo vệ lợi ích của các lực lượng yêu nước Lào và Căm-pu-chia, ngược lại các thế lực bên ngoài đã dàn xếp mọi việc của hai nước này nhằm phục vụ cho lợi ích của họ, tách ba nước trên bán đảo Đông dương ra khỏi nhau. Thiết tưởng bài học này vẫn còn nguyên tính thời sự, đoàn kết Việt Nam – Lào – Căm-pu-chia trên cơ sở bình đẳng, cùng phát triển là quy luật sống còn của ba dân tộc.
Giống như mọi sự kiện lịch sử khác, Hội nghị Giơ-ne-vơ năm 1954 về Đông dương ẩn chứa trong mình nhiều khía cạnh không dễ gì nhận chân được ngay. Thời gian là khoảng cách cần thiết giúp mỗi người nhìn rõ được bức tranh toàn cảnh, trong đó mỗi người lại phát hiện ra những sắc mầu đậm nhạt khác nhau tùy theo nhu cầu và nhãn quan của riêng mình. Trên đây là một số cảm nghĩ, phát hiện rất riêng tư nẩy sinh trong đầu tôi khi đọc một số tư liệu gốc mới được tiếp cận liên quan tới sự kiện xẩy ra đúng 60 năm về trước và dường như chúng vẫn tươi mới đối với ngày nay và mai sau.  
———
[1] Đảng Cộng sản Việt Nam. Điện biên phủ, Hội nghị Giơ-ne-vơ. Văn kiện Đảng. Nxb Chính trị quốc gia. Hà nội -2014, tr.350-351
[2] Sách đã dẫn, tr.350-351 và 360-364
[3] Báo Nhân dân, số 152, từ 6 đến 10/12/1953
[4] Sách đã dẫn, tr.372
[5] Xem sách đã dẫn do Bộ Ngoại giao nước ta dịch năm 2008, tr. 34-35 căn cứ cuốn “Truyện Chu Ân Lai” của Nxb Văn hiến Trung ương Trung Quốc xuất bản tháng 2/1998, tr.154-155 và cuốn “Cuộc đời Thủ tướng Chu Ân Lai” của Nxb Nhân dân tháng 1/1997, tr.74-75
[6] Đảng Cộng sản Việt Nam. Điện biên phủ – Hội nghị Giơ-ne-vơ. Văn kiện Đảng. Nxb Chính trị quốc gia. Hà nội – 2014, tr.614
[7] Văn kiện Đảng toàn tập. Nxb Chính trị quốc gia, Hà nội – 2000, t.15, tr. 223


Phần nhận xét hiển thị trên trang

DANG SINH: Kỷ niệm 225 năm Đại cách mạng Pháp 1789 (14-7-1789...

DANG SINH: Kỷ niệm 225 năm Đại cách mạng Pháp 1789 (14-7-1789...: Lê Phú Khải Có lẽ chưa bao giờ nhân loại kỷ niệm Đại cách mạng Pháp 1789 trong một thế giới nhiều biến động và đã nảy sinh một cục diện với ... Phần nhận xét hiển thị trên trang

chương 18 hồi ký “Hồi ức và Suy nghĩ”, nhà ngoại giao kỳ cựu Trần Quang Cơ viết :

Dưới tiêu đề “Đại hội VII và cái giá phải trả cho việc bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc”, trong chương 18 hồi ký “Hồi ức và Suy nghĩ”, nhà ngoại giao kỳ cựu Trần Quang Cơ viết :

“Từ 17 đến 27.6.91 Đảng Cộng sản Việt Nam họp Đại hội lần thứ VII đưa lại nhiều thay đổi quan trọng về nhân sự: Đỗ Mười thay Nguyễn Văn Linh làm Tổng bí thư; Lê Đức Anh nay nghiễm nhiên giữ vị trí thứ 2 trong Đảng, Uỷ viên thường trực Bộ Chính trị kiêm Bí thư Trung ương phụ trách cả 3 khối quốc phòng – an ninh – ngoại giao và lên chức Chủ tịch nước. Võ Văn Kiệt được giới thiệu với Nhà nước cử làm Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng; Đào Duy Tùng thường trực Ban bí thư. Bộ ba Đỗ Mười, Lê Đức Anh, Đào Duy Tùng nắm bộ phận thường trực của Bộ Chính trị và của Ban Bí thư. Đại tướng Võ Nguyên Giáp bị gạt ra khỏi chức Ủỷ viên Trung ương. Còn Nguyễn Cơ Thạch bị bật ra khỏi Bộ Chính trị và chuẩn bị thôi chức Bộ trưởng Bộ Ngoại Giao... (thực ra những thay đổi về nhân sự trong Bộ Chính trị đã được quyết định từ tháng 5 và Trung Quốc đã biết). Dư luận quốc tế xôn xao cho rằng Nguyễn Cơ Thạch là “vật tế thần” trong việc Việt Nam bình thường hoá quan hệ với Trung Quốc. Tôi nghĩ rằng đó mới chỉ là một cách nói đơn giản vì vấn đề không chỉ là bình thường hoá quan hệ mà là phụ thuộc hoá quan hệ. 

Trước hết vấn đề đặt ra là ai sẽ thay anh Thạch giữ chức bộ trưởng ngoại giao ? Từ đầu tháng 7, tôi đã nhiều lần được triệu tập lên gặp Tổng bí thư Đỗ Mười và Trưởng ban Tổ chức trung ương Lê Phước Thọ (người thay Nguyễn Đức Tâm), để được thông báo và đả thông về dự định đưa tôi làm Bộ trưởng Ngoại giao. Lần gặp sáng ngày 10/7/91, thấy tôi vẫn từ chối, Đỗ Mười đã hiểu lầm tưởng tôi không nhận vì chưa được vào Bộ Chính trị như Bùi Thiện Ngộ - người thay Mai Chí Thọ làm Bộ trưởng Bộ Nội vụ - nên hứa sẽ giải quyết chuyện đó sau khi nhận chức Bộ trưởng Ngoại giao. Tôi nói chỉ vì lý do “sức khoẻ” mà xin không nhận: “45 năm nay tôi liên tục công tác, cố gắng làm tốt các công việc được giao, không từ nan. Song lần này không thể nhận. Tôi chỉ có nguyện vọng và làm nốt công việc Thứ trưởng Ngoại giao. Đề nghị các anh quyết định theo phương án chúng tôi đề nghị ngày hôm qua: cử anh Vũ Oanh hay anh Vũ Khoan. Nhân đây tôi xin phản ảnh tư tưởng chung của anh em cán bộ nhân viên Bộ Ngoại giao là có sự đối xử chưa công bằng với Ngoại giao”. 

Vì sao tôi được người ta chọn để thay Nguyễn Cơ Thạch tuy biết rõ tôi có cùng quan điểm về chính trị đối ngoại với anh Thạch ? Tôi nghĩ có 2 lý do: một là, che đậy ý nghĩa chính trị của việc thay thế Nguyễn Cơ Thạch; hai là, cơ chế mới về đối ngoại sau Đại hội VII có khả năng vô hiệu hoá hoàn toàn mới chủ trương và hành động sai khác với quan điểm của mấy vị trong Ban Thường trực Bộ Chính trị mới. 


Sau khi tôi được miễn, đã có một cuộc vận động khá sôi nổi quanh vấn đề này. Những tên tuổi như Vũ Oanh, Hồng Hà, Hoàng Bích Sơn, Vũ Khoan, Nguyên Dy Niên… được nói tới. Cuối cùng Nguyễn Mạnh Cầm, lúc đó đang là Đại sứ ta tại Liên Xô được chọn, mặc dù khi ấy anh còn rất lưỡng lự. 

Sau Đại hội VII, mọi vấn đề quan trọng về đối ngoại của Nhà nước đều do Hồng Hà, Bí thư Trung ương, phụ trách đối ngoại, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Lê Đức Anh và tất nhiên được sự tán thưởng của Tổng bí thư Đỗ Mười, quyết định. Những phần công việc xưa nay vốn do Bộ Ngoại giao đảm nhiệm nay đều do Hồng Hà và Ban Đối ngoại chủ trì. Một thí dụ điển hình về vì ý đồ cá nhân họ sẵn sàng bỏ qua danh dự và quốc thể: Ngày 5/8/91, tại cuộc họp Hội đồng Bộ trưởng, Hồng Hà tuyên bố: ‘Từ nay trong quan hệ với Trung Quốc các ngành cứ tập trung ở chỗ anh Trương Đức Duy (Đại sứ Trung Quốc), không cần qua sứ quán Việt Nam ở Bắc Kinh’. Lê Đức Anh cho biết khi ở Trung Quốc, Phó ban Đối ngoại Trung Quốc Chu Lương có đề nghị: vì lý do kỹ thuật, quan hệ giữa hai Đảng xin làm qua Trương Đức Duy. Hôm sau, Hồng Hà với tư cách Trưởng ban Đối ngoại tiếp Đại sứ Campuchia Ouch Borith, đã thông báo: “Theo sự phân công của Bộ Chính trị Việt Nam, từ nay đồng chí Lê Đức Anh và đồng chí Hồng Hà sẽ phụ trách việc thảo luận giải pháp Campuchia và các vấn đề liên quan. Nếu lãnh đạo Campuchia muốn bàn các vấn đề trên thì đề nghị quan hệ và thảo luận trực tiếp với 2 đồng chí đó. 

Ngày 9/7/91, vừa được bầu làm Tổng bí thư, Đỗ Mười gặp đại sứ Trung Quốc Trương Đức Duy tỏ ý muốn cử Đặc phái viên đi Bắc Kinh để thông báo về Đại hội VII và trao đổi về quan hệ giữa hai nước. Trước đó ít ngày – ngày 11/6/91 – Bộ Ngoại giao ta cũng đã gặp đại sứ Trung Quốc đề nghị mở lại đàm phán cấp Thứ trưởng Ngoại giao hai nước. Ngày 17/7, Trung Quốc trả lời đồng ý gặp cấp Thứ trưởng ở Bắc Kinh từ 5/8 đến 10/8. Hai ngày sau, Trung Quốc trả lời đồng ý việc ta cử Đặc phái viên gặp lãnh đạo Trung Quốc, nhưng lại sắp xếp cuộc gặp Đặc phái viên Đảng trước cuộc gặp Thứ trưởng Ngoại giao… Việc làm trên cho thấy một mặt Trung Quốc muốn gặp ta ở cả hai cấp, mặt khác muốn dùng những thoả thuận với cấp Đặc phái viên để ép ta trong cuộc gặp cấp Thứ trưởng Ngoại giao. Để đề cao công việc này, phía Trung Quốc đã đề nghị thay chữ “Đặc phái viên” thành “đoàn Đại diện đặc biệt của Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam” tuy Đoàn chỉ có 2 thành viên là Lê Đức Anh và Hồng Hà. Hồng Hà lúc đó là Bí thư Trung ương, phụ trách đối ngoại. Phụ tá đoàn là Trịnh Ngọc Thái, phó ban Đối ngoại của Đảng. Tôi nhớ khi đó Bộ Ngoại giao có đề nghị có một Thứ trưởng Ngoại giao là uỷ viên Trung ương đi với đoàn để nắm tình hình vận dụng vào cuộc đàm phán cấp Thứ trưởng Ngoại giao ngay sau đó, nhưng đề nghị không được chấp nhận. Đại sứ Việt Nam tại Trung Quốc Đặng Nghiêm Hoành cũng không được tham dự các hoạt động của đoàn, trong khi đại sứ Trung Quốc tại Việt Nam, Trương Đức Duy lại có mặt trong mọi hoạt động chính thức của đoàn tại Trung Quốc. 

Ngày 28/7/91, đoàn đã đến Bắc Kinh và trong mấy ngày sau đó đã gặp Kiều Thạch, Lý Bằng, Giang Trạch Dân thông báo khá chi tiết về Đại hội VII. Thông báo cả những ý kiến khác nhau quá trình thảo luận, tranh luận và việc biểu quyết những vấn đề quan trọng trong Đại hội, và cơ cấu nhân sự của Ban Chấp hành Trung ương mới..., Giang Trạch Dân và Lý Bằng tỏ ra quan tâm đến việc Việt Nam sẽ có Ngoại trưởng mới (thay Nguyễn Cơ Thạch) trong kỳ họp Quốc hội tháng 8/91, Giang tỏ ý hài lòng: “Từ đáy lòng mình, tôi hết sức hoan nghênh kết quả Đại hội VII của các đồng chí Việt Nam”. 

Đặc biệt mặc dù chuyến đi có mục đích gặp lãnh đạo Trung Quốc thông báo về Đại hội VII và bàn quan hệ hai nước, nhưng Lê Đức Anh và Hồng Hà đã chủ động xin gặp Từ Đôn Tín tới 2 lần, chiều 297 và tối 317 để tạ lỗi (?). Mở đầu cuộc gặp chiều 29/7, Lê Đức Anh đã nói: “Năm ngoái khi đồng chí Từ Đôn Tín sang Việt Nam đã xảy ra một số trục trặc không hay lắm do phía chúng tôi gây ra (!) Đồng chí Nguyễn Văn Linh và chúng tôi khi biết việc này, chúng tôi không vui lắm. Hôm nay gặp đồng chí, tôi nói tình cảm của đồng chí Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười và của tôi... Tình hình trục trặc trong quan hệ là một việc đau lòng, nhất là giữa những người cộng sản. Khúc nhạc cũ đã qua rồi, mong các đồng chí yên tâm”. Còn Từ thì cũng mượn dịp này để than phiền về đại sứ Đặng Ngiêm Hoành: “Một năm nay đồng chí ấy không gặp tôi, trừ khi gặp ở các cuộc chiêu đãi. Đây là lần đầu tiên tôi gặp đồng chí Hoành kể từ tháng 6 năm ngoái” (sự thực là phía Trung Quốc đã có thành kiến với anh Hoành từ trong cuộc đàm phán tháng 6/90 ở Hà Nội). Từ không quên nhắc đến điều kiện không thể thiếu có thể bình thường hoá quan hệ với Việt Nam: “Tôi rất hoan nghênh đồng chí Lê Đức Anh và đồng chí Hồng Hà là từ nay không nói diệt chủng nữa. Khi về Hà Nội nếu gặp Campuchia đề nghị các đồng chí cũng nói ý này... Nếu các đồng chí lãnh đạo Việt Nam sang Trung Quốc mà cái đuôi Campuchia vẫn còn thì chúng tôi khó nói với nhân dân. Mong vấn đề Campuchia được giải quyết thì khi bình thường hoá quan hệ chúng tôi có thể ăn nói với nhân dân Trung Quốc và nhân dân thế giới”. 

Để dọn đường cho cuộc gặp cấp Thứ trưởng ở Bắc Kinh tháng 8/91, tối 31/7 Hồng Hà đảm bảo với Từ Đôn Tín: “Đồng chí Lê Đức Anh và tôi sẽ làm việc trực tiếp với Thứ trưởng Nguyễn Dy Niên (người được chỉ định đi đàm phán với Trung Quốc chỉ vì chưa có “tiền sử” với Trung Quốc) trước khi đồng chí ấy đi Trung Quốc. Chúng tôi phải báo cáo với Bộ Chính trị để có ý kiến chỉ đạo không những về nội dung mà cả về tinh thần và thái độ làm việc. Tinh thần của chúng tôi là phấn đấu làm cho cuộc gặp thành công”. Sau khi đã cam kết từ nay không nói đến vấn đề diệt chủng nữa, Hồng Hà hỏi Từ: “Tôi muốn hỏi đồng chí ngoài vấn đề diệt chủng, còn hai vấn đề gai góc là vấn đề quân đội các bên Campuchia và vai trò LHQ thì phương hướng giải quyết nên thế nào, để chúng tôi có thể góp phần làm cho cuộc gặp thứ trưởng Việt – Trung ở Bắc Kinh sắp tới đạt kết quả tốt”. Xin ý kiến đối phương và hướng giải quyết vấn đề để đàm phán trước khi đàm phán, thật là chuyện có một không hai trong lịch sử đối ngoại ! 

Sau khi ở Trung Quốc về, ngày 4/8/91, Lê Đức Anh và Hồng Hà gặp tôi và Nguyễn Dy Niên tại Văn phòng Trung ương Đảng để chuẩn bị cho Niên đi đàm phán với Trung Quốc. Sau khi anh Niên đọc bản đề án của Bộ Ngoại giao, tôi nói: “Anh Hoành (đại sứ ta ở Trung Quốc) vừa điện về phía Trung Quốc thông báo có 3 buổi làm việc nhưng họ nói có thể làm một buổi là xong. Chắc chắn Từ Đôn Tín sẽ đưa văn bản buộc chúng ta phải thoả thuận. Nếu ta nhận, họ sẽ xì ra cho các nước P5, ASEAN và bạn Campuchia. Ta sẽ ở vào thế phản bội đồng minh, phản bội bạn bè. Nếu ta đòi sửa văn bản của Trung Quốc thì sẽ không ra được văn bản, đàm phán sẽ thất bại. Chúng tôi đã xem lại biên bản thấy Trung Quốc gắn rất chặt vấn đề Campuchia với việc bình thường hoá quan hệ, vẫn coi Campuchia là điều kiện. Trung Quốc rất khôn, khi gặp cấp cao chỉ tập trung vào vấn đề quan hệ hai nước, còn cái xương để lại. Gặm cái xương này, chúng ta phải giải quyết vấn đề có tính nguyên tắc. Ta quyết tâm bình thường hoá quan hệ với Trung Quốc nhưng không được phá quan hệ với Campuchia và không được để thế giới thấy anh Việt Nam là người tráo trở”. Biết tôi quá gai góc, không chịu chấp nhận ý đồ thoả hiệp vô nguyên tắc với Trung Quốc, Lê Đức Anh và Hồng Hà chỉ nói chung chung về chuyến đi Bắc Kinh vừa qua. Hồng Hà nói: “Tinh thần tôi nắm được là ý Trương Đức Duy và Từ Đôn Tín đều lo cuộc gặp Thứ trưởng thất bại. Từ có hỏi: Không biết đồng chí Thứ trưởng nào gặp tôi có nắm được tinh thần này không ?” Tôi liền bảo: “Như vậy càng rõ là họ có yêu cầu cao nên họ sợ ta không thể chấp nhận được”. Hồng Hà nói: “Tôi hiểu họ muốn bình thường hoá quan hệ là chính nên họ lo”. Tôi đáp: “Về mặt này thì phải nói là Việt Nam lo hơn vì Việt Nam mót bình thường hoá quan hệ với Trung Quốc hơn.” Vào cuối buổi họp, Hồng Hà nói: “Chuyến đi của anh Niên là thuận lợi, sau chuyến đi của anh Lê Đức Anh. Anh Niên cũng là nhân vật mới, không có “tiền sử”. Khi nhắc đến tháng 6/90 họ rất cay cú”. Lê Đức Anh thêm vào: “Sau tháng 6/90 lại có phát biểu với báo chí của hai bên nên càng tích tụ thêm, gắng thêm”. (ý nói đến lần sau đàm phán tháng 6/90, giữa tôi và Từ Đôn Tín có sự phê phán nhau trên báo chí). Và đến chiều, khi họp Thường trực Bộ Chính trị bàn về việc đàm phán với Trung Quốc họ chỉ triệu tập anh Niên, không triệu tập tôi. 

Được biết trong cuộc họp này Tổng bí thư Đỗ Mười đã khẳng định là không nên vì vấn đề Campuchia mà cản trở việc bình thường hoá quan hệ của ta với Trung Quốc. Về vấn đề Campuchia, họ chỉ thị cho anh Niên thoả thuận với phía Trung Quốc: 


1. Không nói về vấn đề diệt chủng. Lê Đức Anh nói phải dứt khoát thôi vấn đề diệt chủng. Và Tổng bí thư Đỗ Mười nhấn thêm: “Nếu nói vấn đề diệt chủng tức là đồng minh với Mỹ chống Trung Quốc” (!) 
2. Nâng cao vai trò SNC Campuchia, hạ thấp vai trò LHQ. 
3. Giảm quan các bên Campuchia 50% 
Để đảm bảo cuộc đàm phán không đi chệch khỏi quỹ đạo đã dàn xếp trước với Trung Quốc. Hồng Hà còn để Trịnh Ngọc Thái, phó ban Đối ngoại, ở lại Bắc Kinh để tham gia đoàn đàm phán, thực chất để giám sát Nguyễn Dy Niên có theo đúng những điều họ đã thoả thuận trước với Trung Quốc không. 

Ngày 10/8/91, sau khi cái gọi là cuộc đàm phán này đạt kết quả đúng ý Trung Quốc (hoan nghênh Sihanouk giữ chức chủ tịch SNC, ủng hộ văn kiện khung của LHQ về giải pháp Campuchia), vào đúng ngày Quốc hội Việt Nam thông qua việc bổ nhiệm Nguyễn Mạnh Cầm thay Nguyễn Cơ Thạch làm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao, Ngoại trưởng Trung Quốc Tiền Kỳ Tham nhận tiếp Nguyễn Dy Niên và ngỏ lời mời tân Ngoại trưởng Nguyễn Mạnh Cầm thăm Trung Quốc ngày 16/9/91 để chuẩn bị cho cuộc gặp cấp cao Trung – Việt ở Bắc Kinh. 

Ta đã dự kiến sau cuộc đàm phán ở Bắc Kinh sẽ sang PhnomPenh thông báo cho bạn Campuchia nhưng tối 18/8/91 Hồng Hà lại gọi điện chỉ thị: “Theo ý kiến đồng chí Lê Đức Anh, anh Niên không phải đi Campuchia thông báo với bạn nữa và cũng không thông báo cho bất cứ ai về cuộc đàm phán ở Bắc Kinh vừa qua” (mặc dù phía Trung Quốc đã thông báo cho các nước ASEAN và các nước phương Tây rồi). Và còn nói thêm: “Từ nay trở đi, trên giấy trắng mực đen đùng ghi ý đồ của Trung Quốc nữa (?) vì vấn đề này Bộ Chính trị đã nắm rồi.” 


Nói chung, từ sau Đại hội VII, tiến trình bình thường hoá quan hệ Việt Nam – Trung Quốc như cỗ máy đã được tra dầu đầy đủ, diễn biến trơn tru theo trình tự đã định. Ngày 5-10/11/91, sau khi Hiệp định về Campuchia được ký kết ở Pari, Tổng bí thư Đỗ Mười và Thủ tướng Võ Văn Kiệt thăm chính thức Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa để hoàn thành việc bình thường hoá mối quan hệ bị trục trặc lớn từ tháng 2/79. Nhưng trong khi lãnh đạo ta ôm kỳ vọng cùng Trung Quốc “bảo vệ chủ nghĩa xã hội chống đế quốc” thì họ đã xác định quan hệ với ta là “thân nhi bất cận, sơ nhi bất viễn, tranh nhi bất đầu” (thân nhưng không gần, sơ nhưng không xa, đấu tranh nhưng không đánh nhau). Trung Quốc nói thế song luôn luôn lấy thế nước lớn để lấn chiếm lãnh thổ lãnh hải ta, và hiểm độc nhất là không ngừng tác động vào nội bộ ta.” 


Trần Quang Cơ 


Hồi ký “Hổi ức và Suy nghĩ” (Trích) 


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Bước qua lời nguyền

Diễn Đàn 


Nguyễn Trương

11-07-2014

Khi nhà cầm quyền Trung Quốc chủ động trở lại gây hấn ở vùng biển của Việt Nam tại Biển Đông từ tháng 5 năm nay, khắp Việt Nam và khắp những nơi có người Việt Nam sinh sống dường như đã tự nhiên có sự xích lại gần nhau hơn, bất kể những khoảng cách tâm lý xã hội, được hình thành trước đó do lịch sử. Nhà toán học Ngô Bảo Châu trong bài viết ngắn Ôn bài trên trang cá nhân của mình có nói “Cái mà Trung Quốc muốn chưa chắc đã là dầu hỏa, mà là sự thần phục vô điều kiện của Việt Nam ”. Chính sự mong muốn xấc xược, kẻ cả đó của Trung Quốc có lẽ đã khiến tinh thần Việt Nam nổi giận và trở thành chất gắn kết cộng đồng người Việt Nam nhanh hơn. Chắc chắn chưa thể hết, nhưng những hiềm khích, thậm chí được nâng lên như những lời nguyền, có vẻ như đã vỡ dần ra, đã tan dần ra từ các hoạt động mang tính học thuật và tiến bộ xã hội có mục tiêu chung: bảo vệ núi sông bờ cõi Việt Nam, vì lợi ích của dân tộc Việt Nam. Như hai câu chuyện dưới đây.

Câu chuyện thứ nhất, ở hội thảo quốc tế Hoàng Sa – Trường Sa : sự thật lịch sử mới diễn ra tại Đà Nẵng ngày 20.6.2014, Tổng Thư ký Hội Khoa học Lịch sử Đà Nẵng, Lưu Anh Rô đã không ngần ngại sử dụng những tài liệu lưu trữ “Mật” và “Tuyệt mật” của chính quyền Việt Nam Cộng hòa từ năm 1954 đến 1974 để làm bài tham luận mang tính bằng chứng lịch sử không thể tranh cãi về chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa – Trường Sa.

Tham luận có tựa đề “Thủ đoạn ‘ngư phủ – tàu lạ’ của Trung Quốc để lấn dần từng bước, rồi thực hiện một cuộc ‘tiểu chiến tranh‘ cướp đoạt quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam ”. Trong tham luận này, Thạc sĩ Lưu Anh Rô đã trích dẫn lời Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Trần Văn Hữu của Chính phủ Quốc gia Việt Nam của Bảo Đại tại Hội nghị quốc tế San Francisco có 51 nước tham dự (ngày 7/9/1951), như sau: “Việt Nam rất hứng khởi ký nhận trước nhất cho công cuộc tạo dựng hòa bình và cũng vì vậy cần thành thật tranh thủ tất cả mọi cơ hội để dập tắt tất cả những mầm mống tranh chấp sau này, chúng tôi xác nhận chủ quyền đã có từ lâu đời của chúng tôi (Việt Nam) trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa ”. Lời xác nhận chủ quyền đó của phái đoàn Việt Nam, theo trích dẫn trong tham luận của Lưu Anh Rô, đã được ghi vào văn kiện của Hội nghị San Francisco (1951) với đa số tán thành và không hề có bất kỳ phản ứng chống đối hay yêu sách của các quốc gia tham dự.

Tham luận của Lưu Anh Rô còn trích dẫn thêm nhiều tài liệu lưu trữ “tuyệt mật” của Việt Nam Cộng Hòa, trong đó có đoạn “Căn cứ theo các không ảnh do Đệ thất hạm đội Hoa Kỳ chụp ngày 29/7/1960 và sau khi so sánh với nhiều thí liệu không ảnh của ta chụp ngày 5/3/1959, thiểm Bộ được biết Trung cộng đã thiết lập thêm một con đường xe hơi có thể chạy được xuyên từ Tây Nam tới Đông Bắc đảo (đảo Phú Lâm – nơi Trung Quốc chiếm đóng bất hợp pháp vào năm 1956) và đã làm thêm một khu công thự gồm 5 dãy nhà 3 căn ”.

Nhận ra mưu đồ chiếm đóng lâu dài này của nhà cầm quyền Trung Quốc, tài liệu lưu trữ cho biết, chính quyền Việt Nam Cộng hòa đã không ngừng gia tăng bảo vệ, kiểm soát các đảo và vùng nước phụ cận đồng thời cực lực lên án hành động leo thang của Trung Quốc. Tuyên cáo của Chính phủ Việt Nam Cộng hòa ngày 7/9/1967 đã tái xác định vấn đề đặc quyền lãnh hải của mình trong vùng quần đảo Hoàng Sa, trong đó có đoạn “Ranh giới của phần thềm lục địa tiếp cận với lãnh hải Việt Nam Cộng Hòa thuộc pháp quyền và chịu sự kiểm soát trực tiếp của chính phủ Việt Nam Cộng hòa, ấn định chiếu theo các quy ước và tiêu chuẩn Quốc tế và đã được công bố đầy đủ. Bởi vậy, chính phủ Việt Nam Cộng hòa coi là vô giá trị và vô hiệu lực mọi quyền đặc nhượng, do một quốc gia khác cấp giữ lấn vào phần thềm lục địa của Việt Nam Cộng hòa. Những công ty thụ hưởng quyền đặc nhượng ấy phải gánh chịu mọi trách nhiệm và mọi rủi ro nếu họ muốn tiến hành những công tác tìm kiếm và khai thác khoáng sản trên phần thềm lục địa của Việt Nam Cộng hòa mà không có sự cấp quyền hợp lệ của chính phủ Việt Nam Cộng hòa ”.

Tài liệu lưu trữ của Việt Nam Cộng hòa hôm qua đã trở thành một trong những chứng cứ quan trọng để Việt Nam hôm nay sử dụng đấu tranh bảo vệ toàn vẹn chủ quyền đất nước. Đó là điều rất gần đây thôi nhiều người không thể hoặc chưa thể tin trở thành hiện thực. Thế nhưng đó đã là hiện thực.

Câu chuyện thứ hai, ở Thành phố Hồ Chí Minh đầu năm 2014 đã khởi động một chương trình xã hội tự phát với lời tâm tình của những người khởi xướng, thật nhẹ nhàng, như sau : “Chắc chắn, ở đâu trên Tổ quốc này cũng còn rất nhiều sự hi sinh cần được nhìn nhận, những số phận cần được sẻ chia. Và Hoàng Sa đã được chọn như một nhịp cầu để nối các nghĩa cử ấy và mong trên nhịp cầu này sẽ bắt đầu những bước đi chung của người Việt muôn phương ”. Sự mong muốn và niềm hi vọng của những người đang bắc thêm một nhịp cầu nối các số phận Việt Nam lại với nhau bước đầu đã thành hiện thực. Một phần trong số các tử sĩ, liệt sĩ của các trận chiến ở Hoàng Sa 1974 và Gạc Ma – Trường Sa năm 1988 đã bắt đầu nhận được sự chăm sóc của cộng đồng người Việt bốn phương gửi về Nhịp cầu Hoàng Sa, tính tới nay số tiền tiếp nhận được tổng cộng là 1.707.965.042 đồng. Không câu hỏi “ vì sao ” nào gửi kèm theo mỗi sự đóng góp. Không “ hòn đá ” nào được ném vào chương trình này từ những người tử tế, ở bên này hay bên kia…

Từ những việc làm với mong muốn góp phần nối liền các bến bờ chia cắt ấy, có thể nào không hi vọng rằng mọi lời nguyền, sớm hay muộn, đều có thể bước qua vì chính những điều lớn lao hơn mỗi cá nhân: tình người và tình tự dân tộc.

Nguồn: Diễn Đàn

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thứ Bảy, 12 tháng 7, 2014

Các bác nhầm rùi, nào có ai khôn lỏi đâu?

Giá đắt và đau cho sự khôn lỏi 

Mạnh Kim/FB Manh Kim
.
Nhà văn Nguyễn Quang Lập: Ngồi im, trước sau gì Mỹ cũng nhảy vào. Mình không mất chủ quyền cũng không mất ông bạn bốn tốt. Đó là sự tính toán khôn lỏi. Bây giờ thượng viện Mỹ ra nghị quyết về Biển Đông, lắm anh rung đùi tự cho mình mưu cao kế sâu. Nhưng hãy đợi, sự khôn lỏi nhất định phải trả giá rất đắt và rất đau.
.  

Việc Thượng viện Mỹ thông qua Nghị quyết “S.Res.412” ngày 10-7-2014, xảy ra trong bối cảnh Ngoại trưởng John Kerry vừa đến Bắc Kinh dự cuộc họp Đối thoại Kinh tế và Chiến lược Hoa Kỳ-Trung Quốc, là bằng chứng nữa cho thấy mức độ rắn tăng dần của Mỹ đối với Trung Quốc. 

Cần nói rõ, “S.Res.412” là nghị quyết được đưa ra trình Thượng viện ngày 7-4-2014 và nó được soạn trên tinh thần nhấn mạnh sự ủng hộ của Chính phủ Mỹ về tự do hàng hải cũng như việc tuân thủ luật pháp quốc tế về việc sử dụng vùng biển và không gian tại khu vực châu Á-Thái Bình Dương, chứ chẳng phải “chờ” đến sự kiện giàn khoan HD-981 (1-5-2014) mới bắt đầu được soạn, dù rằng nội dung “S.Res.412” đã được điều chỉnh vào ngày 20-5-2014 trong đó có cập nhật sự kiện giàn khoan. Nói vậy để thấy nhân tố Trung Quốc đã làm nóng nghị trường Mỹ lâu nay rồi, bất chấp có sự kiện giàn khoan hay không. Diễn giải rằng Thượng viện Mỹ “ủng hộ Việt Nam” bằng “S.Res.412” là không đúng. Mỹ chẳng việc gì “ủng hộ Việt Nam” cả khi Việt Nam không hề có vẻ gì cần đến Mỹ!
“S.Res.412” chỉ là một bước tiếp theo trong tiến trình Mỹ “đánh” Trung Quốc bằng ngoại giao. Đó là một thể hiện nữa của cuộc so găng tranh giành vị thế khu vực giữa hai anh lớn Mỹ-Trung. Các động thái leo thang ào ạt bằng chiến lược đánh chiếm cực nhanh khiến khu vực lẫn Mỹ không kịp thở của Trung Quốc đã buộc Washington phải đạp ga tăng tốc. Diễn biến từ đầu năm đến nay, về việc Mỹ liên tiếp cáo buộc Trung Quốc bằng ngôn ngữ dứt khoát hơn, đã cho thấy điều đó. Nói cách khác, làm gì thì làm, Mỹ không thể bỏ châu Á-Thái Bình Dương cho Trung Quốc.

Tuy nhiên, vấn đề ở chỗ, nhiều nước khu vực, nắm được tâm lý này, đã lợi dụng chính sách trên của Mỹ để đẩy một phần chính sách đối ngoại của quốc gia mình, đặc biệt vấn đề tranh chấp biển Đông, cho… Mỹ! Chẳng việc gì phải nghiêng hẳn về phía Mỹ cho rách việc! Trước sau gì Mỹ nóng ruột quá thì cũng nhào vô! Lối hành xử như vậy thật ra chỉ giúp “mua thời gian” trong ngắn hạn thôi. Đến lúc “quỹ thời gian” cạn rồi thì làm gì?

 Cần phải nhấn mạnh rằng, chính sự không dứt khoát của nhiều nước khu vực đã khiến Trung Quốc có quá nhiều thuận lợi để thực hiện chính sách bành trướng. Nước Mỹ đã báo động lâu rồi, từ khi Obama mới lên ghế tổng thống kìa, nhưng sự phản hồi từ nhận thức mối đe dọa Trung Quốc mà Mỹ nhận được của khu vực là quá ít. Trong khi đó, chính sách Obama là quá rõ: chỉ chơi với những tay có thái độ rõ ràng, như Myanmar hoặc Philippines. 

Gút lại, Mỹ không thể và không bao giờ bỏ châu Á. Họ đang cần sự ủng hộ khu vực để làm được điều đó. Một liên minh chống Trung Quốc đang hình thành. Thậm chí Washington còn có thể đang mượn tay Nhật để móc cả Bắc Triều Tiên về phía mình. Một khi liên minh đó trở nên gắn kết rộng và sâu hơn, Mỹ sẽ chẳng còn cần những anh trước nay chỉ đứng vòng ngoài dòm ngó xem tình hình thế nào. Lúc đó, cần Mỹ thì đã muộn, hoặc phải trả bằng cái giá khác hơn bây giờ!

.......................

Nguồn: Quê Choa

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Phạm Toàn: ANDRE' CƯƠNG QUYẾT ...LAI KINH KÝ SỰ



 .

André Cương Quyết… lai kinh ký sự

Phạm Toàn

Ngày thứ nhất

Ngày 9 tháng 7 năm 2014 – Hồi 2 giờ sáng: chợt nhớ ra là chưa gửi cho Cu Cậu số điện thoại của mình.

Nói qua vì sao tôi gọi André Cương Quyết là Cu Cậu. Chỉ vì cu cậu kêu tôi là “anh”, và tôi cũng hay kêu cu cậu là “thằng em”.

Mấy năm liền, tôi chỉ gặp André Cương Quyết qua mạng Internet. Anh Cu gửi bài, nhờ tôi dịch, và chuyển cho một trang blog thích hợp chịu đăng. Thường là trang Bauxite đăng luôn, sau đó Ba Sàm đăng lại. Bây giờ có Văn Việt nữa.

Hình như lần đầu tiên hai anh em “mày tao chi tớ” với nhau là lần Cu Cậu viết nhại câu đầu quốc ca Pháp: Allons,marchands de la patrie… để giễu tổ quốc 1 của anh vì những lý do lợi lộc kinh tế đã quay lưng lại với cái Đẹp Pháp để làm vài chuyện xấu xí Pháp-Việt, đụng chạm đến tư cách và tình cảm công dân Pháp-Việt của André. Bữa đó, tôi cao hứng nhại Tố Hữu dịch Hỡi những con buôn của giống nòi – có lẽ vì thỏa mãn sự phục thù Pháp-Việt của André Cương Quyết, nên anh đã tặng tôi danh hiệu “võ sĩ nhào lộn ngôn ngữ”.

Trở lại ký sự: 2 giờ sáng mình gửi cu cậu số điện thoại.

Ngày 9 tháng 7 năm 2014 – Hồi 6 giờ: chuông điện thoại reo và một giọng cố tình ồm ồm “à lố”, và mình biết ngay là ai rồi. “Anh đến khách sạn em ở nha. Nhưng không đến bây giờ. Em phải ra Nội Bài đón thằng con trai và bạn nó. Anh đến em lúc trước 11 giờ nha”.

Tôi gọi Phạm Xuân Nguyên. Đường phố loanh quanh mắc kẹt, 11 giờ hơn chúng tôi mới đến khách sạn số 29 Hàng Mắm. Cu cậu cũng không cao to lừng lững, so với “ông anh” thì cao hơn chút chút, nhưng người chắc nịch, ôm rất chặt, nét mặt không bao giờ nằm im mà khi nói thì nhảy nhót lung tung – nét mặt này bọn vô cảm ghét lắm đấy! – và khi nói chuyện bao giờ cũng sẵn sàng thêm vài ba động tác… Bàn tới việc đến thăm lão tướng Nguyễn Trọng Vĩnh, đang ngồi André Cương Quyết đứng phắt dậy, lấy bàn tay phải đưa ngang mắt chào, miệng hô “Mon général… André Menras Hồ Cương Quyết à vos ordres!” (“Thưa tướng quân, André Menras Hồ Cương Quyết nhận lệnh của Ngài!”) sau đó mới tiếp tục chuyện khác… Tôi báo cho André Cương Quyết một vài hoạt động thêm vào lịch Lai kinh của anh. Khi nói đến lịch phỏng vấn của TV Quân đội, André Cương Quyết lại đứng phắt dậy, hệt một chú binh nhì mới nhập ngũ được gọi nhận bộ quân phục đầu tiên trong đời…

Sau khi thống nhất công việc sáng hôm sau, Phạm Xuân Nguyên mang đĩa gốc đi in, bỏ lại hai chúng tôi ngồi tán gẫu. Nói là “tán gẫu” nhưng có khi nào lại chỉ là tán cho qua thì giờ. Trong câu chuyện, André Cương Quyết hết sức thuyết phục tôi không được bi quan. Anh thuyết phục tôi: “Làm sách giáo khoa, đổi mới công cuộc dạy dỗ trẻ em, thế là rất lạc quan rồi, đừng nói ra những ý tưởng bi quan”… 

Tôi tiếp tục nhìn gương mặt André Cương Quyết, thấy cu cậu hao hao giống anh chàng Cyrano de Bergerac trong bộ phim cùng tên. Nếu cái mũi anh dài hơn chút nữa… và cái vẻ hoạt bát sôi sùng sục kia cùng cái tính “hề” tinh tế ấy sẽ càng khiến André Cương Quyết bất hủ.

Ăn trưa xong, tán gẫu lát nữa thì đã hai giờ chiều. Cho André Cương Quyết ngủ trưa một giấc con con để 3 giờ chiều anh còn đến đài Tiếng nói Việt Nam làm cuộc phỏng vấn đầu tiên đánh dấu cuộc Lai kinh lần thứ hai vào năm nay 2014.

Nước mắt nhà văn Hà Nội

8 giờ 30 sáng ngày 10 tháng 7 năm 2014, hội trường 19 Hàng Buồm đã đông đủ. Nét mặt Phạm Xuân Nguyên có vẻ hơi căng. Phần vì cái máy chiếu thiếu tin cậy. Phần nữa, rất có thể, cũng lo như Chu Hảo khi anh gọi điện hỏi tôi “Phim có giấy phép chiếu chưa ấy nhỉ?”. Lo chớ, ngộ nhỡ có ai đó “hỏi thăm khéo” xem đã có giấy phép chiếu phim chưa. Chắc là chưa ai “hỏi thăm”, nhưng như vậy lại càng căng, thà cứ bùng ra một phát…

9 giờ, bà con yên lành im phăng phắc cùng lặng người nghe tiếng hò não nuột “Hoàng Sa trời nước mênh mông, người đi thì có mà không thấy về” và cùng đọc thầm câu chuyện bằng hình dài 59 phút của André Cương Quyết.Anh ngồi cạnh tôi. Khi thấy trên màn hình những tờ biên lai Ngân hàng Việt Nam thu tiền phạt ngư dân Việt Nam để chuyển trả cho Trung Quốc, tôi dứ dứ ngón tay ra vẻ nói với anh “Đễu… đễu nhé!”. “Đễu” (chứ không phải “đểu”) là một đặc ngữ anh em chúng tôi bịa ra với nhau từ những năm 1960-70 thế kỷ trước. Khi nào tức quá, mà lại buồn quá, muốn gầm lên mà không gầm được, như bây giờ tạm gọi là “bức xúc”, thì chúng tôi bịa ra một chuyện đùa, và là đùa rất “đễu”. Thì đó, trên màn hình, ngư dân thì chết, mất tàu thuyền, mất ngư cụ, mất cá, nhưng lại còn bị “nước lạ” chúng nó phạt, và Ngân hàng Việt Nam lại đóng vai thu ngân và chuyển ngân, đưa chuyện đó thật cụ thể tỉ mỉ lên phim, thế chẳng “đễu” thì là gì? Nói phỉ thui, phim bị cấm chiếu từ năm 2011 là đúng – “đúng” theo nghĩa đễu!

Người biết đùa thì cũng biết cách bộc lộ cảm xúc chân tình: tôi thực sự bị cuốn hút vào cảnh người dân nhào đất sét với bông gòn rồi nặn hình nhân làm lễ tế các chiến sĩ hải đội Hoàng Sa và vô số ngư dân ra đi không về chỉ để lại cho vợ con những mộ gió nơi quê nhà. Tôi khẽ nắm chặt cánh tay André Cương Quyết và chỉ buông ra khi tiếng hò lại cất lên kết thức bộ phim, Hoàng Sa trời nước mênh mông… 

Nhà văn Hoàng Quốc Hải mở đầu giao lưu sau câu chuyện chừng mươi phút của André Cương Quyết. Hoàng Quốc Hải nghẹn ngào đừng một lát mới cất lời được. Các diễn giả sau bình tĩnh hơn, mỗi người một ý, tất cả đều cảm mến tấm lòng yêu tổ quốc thứ hai của André Cương Quyết. Ai ai cũng thấy người “đồng bào” mới của mình đã đem mình tới gần hơn với những đồng bào ngư dân đau khổ ở miền Trung. Có nhà văn còn đề nghị in băng này ra bán cho bà con hoặc đề nghị Đài Truyền hình Hà Nội phát băng này thay cho việc phát phim Tàu (hoặc phim Hàn). Mục sư Nguyễn Trọng Việt lịch sự và nhã nhặn nói tới công cuộc Giáo dục. Có vài nhà văn, cùng với đạo diễn Trần Tiến Đức, bàn về việc Việt Nam cần có đồng minh, cần kiện bọn Hán tặc ra Tòa quốc tế…

André Cương Quyết đáp lại những tình cảm của các nhà văn Hà Nội bằng một câu chuyện tiếng Việt cực chuẩn. Chỉ một lần anh phải dừng lại hỏi ông anh trợ lý về một từ cần nói bằng tiếng Việt. André Cương Quyết nói đại ý thế này: 

1. Anh không chú ý đến chính trị. Trong vấn đề Hoàng Sa, anh chú ý nhiều hơn đến đời sống ngư dân miền Trung. Nhìn cuộc sống của họ mà đau lòng quá. 

2. Ngư dân hy sinh rất nhiều mà hầu như không bao giờ được che chở đầy đủ đúng mức. 

3. Anh đang vận động thành lập Hội Quốc tế đòi quyền sống cho nhân dân (ngư dân) Việt Nam.

4. Muốn kiện Trung Quốc thì cũng phải có tiền và có người am hiểu luật pháp, Quỹ quốc tế sẽ giúp vào việc đó.

5. Chưa cần nói tới chủ quyền, chỉ kiện về nhân quyền (chuyện đánh đập bắt bớ ngư dân) cũng đủ cho bọn Tàu tiêu ma danh dự rồi! 

Hầu như cả Hội Nhà văn Hà Nội đã đứng lên vỗ tay hoan nghênh những lời lẽ vô cùng chính trị của André Cương Quyết, vì đó là lời lẽ của sự nhạy cảm đối lập với cái vô cảm của những gương mặt khó ai có nổi thiện cảm.André Cương Quyết đến và ngay lập tức thành người nhà vì có ngay những người bạn chia sẻ những tình cảm lớn.

Lúc ăn trưa với nhau, mới có dịp hỏi André Cương Quyết chuyện đài Tiếng nói Việt Nam hôm qua. Anh cho biết hôm qua quay từ 3 giờ chiều kéo tới 7 giờ 30 tối. Cả thu tiếng lẫn thu hình. Và anh cho biết đài hẹn sẽ phát sóng. Với thái độ bi quan thường lệ, tôi bảo anh: chờ xem, đừng tin ngay. Và đến quãng nửa đêm về sáng, tôi đã được coi đoạn ghi hình phỏng vấn André Cương Quyết – cô phóng viên xinh quá trời, thảo nào phỏng vấn kéo dài bao nhiêu thì anh cu André cũng vẫn cứ là người Cương Quyết!!! 

Không nói đễu đâu đấy!

Hò reo ở hội trường tầng tư 

Ngày 11 tháng 7, 14 giờ.

Hội trường tầng tư nhà xuất bản Tri thức, Quỹ văn hóa Phan Châu Trinh, có khán giả đến xí chỗ từ lúc mới hơn 1 giờ. Đề phòng đông người không có chỗ gửi xe gây tắc đường, tạo cớ cho thế lực thù địch gây rối, Chu Hảo đã nhắn sớm cho bè bạn nên đến sớm để quãng 2 giờ thì cho đóng cổng cơ quan. 

André Cương Quyết đến sát giờ, được đạo diễn Trần Văn Thủy đón và đưa vào phòng Chu Hảo. 

Với sự nhẹ nhàng nhưng không kém phần đễu, Chu Hảo giới thiệu “cuộc chiếu phim hôm nay không có yếu tố nước ngoài, vì anh André Menras Hồ Cương Quyết là người Việt, được Chủ tịch nước Việt Nam cấp quốc tịch”.

Cuộc chiếu phim bắt đầu. Chiếu xong, những câu hỏi dồn dập đầu tiên là của Trần Văn Thủy: Sao lại cấm phim hay và hiền lành thế này? Ai cấm chiếu phim này? Có lệnh viết không? Họ lấy lý do gì để cấm? 

Sau khi André Cương Quyết giải thích qua loa chuyện cấm chiếu phim này năm 2011 – khi hội trường đã đông đủ khán giả được mới thì có lệnh miệng cấm – và một ông Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân thành phố Hồ Chí Minh sau này giải thích cho André Cương Quyết rằng thì là “Thế đồng chí không tin Đảng à?”.

Hôm nay, trước khán giả ở hội trường tầng tư Liên hiệp các Hội Khoa học Kỹ thuật Việt Nam này, đặc biệt sau hơn mười phút Trần Văn Thủy chiếm micro dốc bầu tâm sự của người đã làm xong phim thì bị cấm (mà lại phim hay, sau này ẵm bao nhiêu giải mới cáu chứ!) André Cương Quyết bỗng nói đùa nhiều hơn, cả hội trường vỗ tay rào rào khi thấy anh dùng chính xác cả những thành ngữ mới như Anh hùng “núp”, như trách nhiệm tập thể, như cả một câu ý nhị để cảm ơn khán giả đông vui, bằng cách nói một đoạn dài với những lời này: “Mình thấy rất biết ơn cái giàn khoan lưu manh HD981 lắm”… 

Bữa chiếu phim hôm nay ở 53 Nguyễn Du André Cương Quyết nhận được nhiều quà lưu niệm: bộ sách nhiều hình ảnh minh họa của Hội Hữu nghị Việt-Pháp trong đó gọi André Menras Hồ Cương Quyết là một huyền thoại, sách do Nguyễn Xuân Diện tặng mang tên “Hoàng Sa và Trường Sa trong thư tịch cổ”, tờ ảnh ghép công phu những hình André Cương Quyết đến Hà Nội năm 2012 của nhà nhiếp ảnh Trần Định…




Cũng như mọi lần sinh hoạt, giáo sư Chu Hảo bao giờ cũng tiếc là các bạn trẻ còn ít bộc lộ trong những cuộc gặp gỡ tác động tới nhận thức công dân như thế này. Nhưng không sao, rồi cuộc sống sẽ tự biến chuyển, chưa kể là Chu Hảo chắc sẽ thông cảm hơn nếu biết chuyện này: một cô trợ lý giám đốc còn TRẺ của một cơ quan LỚN tại Hà Nội, trước khi ra về đã nhắn cho ban Tổ chức biết: cạnh cô là hai ba người giấu tên giấu mặt không phát biểu to trước công chúng mà chỉ dám phát biểu lầu bầu ấm ức với nhau: “Để mấy thằng cụ này nói cho sướng rồi lúc nào gô cỏ cả lũ các cụ lại”.

André phải đi ngay Đà Nẵng trong đêm thứ sáu. Hoãn không có mặt tại cuộc chiếu phim và giao lưu ở Trung tâm Đông Tây, hoãn đến thăm tướng Nguyễn Trọng Vĩnh, bù lại anh sẽ có mặt để đi làm bộ phim mới anh nói sẽ mở đầu bằng hình ảnh cái giàn khoan lưu manh (nguyên văn lời André)

Tôi nhắn tin cho anh khi anh đang ở sân bay: “Tạm biệt em trai. Hãy làm phim này theo tư tưởng Hòa Giải Dân Tộc. Anh di chúc cho em điều đó.” Một phút sau, André nhắn lại: “Yêu anh. Chỉ dặn dò thôi. Không di chúc”. Tôi e rằng tôi sẽ không được vòng tay ôm nhau trong cuộc Hòa Giải Dân Tộc mà bao giờ tôi cũng viết hoa – vì thế mà tôi viết “di chúc” cho André Cương Quyết.

Già và thấm mệt thật sự rồi! Chỉ tính riêng ba người thôi thì chẳng biết giời xui thế nào, ba chúng tôi đều ẩn tuổi Khỉ của nhau, dĩ nhiên André ở giữa, còn Phạm Xuân Nguyên trẻ nhất. 

Chứ chẳng nhẽ trẻ nhất lại là tôi à?

Hà Nội 12 tháng 7 năm 2014
P. T.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Nếu nghĩ rằng Mỹ ủng hộ Việt Nam là hơi…lú lẫn!


TT Obama gặp Chủ tịch TT Sang. Ảnh: Internet
TT Obama gặp Chủ tịch TT Sang. Ảnh: Intern


Ngày 10/7, với 100% phiếu thuận,  Thượng viện Mỹ thông qua Nghị quyết S.RES. 412 về Biển Đông, yêu cầu TQ quay lại nguyên trạng trước ngày 01/5/2014.
Dân Việt mừng húm, cuối cùng đế quốc Mỹ đã giúp…những người cộng sản Việt Nam. Giá Mỹ đưa Hạm đội 7, tầu sân bay vào biển Đông thì càng tuyệt. Nếu tiện, cho vài phát Tomahawk vào cái giàn khoan cho tiêu luôn. Hết lằng nhằng, dền dứ, dọa nhau.
Mừng thì có mừng, nhưng xin các cụ nhìn lại chút và bình tĩnh suy xét. Mỹ và Việt Nam có gì chung để giúp nhau nào.
Mỗi lần gặp nhau chỉ bàn cãi Nhân quyền, Dân chủ, Tự do, Tín ngưỡng… những giá trị phổ quát cả thế giới đồng ý, nhưng Việt Nam “một mình một ngựa”. Khi nào bị ép quá, thả vài tù nhân lấy lệ. Xong việc lại vẫn như xưa. Chả có đất nước nào hành xử kiểu mất lòng tin đến thế.
Chiều nay đi qua Nhà Trắng, mình gõ cửa Obama xem ý ủng hộ Việt Nam thế nào. Thấy mỗi chú chó Bo ra sủa “go go – gâu, gâu”, ý nói đi đi, làm gì có chuyện ngược đời thế. Lú mới nghĩ thế.
Thượng viện Mỹ làm việc này là vì quyền lợi của Hoa Kỳ ở biển Đông. Họ hiểu, không làm tới nơi tới chốn, sẽ có kịch bản Ukraine – Nga, cũng như nhiều xung đột khác trên thế giới.
Preventive measure – phòng bệnh còn hơn chữa bệnh, là thượng sách. Để xảy ra mới giải quyết thì quá muộn và tốn kém. Tốt nhất diệt từ trong trứng mầm mồng bành trướng của Bắc Kinh. Mỹ sợ nhất sau này vào thăm cảng Cam Ranh lại phải xin phép Trung Quốc.
Hơn nữa vụ Ukraine đã cho Mỹ bài học về cách dùng lạt mềm buộc chặt. Putin đang xuống thang vì bị cô lập, đánh Ukraine thì không được rồi, mà rút thì hèn. Tiến thoái lưỡng nan, cô lập về kinh tế và ngoại giao đang làm nước Nga mất đi hình ảnh đẹp, kinh tế suy thoái. Để tình trạng này lâu, Putin dễ về vườn đuổi gà cho vợ đã li dị. Ông vừa lật đật lên tiếng đòi cải thiện quan hệ với Mỹ.
Với Trung Quốc cũng thế. Thượng viện thông qua nghị quyết về biển Đông là màn dạo đầu cho những tính toán dài hơi của Hoa Kỳ.
Chú chó Bo của gia đình Obama. Ảnh: Internet
Chú chó Bo của gia đình Obama. Ảnh: Internet
Người Mỹ nhìn hai anh em cộng sản như môi với răng, bỗng thành kẻ thù không đợi trời chung, mang thuyền đánh cá và tầu tuần ngư dền dứ nhau, như hai đứa trẻ mới lớn học đánh trận giả.
Thằng anh không ra hồn thằng anh, lừa dối có hạng. Thằng em cũng chẳng hơn gì, theo anh, trung thành tuyệt đối, ai nói xấu anh là không đựợc, coi như…trốn thuế và dùng bao cao su đã qua sử dụng.
Một hôm, thằng anh dở trò khốn. Em bị anh đánh, chẳng biết kêu ai, vì có chơi thân với ai bao giờ đâu, cứ nghĩ anh tao khỏe lắm, đố thằng nào dám sờ. Hóa ra anh tao mới là côn đồ chính hiệu.
Trong chính sách đối ngoại của VN, Mỹ luôn là đối tượng nguy hiểm, Trung Quốc là bạn. Trong hoàn cảnh ấy mà nghĩ Mỹ đứng ra bảo vệ VN là hơi…lú.
Chẳng qua, thấy cảnh đuổi nhau mà không bắn (no fire no fun), cao bồi ngứa mắt, đánh thì đánh luôn đi, kiểu ú tim gì thế.
Nếu Trung Quốc cho rằng biển Đông là của mình, Việt Nam “xâm lược” bằng tầu đánh cá, sao không bắn bỏ. Chẳng qua là nhận bừa, bắn chủ nhà thì rõ là ăn cướp còn gì.
Thằng em cũng thế. Là đất của mình, có trộm vào, sao không đập vào mặt, vả cho nó gẫy răng, mà lại bảo, gia đình anh em bảo nhau. Quốc gia gì mà yếm thế đến vậy, ai còn dám chơi. Người ta có thể giúp người yếu, không ai giúp kẻ hèn.
Chả biết các cụ thế nào, tôi nghĩ Mỹ chẳng ưa gì Việt Nam, nhưng thấy ngứa mắt do Trung Quốc dở trò bẩn ở biển Đông, để lâu phân trâu hóa bùn, quyền lợi Mỹ bị va chạm. nên cao bồi bỏ phiếu cái roẹt.
Không hiểu viết thế này thì Cua Times có…lú không?
HM. 11-7-2014

Phần nhận xét hiển thị trên trang