Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Sáu, 11 tháng 7, 2014

TRUNG QUỐC Ở HỘI NGHỊ GENÈVE NĂM 1954 - 60 NĂM NHÌN LẠI


PHẠM HỒNG KIÊN

Hội nghị Genève về Đông Dương năm 1954, là một diễn đàn quốc tế đa phương, do các nước lớn chi phối. Liên Xô và Trung Quốc ủng hộ, giúp đỡ Việt Nam trong kháng chiến và trong đàm phán. Tuy nhiên, mỗi nước lại có lợi ích và tính toán riêng của mình mà chúng ta chưa hiểu hết được, cho nên việc ứng xử với hai bạn đồng minh đặc biệt là Trung Quốc không phải dễ dàng, trong đó có những quan điểm, toan tính của Trung Quốc rất đáng nghiên cứu, như nghị sỹ Mỹ William Knowland bình luận về Hiệp định Genève “Chu Ân Lai đã sẵn sàng hy sinh chiến thắng quân sự của Hồ Chí Minh để phục vụ lợi ích quốc gia mình”, nhưng với việc đánh giá đúng tình hình, Đảng ta đã xử lý linh hoạt mối quan hệ, đem lại những thắng lợi lớn trên mặt trận ngoại giao, qua đó cho Đảng ta bài học về xử lý mối quan hệ với đồng minh, nước lớn.

Sau chiến thắng Điện Biên Phủ 07/5/1954, Hội nghị Genève bàn về chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở Việt Nam và Đông Dương diễn ra từ ngày 08/5 đến 21/7/1954 Hiệp định được ký kết, với 31 phiên họp, trong đó 7 phiên toàn thể, 24 phiên họp cấp trưởng đoàn. Có 9 đoàn tham dự Hội nghị: Đoàn Liên Xô do Bộ trưởng ngoại giao Viacheslav Molotov dẫn đầu; đoàn Trung Quốc do Thủ tướng Chu Ân Lai đẫn đầu; đoàn Mỹ do Ngoại trưởng  Bedell Smith dẫn đầu; đoàn Anh do Ngoại trưởng Anthony Eden dẫn đầu; đoàn Pháp do Ngoại trưởng Georges Bidault dẫn đầu; đoàn Việt Nam có đoàn Việt Nam dân chủ cộng hòa do Thủ tướng Phạm Văn Đồng dẫn đầu, đoàn đại diện của chính quyền Bảo Đại; đoàn Chính phủ Vương quốc Lào và đoàn Chính phủ vương quốc Campuchia.
Tại Hội thảo quốc tế Chiến thắng Điện Biên Phủ 50 năm nhìn lại (4/2004), khi nói về Hội nghị Genève nữ luật gia người Pháp Laury Anne Bellessa nhận xét: "Nếu chúng ta đi sâu vào chi tiết các cuộc thương lượng, chúng ta sẽ nhận thấy rằng các điều khoản của Hiệp định chỉ để nhằm làm thoả mãn các cường quốc… Vì muốn bảo vệ quyền lợi của mình ở khu vực Đông Nam Á mà các cường quốc đã tự quy định phần lớn các điều khoản trong hiệp định, không cần tính đến phản ứng của các nước Đông Dương. Không còn sự lựa chọn nào khác, các nước Đông Dương phải nhượng bộ trước các áp lực rất lớn này… Thắng lợi trên thực địa nhưng tại bàn Hội nghị, Việt Nam Dân chủ Cộng hoà không thể khai thác được thế mạnh quân sự của mình". "Để bảo đảm lợi ích quốc gia họ, “lãnh đạo đoàn đại biểu Trung Quốc Chu Ân Lai đã không hỗ trợ Việt Nam, đưa Việt Nam đến chỗ phải chấp nhận những điều khoản mà rõ ràng không hề thoải mái chấp nhận”[1]. 
Sáu mươi năm đã qua, nhìn lại Trung Quốc ở Hội nghị Genève đã cho chúng ta thấy rõ: Ý đồ của lãnh đạo Trung Quốc ở Hội nghị; Quan điểm, cách xử lý linh hoạt của chúng ta; và những bài học được rút ra từ Hội nghị Genève 1954 về xử lý mối quan hệ với đồng minh, nước lớn của Đảng ta.
1. Ý đồ của lãnh đạo Trung Quốc ở Hội nghị Genève về Đông Dương năm 1954
Là người chiến thắng trên chiến trường Điện Biên Phủ, ngày 10/5/1954, đoàn đại biểu Việt Nam nêu rõ lập trường về một giải pháp toàn diện cho vấn đề Đông Dương bao gồm 8 điểm: (1) Pháp công nhận độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, Campuchia và lào; (2) Ký Hiệp định về việc rút quân đội nước ngoài ra khỏi Việt Nam, Campuchia và lào; (3)Tổ chức tổng tuyển cử tự do ở Việt Nam, Campuchia và lào để thành lập Chính phủ thống nhất trong mỗi nước; (4) Việt Nam dân chủ cộng hòa, Campuchia và Lào bằng lòng xem xét việc tự nguyện gia nhập Liên hiệp Pháp; (5) Việt Nam dân chủ cộng hòa, Campuchia và Lào công nhận các quyền lợi kinh tế và văn hóa của Pháp, sẽ cùng nước Pháp quy định các quyền này theo nguyên tắc bình đẳng và tôn trọng quyền lợi lẫn nhau; (6) Hai bên không khủng bố những người hợp tác với đối phương trong thời gian chiến tranh; (7) Trao đổi tù binh; (8) Ngừng bắn hoàn toàn và đồng thời trên toàn Đông Dương, điều chỉnh các vùng, đình chỉ đưa quân đội và thiết bị quân sự mới vào Đông Dương, lập ủy ban tay đôi gồm đại biểu hai bên đối phương để kiểm tra bảo đảm thực hiện Hiệp định đình chiến.
Với giải pháp 8 điểm trên đã phản ánh rõ lập trường, quan điểm đúng đắn của Đảng, Chính phủ ta về giải quyết những lợi ích chính đáng của nhân dân Việt Nam nói riêng và nhân dân các dân tộc trên bán đảo Đông Dương nói chung. Nhưng, hội nghị Genève do 4 nước triệu tập và có 4 nước khác tham gia, đây là một cuộc thương lượng quốc tế nhiều bên, trong đó mỗi bên đều có mục tiêu, ý đồ riêng của mình. Đối với Trung Quốc, được mời dự hội nghị Genève là cơ hội vàng để thực hiện cùng lúc 3 mục tiêu lớn [2]:
Một là: Thúc đẩy việc giải quyết nhanh chiến tranh Đông Dương theo tinh thần “Triều Tiên hóa”, có nghĩa là đình chỉ chiến sự mà không có giải pháp chính trị, các nước không có điều kiện để thống nhất đất nước, với hy vọng dập tắt lửa cạnh nhà, đẩy Mỹ ra xa, tạo lập một khu đệm ở Đông Nam Á và ngăn chặn Mỹ thay thế Pháp ở bán đảo Đông Dương, hạn chế khả năng Mỹ can thiệp vào bán đảo này. Trung quốc vừa tránh được nguy cơ đối diện trực tiếp với Mỹ, vừa thực hiện được vai trò bảo trợ an ninh cho cả 3 nước Việt Nam, Lào, Campuchia;
Hai là: Đề cao vị thế quốc tế của Trung Quốc, khôi phục lại vị thế một nước lớn có vai trò trong các vấn đề quốc tế, mà trước hết là ở Châu Á. Bởi kể từ sau khi thành lập nước Trung Hoa mới, đây là lần đầu tiên Trung Quốc có mặt tại một hội nghị quốc tế lớn, được cả thế giới quan tâm theo dõi, điều đó có lợi cho việc đề cao địa vị quốc tế của Trung Quốc. Mặt khác, nếu đàm phán tiến triển tốt có thể giải quyết một số vấn đề quốc tế, nếu không thành công cũng có thể tuyên truyền chủ trương của Trung Quốc;
Ba là: Mở rộng quan hệ với các nước Tây Âu, trước hết là ngoại giao và thương mại, nhằm góp phần phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, phá thế bao vây cấm vận của Mỹ. Chính vì vậy, Chu Ân Lai đã lên kế hoạch sử dụng diễn đàn hội nghị Genève một cách có lợi nhất “Ngoài những vấn đề về Triều Tiên và Việt Nam, phải chuẩn bị các vấn đề khác liên quan đến vùng Viễn Đông, đến hòa hình, an ninh ở châu Á. Đặc biệt tiến hành các biện pháp nhằm triển khai quan hệ kinh tế, trao đổi thương mại với các quốc gia khác nhau, làm giảm căng thẳng tình hình quốc tế, phá vỡ sự phong tỏa và cấm vận của đế quốc Mỹ”[3]. Như vậy, cho chúng ta thấy trong thời kỳ này, Trung Quốc là một nước lớn nhưng vị thế chính trị quốc tế của Trung Quốc còn hạn chế, chưa có chân ở Liên Hợp quốc, chưa có tư thế một nước lớn trên quốc tế.
Để  thực hiện được mục tiêu đó, (1) Trung Quốc đã chuẩn bị nhân sự cho đoàn ngoại giao với 200 người, tập trung nhân tài ưu tú của ngành ngoại giao đi Genève. Chu Ân Lai tự hào nói về chất lượng của đoàn đại biểu “mỗi người là một bộ phận hoàn hảo tạo nên khối thống nhất mạnh mẽ”, qua sự chuẩn bị kỹ lưỡng, toàn diện, cẩn trọng cho chúng ta thấy những mục đích sâu sa và quyết tâm cao độ thực hiện kỳ được mục đích đó của lãnh đạo Trung Quốc.(2) Với tư cách là người láng giềng, người bảo trợ cho cuộc chiến đấu của nhân dân 3 nước Đông Dương, Trung Quốc tự đứng ra đóng vai trò là bên đối thoại chính, từ đó Pháp và Trung Quốc trở thành trung tâm của cuộc mặc cả, dàn xếp. Trung Quốc vin cớ làm thất bại sự phá hoại của Mỹ, mà sẵn sàng có những mền dẻo, nhân nhượng trên vấn đề Việt Nam và thậm chí có những nhân nhượng quan trọng trên vấn đề Lào và Campuchia, một thành viên đoàn đàm phán của Pháp là Jacques de Folin đã viết “trên tất các vấn đề quan trọng, chính là Trung Quốc … đã ép Phạm Văn Đồng có những nhân nhượng cần thiết để đạt được thỏa thuận mà họ mong muốn” [4;102].   
Mặt khác, muốn đưa Việt Nam nằm trong chính sách Đông Nam Á của Trung Quốc. Chính vì vậy, lập trường của Trung Quốc ở hội nghị Genève khác với lập trường của Việt Nam, nhưng phù hợp với lập trường của Pháp. Cựu tổng lãnh sự quán Việt Nam tại Quảng Châu, Dương Danh Dy, nhận xét: “Khi hội nghị Genève diễn ra tại Thụy Sỹ năm 1954… Trung Quốc đã đưa Việt Nam ra để dùng làm con bài nhằm nâng cao vị thế của họ lên với phương Tây và chính quyền miền Nam Cộng hòa. Phó Thủ tướng Việt Nam Phạm Văn Đồng lúc đó phản đối kịch liệt và làm lộ rõ âm mưu của Trung Quốc”[5].
2. Xử lý linh hoạt mối quan hệ với Trung Quốc của Đảng ta ở Hội nghị Giơnevơ năm 1954
Trên cơ sở nắm bắt lập trường, ý đồ chiến lược của các nước lớn, chúng ta đã xử lý linh hoạt tình hình thông qua tiếp xúc, trao đổi thương lượng song phương hoặc đa phương trong quá trình Hội nghị Genève. Vấn đề trước tiên được chúng ta đặt ra là không để cho những bất đồng, khác biệt về quan điểm lập trường giữa các nước lớn làm hội nghị tan vỡ. Mặt khác phải nắm bắt ý đồ của đồng minh, nước lớn, linh hoạt xử lý mối quan hệ để có lợi cho ta.
Tại hội nghị, Trung Quốc và Pháp đóng vai trò trung tâm của đối thoại, Pháp cần Trung Quốc để tránh giáp trận với Việt Nam, nhận thức rõ điều đó Trung Quốc muốn kéo Pháp để có những giải pháp phù hợp với lợi ích của Trung Quốc. Chính vì vậy, giữa Trung Quốc và Pháp diễn ra nhiều cuộc tiếp xúc riêng, chỉ tính từ 08/5- 23/6/1954, giữa trưởng đoàn Pháp và Trung Quốc đã tiến hành đàm phán 4 lần. Đáng chú ý là cuộc tiếp xúc ngày 17/6/1954 giữa Chu Ân Lai gặp Trưởng đoàn Pháp Georges Bidault, trong cuộc tiếp xúc, vì lợi ích riêng Trung Quốc đã đưa ra những nhân nhượng chính trị cơ bản có hại cho nhân dân 3 nước, Việt Nam, Lào, Campuchia đó là: “Trung Quốc có thể chấp nhận Việt Nam có hai chính quyền (Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa và Chính phủ bù nhìn Bảo Đại), công nhận Chính phủ Vương quốc Lào và Chính phủ Vương quốc Campuchia, từ bỏ yêu cầu có đại biểu của Chính phủ kháng chiến Lào và Chính phủ kháng chiến Campuchia tham dự hội nghị Genève và đưa vấn đề quân đội nước ngoài, kể cả quân tình nguyện Việt Nam, phải rút khỏi Lào và Campuchia”[6;30].
Từ ngày 20/6/1954 trở đi đã diễn ra nhiều sự kiện quan trọng, tác động lớn đến chiều hướng vận động của Hội nghị Giơnevơđó là: Quân viễn chinh Pháp bị sa lầy lớn trên chiến trường Đông Dương, dẫn đến sự thay thế nội các Pháp; Chính quyền Mỹ bắt đầu triển khai kế hoạch thay thế Pháp ở Đông Dương; Thủ tướng mới của Pháp Menđét Phơrăngxơ và Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai gặp nhau tại Bécnơ (Thụy Sĩ ngày 23/6/1954) bàn về vấn đề phân vùng, thống nhất Việt Nam, vấn đề Lào và Campuchia, trong cuộc gặp hai bên đã đạt được giải pháp khung cho toàn bộ vấn đề Đông Dương như: chia cắt Việt Nam; hai miền Việt Nam cùng tồn tại hòa bình, giải quyết vấn đề quân sự trước; tách rời giải quyết 3 vấn đề Việt Nam, Lào, Campuchia; Trung Quốc sẵn sàng nhìn nhận 3 nước này trong khối Liên hiệp Pháp và muốn Lào, Campuchia sẽ có bộ mặt mới ở Đông Nam Châu Á như Ấn Độ, Inđônêxxia, yêu cầu Mỹ không có căn cứ quân sự ở Đông Dương, những điểm mà những người lãnh đạo Trung Quốc thỏa thuận với Pháp rất phù hợp với giải pháp 7 điểm của Anh- Mỹ đưa ra  ngày 29/6/1954, tức là 6 ngày sau cuộc tiếp xúc giữa Thủ tướng Pháp Menđét Phơrăngxơ và Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai; Trong cuộc họp, Pháp cũng tỏ ý muốn đàm phán trực tiếp với Việt Nam dân chủ Cộng hòa để giải quyết các vấn đề cụ thể.
Trước tình thế mới phức tạp, Trung ương Đảng và Chính phủ ta quyết định xúc tiến hai cuộc tiếp xúc với đại diện của Pháp và Trung Quốc, là hai nước có vai trò đặc biệt quan trọng với tiến trình Hội nghị Genève. Cuộc tiếp xúc thứ nhất vào ngày 04/7/1954, giữa đoàn đại biểu Bộ tổng tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam với đoàn đại diện bộ tổng chỉ huy các lực lượng Liên Hiệp Pháp ở Đông Dương đã diễn ra tại Trung Giã (Sóc Sơn- Hà Nội), hai bên đã thảo luận những vấn đề quân sự do Hội Nghị Giơnevơđề ra, xác định biện pháp thi hành những quyết định của Hội nghị; Cuộc tiếp xúc thứ hai diễn ra từ ngày 03-05/7/1954, ở Liễu Châu (Quảng Tây- Trung Quốc) giữa Chủ tịch Hồ Chí Minh và Thủ tướng Chu Ân Lai, chúng ta kiên trì lập trường của mình về vấn đề Việt Nam, Lào và Campuchia, chủ trương đòi có đại biểu của Chính phủ kháng chiến Lào và Chính phủ kháng chiến Campuchia tham dự như các bên đàm phán, định giới tuyến quân sự tạm thời ở Việt Nam là vĩ tuyến 13, tổ chức tổng tuyển cử tự do trong thời hạn 6 tháng để thống nhất nước nhà. Đối với việc giải quyết vấn đề Lào và vấn đề Campuchia, Việt Nam giữ quan điểm ở Lào có hai vùng tập kết của lực lượng kháng chiến đó là một vùng ở phía Bắc giáp với Trung Quốc và Việt Nam, một vùng ở Trung và Hạ Lào. Còn ở Campuchia có hai vùng tập kết, một ở phía Đông và Đông bắc song MêKông, một ở phía Tây nam sông MêKông, tổ chức tổng tuyển cử tự do trong thời hạn 6 tháng ở Lào và Campuchia, nhưng những đề nghị hợp tình, hợp lý của Việt Nam đưa ra đều bị Trung Quốc gác lại.
Có thể nói, từ 23/6 đến 20/7/1954, đoàn đại biểu Pháp tiến hành đàm phán trực tiếp với đoàn đại biểu Việt Nam để giải quyết vấn đề cụ thể nhưng Trung Quốc luôn giữ vai trò thúc đẩy phía Việt Nam nhân nhượng nhiều hơn. Tại điện văn của Chu Ân Lai gửi Ban Chấp hành Đảng Cộng sản Trung Quốc, sao gửi Ban Chấp hành Đảng lao động Việt Nam, lãnh đạo Trung Quốc đã xác định “Đánh giá phương án vĩ tuyến 16 khó có thể thỏa thuận, nếu không được thì sẽ lấy Hải Phòng làm cửa bể tự do, ở gần đó cho phép Pháp đóng một số quân nhất định, nếu không được nữa thì đem đường số 5 và Hà Nội, Hải Phòng làm khu công quản và phi quân sự”[6;32]. Hay, Việt Nam cần “có những điều kiện công bằng và hợp lý để chính phủ Pháp có thể nhận được, để đi đến hiệp định trong vòng 10 ngày, điều kiện đưa ra nên đơn giản, rõ ràng, dễ đi đến hiệp thương, không nên làm phức tạp lôi thôi để tránh thảo luận mất thì giờ, rườm rà, kéo dài đàm phán”[6;32]. Nhìn chung, lập trường của Trung Quốc ở Hội nghị Genève khác hẳn lập trường của Việt Nam dân chủ cộng hòa, song lại phù hợp với lập trường của Pháp. Đúng như Huygơ Tectre (Hugues  Teetrais) nhận xét “vào năm 1954, sự giúp đỡ quân sự của Trung Quốc đối với Việt Nam là rất to lớn. Rõ ràng, sự giúp đỡ này đã góp phần quan trọng vào chiến thắng Điện Biên Phủ. Về mặt ngoại giao, Hội nghị Genève là cơ hội để Trung Quốc bước lên chính trường. Bỗng nhiên tiếng nói ngoại giao của Trung Quốc trở nên quan trọng, hệt như tiếng nói của nước bá chủ  đối với Việt Nam trước khi có thực dân Pháp”[7].
Sau cuộc gặp Liễu Châu, Trung ương Đảng ta họp Hội nghị vào trung tuần tháng 7, xác định: từ nay mọi việc của ta đều nhằm vào chống đế quốc Mỹ với phương châm là giữ vững nguyên tắc, linh hoạt về sách lược, phải đấu tranh trong một thời gian ngắn  để đi đến ký kết Hiệp định đình chiến với Chính phủ Pháp, không để chính quyền Mỹ lợi dụng kéo dài Hội nghị Genève và phá hoại quá trình đàm phán. Sự điều chỉnh sách lược này là đúng đắn, cần thiết và được cụ thể hóa thành phương án chỉ đạo mới trong quá trình đàm phán của đoàn đại biểu Việt Nam dân chủ cộng hòa tại Hội nghị Giơnevơ, trên 3 nội dung cơ bản: (1) Về quân sự, ngừng bắn đồng thời ở Việt Nam, Lào, Campuchia; lấy vĩ tuyến 16 làm ranh giới tạm thời hai miền Nam Bắc Việt Nam; không đưa bộ đội, nhân viên quân sự mới vào khu vực này sau khi ngững bắn, không có căn cứ quân sự nước ngoài và liên minh quân sự. (2) Về chính trị, thỏa thuận thời hạn tổng tuyển cử ở Việt Nam; vấn đề Việt Nam gia nhập Liên hiệp Pháp sau khi thống nhất. (3) Về phương châm đàm phán, chủ động giành lấy đình chiến ở 3 nước Đông Dương, tích cực thúc đẩy và chủ động đưa ra phương án của ta.
Trong 10 ngày cuối của quá trình đàm phán tại Hội nghị Genève, từ ngày 10 đến 20 tháng 7 năm 1954, hàng loạt vấn đề đặt ra phải thương lượng để đi đến các giải pháp cụ thể. Đoàn ta đã tiến hành đàm phán tay đôi, tay ba với các đoàn Anh, Pháp, Liên Xô, Trung Quốc và đại diện Thủ tướng Ấn Độ. Xuất phát từ truyền thống yêu chuộng hòa bình, theo xu thế chung giải quyết các vấn đề tranh chấp bằng thương lượng, mặt khác chúng ta cũng gặp khó khăn trước sự dàn xếp của nước lớn, nên Việt Nam đã chấp nhận giải pháp: các nước tôn trọng quyền độc lập cơ bản của nhân dân Việt Nam, nhân dân Lào, nhân dân Campuchia, ngừng bắn đồng thời ở Việt Nam và trên toàn cõi Đông Dương, Pháp rút quân, đường giới tuyến tạm thời là vĩ tuyến 17; thời hạn tổ chức tổng tuyển cử ở Việt Nam là 2 năm; xác định khu vực đóng quân tạm thời cho Pathét Lào; các lực lượng kháng chiến Campuchia sẽ giải ngũ hoặc tham gia vào các lực lượng cảnh sát địa phương. Trong đêm 20/7/1954, ba Hiệp định về đình chiến sự ở Việt Nam, Lào, Campuchia được ký kết.
Các bên tham gia Hội nghị Genève với những quan điểm và mục tiêu khác nhau, nhưng cuối cùng đã thống nhất được những điều khoản là do các bên đã tìm được mẫu số lợi ích chung, cùng nhau thỏa hiệp, mỗi bên có được cái tối thiểu cần đạt được. Đối với Trung Quốc, ở Hội nghị Genève, Trung Quốc đã đạt được các mục tiêu chiến lược đề ra, nghiễm nhiên trở thành một trong năm cường quốc, tờ Nhân dân nhật báo ra ngày 22/7/1954 khẳng định “Nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa đã giành được quy chế một cường quốc trên thế giới, được quốc tế thừa nhận”. Trung Quốc đã đẩy được Mỹ ra xa, Hiệp định này đã làm tan rã ý đồ của Mỹ bao vây Trung Quốc từ 3 phía Triều Tiên, Đài Loan và Đông Dương, có các nước láng giềng làm khu đệm, có biên giới an toàn để tập trung sức người, sức của để phát triển kinh tế, lại tạo được một Đông Dương đa dạng mà Trung Quốc có khả năng quan hệ và ảnh hưởng. Mặt khác, Trung Quốc đã mở rộng và tăng cường thêm quan hệ trên các mặt với Pháp, Anh, Đức, Ý, Thụy Sĩ, Bỉ, không có gì là ngạc nhiên, dịp này Trung Quốc mở cuộc ăn mừng toàn quốc; Đối với Việt Nam, bản Hiệp định bao gồm 6 loại điều khoản với tổng số 47 điều, trong đó các nước đã công nhận những quyền cơ bản của nước Việt Nam là độc lập dân tộc, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, xác lập cơ sở pháp lý để quân và dân ta tiếp tục đấu tranh. Hội nghị Genève đã đánh dấu một trong những thắng lợi vĩ đại của nền ngoại giao Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh.
3. Những bài học rút ra từ Hội nghị Genève năm 1954 về xử lý mối quan hệ với đồng minh, nước lớn
Một là, đánh giá chính xác tình hình quốc tế, nhất là thái độ của đồng minh, nước lớn trong hoạt động đối ngoại, chọn đúng mục tiêu, nhân nhương có nguyên tắc
Qua Hội nghị Genève đã cho chúng ta thấy rõ, Đảng ta đã không đánh giá sai tình hình quốc tế, không đánh giá sai các đối tác và đã hiểu đúng chính sách của họ. Phải khẳng định rằng, Đảng ta ký Hiệp định Genève là một giải pháp chiến lược của Việt Nam, bởi trong tình thế cấp bách, đấu tranh cho một nền hòa bình và chấp nhận một giải pháp như vậy là một sự lựa chọn rất khôn khéo, đúng đắn, sáng suốt. Chính sự lựa chọn đó, trước mắt giúp cho dân tộc Việt Nam tạm đẩy lùi hiểm họa của một cuộc chiến tranh đang lên cơn nóng từ phía Mỹ. Mặt khác Đảng ta vẫn giữ được quan hệ tốt đẹp với Liên Xô, Trung Quốc, thắt chặt quan hệ với Lào và Campuchia.
Kết quả cuối cùng được thể hiện trong Hiệp định Genève so với giải pháp 8 điểm mà chúng ta đưa ra ban đầu có khoảng cách đáng kể, thậm chí chứa đựng nhiều hạn chế. Nhưng đây là những khoảng cách và hạn chế không thể tránh khỏi trong thời điểm lịch sử cụ thể. Mỗi lần nhân nhượng, thỏa hiệp chúng ta đều cân nhắc kỹ, luôn thực hiện “Dĩ bất biến, ứng vạn biến”, kiên định về nguyên tắc, mềm dẻo về sách lược, luôn giữ mục tiêu. Những mục tiêu ta chọn đã được bảo đảm nghiêm ngặt, Pháp, Trung Quốc và các nước lớn khác phải công nhận các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Việt Nam là: độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ và thống nhất nước nhà, điều mà 9 năm trước tại Hiệp định sơ bộ 06/3/1946, Pháp không chịu công nhận, mới chỉ công nhận Việt Nam là nước tự do, nên không tạo được cơ sở pháp lý lâu bền, Việt Nam phải chấp nhận để Pháp đưa quân ra miền Bắc.
Với Hiệp định Genève Pháp, Trung Quốc và các nước phải công nhận trọn vẹn các quyền dân tộc cơ bản, đây chính là mục tiêu chúng ta lựa chọn, là cơ sở về pháp lý và cả về đạo lý để nhân dân ta để nhân dân ta đấu tranh chống Mỹ suốt hơn hai thập kỷ sau đó; là cơ sở để lên án, tố cáo Mỹ; là cơ sở để đoàn kết nhân dân Đông Dương trong sự nghiệp chung; là cơ sở để tập hợp lực lượng và tranh thủ sự ủng hộ của quốc tế. Bài học quý này sẽ tiếp tục phát huy giá trị trên con đường hội nhập quốc tế đầy thời cơ và thách thức đan xen như hiện nay, chúng ta phải luôn kiên định mục tiêu, nguyên tắc chiến lược, nhưng hết sức linh hoạt, mềm dẻo trong từng sách lược cụ thể; coi giáo dục, thuyết phục, chủ động phòng ngừa và kiên quyết xử lý các trường hợp vi phạm, thường xuyên nắm chắc tình hình xử lý kịp thời các tình huống xâm phạm đến độc lập, chủ quyền, an ninh quốc gia.
Hai là, không được mơ hồ về mục tiêu, lợi ích và ý đồ chiến lược của đồng minh, nước lớn, ngay cả khi có nước lớn cùng chung chế độ xã hội chủ nghĩa
Năm nước tham dự Hội nghị Genève thuộc hai phe, hai hệ thống đối lập nhau. Một bên là các nước xã hội chủ nghĩa gồm Liên Xô, Trung Quốc, bên kia là các nước tư bản, đế quốc gồm Mỹ, Pháp, Anh. Theo logic hình thức thì sự ủng hộ của Liên Xô và Trung Quốc đối với Việt Nam dân chủ cộng hòa  là tất yếu và vô điều kiện, song ngay từ đầu những quan điểm, lập trường và giải pháp về vấn đề chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở Đông Dương giữa các nước lớn theo chế độ xã hội chủ nghĩa, đã không trùng quan điểm, lợi ích của Liên Xô và đặc biệt là của Trung Quốc không hoàn toàn đồng nhất với lợi ích của Việt Nam, sự dàn xếp, thỏa hiệp giữa các nước lớn làm phương hại đến lợi ích của dân tộc Việt Nam cũng như của nhân dân hai nước Lào và Campuchia. Những điều mà chúng ta tưởng như không thể xảy ra lại đã xảy ra cách đây 60 năm nhưng hiện nay vẫn chưa hết khả năng tái diễn.
Cách đây 60 năm, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng ta đã rất tỉnh táo, sắc bén, nắm bắt thấu đáo tình hình và xác định mục tiêu, lợi ích quốc gia có sức chi phối rất lớn đối với lập trường, quan điểm của lãnh đạo Trung Quốc về vấn đề Đông Dương. Từ đó, chúng ta đã bình tĩnh trước những chủ trương do lãnh đạo Trung Quốc tự ý dàn xếp với các nước tư bản, đế quốc tham dự Hội nghị, mặt khác chúng ta vừa tích cực, linh hoạt, kiên trì đấu tranh, giữ vững quan điểm lập trường, tranh thủ sự giúp đỡ, đồng thời chủ động, kiên quyết tránh để nước lớn đặt chúng ta trong chính sách, chiến lược của họ.
Ba là, xử lý đúng mối quan hệ giữa thế và lực, chú trọng tăng cường thực lực của đất nước, tạo cơ sở vững chắc cho hoạt động đối ngoại, bảo vệ độc lập, chủ quyềnđất nước
Lực: là sức mạnh tổng hợp về kinh tế, quân sự, tinh thần, vị thế..; Thế: là uy tín, vai trò của mình.Trong đó, lực quyết định thế, thế tạo điều kiện để lực phát triển. Hồ Chí Minh từng nói: Thực lực là cái chiêng. Ngoại giao là cái tiếng. Chiêng có to thì tiếng mới lớn. Sẽ không thể giành thắng lợi trên bàn đàm phán nếu không có thực lực về kinh tế, chính trị, quân sự và thắng lợi trên chiến trường. Chính vì vậy, muốn nâng cao hiệu quả hoạt động đối ngoại thì phải phát huy tối đa nội lực của đất nước. Sự hỗ trợ từ bên ngoài bao giờ cũng đáng quý và cần được khai thác triệt để, nhưng không bao giờ có thể thay thế được thực lực về kinh tế, quân sự, pháp lý, chính trị, khoa học... của đất nước. Vì thế, xây dựng lực lượng và bồi đắp thực lực là việc tối cần thiết, quyết định chính đến sự thành bại của công cuộc bảo vệ độc lập, chủ quyền của quốc gia.
Trên thực tế, cuộc đấu tranh bảo vệ độc lập, chủ quyền không chỉ giới hạn trong lĩnh vực quân sự, mà còn diễn ra đồng bộ và rộng khắp trong các mặt trận chính trị, ngoại giao, pháp lý, kinh tế, văn hóa, học thuật... Vì thế, phát triển thực lực cần phải phải lưu ý phát triển đồng bộ trong tất cả các lĩnh vực này. Thực lực cũng không nên chỉ được xét đơn thuần ở khía cạnh vật chất, mà cần bao gồm cả những yếu tố tinh thần như truyền thống lịch sử, tinh thần ái quốc, nghệ thuật quốc phòng toàn dân, những bài học dựng nước và giữ nước mà cha ông để lại. Chính những yếu tố tinh thần này đã giúp chúng ta bao phen vượt qua những kẻ thù mạnh gấp bội trong lịch sử. Cho nên, sức mạnh tinh thần là một thành phần quan trọng của thực lực và cần được nuôi dưỡng, bồi đắp không ngừng.
Trong xu thế toàn cầu hoá, vừa có những mặt thuận lợi vừa có nhiều vấn đề trắc ẩn, thì quan hệ đối ngoại không chỉ là ra sức tranh thủ thuận lợi cho sự phát triển của đất nước mà còn phải tích cực và chủ động góp phần giữ gìn hoà bình và an ninh quốc tế, góp phần xây dựng trật tự chính trị, kinh tế quốc tế dân chủ, công bằng. Cho dù các cường quốc có nhiều khả năng chi phối, nhưng biện chứng của quan hệ quốc tế là ở chỗ: các nước nhỏ bằng những nỗ lực của chính mình có thể tác động trở lại. Sự phối hợp của Việt Nam với các nước trong khu vực, xây dựng một cộng đồng Đông Nam Á hùng mạnh là cơ sở để phát huy thế chủ động, cùng tranh thủ những điều kiện thuận lợi, đồng thời hợp tác để vượt qua những thử thách do tình hình quốc tế mang lại, nhằm giữ vững chủ quyền, hoà bình, ổn định và phát triển. 
Bốn là, tích cực, chủ động vừa hợp tác, vừa đấu tranh trong quan hệ với đồng minh, nước lớn, chú trọng tăng cường đối thoại và hợp tác, giữ vững ổn định và cùng phát triển
Trong quan hệ với đồng minh, nước lớn chúng ta không nên quá cứng nhắc cho rằng nước Việt Nam do Đảng Cộng sản lãnh đạo không thể có quan hệ hợp tác với các mước Tư bản chủ nghĩa và cũng thật là ấu trĩ nếu chúng ta xác định trong quan hệ với các nước xã hội chủ nghĩa khác chỉ có hợp tác mà không có đấu tranh vì quyền lợi dân tộc. Trong thực tiễn, hai thái cực sai lầm này đều được khắc phục ngay từ đầu Hội nghị Genève, chính trong Hội nghị Genève chúng ta đã vượt lên trên mọi khuôn mẫu mang tính giáo điều của tư duy và hoạt động đối ngoại phân phe, phân tuyến rất đặc trưng của thời kỳ chiến tranh lạnh, phương châm kết hợp hợp tác và đấu tranh đã được Đảng ta vận dụng có hiệu quả trong và sau Hội nghị Genève, tạo ra phong cách linh hoạt đặc sắc của ngoại giao Việt Nam.
Tình hình thế giới những năm gần đây có nhiều biến đổi sâu sắc, sự phát triển kinh tế, chính trị, quốc phòng, an ninh của một quốc gia, dân tộc hay một khu vực đều đan xen những ảnh hưởng và lợi ích của nhiều quốc gia, dân tộc khác. 60 năm đã trôi qua, bài học quý này giúp chúng ta nhìn nhận rõ hơn những  vấn đề đặt ra đối với nhận thức về quan hệ giữa hợp tác và đấu tranh, bạn, thù hay đối tác, đối tượng là một trong những yêu cầu đặc biệt quan trọng và cấp thiết hiện nay. Trong đó, Đảng ta luôn khẳng định những ai chủ trương tôn trọng độc lập, chủ quyền, thiết lập và mở rộng quan hệ hữu nghị và hợp tác bình đẳng, cùng có lợi với Việt Nam đều là đối tác của chúng ta mà chúng ta cần phải hợp tác và bất kể thế lực nào có âm mưu và hành động chống phá mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, xâm phạm đến chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nước ta đều là đối tượng đấu tranh. Chúng ta xác định rõ ba dạng đối tượng: đối tượng đối lập về ý thức hệ có âm mưu tập trung xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta; đối tượng vì lợi ích dân tộc hẹp hòi đang có tham vọng về chủ quyền lãnh thổ nước ta; đối tượng có thể bị chuyển hóa bởi sự thao túng của nước lớn có âm mưu chống phá ta. Tư duy mới của Đảng về bảo vệ Tổ quốc; khắc phục được hạn chế của tư duy cũ, không cứng nhắc, làm cản trở hội nhập, hợp tác, không mơ hồ, mất cảnh giác; vừa giữ nguyên tắc, vừa đủ linh hoạt, được xem như cẩm nang “dĩ bất biến” để ứng với “vạn biến” trong quan hệ, xử lý các tình huống chiến lược, tạo được sự đan xen lợi ích chiến lược, giữ vững và củng cố môi trường hòa bình, ổn định, tạo thuận lợi cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
4. Kết luận
Hội nghị Genève về Đông Dương năm 1954 là một diễn đàn quốc tế đa phương theo đúng luật chơi quốc tế, các nước lớn vừa là đạo diễn, vừa là diễn viên chính. Tại Hội nghị, Pháp và Trung Quốc đóng vai trò trung tâm của đối thoại, Pháp cần Trung Quốc để tránh giáp trận với Việt Nam, Trung Quốc kéo Pháp để sớm có giải pháp phù hợp với lợi ích của Trung Quốc. Việt Nam tham gia với tư cách là một bên tham chiến, giành thắng lợi trên chiến trường, song do sự chi phối của  đồng minh, nước lớn nên gặp không ít khó khăn trong việc phát huy thế thắng trên chiến trường, khó giành thế chủ động trong đàm phán. Nhưng với sự nhạy bén, sáng suốt trong xử lý, chúng ta đã giành thắng lợi to lớn trên mặt trận ngoại giao, xử lý thỏa đáng mối quan hệ với nước lớn tham gia Hội nghị, qua đó cho chúng ta những bài học mang dấu ấn của sự nhạy bén chính trị, linh hoạt trong xử lý cách đây 60 năm là cơ sở quý báu cho nền ngoại giao Việt Nam hiện nay.

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.An analysis 0f Vietnams relations with China from the beginning of the Coid War to the Present, Wilson Quarterly 19 (1), p.35.
2.Khắc Huỳnh, Hiệp định Genève sau 50 năm nhìn lại và suy ngẫm, Tạp chí Lịch sử quân sự số 7/2004.
3. Preliminary Opinions on the Assessment of and Preparation for the Geneva Conperence, Prepared by the PRC Ministry  fo Foreign Affairs (drafted by PRC Premier and Foreign Minister Zhou Enlai)[Excerpt] March 02, 1954, Ibid.
4. Tạp chí Pháp, Historia Special, số 28, tr 102.
5. http://vnexpress.net/tin-tuc/the-gioi/nhung-thang-tram-trong-quan-he-viet-trung-2995296.html.
6Sự thật quan hệ Việt Nam- Trung Quốc trong 30 năm qua, Nxb Sự Thật, Hà Nội, 1979, tr30; 32.
7Hugues  Teetrais, Bài tham luận 1954-1975 so sánh và suy nghĩ, Nhân dịp kỷ niệm 50 năm chiến thắng Điện Biên Phủ  và Hội nghị Genève (1954-1975).
8. Phạm Hồng Kiên, Góp phần tìm hiểu sự chủ động của Đảng trong kháng chiến chống Thực dân Pháp xâm lược, Tạp chí Lịch sử Đảng số 6/2014.


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Rất dễ hiểu: Nguồn lực quốc gia bị tham nhũng lãng phí hủy hoại, cách thức đào tạo xa rời thực tế là những nguyên nhân lớn nhất tạo nên môi trường thất nghiệp và thiếu việc làm - Vế thứ hai quyền lực tập quyền cha truyền con nối tạo nên những lãnh đạo yếu kém, không đảm đương nổi vai trò đã dẫn đến tình trạnh kinh tế mỗi năm mỗi sa lầy vào suy thoái, không biết các sĩ tử làm bài có nhận thấy những điều này để làm bài không?


Chuyện thất nghiệp nhìn từ một đề thi đại học


Nguyễn Vạn Phú 
(TBKTSG Online) - Đề thi đại học môn Địa Lý khối C năm nay có một câu hỏi khó: “Vì sao tình trạng thiếu việc làm ở Việt Nam hiện nay vẫn còn diễn ra gay gắt? Trình bày các hướng giải quyết việc làm cho người lao động ở nước ta”.

Nói là khó vì đây có thể là đề tài cho một cuộc hội thảo quốc gia với hàng chục tham luận cũng không giải quyết trọn vẹn. Nhưng nhìn từ góc độ một học sinh vừa học xong cấp 3 vẫn có thể làm bài được bằng cách nói sơ qua hai yếu tố cung cầu trên thị trường lao động và cách tác động vào hai nguồn cung cầu này.

Tuy nhiên, chính câu hỏi trong đề thi này và đáp án mà Bộ Giáo dục-Đào tạo vừa công bố tối hôm qua đã làm nảy sinh nhiều suy nghĩ về nền kinh tế nước ta nói chung, việc nghiên cứu nó và nền giáo dục nói riêng.

Trước tiên là vấn đề số liệu. Trong khi những ai làm công tác nghiên cứu kinh tế đều biết số liệu thống kê ở nước ta còn nhiều vấn đề, ít người nghĩ đến chuyện số liệu lung tung, thiếu nhất quán sẽ ảnh hưởng như thế nào đến tư duy của học sinh.

Đáp án cho câu hỏi nói trên có nêu yếu tố nguồn cung lao động tăng nhanh: “Nước ta là nước đông dân (hơn 90 triệu người), nguồn lao động dồi dào (hơn 50% tổng số dân), mỗi năm tăng thêm hơn 1 triệu lao động”. Thật ra, con số lao động tăng thêm năm 2013 theo Tổng cục Thống kê là 864.300 người. Đáp án không nêu con số về phía cầu nhưng theo Bộ Lao động-Thương binh-Xã hội, năm 2013 cả nước đã giải quyết việc làm cho hơn 1,5 triệu lao động. Thử hỏi nếu các bạn là học sinh đi thi đại học và biết hai con số này (cung hàng năm tăng thêm 1 triệu người, cầu hàng năm tăng thêm 1,5 triệu người) thì làm sao kết luận “tình trạng thiếu việc làm ở Việt Nam hiện nay vẫn còn diễn ra gay gắt”.

Cho dù nguồn cung lao động có thể đến từ các nguồn khác như do cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, do diện tích sản xuất nông nghiệp bị thu hẹp lại, đi tìm việc làm mới… thì cân đối cung cầu theo số liệu chính thức là ổn và về mặt lý thuyết mà nói, tình trạng thất nghiệp ở Việt Nam đã được giải quyết từ lâu rồi, thậm chí còn thiếu lao động cho nền kinh tế nữa. Học sinh học trong sách vở thấy khác, đọc báo thấy khác, rồi ra đời thấy khác nữa, chắc các em sẽ hoang mang và lúng túng lắm.

Thứ hai là các hướng giải quyết việc làm mà đáp án đưa ra có nhấn mạnh “tăng cường hợp tác để thu hút vốn đầu tư nước ngoài, mở rộng xuất khẩu”. Tư duy này phản ánh sự chưa thừa nhận rộng rãi nền kinh tế tư nhân mà thực tế trong những năm qua là nguồn tạo công ăn việc làm lớn nhất. Theo số liệu chính thức của Tổng cục Thống kê, khu vực kinh tế tư nhân trong nước thu hút nhiều lao động nhất, kế đến mới là khu vực có vốn đầu tư nước ngoài còn khu vực doanh nghiệp nhà nước thì số lao động ngày càng giảm. Đó là chưa kể khu vực kinh tế phi chính thức hiện vẫn là nơi tạo công ăn việc làm nhiều nhất cho người lao động mà chưa có cuộc điều tra hay thống kê nào ghi nhận cho chính xác.

Cái cuối cùng là các khái niệm gây lúng túng “thất nghiệp” và “thiếu việc làm”. Nhìn vào đáp án có thể nói người ra đề không phân biệt sự khác nhau giữa "thất nghiệp" và "thiếu việc làm" một cách chính thức. Lẽ ra đề thi nên mạnh dạn sử dụng từ “thất nghiệp” chứ không việc gì phải né tránh, làm cho học sinh quen với cái cách “nói tránh” không có lợi cho tư duy của các em. Quan trọng hơn, người ra đề phải hiểu “thiếu việc làm” là khác với “thất nghiệp” nên giả dụ có em nào đó nghiên cứu sâu và viết bài theo hướng phân biệt chính xác hai khái niệm này thì người chấm bài sẽ biết xử lý ra sao?

Gác chuyện đề thi qua một bên, cách né tránh thực tế bằng các khái niệm “thất nghiệp”, “thiếu việc làm” không theo thông lệ quốc tế cũng làm việc điều hành kinh tế không có trọng tâm trong khi ở các nước một chỉ tiêu quan trọng họ luôn thống kê là tỷ lệ thất nghiệp tăng giảm bao nhiêu. Suy cho cùng kinh tế dù tăng trưởng mà thất nghiệp vẫn tràn lan thì tăng trưởng cho ai? Để làm gì?

Theo Tổng cục Thống kê, một người hoàn toàn không có việc làm có thu nhập gì cả trong một tuần trước đó và vẫn đang mong muốn tìm  việc làm thì mới gọi là “thất nghiệp”. Trong tuần mà người này chỉ cần làm một giờ cũng không còn là “thất nghiệp”. Còn “thiếu việc làm” là số giờ làm việc của người đó trong tuần tham chiếu dưới 35 giờ. 

Chính vì thế số liệu thất nghiệp của Việt Nam thuộc vào loại tốt nhất thế giới. Cũng theo Tổng cục Thống kê, tỷ lệ thất nghiệp của lao động trong độ tuổi năm 2013 ước tính là 2,2%; Tỷ lệ thiếu việc làm ước tính 2,77%. Các nước khác mà thấy số liệu này chắc là họ sẽ thèm muốn lắm và sinh viên nước họ ắt sẽ thắc mắc sao lại bắt thí sinh trả lời “Vì sao tình trạng thiếu việc làm ở Việt Nam hiện nay vẫn còn diễn ra gay gắt”?

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thượng viện Mỹ nhất trí tuyệt đối nghị quyết về biển Đông

TTO - Thượng viện Mỹ ngày 10-7, với 100% phiếu thuận, đã thông qua nghị quyết mã số S.RES.412 về an ninh hàng hải biển Đông và yêu cầu Trung Quốc thiết lập lại nguyên trạng biển Đông như trước ngày 1-5-2014.


Tàu Trung Quốc hung hăng, xịt vòi rồng vào tàu kiểm ngư Việt Nam

Nghị quyết này có tên đầy đủ “nghị quyết xác định lại sự ủng hộ mạnh mẽ của chính phủ Mỹ với tự do hàng hải và việc sử dụng vùng biển và vùng trời quốc tế một cách hợp pháp ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương, và tìm kiếm giải pháp ngoại giao hòa bình cho các tranh chấp lãnh thổ và lãnh hải”.
Nghị quyết nhận được sự bảo trợ của các nghị sĩ kỳ cựu của cả hai đảng, bao gồm Patrick Leahy, Cardin Benjamin, Dianne Feinstein bên phía đảng Dân chủ và John McCain, Robert Menendez, James Risch, John Cronyn bên phía đảng Cộng hòa.
Nghị quyết nêu rõ mặc dù không phải là một bên có tuyên bố chủ quyền ở biển Đông, Mỹ là một cường quốc ở châu Á-Thái Bình Dương, có lợi ích quốc gia gắn với việc giải quyết các tranh chấp tại khu vực này bằng biện pháp ngoại giao và hòa bình, chứ không phải qua sự áp đặt hoặc đe dọa bằng vũ lực.
Nghị quyết S.RES.412 cũng liệt kê hàng loạt hành động của Trung Quốc mà các nghị sĩ Mỹ cho là vi phạm luật pháp quốc tế, bao gồm Công ước Liên Hiệp Quốc về luật biển (UNCLOS).
Cụ thể, tháng 11-2013, Trung Quốc đơn phương thiết lập ADIZ ở không phận biển Hoa Đông mà không tham vấn Mỹ và các nước láng giềng khu vực.
Từ năm 2012, Trung Quốc đã nhiều lần đưa tàu nhà nước vào hải phận xung quanh quần đảo tranh chấp với Nhật Bản ở biển Hoa Đông.
Tháng 12-2013, một tàu chiến của quân đội Trung Quốc đã chạy lên cắt mặt và đậu cách tàu chiến của Mỹ USS Cowpens chỉ khoảng 500 mét ở biển Đông, buộc tàu USS Cowpens phải rẽ hướng đột ngột.
Nghị quyết cũng nêu rõ sự kiện ngày 1-5-2014, Tổng công ty dầu khí hải dương Trung Quốc (CNOOC) đã hạ đặt trái phép giàn khoan HD-981, với sự hộ tống của hơn 25 tàu các loại, chỉ cách bờ biển Việt Nam 120 hải lý. Sau đó, Trung Quốc còn điều động thêm hơn 80 tàu, bao gồm bảy tàu quân sự, sử dụng cả máy bay trực thăng và vòi rồng để đe dọa, tấn công tàu Việt Nam, tìm cách thiết lập vùng cấm xung quanh HD-981, theo nghị quyết.
Nghị quyết nói những tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc và các hành động trên biển Đông không được làm rõ qua luật pháp quốc tế, bao gồm qua UNCLOS, và đó là một nỗ lực đơn phương để làm thay đổi nguyên trạng, có thể đã vi phạm Tuyên bố chung của các bên về ứng xử trên biển Đông 2002 (DOC).


Bản tóm tắt nghị quyết trên trang chủ của quốc hội Mỹ congress.gov nói nghị quyết bao gồm bốn điểm cơ bản.
Thứ nhất, lên án các hành động sử dụng vũ lực cản trở tự do hàng không ở không phận quốc tế và làm thay đổi nguyên trạng hoặc gây bất ổn cho khu vực châu Á-Thái Bình Dương.
Thứ hai, hối thúc Trung Quốc kềm chế trong việc triển khai vùng định dạng phòng không (ADIZ) ở biển Hoa Đông và các khu vực khác tại châu Á-Thái Bình Dương.
Thứ ba, khen ngợi Nhật Bản và Hàn Quốc vì sự kềm chế của họ.
Và cuối cùng, kêu gọi Trung Quốc rút giàn khoan Hải Dương 981 và các lực lượng trên biển gắn với giàn khoan này khỏi các vị trí hiện tại, kềm chế trong việc có các hành động phiêu lưu trên biển trái với Công ước về các quy định ngăn chặn va chạm trên biển, và trả biển Đông lại nguyên trạng như trước ngày 1-5-2014.
Nghị quyết cũng đưa ra năm hướng dẫn chính sách với chính phủ Mỹ, bao gồm:
  • Ủng hộ các đồng minh và đối tác ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương.
  • Phản đối việc vi phạm các quyền, sự tự do và việc sử dụng biển hợp pháp.
  • Xử lý tranh chấp không phải bằng đe dọa hay vũ lực.
  • Ủng hộ phát triển các định chế khu vực nhằm tăng cường hợp tác và củng cố vai trò của pháp luật quốc tế.
  • Đảm bảo các hoạt động bình thường của Mỹ tại khu vực châu Á-Thái Bình Dương.
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Câu trả lời còn bỏ ngỏ:


Vì Biển Đông - Trung Quốc có đánh Việt Nam không?

>> Úc tuyên bố đương đầu với Trung Quốc


Trịnh Đình Nghi
SK&ĐS - Chỉ đến khi Trung Quốc ngang nhiên hạ đặt giàn khoan Hải dương 981 tại Hoàng Sa - vùng biển thuộc chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam, nhiều người mới nói đến liệu Trung Quốc có đánh Việt Nam không?

Câu hỏi ấy bây giờ mới đặt ra là muộn, bởi từ ngàn năm nay Trung Quốc luôn nuôi mộng xâm lược Việt Nam và giấc mộng bá quyền. Trong những thập kỷ gần đây khi Trung Quốc thành công về kinh tế thì giấc mộng ấy lại càng trỗi dậy hơn bao giờ hết.

Tuy nhiên nhìn đi nhìn lại xung quanh, Trung Hoa đại lục nằm vào cái thế không thể vươn ra vì phía bắc là con hổ Nga, phía tây là chú voi Ấn Độ, phía đông là nền kinh tế hùng mạnh Nhật Bản và Hàn Quốc lại có chung hiệp ước đồng minh quân sự với Hoa Kỳ. Muốn cựa mà không cựa nổi. Suy đi tính lại chỉ còn cửa phía nam là Biển Đông, biết là không phải của mình nhưng cứ liều thôi, cứ chơi bài lỳ may ra xơi được. Khốn nỗi, cả ngàn năm chỉ biết nội chiến huynh đệ tương tàn, khoanh vùng cát cứ lòng vòng trong cái chảo đại lục chứ biết gì đến biển. Cho đến tận thế kỷ 18-19 khi mà cuộc chiến tranh nha phiến từ phía biển đổ bộ vào đã dìm Trưng Hoa trong cơn phê mơ màng đến mất cả cơ đồ. Do vậy thời kỳ đó người Trung Quốc sợ biển đến mức coi như một sự huý kỵ, những ai nói đến biển với triều đình đều bị coi như phản quốc. Nhưng chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc rồi Trung Hoa giành được độc lập, Đảng cộng sản Trung Quốc ra đời (1949) đã nghĩ ngay đến việc phải xâm chiếm Biển Đông.

Năm 1956 họ đã ngang nhiên chiếm một phần Hoàng Sa của Việt Nam. Tiếp đó là các năm 1974 chiếm hoàn toàn Hoàng Sa, 1988, 1995 chiếm đảo Gạc Ma và đảo Vành Khăn thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam. Đặc biệt từ đầu năm 2009 đến nay, các bước chuẩn bị đấu tranh quân sự của Trung Quốc trong vấn đề tranh chấp chủ quyền biển Đông (Trung Quốc gọi là biển Hoa Nam) lại vô cùng rầm rộ.
Bỏ ngoài tai những lời cảnh báo của các chuyên gia quân sự về cái giá phải trả sẽ vô cùng đắt nếu quyết chiếm Biển Đông bằng hành động quân sự và có thể sẽ thiêu huỷ hoàn toàn hình tượng quốc tế “Hoà bình phát triển” mà Trung Quốc tạo dựng trong gần 20 năm qua. Hệ quả là sự cảnh giác của Ôxtrâylia, Mỹ, Nhật Bản và cả Hiệp hội các nước Đông Nam á (ASEAN) đối với Trung Quốc sẽ tăng cao. Nhà cầm quyền Trung Quốc vẫn ngang nhiên thực hiện các bước đi về phía Biển Đông một cách trắng trợn theo kiểu lấy thịt đè người và bỏ qua mọi sự đúng đắn của pháp lý Quốc tế. Với một suy tính đường cùng họ đã đặt lên bàn lựa chọn tại khu vực Biển Đông, hiện nay có ba nước tồn tại bất đồng lớn nhất với Trung Quốc về lãnh hải và hải đảo là Việt Nam, Philippines và Malaysia, trong đó Việt Nam là hàng đầu. Vì thế, khả năng bùng nổ xung đột quân sự tại khu vực biển Đông chỉ có thể là Trung Quốc tấn công quân sự đối với Việt Nam. Thế nhưng sự cuồng vọng đã làm cho Trung Quốc quên rằng gần đây hợp tác và trao đổi quân sự giữa Mỹ với ASEAN và Việt Nam đã có những bước tiến lớn, một khi Trung Quốc áp dụng hành động quân sự, dư luận và báo chí chính thức của Mỹ, Ấn Độ, Nhật Bản và các nước phương Tây khác sẽ đứng về phía Việt Nam. Mỹ, Ấn Độ và Nhật Bản thậm chí còn cung cấp cho Việt Nam chi viện về tình báo và hậu cần quân sự cho Việt Nam.

Bên cạnh đó, “Học thuyết quân sự mới” của Ôxtrâylia cho rằng biển Đông chính là “biên cương lợi ích” của Ôxtrâylia sẽ có cớ phát triển. Họ cũng quên một điều là một khi chiến tranh bùng nổ, sẽ thúc đẩy nhanh hơn sự thành lập chính thức của tập đoàn “NATO biển Đông”, bước đi Nam tiến của Lực lượng Tự vệ trên biển của Nhật Bản cũng sẽ trở thành hiện thực và tạo ra căn cứ hợp pháp để Mỹ can thiệp quân sự trực tiếp. Trung Quốc đang vẫn chỉ nhìn bề ngoài mà ỷ thế sức mạnh quân sự của họ có thể áp đảo Việt Nam, nhất là ưu thế về số lượng và chất lượng tàu mặt nước, tàu ngầm cỡ lớn. Thế nhưng, trên thực tế nếu như bùng nổ chiến tranh trên không và trên biển với Việt Nam, ưu thế sức mạnh quân sự không hẳn đã nghiêng về Trung Quốc. Bởi vì đặc điểm mới của chiến tranh kỹ thuật công nghệ cao với vũ khí tên lửa là không có khái niệm so sánh sức mạnh của nước mạnh, nước yếu. Theo đó, nước yếu dù có một số ít tên lửa hiện đại, trong chiến tranh trên biển và trên không, vẫn có thể dựa vào ưu thế thiên thời, địa lợi, nhân hòa và lợi thế địa lý v.v. Lòng yêu nước và tinh thần đoàn kết của người Việt Nam mỗi khi dân tộc có hoạ xâm lăng chính là thứ vũ khí mà không dễ gì Trung Quốc có được.

Việt Nam và Trung Quốc đã đi qua chiều dài lịch sử với những thăng trầm về quan hệ bang giao. Người Việt Nam hiểu rõ lắm láng giềng, nhưng Việt Nam khao khát hoà bình, chỉ muốn yên ổn làm ăn. Vì thế mà sẵn sàng bỏ qua những hiềm thù nhưng không vì thế mà mất cảnh giác và lại càng “không vì tình hữu nghị viển vông mà đánh đổi chủ quyền lãnh thổ thiêng liêng”. Nói rằng Việt Nam có sợ Trung Quốc không? Câu trả lời sẽ là Không và Việt Nam cũng đang sẵn sàng một khi 'không hòa bình' như là Trung Quốc đang làm để bảo vệ chủ quyền Quốc gia dân tộc. Và tất nhiên, Việt Nam không cô đơn trong cuộc chiến này.
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Đồng chí địch có vẻ coi chừng đồng chí Mỹ:

Báo đảng TQ: Mỹ đã lựa chọn đứng về một bên ở Biển Đông

(GDVN) - Bài báo cho rằng, chính sách Biển Đông của Mỹ sẽ ngày càng cứng rắn với Trung Quốc, đã lựa chọn đứng về một bên trong tranh chấp chủ quyền, đối phó TQ.
Ngoại trưởng Mỹ John Kerry trong một chuyến thăm Việt Nam
Tờ "Nhân Dân" - cơ quan ngôn luận của Đảng Cộng sản Trung Quốc ngày 10 tháng 7 có bài viết tuyên truyền cho rằng, chính sách vấn đề Biển Đông của Mỹ đã trải qua 3 giai đoạn "giữ lập trường trung lập", "mức độ quan tâm sâu sắc hơn" và "lựa chọn đứng về một bên trên thực tế", chính sách của họ có xu hướng từng bước từ "quan sát" điều chỉnh thành "can dự", có xu hướng cứng rắn. Nguyên nhân căn bản là “Mỹ lo ngại lợi ích của họ ở Biển Đông bị đe dọa”.


Đang đối thoại với Mỹ, Trung Quốc vẫn đón thượng khách từ Nga


(GDVN) - Trước thời kỳ Tập Cận Bình, các nhà lãnh đạo TQ thường rất đề cao và nhấn mạnh đến mối quan hệ giữa Mỹ nhưng đến giai đoạn cầm quyền của ông Tập thì trái hẳn.

Theo bài báo, những năm gần đây, vấn đề Biển Đông đã trở thành một vấn đề nóng của khu vực châu Á-Thái Bình Dương (do Trung Quốc khiêu khích, xâm lược, xâm lấn gây ra), bài báo "gắp lửa bỏ tay người" cho rằng, chính sách Biển Đông của Mỹ là "nhân tố then chốt" ảnh hưởng tới tình hình Biển Đông và quan hệ quốc tế của khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Vì vậy, bài báo "quân sư" cho Bắc Kinh rằng, phân tích và nắm bắt chính xác chính sách Biển Đông của Mỹ là tiền đề để Trung Quốc đưa ra đối sách (xâm lược) có hiệu quả.

Theo bài báo, phân tích kỹ chính sách Biển Đông của Mỹ từ khi kết thúc Chiến tranh Lạnh đến nay, sau khi cơ bản trải qua 3 giai đoạn là "giữ lập trường trung lập", "mức độ quan tâm sâu sắc hơn" và "lựa chọn đứng về một bên trên thực tế", chính sách của họ có xu hướng từ "quan sát" điều chỉnh thành "can dự".
Trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh, Mỹ chưa từng coi tranh chấp đảo ở Biển Đông là một vấn đề an ninh, Biển Đông hoàn toàn không phải là trọng điểm quan tâm của Mỹ. Năm 1992, Trợ lý Ngoại trưởng phụ trách các vấn đề Đông Á của Mỹ, Richard Solomon cho biết, Mỹ không có trách nhiệm đặc biệt đối với quần đảo Trường Sa (thuộc chủ quyền của Việt Nam). Thứ trưởng Ngoại giao Mỹ khi đó Robert Zoellick tuyên bố, lập trường của Mỹ trong vấn đề Biển Đông không thay đổi.
Mức độ quan tâm của Mỹ đối với Biển Đông chỉ trở nên sâu sắc hơn sau khi nổ ra "cuộc tranh chấp lần thứ nhất giữa Trung Quốc với Philippines về đá Vành Khăn" (thực ra là Trung Quốc xâm lược đá Vành Khăn thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam), lúc đó là thời gian cầm quyền của Clinton (1993-2000).
Khi đó, Trợ lý Ngoại trưởng Mỹ phụ trách các vấn đề châu Á-Thái Bình Dương Winston Lord cho rằng, giữa Mỹ và Trung Quốc có quá nhiều sự đan xen lợi ích, Mỹ cần sự hợp tác của Trung Quốc trên rất nhiều phương diện. Nếu Bộ Ngoại giao Mỹ đưa ra một tuyên bố phê phán Trung Quốc, chắc chắn sẽ tác động đối với quan hệ Trung-Mỹ, từ đó gây thiệt hại cho lợi ích quốc gia của Mỹ.
Năm 1998, Chính phủ Philippines khơi dậy "sự kiện đá Vành Khăn lần thứ hai" (Philippines cũng có yêu sách về đá ngầm này). Philippines không tranh thủ được Mỹ cam kết đứng về phía họ trong tranh chấp lãnh thổ.
Tàu chiến Trung Quốc tham gia xâm lược vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa của Việt Nam.
Sau khi bước vào thế kỷ 21, mức độ quan tâm của Mỹ đối với vấn đề Biển Đông tiếp tục sâu sắc hơn. Cuộc tấn công khủng bố ngày 11 tháng 9 năm 2001 làm cho quan hệ Trung-Mỹ được cải thiện. Nhưng, đồng thời, Mỹ cũng đã tăng cường hiện diện quân sự ở Biển Đông.
Bắt đầu từ năm 2009, vấn đề Biển Đông bắt đầu trở thành một trong những trọng điểm quan tâm của Mỹ trong các vấn đề toàn cầu và châu Á-Thái Bình Dương. Sự quan tâm của Mỹ đối với vấn đề Biển Đông bắt đầu nghiêng về "tự do hàng hải" ở Biển Đông. Tại Ủy ban đối ngoại Thượng viện, Trợ lý Ngoại trưởng Mỹ phụ trách Đông Á Scott Marciel nhấn mạnh, Mỹ không lựa chọn đứng về bên nào trong vấn đề quy thuộc đảo (chủ quyền) ở Biển Đông.
Chính sách Biển Đông của Mỹ từ năm 2010 đến nay có 2 đặc điểm: Một là sự lo ngại đối với tự do hàng hải của Mỹ ở Biển Đông đã trầm trọng hơn; hai là Mỹ đã thực sự đứng về một bên trong vấn đề chủ quyền Biển Đông.
Theo báo đảng TQ tuyên truyền: Điều này thể hiện trong tuyên bố của cựu Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton về Biển Đông ở Hà Nội, sau đóViệt Nam lên tiếng chỉ trích chính thức đối với hành vi của Trung Quốc ở Biển Đông; nhấn mạnh giải quyết vấn đề chủ quyền phải phù hợp với Công ước Liên hợp quốc về Luật biển; thúc giục Quốc hội phê chuẩn Công ước Liên hợp quốc về Luật biển.
Trung Quốc khủng bố Việt Nam ở vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa của Việt Nam: đâm chìm tàu cá Việt Nam.
Điều này cho thấy Mỹ không còn là "nhà quan sát" giữ lập trường trung lập, mà thực sự trở thành một "người can dự". Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton đã đưa ra tuyên bố tại Hội nghị Bộ trưởng Diễn đàn khu vực ASEAN (ARF) lần thứ 17 rằng, tự do hàng hải quốc tế là lợi ích quốc gia của Mỹ.
Phát biểu của bà Hillary không chỉ đánh dấu sự thay đổi về chính sách của Mỹ, mà còn đánh dấu sự khởi đầu xung đột giữa Trung-Mỹ trong vấn đề Biển Đông. Từ đó, trong bối cảnh chiến lược "tái cân bằng" của Mỹ, vấn đề Biển Đông bắt đầu trở thành một trong những vấn đề tranh chấp chủ yếu giữa Trung-Mỹ (Thực tế là Trung Quốc muốn độc chiếm Biển Đông).
Cùng với việc Mỹ chuyển trọng tâm chiến lược tới khu vực châu Á-Thái Bình Dương vào năm 2010, vấn đề Biển Đông trở thành trọng điểm quan tâm của Mỹ ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Ngày 5 tháng 2 năm 2014, Trợ lý Ngoại trưởng Mỹ phụ trách các vấn đề châu Á-Thái Bình Dương Daniel Russell đã sử dụng từ ngữ gay gắt hơn và có tính chất nhằm vào hơn, cho biết, nội bộ Chính phủ Mỹ đã đạt được đồng thuận về lập trường cứng rắn hơn với Trung Quốc của Mỹ trong vấn đề Biển Đông.
Tổng quan chính sách Biển Đông của Mỹ từ khi kết thúc Chiến tranh Lạnh đến nay, báo Trung Quốc tiếp tục đổ lỗi cho Mỹ, rằng, có thể phát hiện, khi Mỹ cho rằng, tự do hàng hải của mình không bị đe dọa, họ hoàn toàn không quan tâm đến vấn đề quy thuộc lãnh thổ; còn khi Mỹ tập trung triển khai hơn lực lượng hải quân ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương, họ bắt đầu lo ngại sẽ mất "tự do hàng hải" ở Biển Đông.
Trung Quốc có hành động khủng bố  đối với tàu Việt Nam tại vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa của Việt Nam: định đâm chìm tàu kiểm ngư KN 951 của Việt Nam.


Mỹ và đồng minh đang tập trận tàu ngầm, lấy Trung Quốc là mục tiêu?


(GDVN) - Tàu ngầm Victoria Canada sẽ làm quân xanh trong tập trận tấn công-phòng thủ tàu ngầm giữa Mỹ-Hàn Quốc-Australia-Canada, đối phó chiến lược của Trung Quốc.

Báo Trung Quốc cho rằng, ngoài lo ngại về tự do hàng hải, còn có một số nhân tố khác thúc đẩy chính sách của Mỹ thay đổi vào năm 2010. Thứ nhất, đến nay, dân số toàn cầu và trung tâm kinh tế đã từ châu Âu chuyển tới khu vực châu Á-Thái Bình Dương, Biển Đông càng có tầm quan trọng địa-chính trị, cũng là tuyến đường "yết hầu"/(cổ họng) hàng hải trên thế giới, tầm quan trọng chiến lược của Biển Đông ngày càng tăng lên.

Thứ hai, sự đụng độ của tàu thăm dò Mỹ trên Biển Đông được xem là điềm báo trước - trong tương lai Mỹ có thể bị hạn chế trong vấn đề tiếp cận biển hoặc hoạt động trên biển. Thứ ba, năm 2012, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ cho biết đã đưa ra quy hoạch 5 năm và kế hoạch cụ thể để thực hiện chiến lược "tái cân bằng" mới, trọng tâm chiến lược của Mỹ chuyển tới khu vực châu Á-Thái Bình Dương.
Thứ tư, tăng cường quan hệ với đồng minh truyền thống và xây dựng quan hệ đối tác mới ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương, đem lại một thông điệp cho các nước Đông Nam Á, rằng "Mỹ đã quay trở lại". Thứ năm, cân bằng với ảnh hưởng kinh tế và chính trị ngày càng tăng của Trung Quốc ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương.
Có thể dự đoán, trong tương lai, lập trường của Mỹ trong vấn đề Biển Đông sẽ không "mềm" đi. Chính sách Biển Đông của Mỹ ngày càng cứng rắn và Mỹ ngày càng gia tăng mức độ can thiệp vào vấn đề Biển Đông, điều này không chỉ sẽ gây ảnh hưởng đến tình hình Biển Đông, mà còn gây ảnh hưởng sâu sắc đến môi trường xung quanh của Trung Quốc và quan hệ quốc tế của khu vực châu Á-Thái Bình Dương.
Việt Nam tăng cường quan hệ quốc phòng với Mỹ. Trong hình là biên đội tàu sân bay USS John S McCain thăm Việt Nam, đến cảng Đà Nẵng (ảnh tư liệu).
Theo đó, báo Trung Quốc "quân sư" cho rằng, nước này cần có sự lựa chọn chính sách thận trọng và tiến hành chuẩn bị ứng phó đầy đủ (để thực hiện dã tâm xâm lược nốt các hòn đảo, các đá ngầm và vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa của các nước ven Biển Đông như chủ trương “đường lưỡi bò” bất hợp pháp).


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Tôi vốn ghét Mỹ, nhưng về điểm này ĐỒNG CHÍ ấy được!

Mỹ sẽ công bố video Trung Quốc quấy rối Việt Nam ở Biển Đông?


(GDVN) - Trung Quốc có thể tạm dừng các hoạt động bành trướng nếu hình ảnh, video họ quấy rối Việt Nam và Philippines được Mỹ công bố.
Tàu Hải cảnh Trung Quốc côn đồ, liều lĩnh đâm thẳng vào tàu thực thi pháp luật của Việt Nam ngay trên vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa của Việt Nam, gần vị trí Trung Quốc hạ đặt trái phép giàn khoan 981.
Financial Times ngày 10/7 đưa tin, Mỹ đang phát triển các chiến thuật quân sự mới để ngăn chặn những bước bành trướng chậm nhưng chắc chắn của Trung Quốc ở Biển Đông, trong đó có việc tích cực sử dụng máy bay do thám và các hoạt động hải quân gần khu vực tranh chấp.
Động thái này được Lầu Năm Góc đưa ra sau hàng loạt hoạt động xâm nhập (bất hợp pháp) mà Trung Quốc sử dụng để thay đổi hiện trạng ở Biển Đông, tuyến hàng hải huyết mạch hàng đầu của nền kinh tế toàn cầu. Thách thức đối với quân đội Mỹ là tìm chiến thuật ngăn chặn những hành động này của Trung Quốc mà không làm leo thang thành một cuộc xung đột quân sự lớn hơn.

Học giả Mỹ: Các nước ở Biển Đông nên hợp sức dạy Trung Quốc 1 bài học

(GDVN) - Tấn công giàn khoan hay công sự Trung Quốc hạ đặt và xây dựng trái phép ở Biển Đông đang là cái cớ Bắc Kinh mong muốn để leo thang thành một cuộc chiến tranh.
"Những nỗ lực của chúng tôi để ngăn chặn Trung Quốc ở Biển Đông rõ ràng đã không hiệu quả", một quan chức cấp cao Mỹ cho biết. Những căng thẳng ngày càng tăng ở Biển Đông giữa Trung Quốc với Việt Nam và Philippines đã phủ bóng tối lên Đối thoại Chiến lược - kinh tế thường niên Trung - Mỹ tại Bắc Kinh hôm Thứ Tư.
Một yếu tố chiến lược của Mỹ đang nổi lên từ tháng Ba khi Mỹ điều máy bay giám sát P-8A ra bãi Cỏ Mây ở quần đảo Trường Sa (thuộc chủ quyền Việt Nam) trong lúc tàu Trung Quốc đang cố gắng ngăn chặn 1 tàu cung cấp của Philippines chi viện cho lực lượng đồn trú tại khu vực này. Máy bay Mỹ đã bay ở tầm thấp để đảm bảo rằng họ có thể nhìn thấy người Trung Quốc.
"Đây là một động lực mới. Thông điệp là, chúng tôi biết những gì các ông đang làm. Hành động của các ông sẽ có những hậu quả. Chúng tôi có khả năng và ý chí, chúng tôi đang ở đây." Một cựu quan chức Lầu Năm Góc nói.
Sử dụng rộng rãi các máy bay do thám ở Biển Đông có thể kết hợp với mong muốn lớn hơn để công bố hình ảnh, vi deo các hoạt động hàng hải của Trung Quốc. Một số quan chức Mỹ tin rằng Trung Quốc có thể tạm dừng các hoạt động bành trướng nếu hình ảnh, video họ quấy rối Việt Nam và Philippines được Mỹ công bố.

Học giả Trung Quốc: Biển Đông là nơi đối đầu chiến lược Việt - Trung

(GDVN) - Một khi nổ ra chiến tranh khả năng tổng động viên là rất lớn, "toàn Đảng, toàn dân, toàn quân đoàn kết chống xâm lược".
Bộ Tư lệnh Thái Bình Dương của Mỹ cũng đã được yêu cầu cùng phối hợp phát triển một hệ thống thông tin hàng hải cho phép các chính phủ trong khu vực biết thông tin chi tiết về vị trí của các tàu Trung Quốc trong khu vực. Một số nước nói rằng họ bị bất ngờ trước sự xuất hiện bất thình lình của tàu Trung Quốc.
Ngoài ra Lầu Năm Góc cũng tính đến khả năng điều tàu hải quân đến gần khu vực tranh chấp trên Biển Đông. Tuy nhiên các quan chức Mỹ cho hay có rất ít sự hỗ trợ từ chính quyền cho một số ý tưởng đối đầu hơn để ngăn chặn Trung Quốc. Các ý tưởng này bao gồm triển khai lực lượng Cảnh sát biển Mỹ đến Biển Đông chống lại các hoạt động của tàu bán vũ trang Trung Quốc, hộ tống ngư dân Philippines và các quốc gia khác vào những khu vực bị tàu Trung Quốc trục xuất.
Bonie Glaser, một chuyên gia châu Á từ Trung tâm Nghiên cứu chiến lược và quốc tế nói rằng các chuyến bay do thám cho thấy Hoa Kỳ có lợi ích trong các giải pháp hòa bình xử lý tranh chấp và phản đối sự cưỡng ép của Trung Quốc, nhưng bà thấy nghi ngờ khả năng các chuyến bay do thám sẽ ngăn chặn được hành vi của Trung Quốc.

Phần nhận xét hiển thị trên trang