Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Năm, 10 tháng 7, 2014

Trần Thiên Thị Bút danh Trần thiên thị. Tên thật Trần Hoàn. Sinh năm 1956. Trú quán Đà Nẵng. Nghề nghiệp kỹ sư cơ khí chế tạo máy. Sách đang in: Đi Gõ Cửa Tình (Thơ), Nhà xuất bản Trẻ 2008. Có thơ trên các trang tạp chí mạng: damau.org; gio-o.com, giaocam.saigonline.com.



Những gì ở ngoài căn phòng chúng ta

không phải là không có thật


em hỏi tôi vì sao lâu nay không làm thơ tình 
và trách móc khi tôi nói về những chuyện buồn u ám 
khi con người viết nỗi nhục nhằn lên trán 
đó chính là bài thơ tình hay nhất 
viết về tình yêu con người
những bài thơ tình 
in bên cạnh tin những đứa trẻ chết trôi 
những người chết trong nhà giam oan ức 
chúng ta quay lưng lại trước biển dâu 
tất cả những gì ngoài căn phỏng chúng ta 
như chừng không có thật
cho đến ngày căn bệnh sởi rơi vào con cháu chúng ta 
chiếc dùi cui đánh thẳng vào mặt chúng ta 
giữa một nghĩa trang buồn 
không lẽ đem những bài thơ tình thay lời kinh hiến tế?
tôi sẽ không bớt đi yêu em khi không làm thơ tình 
nhưng khi là kẻ bất nhân 
thì làm sao có thể yêu em như một con người



Phần nhận xét hiển thị trên trang

Văn bẩn quá thể:


Hậu Chí Phèo
Sau khi đánh chết Bá Kiến trong một cuộc ẩu đả tưng bừng trước nhà Chị Dậu, Chí Phèo nghiễm nhiên trở thành chủ nhân ông của làng Vũ Đại, được đông đảo dân chúng ủng hộ hết mình. Kết thúc trận kịch chiến ấy, Phèo từ một tay bợm nhậu bỗng chốc biến thành người hùng. Trong mắt dân chúng, kể cả một số kẻ thù xưa của Phèo, hắn là một trang hảo hán, là người soi đường chỉ lối.
Trên cương vị mới, Phèo bắt đầu tận hưởng hương vị chiến thắng và thi hành chính sách chăn dân do người anh lớn cai quản làng bên là Lão Hạc tư vấn. Đối với đám bạn nhậu đầu trộm đuôi cướp thuở xưa, ai biết điều thì Phèo cất nhắc lên các vị trí như phụ trách phòng sưu thuế, chỉ huy đội trị an hoặc ít ra cũng cầm loa, gõ mõ. Ai bướng thì Phèo cho vào hợp tác xã, suốt ngày bán mông cho trời, bán mặt cho đất. Đám dân chúng ủng hộ Phèo cũng không khá hơn. Tất cả đều bị lùa vào hợp tác xã. Họ làm lụng quần quật suốt ngày, không còn thời gian để suy nghĩ, thành ra não bộ và lá gan họ teo tóp đến thảm hại.

Đối với tàn quân của Bá Kiến thì khỏi phải nói, Phèo triệt tận gốc. Sợ quá, lũ này di tản sang các làng lân cận. Kẻ không chạy được thì đành ở lại làng Vũ Đại, ngậm đắng nuốt cay như chú hổ bị gã thợ săn Thế Lữ nhốt trong cũi sắt chờ ngày lên bếp lò để hóa thân thành cao hổ cốt.

Chính sách của Phèo thế mà hay. Dân làng Vũ Đại nghe răm rắp. Vì sợ. Khi không đám cận thần của Phèo chỉ đánh rắm một phát cũng có khối người nôn mật xanh mật vàng, chết không kịp ngáp. Làng Vũ Đại tuyệt đối an bình là vì thế.

Nhưng cùng với thời gian, Phèo đối mặt với nhiều mối lo mới. Nhờ tiếp xúc với các làng xã văn minh hơn, đám dân đen Vũ Đại ngày càng khôn ra. Một bộ phận trong số họ vẫn tin Phèo vô điều kiện như con cái tin cha mẹ, nhưng không ít người bắt đầu nghi ngờ Phèo, họ mày mò tìm hiểu bản chất lưu manh trong con người hắn ta. Đám cháu chắt Bá Kiến trong và ngoài làng cũng dần dà tìm cách ngóc đầu dậy. Thậm chí đôi lúc chúng đi lại nghênh ngang, đánh rắm một cách công khai mà chẳng hề nể sợ ai hết. Phèo tức lắm, hắn tìm đủ mọi cách để lập lại trật tự. Hắn vận dụng mọi ngón nghề của một bợm nhậu: đập bàn, dằn ly, xô ghế, thậm chí thượng cẳng chân hạ cẳng tay. Phèo còn vận thêm mấy chiêu mà người anh lớn là Lão Hạc tư vấn như siết cổ, bịt mồm, bóp mũi. Nhưng chẳng ăn thua.

Giữa lúc tình hình làng Vũ Đại đang nước sôi lửa bỏng, Phèo đang nghiến răng trợn mắt thì Lão Hạc lại xuất hiện cùng mấy con vàng của lão. Lâu nay, cứ mỗi lúc Phèo gặp khó khăn là Hạc ta lại dẫn chó tới để tư vấn cho Phèo cách giải quyết, tất nhiên là có lệ phí hẳn hòi. Lúc thì lão mượn vài cô gái đẹp về đấm lưng, lúc khác lại xin dăm cặp gà tơ về nhắm rượu. Nhưng lần này khác, Hạc ta sấn tới và chẳng nói chẳng rằng lùa nguyên cả bầy trâu của làng Vũ Đại về. Phèo ức, nhưng nhìn lũ vàng nhe nanh trợn mắt của Lão Hạc, hắn ta hồn vía lên mây.

Phèo sợ, nhưng đám dân đen thì không. Họ kéo nhau ra cổng làng Vũ Đại, bắc loa mồm chửi Lão Hạc om sòm. Cả đám con cháu Bá Kiến trong và ngoài làng cũng nổi máu địa phương, đồng tâm hợp lực chửi rủa, rên xiết. Dàn đồng ca Vũ Đại càng hát càng khí thế. Phen này Lão Hạc già nua kia chỉ có đường thủng màng nhĩ mà thôi. Muốn yên thì hãy trả trâu.

Quả thực chưa bao giờ làng Vũ Đại chứng kiến một sự đoàn kết keo sơn đến thế. Khi máu địa phương, lòng tự tôn làng xã nổi dậy, lũ dân đen thật thà, đám bợm nhậu bị thất sủng, một vài kẻ có lương tâm trong số cận thần của Phèo cùng tàn quân Bá Kiến đã dẹp bỏ bất đồng để hướng mũi tấn công về kẻ thù chung có tên là Lão Hạc. Đây cũng là cơ hội vàng cho Phèo ta chấn hưng dân khí, củng cố sức mạnh địa phương, xây dựng tinh thần đoàn kết để đưa làng Vũ Đại tiến lên một tầm cao mới.

Thế nhưng, một mặt do quá khiếp nhược, sợ đám dân đen làm mếch lòng anh Hạc thì nguy to, mặt khác do sợ các thế lực Bá Kiến thuở xưa trỗi dậy và lo rằng dân chúng học được cách đứng lên tranh đấu thì sẽ gây nhiều nguy cơ cho chế độ cai trị gia trưởng của mình, nên Phèo ta quyết dẹp trò chửi rủa. Một mặt hắn bảo với dân làng: “Các con hãy về đi, chuyện anh Hạc đã có cha Chí đây lo. Các con cứ ăn no ngủ kỹ. Mai mốt trâu sẽ tự động về nhà. Đừng tụ tập chửi bới kẻo bị đám con cháu Bá Kiến lợi dụng, làm mất hòa khí giữa Vũ Đại ta và anh Hạc. Thằng Kiến thì các con biết rồi đấy. Nó ác, dâm, đểu. Nó là thằng khốn nạn. Các con phải nhớ điều ấy”.

Cùng với lời khuyên giải như cha răn con, Phèo còn cho tay chân ra cổng làng giải tán dân chúng. Sau đó đi điểm mặt các nhân vật chủ chốt để tẩm quất. Hắn còn ra lệnh cho đám lâu la làm nghề đánh kẻng, gõ mõ, vác loa không được chửi Lão Hạc, không hùa theo dân đen, không cho bọn tàn quân Bá Kiến cơ hội lợi dụng, hãy ca ngợi tình đoàn kết giữa Chí Phèo và Lão Hạc.

Biện pháp của Phèo lần này cũng phát huy tác dụng. Vào những ngày tiếp sau đó, chẳng còn mống dân đen nào tụ tập trước cổng làng. Trò chửi bới Lão Hạc tuyệt nhiên không. Một vài kẻ dám ho khan, đánh rắm thì bị tay chân của Phèo đánh đập tơi tả.

Nhưng có một điều Phèo không nhận ra. Đó là giờ đây đã có thêm nhiều người ghét hắn. Đám cháu chắt Bá Kiến đã đành, đám bợm nhậu bị thất sủng chẳng nói làm chi. Ngay trong số dân đen từng tin Phèo vô điều kiện giờ cũng có thêm nhiều người nghi ngờ hắn, thậm chí oán hắn. Phèo đã bỏ lỡ cơ hội ngàn vàng để tập hợp dân chúng xây dựng làng Vũ Đại giàu mạnh khiến Lão Hạc không còn dám làm càn.

Giờ đây Phèo đang rất cô độc. Hắn không còn tâm trí nghĩ đến chuyện đòi lại đàn trâu nữa.

* * *


Sau khi dẹp được đám dân làng chửi rủa Lão Hạc, Phèo ta rất khoái chí. Chưa bao giờ hắn thấy rõ được uy quyền của mình như thế này. Giữa lúc hắn đang giương giương tự đắc thì ái thiếp Thị Nở tâu lên:

“Bẩm quan lớn, quan lớn biết tại sao đám dân đen có thể làm loạn không?”

“Ơ, con này hỏi kỳ… Thế tại sao nào?”

“Bẩm, tại chúng biết nói.”

“Ơ, người thì phải biết nói chứ.”

“Dạ bẩm, tại chúng biết nói nên chúng mới liên hệ với nhau được. Tại chúng biết nói nên chúng mới chửi anh Hạc được. Tại…”

“Thôi…”, Phèo đập bàn quát lớn. Đây chính là điều Phèo hiểu rõ nhất. Ngày xưa nếu bị câm thì hắn đã không thể tru tréo trước cổng nhà Bá Kiến mỗi ngày được rồi. Phèo hiểu rõ rằng chính trò chửi bới liên hồi đó đã khiến lão Kiến hết chịu nổi mới dẫn đến trận thư hùng trước nhà Chị Dậu năm nào. Kết cục là Chí Phèo đả bại Bá Kiến để điều hành làng Vũ Đại. Nếu Phèo không biết nói, không thể chửi rủa thì hắn đã không có ngày hôm nay. Quả thực tiếng nói là một thứ vũ khí nguy hiểm.

“Hay!”, Phèo thét lên khiến Thị Nở giật nảy mình. “Giỏi, ngươi đúng là ái thiếp của ta. Ngươi đúng là con đàn bà tóc dài mà đầu cũng dài hiếm hoi trên thế gian này. Ngươi chẳng những biết nấu cháo hành mà còn biết trò chơi quyền lực”.

Thị Nở bẽn lẽn: “Hổng dám đâu.” Đoạn ả nói tiếp: “Thế quan lớn sẽ làm gì nào?”

“Ngươi không phải dạy khôn ta. Ta tự có cách.”

Ngay ngày hôm sau, Chí Phèo ra bố cáo bắt dân làng Vũ Đại không được nói, phải câm hoàn toàn. Ai vi phạm sẽ bị cắt lưỡi. Chỉ có Phèo và đám cận thần mới có đặc quyền nói.

Kể từ giờ phút đó làng Vũ Đại im ắng như bãi tha ma. Từ đầu đến cuối làng, người ta gặp nhau chỉ gật gật vài cái coi như “chào xã giao”. Lũ trẻ con có lỡ khóc ré lên thì bố mẹ chúng vội vàng dùng tay bịt miệng, lấy giẻ nhét vào hoặc, áp dụng công nghệ hóa màu, dùng băng keo dán miệng. Cũng có vài trường hợp bức bối quá chịu không nổi, ho khan vài tiếng, thế là bị đám thuộc hạ của Phèo cắt lưỡi ngay lập tức.

Tình hình trên kéo dài được một thời gian thì cậu Nam Cao ở cuối làng nghĩ ra một chiêu mới để lách luật: đánh rắm. Số là Chí Phèo chỉ ra lệnh cấm nói chuyện nên việc đánh rắm không bị coi là phạm pháp. Thế là dân Vũ Đại chuyển qua đánh rắm thay cho nói. Người ta quy ước đánh một phát có nghĩa là “hello”, đánh hai phát là “good bye”, ba phát là than vãn, bốn phát là chửi thề. Vân vân và vân vân.

Phong trào đánh rắm phát triển đến mức nhiều người luyện được các chiêu thức thượng thừa. Người ta chẳng những có thể đánh các câu đơn giản như “chào bác”, “chào cô” mà còn có thể đánh “tôi ghét lão Phèo”, “lão Phèo thật độc ác”. Có người đánh một lúc được vài trăm phát là chuyện thường, y như bắn súng liên thanh vậy. Lũ trẻ con mới mở mắt cũng học đánh rắm. Tình hình đánh rắm tại làng Vũ Đại phải nói là “trăm hoa đua nở”, đủ thứ âm thanh, mùi vị, thậm chí màu sắc nữa.

Chuyện này làm cho Phèo và đám thuộc hạ đau đầu nhức óc. Cấm đánh rắm chăng? Phèo phân vân không biết xử trí thế nào. Giữa lúc đó Thị Nở xuất hiện. Thị Nở lâu nay luôn hiện ra đúng lúc và mang theo nhiều phương án cứu rỗi đời Phèo, thuở cơ hàn thì bát cháo hành hoặc cái bánh bèo nhão nhoẹt của thị, còn lúc Phèo có quyền lực thì Nở tư vấn các giải pháp quản lý xã hội vĩ mô.

“Phải cấm dân làng đánh rắm thôi”, Phèo phán.

“Ấy chết, cấm nói thì được, cấm đánh rắm thì không. Không nói người ta vẫn có thể sống, còn không đánh rắm thì chỉ có nước vỡ bụng mà chết”, Nở phân tích. Thị còn nói với Phèo rằng nếu cấm dân đánh rắm thì làng Vũ Đại sẽ bị các làng bên, trừ làng Lão Hạc, phê phán là gia trưởng, độc tài. Lỡ có ai đó vỡ bụng chết vì ứ hơi thì Phèo sẽ bị phê phán là vi phạm nhân quyền. Thế nên tuyệt đối không được cấm đánh rắm.

“Thế phải làm thế nào?”, Phèo hỏi.

“Phải siết chặt quản lý hoạt động đánh rắm”, Nở thì thào vào tai Phèo. Sau đó Nở còn nói nhiều thứ nữa, nhưng chỉ cho một mình Phèo nghe thôi.

Ngay ngày hôm sau, Phèo ra bố cáo cho toàn dân làng Vũ Đại: Phàm là người thì ai cũng phải đánh rắm. Đó là quyền lợi thiêng liêng nhất. Làng không cấm. Nhưng do có nhiều kẻ lợi dụng việc đánh rắm để phá hoại trị an nên từ nay làng sẽ siết chặt quản lý hoạt động đánh rắm. Tất cả mọi người chỉ được đánh rắm ở mức độ vừa phải và rắm phải thơm. Ai đánh rắm to, thối sẽ bị phạt nặng. Ai vi phạm nhiều lần sẽ bị trát lỗ ~~~, khỏi đánh rắm luôn.

Để đảm bảo tính nghiêm minh của luật pháp, Phèo thành lập một nhóm đặc nhiệm với thành viên là các bợm nhậu biết điều từng vào sinh ra tử với hắn ở tất cả quán xá trong làng. Ngày ngày đám này đi khắp làng dỏng tai lên nghe xem có ai đánh rắm lớn, lâu lâu lại khịt khịt mũi xem kẻ nào đánh rắm thối để đem ra trừng trị.

Kể từ đó hoạt động đánh rắm ở làng Vũ Đại đi vào khuôn phép thấy rõ. Các cao thủ đánh rắm trong làng không còn đất dụng võ. Bí quyết đánh rắm từng chuỗi dài như bắn súng máy ngày càng mai một, đi dần đến chỗ thất truyền.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Vẫn chưa hiểu?

THOÁT TRUNG RỐT CUỘC LÀ THOÁT GÌ?Nguyễn Ngọc Lanh 


Thoát Trung là thoát sự lệ thuộc vào Trung Quốc. Vì, đã lệ thuộc, dù ít, dù đó là nước cùng lý tưởng... nền độc lập sẽ không thể toàn vẹn.
Về địa lý, số phận đã an bài, chúng ta không thể (và cũng không cần thiết) thoát Trung. Vĩnh viễn, ta và TQ là lân bang.
Do đâu lệ thuộc?
Lân bang và lệ thuộc là những khái niệm khác nhau, không liên quan. Tuy nhiên, một nước vừa "nhược" vừa "tiểu", lại có lân bang hùng mạnh và văn minh hơn, trước sau sẽ là nạn nhân của mưu đồ thôn tính, đồng hóa, thậm chí tiêu diệt. Đây là quy luật của lịch sử mà loài người đã trải qua, từ thượng cổ cho tới thời kỳ văn minh nông nghiệp. Chúng ta mất nước, đưa đến họa Bắc thuộc và Pháp thuộc là do vậy.

Tuy nhiên, so với sức mạnh vật chất thì văn minh (văn hóa) mới là cái gốc, mới lâu bền. Mông Cổ và Mãn Thanh từng chinh phục Trung Quốc bằng sức mạnh, nhưng sau một-hai trăm năm cai trị, chính giới cầm quyền đã bị trình độ văn minh của Trung Quốc đồng hóa. Và sau đó, chính Mông Mãn còn bị TQ nuốt lại. Bởi vậy, khi đã bị lệ thuộc hoặc mất nước, sự kháng cự về văn hóa (để khỏi bị đồng hóa) mới thật sự là "thiên nan, vạn nan" và trường kỳ gian khổ. Đó là hoàn cảnh tổ tiên ta từ ngàn năm trước. Tới khi Ngô Quyền mở ra kỷ nguyên độc lập, thì cũng chỉ là độc lập "tương đối". Tổ tiên ta không thể sáng tạo hay du nhập ý thức hệ nào khác - ngoài ý thức hệ phong kiến, mà chủ thuyết là đạo Nho của Khổng tử. Cái lợi là chế độ phong kiến ở Việt Nam được củng cố, phát triển, thực hiện được thiên chức do lịch sử trao. Cái hại là Việt Nam lệ thuộc và rất ham ngưỡng vọng văn minh Trung Quốc.
Vẫn rất thời sự
Tới thế kỷ XX, chúng ta vẫn còn lại phần đất hiện nay (mất lưỡng Quảng thời nhà Triệu), chứng tỏ tổ tiên ta đã nhiều lần "thoát Trung" thành công và không thành công. May, đến nay chuyện các dân tộc chinh phục, đồng hóa hoặc tiêu diệt nhau bằng bạo lực ngày càng khó xảy ra; nhưng sự nô dịch nhau bằng văn minh, văn hóa (bao gồm chính trị, chủ thuyết, ý thức hệ...) vẫn là chuyện rất thời sự. Chưa nói chuyện tự đeo gông và không tự tháo gông.
Nước Nga xô viết quy tụ được gần đủ các nước "anh em" (vốn là chư hầu của Nga hoàng) là nhờ giúp các nước đó lập đảng cộng sản - bất cần sự hình thành của giai cấp công nhân - chỉ cốt chung ý thức hệ (thế giới đại đồng). Bài học gì có thể rút ra?
Tiếp thu và đồng hóa những cái hay của kẻ đô hộ
Chỉ xin nêu 2 ví dụ: từ vựng và đạo Khổng
- Vốn từ vựng
Một dân tộc nhỏ yếu như Việt Nam trải ngàn năm bị đô hộ mà không bị diệt vong hoặc bị đồng hóa, chính một phần quan trọng là nhờ biết tiếp thu và đồng hóa những gì có lợi cho sự sống còn và phát triển của mình.
Kho từ ngữ và sự sáng tạo thêm từ ngữ (để đáp ứng các khái niệm mới nảy sinh) của một dân tộc nói lên trình độ văn minh của dân tộc đó. Do trình độ còn thấp, tổ tiên ta buộc phải tiếp thu chữ viết và các từ ngữ gốc Hán. Nhưng tổ tiên ta đã đồng hóa chúng và sử dụng nhuần nhuyễn theo cách của mình. Thoạt tiên, là Việt hóa triệt để cách đọc chữ Hán. Không khó gì phát âm "chung quở" nhưng chúng ta đọc là "trung quốc". Tiếp đó là sáng tạo chữ Nôm; nhờ vậy giữ được ngữ pháp Việt, nhất là ghi lại được kho tàng văn hóa dân tộc (ca dao, tục ngữ, cổ tích) và dùng tiếng Việt để sáng tác (truyện Kiều). Sau cùng, là dùng chữ quốc ngữ thay hẳn chữ Hán và chữ Nôm. Tốn cả ngàn năm mới có kho từ vựng được đồng hóa như hiện nay, nếu nay muốn "thoát" thì chỉ có... chết!

- Đạo Khổng (Nho giáo)

Văn minh nông nghiệp là trình độ mà loài người phải trải qua sau thời kỳ mông muội, trong đó chế độ phong kiến là đương nhiên phù hợp. Thoạt đầu, do trình độ quản lý còn thấp, chế độ phong kiến chưa thể tập trung, mà phân tán, nhỏ lẻ... Chiến tranh giành đất đai sẽ liên miên (thời Xuân Thu - Chiến Quốc dài gần ngàn năm). Sự tiến hóa xã hội đòi hỏi tập quyền. Đạo Khổng ra đời đúng lúc, có tác dụng củng cố và phát triển chế độ này. Ở đây, không phải chỗ bàn vì sao đạo Khổng chỉ có thể ra đời ở phương Đông và vì sao chế độ phong kiến châu Á kéo dài quá lâu.

Sự tiếp thu đạo Khổng (từ đời Lý) là cần thiết cho Việt Nam. Mặc dù các vua Lý rất sùng đạo Phật, nhưng công lớn được lịch sử ghi lại là triều Lý mở đầu các kỳ thi Nho giáo để tuyển chọn quan lại. Đạo Phật (đề cao nhân ái và thiện căn) rất thích hợp khi đất nước còn phân tán, chia rẽ (nội chiến), nhưng không thể dùng để trị quốc - mà phải là đạo Khổng. Xin đừng oán trách đạo Khổng thời xa xưa và than vãn cho sự éo le của số phận dân tộc.

Chính sự lan tỏa của văn minh công nghiệp từ phương Tây sang châu Á là thời điểm đạo Khổng bộc lộ sự phản tiến bộ của nó. Tàn dư đạo Khổng quả là một tai họa với nước ta (có người gọi đó là thứ "văn hóa quỳ lạy"). Chỉ xin nêu 2 hiện tượng ai cũng trải (ai cũng từng đi học) để thấy di họa của đạo Khổng thâm căn tới mức nào. Khẩu hiệu Tiên học lễ, hậu học văn được đề cao suốt 4 đời bộ trưởng Giáo dục. Bộ này còn phát động phong trào "chữ đẹp" với thành tích cao nhất là lùa học sinh cả huyện đi thi... Éo le ở chỗ là nơi phát sinh đạo Khổng từ lâu đã không có 2 hiện tượng này.

Đạo Khổng bị gột rửa sớm nhất và triệt để nhất ở Nhật (duy tân), sau đó tới các nước "hóa rồng" khác: Đài Loan, Nam Hàn, Singapore. Đạo Khổng cũng bị thanh toán mạnh mẽ ngay ở Trung Quốc - quê hương nó. Mao đã phát động phong trào "phê phán Lâm Bưu và Khổng Tử" rầm rộ cách đây cả nửa thế kỷ.

Do vậy, việc dứt bỏ tàn dư của đạo này không mang ý nghĩa thoát Trung, mà là chuyện của riêng Việt Nam. Chính chúng ta đã không tự tháo chiếc gông trên cổ.

Trung Quốc: tấm gương tự "thoát" chính mình

Cũng chỉ xin nêu 2 ví dụ

- Mao Trạch Đông "bắt tay" đế quốc Mỹ

Hãy hỏi các cụ 80 tuổi để biết phong trào chống Mỹ - do đích thân Mao chủ tịch phát động - hừng hực cỡ nào ở đất nước tỷ dân. Đó là thập niên 60 và 70 thế kỷ trước. Quả là kỳ công, khi làm cho cả tỷ người tin Mỹ chỉ là "hổ giấy". Trung Quốc quyết liệt chống Liên Xô (có nổ súng ở biên giới) với cái cớ là Khrusov chủ trương chung sống hòa bình với Mỹ - kẻ thù số 1 của CNXH. Nhưng... đùng một cái, năm 1972, chính Mao bắt tay Mỹ, và bị đảng VN phê phán gay gắt (phản bội đồng chí, phản bội ý thức hệ). Đảng Việt lên án Mao dựa trên quan điểm tuyệt đối trung thành với chủ nghĩa; nhưng "đảng bạn" lại đặt ý thức hệ thấp hơn lợi ích dân tộc. Tranh luận với nhau vô ích.

- Đặng Tiểu Bình chủ trương "bốn hiện đại hóa"

Đặng bị mất mọi chức vụ trong "cách mạng văn hóa" vì cái tội nói rằng: Miễn là bắt được chuột, bất kể mèo trắng hay đen. Chủ nghĩa Mác-Lê chân chính đòi hỏi phải tập thể hóa sản xuất; nhưng phong trào "công xã hóa" nông nghiệp do Mao khởi xướng đã thất bại thê thảm (chết đói 30 triệu người). Câu nói của Đặng chỉ hàm một ý: Miễn là sản xuất phát triển (mục đích), còn tư nhân hóa hay tập thể hóa chỉ là biện pháp. Mao phát động "cách mạng văn hóa" để trừ khử những ai phê phán sai lầm của ông; do vậy Lưu Thiếu Kỳ là nạn nhân số 1; Đặng - với câu nói trên - là số 2.

Năm 1976, Đặng lấy lại địa vị cao, câu nói của ông trở thành nổi tiếng và mang ý nghĩa rộng lớn hơn nhiều. Nó ngầm nêu ý tưởng "thoát Mao" và thoát cả Mác-Lê. Trung Quốc cần hùng cường, bằng bất kể biện pháp nào.

Năm 1978, Đặng chủ trương "bốn hiện đại hóa", bị đảng Việt phê phán nặng nề: Xa rời chủ nghĩa, rơi vào "vũng lầy" tư bản. Thực ra, Đặng coi lợi ích dân tộc là cao nhất, trong khi chưa dám "sổ toẹt" ý thức hệ chỉ vì phái bảo thủ còn rất mạnh.

Hội nghị Thành Đô 1990: thể hiện sự kiên định lý tưởng của phía VN

Về mặt trung thành với lý tưởng, đảng CSVN cao cả gấp bội so với đảng bạn bên Trung Quốc! Đảng TQ chính thức bị chúng ta coi là kẻ thù từ năm 1979 khi tiến hành chiến tranh xâm lược đẫm máu các tỉnh biên giới nước ta. Và thêm một lần chúng ta nhận ra: đây là kẻ thù truyền kiếp chứ có mới mẻ gì cho cam...
Không ai ở VN dám ngờ rằng chỉ 10 năm sau, khối XHCN Đông Âu bắt đầu tan vỡ mà Liên Xô cứ bỏ mặc (vì lo thân mình chưa xong!). Sự trung thành với ý thức hệ đã giúp đảng CSVN bỏ qua mối thù 1979 (bấy giờ được đảng coi là nhỏ, so với “đại cục”) để chủ động xin gặp gỡ đảng bạn, đề nghị chủ trì sự nghiệp cứu vãn phần còn lại của CNXH. Kết quả: Thành công; hội nghị Thành Đô 1990 đã đi đến những thỏa thuận (nào đó)...
Thoát Trung, rốt cuộc là "tự thoát"?
Xin nhường lời cho bạn đọc.

N.N.L.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

“Hồi ức và Suy nghĩ” của Trần Quang Cơ ( Trích 2 chương )

Hồi ký “Hồi ức và Suy nghĩ” của Trần Quang Cơ đã phơi bầy một phần sự thât qua hai chương 16 và 20 mà chúng tôi trích dẫn sau đây.
Chương 16 dưới tiêu đề “Món nợ Thanh Đô”, nhà ngoại giao kỳ cựu Trần Quang Cơ viết :
Từ tháng 9/90, Trung Quốc luôn coi ta mắc nợ họ về thoả thuận Thành Đô, đòi ta thực hiện thoả thuận đó, cụ thể là tác động với Phnom Penh nhận SNC có 13 thành viên và do Sihanouk làm Chủ tịch. Với cách làm đó, họ khơi sâu thêm bất đồng trong nội bộ ta… Trung Quốc thấy rằng việc thực hiện thoả thuận Thành Đô gặp trở ngại chính từ Bộ Ngoại giao nên chủ trương chia rẽ nội bộ ta càng trắng trợn hơn. Đại sứ mới của Malaysia ngày 3.10.90 đến chào xã giao, nói với tôi là ở Bắc Kinh người ta đưa tin là có sự khác nhau giữa Bộ Ngoại giao và lãnh đạo Đảng về chủ trương đối ngoại cho nên trong chuyến đi Thành Đô gặp cấp cao Trung Quốc không có ông Nguyễn Cơ Thạch. Sau Thành Đô, trong khi ta nới rộng hoạt động của sứ quán Trung Quốc ở Việt Nam thì phía Trung Quốc lại tỏ ra lạnh nhạt với Bộ Ngoại giao công kích lãnh đạo Bộ Ngoại giao Việt Nam; hạn chế hoạt động của Đại sứ ta ở Bắc Kinh, không sắp xếp Đại sứ ta tham dự vào cuộc Lý Bằng tiếp anh Võ Nguyên Giáp, anh Vũ Oanh; cử cán bộ cấp thấp tiếp và làm việc với Đại sứ ta. Trung Quốc một mặt khẳng định là vấn đề Campuchia chưa giải quyết thì quan hệ Trung – Việt “chỉ có bước đi nhỏ”, mặt khác thăm dò và tích cực tác động đến vấn đề nhân sự và phương án chuẩn bị Đại hội VII của Đảng Cộng sản Việt Nam sẽ họp vào giữa năm 1991. Từ tháng 3/91, tại kỳ họp Quốc hội Trung Quốc khoá 7, Lý Bằng tuyên bố “quan hệ Trung – Việt đã tan băng” và có một số điều chỉnh mềm dẻo hơn trong vấn đề Campuchia. Về vấn đề SNC của Campuchia. Trung Quốc không cố bám giữ con số 13, tạm gác vấn đề chủ tịch, phó chủ tịch, đưa ra công thức “Sihaouk chủ trì các cuộc họp SNC”. Từ chỗ chỉ có quan hệ với 3 phái, sau cuộc gặp SNC ở Pattaya (Thái Lan), Trung Quốc chuyển sang quan hệ trực tiếp với Nhà nước Campuchia, mời Hunxen thăm Bắc Kinh trong 3 ngày (22-24/7/91).
Chiều Chủ nhật 18/11/90 họp Bộ Chính trị về vấn đề Campuchia. Từ sau khi P5 thoả thuận về văn kiện khung (28/890) cuộc đấu tranh về vấn đề Campuchia đi vào giai đoạn cuối, gay gắt và quyết liệt. Thay mặt Bộ Ngoại giao, tôi trình bày đề án về nguyên tắc đấu tranh về văn kiện khung của P5 và về vấn đề SNC để Bộ Chính trị cho ý kiến. Khi tôi trình bày xong, anh Thạch đề nghị Bộ Chính trị khẳng định 2 điểm:
1. Vấn đề SNC là vấn đề nội bộ của Campuchia, ta không ép bạn được, phải tôn trọng chủ quyền của bạn;
2. Về văn kiện khung, ta phải bác những điểm vi phạm Hiến chương LHQ. Nếu không sau này có ảnh hưởng đến vấn đề xử lý Trường Sa… Ta thấy rõ Trung Quốc và Mỹ đều nhất trí xoá Nhà nước Campuchia bằng cách khác nhau.
Cuối cuộc họp, Tổng bí thư Linh kết luận: “Về SNC ta không thể góp ý với bạn được… Nếu nói Trung Quốc và Mỹ như nhau thì tôi không đồng ý. Sau hội nghị Trung ương, Bộ Chính trị sẽ đánh giá lại một số vấn đề liên quan đến ngoại giao như nhận định về Trung Quốc thế nào, tuyên bố hoặc nói về Trung Quốc như thế nào ?”
Nguyễn Cơ Thạch nói luôn : “Đồng ý đánh giá lại cả cuộc hội đàm ở Thành Đô”.
Dự thảo Hiệp định toàn bộ về Campuchia ngày 26/11/90 do P5 thảo ra đã được các thành viên SNC Campuchia chấp nhận về cơ bản tại cuộc họp ở Paris ngày 23/12/90. Chủ trương của ta là giải pháp chính trị về Campuchia, nhất là những vấn đề nội bộ Campuchia, phải do bạn tự quyết định và chịu trách nhiệm với dân tộc Campuchia. Ta hết sức giúp đỡ họ, gợi ý để họ tránh được những thất bại không đáng có, nhưng ta không thể làm thay. Như vậy ta vừa hết lòng giúp bạn vừa không để Việt Nam một lần nữa bị sa lầy vào cuộc đấu tranh nội bộ của Campuchia. Không để vấn đề giải pháp chính trị về Campuchia lại một lần nữa trở thành vấn đề lịch sử trong quan hệ Việt Nam – Campuchia.
Theo yêu cầu của bạn, ngày 14/1/91, tôi cùng các anh Huỳnh Anh Dũng, Lê Công Phụng, Vũ Tiến Phúc, chuyên viên về giải pháp Campuchia, sang Phnom Penh làm việc với bạn với mục đích:
a. Tìm hiểu suy nghĩ và ý định của bạn về giải pháp Campuchia sau khi bạn đã chấp nhận văn kiện khung của P5 tại cuộc họp Jakarta 10/9/90 và chấp nhận về cơ bản dự thảo Hiệp định 26/11 của P5 tại cuộc họp Paris 23/12/90;
b. Thuyết phục bạn kiên quyết tách riêng các vấn đề nội bộ thuộc chủ quyền Campuchia để chỉ thaỏ luận và giải quyết trong SNC;
c. Thoả thuận kế hoạch chuẩn bị cho việc họp lại Hội nghị quốc tế Paris.
Khi tiếp tôi, anh Hunxen nói: “Trong nội bộ Campuchia, xu hướng mạnh nhất là muốn có một giải pháp chính trị giữ được thành quả cách mạng, không để cho Polpot quay trở lại… Tình hình hiện nay rất tế nhị. Tình hình phức tạp sẽ xảy ra nếu ta chấp nhận một giải pháp vô nguyên tắc. Chỉ cần chấp nhau một giải pháp như vậy thì nội bộ Campuchia đã hỗn loạn rồi chứ chưa nói là ký kết. Ta giữ lập trường cứng như vừa qua là tốt. Đề nghị Việt Nam không để đẩy quá nhanh tiến trình giải pháp.
Như vậy, qua các cuộc gặp Bộ trưởng Hor Nam Hong, Thứ trưởng Dith Munty và Thứ trưởng Sok An, nhất là qua phát biểu của Chủ tịch Hunxen chiều 16/11, có thể thấy được chủ trương của bạn cố kéo dài trạng thái đánh đàm hiện tại vì nhiều yếu tố chủ quan khách quan khác nhau, song chủ yếu vì trong nội bộ lãnh đạo bạn xu hướng chưa muốn đi vào giải pháp còn rất mạnh. Hunxen cho biết theo quyết định của Bộ Chinh trị Campuchia, trong cuộc họp Trung ương ngày 17/1/91, ông ta sẽ thông báo cho Trung ương là “năm 1991 sẽ chưa có giải pháp”. Tuy nhiên, tôi lại có cảm thấy trong suy nghĩ cũng như trong hành động lãnh đạo Campuchia đang có nhiều mâu thuẫn lúng túng, chưa xác định được cho mình một đường lối rõ ràng mạch lạc, mà chỉ lo đối phó từng bước với những vấn đề trong nội bộ cũng như với đối phương.
Trong lần gặp Heng Somrin ở Hà Nội ngày 24/2/91, anh Nguyễn Văn Linh vẫn cố ép bạn “cần thực hiện tốt chính sách hoà hợp dân tộc, không nên nhấn mạnh vấn đề diệt chủng, nên SNC gồm 13 thành viên và Sihanouk làm Chủ tịch”. Heng Somrin về nói lại với Bộ Chính trị Đảng Campuchia thì tất cả đều băn khoăn và ngại rằng Heng Somrin không thạo tiếng Việt nên nghe có thể sai sót. Thực ra, như Hunxen nói với anh Ngô Điền, khi nghe Heng Somrin nói lại những ý kiến của anh Linh, Bộ Chính trị Campuchia rất lo vì thấy Việt Nam khác Campuchia nhiều quá. Ngày 13/3/91 Hunxen nói với anh Thạch: “Có thể có sách lược phân hoá Khmer đỏ, nhưng dứt khoát không thể bỏ vấn đề diệt chủng. Nếu bỏ sẽ có 3 mối nguy hiểm: sẽ mất con bài mặc cả trong đàm phán ngay từ đầu; mất lợi thế trong tổng tuyển cử; kẻ thù sẽ có lợi trong việc vu cáo Việt Nam là mọi chuyện xảy ra 12 năm qua đều do Việt Nam gây ra cả. Số lượng thành viên SNC có thể là 12 hoặc 14, không thể chấp nhận con số 13, sẵn sàng cho Sihanouk làm chủ tịch, Hunxen làm phó, không đòi chức chủ tịch luân phiên hay đồng chủ tịch nữa”.
Trong cách làm này của ta cho thấy ta chỉ quan tâm đến điều mà ta cho là có lợi ích đối với ta mà thiếu cân nhắc xem điều đó có phù hợp với lợi ích của bạn không. Cách làm đó tất yếu ảnh hưởng xấu đến quan hệ gắn bó lâu nay giữa ta với Phnom Penh.
Đầu năm 1991, Bộ Chính trị đã có cuộc họp tại T78 thành phố Hồ Chí Minh (24-25/1/91) để bàn về vấn đề Campuchia. Tôi trình bày chủ trương tách mặt quốc tế với mặt nội bộ của giải pháp Campuchia, đồng thời báo cáo ý kiến của Hunxen cho biết là Bộ Chính trị Campuchia quyết định không đi vào giải pháp trong năm 1991. Bộ Chính trị quyết định cần thăm dò khả năng họp Bộ Chính trị 3 nước để hướng Campuchia đi vào giải pháp, họp có tính chất trao đổi, gợi ý chứ không quyết định, ta không thể ép bạn, đồng thời phải tỏ được thiện chí, tránh mọi việc làm ta bị cô lập.
Nhân dịp này, tôi đã ngỏ ý với anh Thạch là tôi muốn rút khỏi Trung ương khoá tới. Anh Thạch tỏ ý không tán thành. Đến tháng 2/91, khi có cuộc bầu đại biểu ở các tỉnh để đi dự Đại hội VII, tôi đã gửi thư cho anh Nguyễn Đức Tâm, Trưởng ban Tổ chức Trung ương, xin rút khỏi danh sách dự Đại hội VII. Lúc này tinh thần tôi đã có phần mệt mỏi vì những sự việc trong thời gian qua. Nhưng yêu cầu của tôi không được đáp ứng. Tôi nhận được giấy đi dự Đại hội tỉnh Đảng bộ Sơn la và được bầu vào Đoàn đại biểu tỉnh Sơn la đi dự Đại hội Đảng toàn quốc lần thứVII.Tháng 6/91, tôi có giấy đi dự Đại hội Đảng với tư cách đại biểu tỉnh Sơn La rồi tiếp tục tham gia Trung ương khoá VII..
Tình hình bất đồng ý kiến trong Bộ Chính tri càng đến gần Đại hội càng bộc lộ gay gắt. Ngày 13/4/91, trong cuộc họp Bộ Chinh trị bàn về tình hình thế giới và đường lối đối ngoại để chuẩn bị báo cáo chính trị tại Đại hội, sau khi anh Thạch bản báo cáo về “Tình hình thế giới và chiến lược đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta”, Lê Đức Anh giới thiệu đại tá Lân, cán bộ Cục II Bộ Quốc phòng, trình bày về tình hình thế giới và mưu đồ đế quốc”. Nghe xong, Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh phát biểu: “Chủ quan tôi nghĩ giữa bản trình bày sáng nay (của Bộ Ngoại giao) và bản trình bày tình hình quân sự chiều nay của Bộ Quốc phòng có nhiều chỗ khác nhau.Muốn thảo luận chủ trương thì phải thảo luận tình hình trước, nhưng cách đánh gia tình hình còn khác nhau”
Cố vấn Phạm Văn Đồng: “Nói khôi hài lúc này thật không phải lẽ. Chúng ta cần cố gắng làm việc đúng lương tâm, nghiêm chỉnh, đúng trách nhiệm của mình. Bộ Chính trị đã giao cho 3 đồng chí phụ trách 3 ngành làm nhưng lại chưa làm”.
Lê Đức Anh: “Bộ Chính trị nên nghe tình hình nhiều mặt, ngay trong nước chúng ta cũng đánh giá khác nhau. Căn cứ vào đánh gía chung, mỗi ngành có đề án riêng, không làm chung được”.
Nguyễn Cơ Thạch đồng ý 3 ngành thảo luận để đi tới nhất trí về tình hình, còn công tác thì mỗi ngành làm.
Trên tinh thần đó, ngày 2/591, đã có cuộc họp giữa Ngoại giao, An ninh và Quốc phòng để thống nhất nhận định tình hình thế giới. Dự họp về phía Bộ Quốc phòng có: Lê Đức Anh, Trần Văn Quang, Đại tá Lân (thường gọi là Lân thọt), Bộ Nội vụ có: Mai Chí Thọ; Bộ Ngoại giao có Nguyễn Cơ Thạch và 4 thứ trưởng. Còn 3 phó ban Đối ngoại: Nguyễn Thị Bình, Trịnh Ngọc Thái, Nguyễn Quang Tạo. Thu hoạch của cuộc họp khá nghèo nàn, không đem lại được sự nhất trí trong nhận định tình hình, chỉ nhất trí được mấy điểm lý luận chung chung.
Chỉ còn một tháng đến ngày họp Đại hội VII, Chính trị B họp liền gần 3 ngày (15,16 và 17/5/91) để thảo luận bản dự thảo “Báo cáo về tình hình thế giới và việc thực hiện đường lối đối ngoại của Đại hội VI và phương hướng tới”. Bộ Chính trị có mặt đông đủ. Theo dõi cuộc họp ở ghế dự thính. Số dự thính lúc đầu có 10 người, từ chiều 16/5 khi đi vào kiểm điểm việc thực hiện các Nghị quyết về đối ngoại của Đại hội VI thì dự thính thu hẹp lại chỉ còn có Hồng Hà, Hoàng Bích Sơn, Đinh Nho Liêm và tôi. Từ đầu đến cuối, tôi đã nhận rõ sự đấu tranh giữa hai quan điểm về mặt quốc tế, nhất là khi đi vào phần kiểm điểm thực hiện đường lối đối ngoại, nói đến vấn đề Campuchia và quan hệ với Trung Quốc. Bản dự thảo báo cáo của Bộ Ngoại giao có nêu “đã có một số việc làm không đúng với các Nghị quyết của Bộ Chính trị”, “thái độ đối với Trung Quốc có sự thay đổi qua 2 giai đoạn (trước và sau năm 1989) trái với Nghị quyết 13 của Bộ Chính trị (20/5/88)”, “giữa ta và bạn Campuchiađã bộc lộ sự khác nhau khá rõ rệt”, về đối ngoại, ta “lúng túng, thiếu bình tĩnh” trước cuộc khủng hoảng chính trị ở Đông Âu và Liên Xô…; đã bỏ lỡ cơ hội cải thiện với ASEAN (khi Thái Lan mời Thủ tướng Đỗ Mười sang thăm, nhưng anh Mười nói phải đi Liên Xô, đi Ấn Độ rồi mới đi Thái), đã làm nảy sinh tranh cãi khá căng, đặc biệt khi bàn đến đúng sai trong chuyện gặp cấp cao Trung Quốc ở Thành Đô tháng 9.90 và vấn đề chống diệt chủng và “giải pháp Đỏ”.
Anh Võ Chí Công: “Về Trung Quốc rất phức tạp… Bộ Chính trị đã đánh giá Trung Quốc có hai mặt xã hội chủ nghĩa và bá quyền. Về xã hội chủ nghĩa cũng cần thấy là trong “nháy nháy”… Khó khăn là chưa bình thường hoá quan hệ… Họ đưa ra 5 trở ngại, có cái hàng trăm năm không giải quyết nổi. Ví dụ như chuyện “Liên bang Đông Dương”, họ biết ta không có ý đồ đó song cứ nêu lên cốt để chia rẽ và giành lấy Lào và Campuchia, gạtta ra… Chuyện “giải pháp Đỏ” là không được, vì như vậy thì có nghĩa là Trung Quốc sẽ đi với ta chống Mỹ trong lúc chủ trương của họ là tranh thủ khoa học – kỹ thuật của phương Tây để hiện đại hoá, còn gì là Trung Quốc nữa ?
Tới cuối cuộc họp, Nguyễn Đức Tâm còn nói: “Chưa làm dự thảo Nghị quyết ngay được vì qua thảo luận thấy ý kiến Bộ Chính trị còn khác nhau về đánh giá đúng thành tích, đúng bạn thù, đối sách. Đại hội đến nơi, sau Đại hội không còn Bộ Chính trị này nữa, tuy một số đồng chí còn ở lại… Mặc dù vậy Nguyễn Thanh Bình chủ trì cuộc họp vẫn kết luận làm dự thảo Nghị quyết về đối ngoại.”
***********
Chương 20 là chương kêt thúc hồi ký Hồi ức và Suy nghĩ”. Dưới tiêu đề “Kết thúc một chặng đường nhưng lịch sử chưa sang trang”, nhà ngoại giao kỳ cựu Trần Quang Cơ viết:
“Sau 12 năm ròng rã, đối với chúng ta, vấn đề Campuchia coi như đã kết thúc và đã trở thành một hồ sơ của bộ phận lưu trữ trong Bộ Ngoại giao Việt Nam. Nhưng những bài học của 12 năm ấy vẫn còn có nhiều tính chất thời sự, nhất là bài học về chính sách và thái độ cư xử với các nước lớn.
Tiếp sau việc vấn đề Campuchia được giải quyết là việc thực hiện bình thường hoá quan hệ với Trung Quốc. Theo thoả thuận giữa hai bên, ngày 5/11/91, Tổng bí thư Đỗ Mười và Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã có cuộc đi thăm chính thức nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, đánh dấu sự bình thường hoá quan hệ giữa hai nước.“Quan hệ Việt – Trung tuân thủ các nguyên tắc tôn trọng chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau, không xâm phạm lẫn nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau… Quan hệ Việt – Trung không phải là quan hệ đồng minh, không trở lại quan hệ như những năm 50-60…”
Tuy nhiên sau khi bình thường hoá quan hệ, lại dồn dập diễn ra những sự kiện xấu trên nhiều mặt quan hệ giữa hai nước, tập trung gay gắt nhất là các vấn đề liên quan đến lãnh thổ trên bộ vùng biên giới Hà Giang tháng 2, 3, 4/92; vụ nối lại đường xe lửa Liên vận ở Đồng Đăng, Lạng Sơn tháng 12/91 rồi 4.5.92; Lục Lầm, Quảng Ninh tháng 5.92) và tranh chấp biển đảo mà đỉnh cao là vụ Trung Quốc công khai hoá việc ký kết họp đồng thăm dò khai thác dầu khí với Công ty Năng lượng Mỹ Crestone tại một vùng rộng lớn trên thềm lục địa của Việt Nam (bãi Tư Chính).
Vì sao Trung Quốc tăng cường lấn ép ta vào thời điểm này ? Vì Trung Quốc cho rằng tình hình đó đang thuận lợi cho họ tranh thủ gấp rút thực hiện yêu cầu tăng thế và lực (xây dựng hải quân nhanh, nổ thử bom 1000 kilôton, thi hành chiến lược “biên giới mềm”) nhằm tạo cho mình một vị thế đỡ bất lợi so với Mỹ và các nước lớn khác, trong đó có ý đồ gấp rút biến biển Nam Trung Hoa – mà ta gọi là biển Đông – thành vùng biển độc chiếm của Trung Quốc, từ đó khống chế toàn bộ vùng Đông Nam Á.
1. Trật tự thế giới cũ không còn, trật tự thế giới mới chưa hình thành. Các đối thủ chính của Trung Quốc ở châu Á – Thái Bình Dương đều đang gặp khó khăn, Liên Xô vừa tan rã. Liên bang Nga trước mắt chưa phải là thách thức đáng kể, Mỹ đang giảm bớt sự có mặt về quân sự ở châu Á – Thái Bình Dương, tránh can thiệp nếu lợi ích của Mỹ và đồng minh không bị đụng đến.
2. Đông Nam Á mới bắt đầu quá trình nối lại các quan hệ giao lưu giữa hai nhóm nước đối đầu cũ. Triển vọng liên kết hay nhất thể hoá Đông Nam Á, bất lợi đối với ý đồ bá quyền của Trung Quốc, đang còn có những trở ngại (nghi ngờ nhau do khác ý thức hệ, va chạm lợi ích, ý đồ của Thái Lan đối với Lào, Campuchia) đòi hỏi thời gian khắc phục Trung Quốc muốn tranh thủ thời gian này để cản phá xu thế hợp tác khu vực giữa Đông Dương, chủ yếu là Việt Nam và ASEAN tạo ra một tập hợp lực lượng thân Trung Quốc ở Đông Nam Á (quân phiệt Thái, quân phiệt Myanmar, Khmer đỏ ở Campuchia và Lào nếu có thể) để khuất phục Việt Nam.
3. Bản thân Việt Nam còn đang lúng túng về những vấn đề chiến lược (vấn đề đồng minh, vấn đề tập hợp lực lượng, vấn đề bạn thù) trong tình hình mới sau khi Liên Xô tan rã, quan hệ với Mỹ chưa bình thường hoá, Trung Quốc muốn đi vào bình thường hoá quan hệ với Việt Nam trên thế mạnh.
Vì vậy Trung Quốc nhẩn nha trong các bước bình thường hoá quan hệ với Việt Nam, vừa tạo bề mặt thân mật gắn bó Trung – Việt, vừa xiết chặt bên trong, giành lợi thế cho mình trên mọi lĩnh vực quan hệ. Cả hai mặt đều nhằm đạt mục tiêu khẳng định Việt Nam – Đông Dương là thuộc khu vực ảnh hưởng của Trung Quốc, muốn tách Việt Nam khỏi Đông Nam Á và thế giới bên ngoài.
*
* *
Ngày 29/11/93, tại cuộc họp Trung ương thứ 6 khoá VII để nhận định tình hình và bàn về ảnh hưởng tới, với dự tính sẽ xin rút khỏi Trung ương trong kỳ họp Trung ương giữa nhiệm kỳ tới, tôi đã tranh thủ nói rõ quan điểm của tôi trước phiên họp toàn thể Trung ương dưới dạng trình bày những suy nghĩ của mình về “Thời cơ và những thách thức”.
Tôi cho rằng cục diện mới lúc này có mặt thuận lợi là đang nảy sinh những xu thế phù hợp với yêu cầu mở cửa, hoà nhập vào đời sống kinh tế–chính trị quốc tế của ta, đang tạo nên thời cơ thực hiện mục tiêu hoà bình và phát triển của nước ta.
Đó là:
  1. Xu thế độc lập tự chủ, tự lực tự cường của những nước nhỏ và vừa, có ý thức về lợi ích dân tộc của mình, cưỡng lại chính trị cường quyền áp đặt của nước lớn.
  2. Xu thế đa dạng hoá quan hệ đối ngoại, tăng cường ngoại gia đa phương do nhu cầu đẩy mạnh giao lưu kinh tế và an ninh tập thể.
  3. Xu thế giữ hoà bình ổn định thế giới và khu vực nhằm bảo đảm môi trường quốc tế thuận lợi cho tập trung phát triển kinh tế.
  4. Xu thế liên kết khu vực về kinh tế và an ninh khu vực.
Đồng thời, cũng có những thách thức lớn đối với an ninh và phát triển của ta, cả từ bên trong lẫn từ bên ngoài:
  1. Thách thức bên trong là tệ nạn tham ô và nhũng nhiễu đang huỷ hoại sức để kháng vật chất cũng cũng tinh thần của dân tộc ta, làm giảm hẳn khả năng chống đỡ của ta đối với các thách thức bên ngoài.
  2. Diễn biến hoà bình – một dạng biểu hiện của mâu thuẫn Đông – Tây sau chiến tranh lạnh.
  3. Bá quyền bành trướng. Nguy hiểm không kém diễn biến hoà bình, ở sát nách ta, thể hiện lúc mềm, cứng để gây mơ hồ mất cảnh giác (điểm này trong hội nghị hầu như không có ý kiến nào đề cập tớ).
  4. Tình hình Campuchia còn đầy bất chắc với Khơ me đỏ còn đó, cộng với chủ nghĩa dân tộc cực đoan của người Campuchia.
Trên cơ sở nhận định về thời cơ và nguy cơ như vậy, tôi đã đưa ra kiến nghị:
  1. Cần nhìn tổng thể tình hình khách quan và chủ quan, đối chiếu các thách thức với khả năng các mặt của ta để chọn cách xử lý sát thực tế, vừa sức.
  2. Trước hết xử lý thách thức nào trong tầm tay của ta, tập trung chống tham nhũng để bảo tồn và tăng cường sức đề kháng phòng ngừa thách thức bên ngoài.
  3. Ưu tiên cho liên kết khu vực (Đông Nam Á). Liên kết không phải để đối đầu chống nước nào.
  4. Đối với các nước lớn, quan hệ hữu hảo, không đối đầu nước nào, nhưng đều giữ khoảng cách nhất định.
  5. Song song với việc kết bạn, không lơ là với việc đấu tranh khi cần thiết. Song luôn giữ giới hạn. không gây nguy cơ mất ổn định khu vực.
  6. Tránh không làm gì có thể dồn hai hoặc ba đối thủ câu kết lại vơi nhau chống ta.
Những ý kiến trên đây có thể dùng làm đoạn kết cho phần hồi ức này của tôi, vì phản ảnh khá đầy đủ quan điểm của tôi và cho đến nay (năm 2000) xem ra nó chưa phải đã lỗi thời.”
Trần Quang Cơ
Hồi ký “Hồi ức và Suy nghĩ” (Trích)
Viêt lời giới thiệu : Nhà báo Tràn Quang Thành
(Tải liệu riêng chưa công bố)
Nguồn: Blog Chuyển Hóa

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Xóm lá nhớ lâu:


·        NHỮNG NGÀY DÂN MẠNG THÊM LẦN NỮA BÀN TRỞ LẠI VỀ CUỐN HỒI KÝ CỦA ÔNG TRẦN QUANG CƠ - NGUYÊN THỨ TRƯỞNG BỘ NGOẠI GIAO.
TRONG CUỐN HỒI KÝ NÀY, ĐOẠN NÓI VỀ QUAN HỆ VIỆT - TRUNG HỒI 1989 - 1990, TRƯỚC HỘI NGHỊ THÀNH ĐỒ - MỘT KHÚC NGOẶT ĐẦY NGUY HIỂM VÀ CÒN NHIỀU BÍ ẨN, VỚI LỊCH SỬ DÂN TỘC.
CÓ 2 CHI TIẾT ĐÁNG SUY NGHĨ.
MỘT LÀ, KHI TQ TỪ CHỐI MỌI SỰ GẶP GỠ VỚI BỘ NGOẠI GIAO VN VÀ VỚI BỘ TRƯỞNG NGUYỄN CƠ THẠCH, VÌ BỘ TRƯỞNG THẠCH ĐÃ LÀM PHẬT Ý TỪ ĐÔN TÍN - MỘT VIÊN TRỢ LÝ QUÈN (HÀM VỤ TRƯỞNG) CỦA BỘ TRƯỞNG NGOẠI GIAO TQ. TRONG KHI ĐÓ, CTN LÊ ĐỨC ANH, BÍ THƯ TRUNG ƯƠNG ĐẢNG HỒNG HÀ SANG THĂM TQ, BÁO CÁO TÌNH HÌNH VỀ ĐẠI HỘI ĐẢNG CSVN, THỜI GIAN Ở BẮC KINH NGUYÊN THỦ LÊ ĐỨC ANH CÙNG BÍ THƯ HỒNG HÀ ĐÃ PHẢI 2 LẦN XIN GẶP VIÊN VỤ TRƯỞNG QUÈN VÀ NÓI LỜI XIN LỖI VỚI HẮN. ÔI CHA CHA LÀ TƯ THẾ NƯỚC VIỆT!
HAI LÀ, ÔNG TRẦN QUANG CƠ CÓ ĐỀ CẬP TỚI "MỘT CHI TIẾT" TRONG THOẢ THUẬN VIỆT - TRUNG SẼ ĐƯỢC KÝ KẾT TRONG HỘI NGHỊ THÀNH ĐÔ MÀ BỘ TRƯỞNG THẠCH CÙNG ÔNG PHẢM ĐỐI, VÌ "NÓ SẼ GÂY KHÓ KHĂN CHO VIỆC KHẲNG ĐỊNH CHỦ QUYỀN Ở BIỂN ĐÔNG SAU NÀY..."
VẬY, CHI TIẾT ĐÓ LÀ THẾ NÀO? PHẢI CHĂNG VÌ CÁI CHI TIẾT NÀY MÀ VN CHƯA KIỆN TQ RA TOÀ QUỐC TẾ?
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Nước Mỹ còn lo chu đáo hơn cả Ta?

(Tin Nóng) Tăng cường các chuyến bay trinh sát, cử tàu tuần duyên giám sát tàu dân sự Trung Quốc và hộ tống ngư dân các nước tại vùng biển tranh chấp bị Trung Quốc xâm lấn… là những kế hoạch trong chiến lược của Bộ Quốc phòng Mỹ ở Biển Đông để hạn chế sự bành trướng của Trung Quốc.


Tàu tuần duyên Mỹ có thể triển khai ở Biển Đông để hộ tống ngư dân Philippines và của các quốc gia khác tại các khu vực biển bị Trung Quốc lấn chiếm và xua đuổi - Ảnh: USCG
Theo báo Financial Times (Anh) ngày 10.7, những hành động này của Mỹ nhằm hạn chế việc Trung Quốc thay đổi hiện trạng trên biển Đông là tuyến hàng hải quan trọng của kinh tế toàn cầu, ước 5.300 tỉ USD hàng hoá lưu thông/năm.
Thách thức của quân đội Mỹ là tìm ra chiến thuật ngăn chặn những động thái quy mô nhỏ của Trung Quốc mà không làm leo thang những tranh chấp cụ thể vào một cuộc xung đột quân sự rộng lớn hơn.
“Những nỗ lực của chúng tôi để ngăn chặn Trung Quốc (trên Biển Đông) rõ ràng là chưa làm được”, một quan chức Mỹ nói với Financial Times.
Căng thẳng gia tăng ở Biển Đông, bao gồm căng thẳng giữa Trung Quốc với Việt Nam và Philippines đang phủ bóng đen lên Đối thoại thường niên Mỹ - Trung Quốc tại Bắc Kinh.
Một yếu tố của chiến lược đang nổi lên này của Mỹ đã thể hiện khi trong tháng 3.2014 một máy bay trinh sát và săn ngầm P-8A của Mỹ bay ngang bãi cạn Second Thomas trên Biển Đông, nơi các tàu Trung Quốc đang cố ngăn chặn việc tiếp tế cho thủy quân lục chiến Philippines đóng trên một xác tàu ở đó từ năm 1999. Các máy bay Mỹ đã bay ở độ cao thấp để đảm bảo người Trung Quốc có thể nhìn thấy được.
"Đây là một động thái mới, với thông điệp là chúng tôi biết những gì các vị đang làm, hành động của các vị sẽ có những hậu quả, và chúng tôi có khả năng, ý chí và chúng tôi đang ở đây", một cựu quan chức Lầu Năm Góc có liên quan đến kế hoạch nói trên, nói với Financial Times.
 
>> Máy bay Mỹ tiếp tục xuất hiện gần giàn khoan Hải Dương-981
Ngoài ra, một phát ngôn viên của Bộ Chỉ huy quân đội Mỹ ở Thái Bình Dương cũng nói rằng “Chúng tôi tiến hành các hoạt động thường nhật trong những vùng nước và vùng trời này dựa trên các quy tắc cơ bản”.
Việc sử dụng rộng rãi các chuyến bay do thám trong khu vực Biển Đông có thể kết hợp với mong muốn công bố công khai hình ảnh hoặc các đoạn video về hoạt động trên biển của Trung Quốc. Một số quan chức Mỹ tin rằng Trung Quốc có thể phải suy nghĩ lại nếu hình ảnh các tàu Trung Quốc quấy rối ngư dân Việt Nam hay Philippines được đưa ra công khai.
Bộ Chỉ huy quân đội Mỹ ở Thái Bình Dương cũng được yêu cầu hợp tác phát triển một hệ thống thông tin hàng hải khu vực, cho phép chính phủ các nước ở Tây Thái Bình Dương có các thông tin chi tiết về vị trí các tàu thuyền trong khu vực. Một số chính phủ nói rằng họ đã bị bất ngờ bởi sự xuất hiện đáng ngạc nhiên của các tàu Trung Quốc.
Mỹ đã cung cấp cho Philippines, Nhật Bản và các nước khác trong khu vực các thiết bị radar cải tiến và hệ thống giám sát khác, và đang tìm cách đưa các thông tin này vào một mạng lưới rộng lớn hơn trong khu vực nhằm chia sẻ dữ liệu.
Lầu Năm Góc cũng đã lên kế hoạch cho các cuộc biểu dương lực lượng, chẳng hạn các chuyến bay của B-52 trên biển Hoa Đông năm ngoái sau khi Trung Quốc đơn phương lập vùng nhận dạng phòng không ở đây. Các tùy chọn tiềm năng khác gồm cả việc đưa tàu chiến Mỹ đến gần các khu vực tranh chấp.

Mỹ có chiến lược gia tăng bay trinh sát và hiện diện ở Biển Đông nhằm ngăn chặn Trung Quốc. Trong ảnh: máy bay trinh sát và chống ngầm hiện đại nhất của Hải quân Mỹ: P-8 Poseidon - Ảnh: Boeing
Các quan chức Mỹ cũng nói rằng chính quyền Mỹ cũng chưa mặn mà với một số ý tưởng đối đầu đã được đề xuất như là phương tiện để ngăn chặn Trung Quốc. Những ý tưởng này bao gồm việc triển khai tàu của lực lượng Tuần duyên Mỹ tại Biển Đông để đối kháng các hoạt động của tàu dân sự Trung Quốc, và sử dụng các tàu hộ tống của Mỹ để hộ tống ngư dân Philippines và của các quốc gia khác ở các khu vực biển bị Trung Quốc lấn chiếm.
Chính quyền Obama từ năm 2010 đã tuyên bố Mỹ có lợi ích quốc gia ở Biển Đông. Từ lúc đó, Mỹ chứng kiến Trung Quốc chiếm bãi cạn Scarborough (Philippines tuyên bố chủ quyền) năm 2012, ngăn cản Philippines tiếp tế cho binh lính ở bãi Second Thomas năm 2014, xây đường băng ở đá Gạc Ma và hạ đặt giàn khoan trên vùng biển Việt Nam.
Mặc Trung Quốc phản đối, Mỹ vẫn tiến hành giám sát trên không lâu dài trong khu vực, mà việc sử dụng máy bay P-8A thế hệ mới trong khu vực tranh chấp là đại diện cho sự gia tăng hoạt động này.
Bà Bonnie Glaser, chuyên gia Châu Á tại Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế (CSIS, Mỹ) nói rằng các chuyến bay trinh sát cho thấy Mỹ "quan tâm giải pháp hòa bình cho các tranh chấp và phản đối sự cưỡng ép của Trung Quốc". Bà nói thêm: "Tôi nghi rằng các chuyến bay như vậy sẽ ngăn chặn hành vi của Trung Quốc".
Tin Nóng

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Vũ khí Ấn Độ khiến Trung Quốc 'run sợ' có sang Việt Nam?

TG- Gần đây báo chí toàn cầu đăng tải 5 loại vũ khí của Ấn Độ, Mỹ mà Trung Quốc 'run sợ' và ngược lại. Hiện Việt Nam đang xem xét vũ khí của Ấn Độ trên cơ sở hợp tác quốc phòng hai nước. Sáng 9/7, Hội thảo Công nghiệp Quốc phòng Việt Nam-Ấn Độ diễn ra tại Hà Nội lần thứ nhất nhằm tăng cường hợp tác QP giữa hai nước. Thông tin này cũng là một quan tâm lớn của báo giới Trung Quốc.
Tên lửa chống hạm BrahMos phóng từ tàu chiến Ấn Độ.
Đến dự Hội thảo có Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, bà Pri-ti Xa-ran, Đại sứ Ấn Độ tại Việt Nam, đại diện các cơ quan Bộ Quốc phòng cùng nhiều doanh nghiệp, cơ sở công nghiệp quốc phòng của hai nước.

Phát biểu khai mạc, Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh nhấn mạnh, Hội thảo diễn ra trong bối cảnh quan hệ đối tác chiến lược Việt Nam-Ấn Độ, trong đó có lĩnh vực hợp tác quốc phòng, đang phát triển tốt đẹp. Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh đề nghị thông qua Hội thảo lần này, các doanh nghiệp hai nước chủ động cung cấp thông tin giới thiệu về năng lực, các lĩnh vực mỗi doanh nghiệp có thế mạnh nhằm tăng cường hiểu biết lẫn nhau, tạo điều kiện cho việc tìm kiếm các cơ hội hợp tác trong tương lai.

Máy bay chiến đấu tàng hình Sukhoi T-50 của Nga có nhiều điểm tương đồng với máy bay FGFA của Ấn Độ. Đây là 1 trong 5 loại vũ khí được cho là có thể khiến trung Quốc run sợ.

Hội thảo được coi là cơ hội kết nối cho các cơ sở, doanh nghiệp công nghiệp quốc phòng của Việt Nam và Ấn Độ gặp gỡ, tìm hiểu nhu cầu và giới thiệu các thế mạnh của mỗi bên, cùng đi sâu trao đổi các biện pháp phát triển hợp tác, đem lại lợi ích thiết thực cho các doanh nghiệp, tạo nhiều cơ hội việc làm cho người lao động hai nước, đưa nền công nghiệp quốc phòng Việt Nam và Ấn Độ ngày càng phát triển, vì hòa bình, phát triển phồn vinh của mỗi nước cũng như của khu vực và trên thế giới.

Tàu ngầm hạt nhân lớp Arihant của Ấn Độ - một trong 5 
loại vũ khí có thể khiến Trung Quốc run sợ.

Báo Trung Quốc 'nhòm ngó' hợp tác quốc phòng Việt, Ấn

Truyền thông Trung Quốc mới đây đã đăng tải những thông tin bày tỏ sự quan tâm lớn tới hợp tác quốc phòng Việt Nam, Ấn Độ.

Mạng Thông tin Công nghệ Quốc phòng Trung Quốc viết: “Ấn Độ sẽ cung cấp một khoản vay trị giá 100 triệu USD cho Việt Nam dùng để mua vũ khí trang bị quốc phòng của Ấn Độ”.

Ấn Độ đã cung cấp linh kiện, phụ tùng để Việt Nam
 duy trì các tàu hộ vệ săn ngầm Petya.

Thủ tướng Ấn Độ cho biết, khoản vay này phản ánh mối quan hệ hợp tác chiến lược ngày càng được tăng cường giữa hai nước Ấn Độ và Việt Nam.

Mặc dù chưa có công bố chi tiết, nhưng theo báo chí Ấn Độ, Việt Nam có kế hoạch mua 4 tàu tuần tra của Ấn Độ. Trong khoản mua sắm quốc phòng trị giá 100 triệu USD, còn bao gồm việc Ấn Độ tiếp tục hỗ trợ huấn luyện và hiện đại hóa lực lượng quốc phòng và an ninh của Việt Nam.

Trước đó, hợp tác quốc phòng giữa Ấn Độ và Việt Nam chủ yếu tập trung vào phương diện mua sắm linh kiện và phụ tùng thay thế của trang thiết bị quân sự Liên Xô cho các tàu hộ vệ lớp Petya và tàu cao tốc tên lửa Osa-II.

Ngoài ra, Ấn Độ còn tham gia cung ứng nhiều linh kiện phụ tùng máy bay (có thể là MiG-21), tên lửa tầm ngắn do Nga chế tạo có trong biên chế Việt Nam.

“Đặc biệt, Ấn Độ sẽ đảm bảo huấn luyện việc tiếp nhận và bảo dưỡng 6 tàu ngầm lớp Kilo mà Nga bán cho Việt Nam”, báo chí Trung Quốc cho biết.

Mạng Thông tin Công nghệ Quốc phòng Trung Quốc nhận định, Ấn Độ sẽ tiếp tục những hành động này, tăng cường quan hệ hợp tác với các nước Đông Nam Á và kìm hãm tầm ảnh hưởng của Trung Quốc tại khu vực này.

Soi vũ khí Ấn Độ có thể phù hợp với Việt Nam

Việt-Ấn ngày càng có nhiều sự hợp tác về quốc phòng, không loại trừ khả năng trong tương lai chúng ta sẽ mua vũ khí do Ấn Độ sản xuất.

Trong nhiều năm qua, Ấn Độ luôn giữ danh hiệu là quốc gia nhập khẩu nhiều vũ khí nhất thế giới. Tuy nhiên, ít ai biết rằng nền công nghiệp quốc phòng Ấn Độ đang ngày một mạnh mẽ hơn với tham vọng vươn ra thế giới.

Thực tế, hiện nay Ấn Độ đã sở hữu một danh sách dài các loại vũ khí nội địa do nước này tự sản xuất có tiềm năng lớn dành cho xuất khẩu gồm: máy bay chiến đấu hạng nhẹ Tejas; hệ thống tên lửa phòng không Akash; tên lửa đạn đạo chiến thuật tầm ngắn Prahaar và tên lửa hành trình chống tàu tốc độ siêu thanh BrahMos. Và những vũ khí này rất có thể phù hợp với Việt Nam.


Trong đó, Tejas là mẫu tiêm kích đa năng hạng nhẹ do Cục Phát triển Hàng không không gian (ADA) thiết kế và Tập đoàn Hindustan Aeronautics Limited (HAL) sản xuất với mục tiêu thay thế tiêm kích đánh chặn huyền thoại MiG-21. Đáng lưu ý là Việt Nam đang trong quá trình loại biên chế dần tiêm kích MiG-21 đã hết hạn sử dụng và Tejas có thể là ứng viên sáng giá để đảm nhiệm vai trò của MiG-21 trong Không quân Việt Nam.


Trong lực lượng tên lửa đối đất, Việt Nam đang sở hữu bệ phóng và các tên lửa đạn đạo chiến thuật tầm ngắn Scud do Liên Xô sản xuất. Tuy nhiên, sau nhiều năm sử dụng thì Scud đã khá lạc hậu về nhiều điểm và Prahaar của Ấn Độ có thể là lựa chọn phù hợp để thay thế. Prahaar là hệ thống tên lửa đạn đạo chiến thuật tầm ngắn được đánh giá là có giá cả phải chăng, phản ứng nhanh, độ chính xác cao.


Đạn tên lửa của hệ thống Akash nặng 720kg, dài 5,78m, tốc độ Mach 2,5, tầm bắn khoảng 30km, đánh chặn mục tiêu ở độ cao 18km. Hiện nay, Việt Nam đang trong quá trình hiện đại hóa hệ thống tên lửa phòng không (thay thế tên lửa S-75, S-125) và Akash trong tương lai gần có thể là ứng viên phù hợp.


BrahMos đã được phát triển thành công các biến thể phóng từ tàu chiến, trên đất liền và đang chuẩn bị thử nghiệm phóng từ Su-30MKI. Đáng lưu ý, các máy bay Su-30MK2 của Việt Nam có cùng khung thân với Su-30MKI, do đó nó hoàn toàn có thể tích hợp BrahMos.


Rõ ràng, BrahMos là thứ vũ khí mà có khả năng cao nhất có thể xuất khẩu trong trang bị của Quân đội Việt Nam. Thực tế, từ cuối năm 2013 đã có thông tin Việt Nam bày tỏ việc muốn sở hữu tên lửa siêu thanh BrahMos, tuy nhiên sau đó phía Ấn Độ đã bác bỏ thông tin này.

P.V (Tổng hợp)


Phần nhận xét hiển thị trên trang