Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Ba, 8 tháng 7, 2014

Đọc truyện Phạm Nhan, suy nghĩ về tình hình biển đảo hiện nay

Vương Thủy

Truyện kí PHẠM NHAN là một trong 50 thiên truyện và kí của Trần Trợ, in trong tập kí sự nổi tiếng từ thời Lê là TỤC BIÊN CÔNG DƯ TIỆP KÍ  - Ghi nhanh tiếp theo tập Công dư tiệp kí của Vũ Phương Đề,  người làng Mộ Trạch huyện Đường An, nay là huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương.
Trần Trợ, tên khai sinh là Trần Quý, lịch sử văn học Việt Nam ghi tên ông là Trần Quí Nha. Người đưa tên Trần Trợ thay cho Trần Quý Nha là PGS - TS  Nguyễn Đăng Na, một chuyên gia hàng đầu về văn học Trung đại Việt Nam, khi ông cùng Nguyễn Thanh Chung dịch lại, có phân tích đối chiếu văn bản, tính khoa học cao hơn các bản dịch cũ,  và cho xuất bản tại Nhà xuất bản Văn học, năm 2008.
Trần Trợ người làng Điền Trì, nay là làng Trực Trì, xã Quốc Tuấn huyện Nam Sách (Hải Dương). Ông sinh tháng 10 năm Ất Sửu (1745), không rõ mất năm nào. Ở thời  Lê, ông làm quan đến chức Viên ngoại lang bộ Lại, Trợ giáo Thái tử, như ta hiểu bây giờ là  tương đương Vụ trưởng bộ Tổ chức cán bộ, Phụ giảng con vua học, để nối nghiệp cha. Chữ “Trợ” từ đó mà ra và con cháu dòng họ Trần Điền Trì vì thế đều gọi ông là cụ Trợ, thay cho tên. Đây là tục kị húy của dòng họ. Cha ông là Hầu tước Trần Tiến, Phó đô Ngự sử, Triều liệt đại phu, truy phong Lễ bộ thượng thư, trong họ chỉ  gọi là cụ Phó. Ông của ông là Công tước ( Quận Công) Trần Cảnh, Tham tụng ( tể tướng) - Lễ bộ thượng thư, Triều liệt đại phu, Thượng trụ quốc, trong họ chỉ gọi là cụ Quận. Cụ ông là Hầu tước Trần Thọ, Tham tụng, Hình bộ thượng thư, do xử sai một vụ án mà hạ chức làm Tả thị lang ( thứ trưởng thứ nhất) bộ Hộ, Triều liệt đại phu, Trụ quốc, trong họ chỉ gọi là cụ Tả Lễ. Tôi ghi những điều này để bạn đọc hiểu được gia thế của ông và dễ đồng cảm khi  gặp trong sách xưa những chức danh như thế.
Tục biên Công dư tiệp kí là tác phẩm duy nhất còn lại của Trần Trợ, viết sau Công dư tiệp kí của Vũ Phương Đề (1755). Không rõ Trần Trợ khởi thảo từ năm nào, nhưng hoàn thành Tục biên và được truyền bá khá rộng rãi trước năm 1786, vì năm 1786, Tục biên Công dư tiệp kí , theo PGS- TS Nguyễn Đăng Na, đã được nhiều danh sĩ đương thời nói đến.
Tên truyện Phạm Nhan là tên nhân vật. Dân gian ai cũng thuộc tên hắn, cũng biết tên quê hắn, có lẽ là từ truyện kí của Trần Trợ. Quê hắn là làng An Bài, nay là xã Hưng Đạo huyện Đông Triều tỉnh Quảng Ninh ( trước năm 1962, thuộc tỉnh Hải Dương). Hắn rất nổi tiếng là tàn ác, lại càng nổi tiếng hơn khi được chính Hưng Đạo vương chém đầu. Được Hưng Đạo vương chém đầu, cũng là một vinh dự lớn cho cuộc đời phản bội của hắn.
Trong truyện kí Phạm Nhan, Trần Trợ cho biết tên hắn là Bá Linh, họ Nguyễn. Phạm Nhan là tên chữ khi hắn đi thi và ra làm quan. Sau này, anh hùng dân tộc Nguyễn Thiện Thuật, lãnh tụ cuộc khởi nghĩa Bãi Sậy, khi đến thăm đền Hưng Đạo đại vương Trần Quốc Tuấn tại Kiếp Bạc, Hải Dương, đã làm thơ động viên nhân dân đánh giặc Pháp. Cụ Tán Thuật viết về giặc Pháp: “Độc ác còn hơn cả Bá Linh”, tức là hơn tên này.
 Cha Nguyễn Bá Linh là người Quảng Đông, Trung Quốc, sang buôn bán ở chợ Đông Hồ (chợ Cột - Đông Triều sau này) đã lấy vợ ở làng An Bài rồi sinh ra hắn tại đây. Lớn lên hắn về quê cha học thêm rồi đi thi, đỗ tiến sĩ. Vốn có tài làm thuốc, hắn được tuyển vào cung, rồi thông dâm với một cung nữ được vua Nguyên sủng ái, bị khép án chém đầu. Đúng lúc đó, vua Nguyên khởi binh đánh Đại Việt lần thứ 3, năm 1287, hắn xin cho lấy công chuộc tội, vì hắn rất thông thuộc “sào huyệt” của  Quốc công Tiết chế  Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn ở Vạn Kiếp ( Kiếp Bạc, Chí Linh, Hải Dương). Vua Nguyên ưng, phong hắn làm tướng tiên phong, cùng Nguyên soái - Bình chương sự Ô Mã Nhi, theo Tiết chế Trấn Nam vương Thoát Hoan, con vua Nguyên, dẫn quân theo đường Lạng Sơn đánh thẳng vào Vạn Kiếp. Đây là đạo quân mạnh nhất của giặc. Anh của Hưng Đạo vương là Trần Tung và các con là Trần Quốc Nghiễn, Trần Quốc Hiện, Trần Quốc Tảng, Trần Quốc Uất, theo sự Tiết chế của Trần Quốc Tuấn đánh giặc ở phòng tuyến này, nay là vùng đất Hải Dương, Bắc Ninh, Bắc Giang và Lạng Sơn. Còn con rể nuôi là Phạm Ngũ Lão đóng quân đón đánh giặc Nguyên ở phía Nam ải Chi Lăng.
 Trong trận đối đầu với giặc Nguyên trong đó Phạm Nhan làm tướng tiên phong ở ải Phú Lương, ngày 14/3 năm Đinh Hợi (1287), Hưng Đạo vương phải lui quân vì thế địch rất mạnh. Phạm Nhan thừa thắng, kéo quân từ Vạn Kiếp về Đông Triều, dọc đường đã tàn sát nhân dân ta vô cùng dã man. Thêm một căn cứ để bác bỏ ý kiến cho rằng vua Trần Nhân Tông đã đóng quân ở làng Đức Sơn xã Yên Đức, cùng bản huyện, ở phía tả ngạn sông Đá Bạc, đầu nguồn sông Bạch Đằng, vì đây là vùng đất kiểm soát của Phạm Nhan. Đại Việt sử kí toàn thư ghi rõ: vua Trần đánh trận Bạch Đằng đã kéo quân Thánh Dực từ phía Thái Bình về, qua Kiến An, rồi vào trận tại Thủy Nguyên, bên hữu ngạn sông, nay là khu vực dãy núi đá Phi Liệt, Hải Phòng.
 Đến khi vào trận Bạch Đằng, chiều ngày 8/3 năm Mậu Tí, tức ngày 9/4/1288, Phạm Nhan bị bắt sống. Trước khi chết, hắn xin được đưa về làng An Bài, nơi đã sinh ra hắn và xin được Hưng Đạo vương chém đầu hắn tại đây. Có lẽ vì thế chăng, mà xã An Bài, sát cạnh quốc lộ 18, trên đường Đông Triều đi Hạ Long, sau này mang tên Hưng Đạo (vương). Quân sĩ chém đầu này, hắn lại mọc đầu khác, cho đến khi Hưng Đạo vương chém mới đứt hẳn. Vương cho vứt xác hắn xuống sông, vì không có tấc đất nào có thể chôn hắn được. Sau đó, từng mảnh xác thân hắn rữa ra biến thành những con đỉa, chuyên đi hút máu người. Đặc biệt thứ máu hắn ưa thích nhất là máu đàn bà đẻ.

Trong “tình hình biển đảo đang diễn biến phức tạp” như hiện nay, đọc lại truyện Phạm Nhan và lặng lẽ suy ngẫm, mới thấy chuyện kể đó của Trần Trợ, với phong cách biểu đạt giản dị, như chuyện kể dân gian, nhưng hàm chứa những bài học có ý nghĩa thời sự và thời thế vô cùng sâu sắc.
./.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

lập trường chính thức của Việt Nam về việc Trung Quốc hạ đặt trái phép giàn khoan Hải Dương-981 trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam.

(Dân trí) -

Hành trình áp sát “bạch tuộc” Hải Dương 981
Giàn khoan Hải Dương 981 đang hạ đặt trái phép trên vùng biển Việt Nam.

Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam bác bỏ toàn bộ, cả trên thực tế cũng như pháp l‎ý, các luận cứ của Trung Quốc nêu trong các văn bản kèm theo các thư ngày 22/5/2014 và ngày 9/6/2014 của Đại biện Phái đoàn đại diện thường trực nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa gửi Tổng Thư k‎ý Liên hợp quốc lần lượt trong các văn bản A/68/887 và A/68/907. Việt Nam xin nhắc lại như sau:
1. Trung Quốc làm gia tăng căng thẳng ở Biển Đông bằng các hành động vi phạm luật pháp quốc tế
Cần phải khẳng định ngay rằng tranh chấp về chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa đã tồn tại từ rất lâu. Nhưng tranh chấp này không phải là nguồn gốc của căng thẳng gia tăng hiện nay tại Biển Đông, mà căng thẳng này cần phải được giải quyết bằng cách áp dụng các quy tắc và thủ tục được quy định bởi Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982. Tình hình căng thẳng hiện nay xuất phát từ việc Trung Quốc hạ đặt trái phép giàn khoan Hải Dương-981 trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam mà tại đó Việt Nam được hưởng các quyền của một quốc gia ven biển theo quy định của Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982.
Ngày 02 tháng 5 năm 2014, Trung Quốc đã đưa giàn khoan Hải Dương-981 vào khoan thăm dò và định vị tại tọa độ 15-29.58 độ vĩ Bắc, 111-12.06 độ kinh Đông. Ngày 27 tháng 5 năm 2014, giàn khoan được dịch chuyển đến vị trí 15-33.38 độ vĩ Bắc, 111-34.62 độ kinh Đông. Các vị trí này đều nằm sâu trong vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa của Việt Nam và cách bờ biển Việt Nam từ 130 đến 150 hải lý. Hành động của Trung Quốc xâm phạm các quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam theo Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982, vi phạm thỏa thuận của lãnh đạo cấp cao hai nước về không mở rộng, làm phức tạp tình hình Biển Đông.
Trước sau như một, Việt Nam kiên quyết phản đối mọi hành động của Trung Quốc xâm phạm quyền chủ quyền và quyền tài phán đối với vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam. Tại khu vực hoạt động của giàn khoan Hải Dương-981, các tàu của Trung Quốc đã nhiều lần xâm phạm vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam và tiến hành khảo sát thăm dò địa chấn 2D, 3D từ năm 2005.
Những lần như vậy, Việt Nam đều đã cử tàu dân sự thực thi pháp luật ra yêu cầu Trung Quốc không được hoạt động trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, đồng thời đã nhiều lần tiếp xúc ngoại giao, trao công hàm kiên quyết phản đối hoạt động sai trái của Trung Quốc, gồm một loạt các cuộc tiếp xúc giữa Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Việt Nam với Đại sứ Trung Quốc tại Hà Nội, và ngày 05 tháng 8 năm 2010 và ngày 08 tháng 8 năm 2011, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam đã công khai phản đối, yêu cầu Trung Quốc chấm dứt ngay và không để tái diễn các hoạt động vi phạm quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam tại Biển Đông.
Từ ngày 02 tháng 5 năm 2014 đến nay, Việt Nam đã nhiều lần gửi công hàm, tiếp xúc trên 30 lần ở nhiều cấp khác nhau để phản đối việc Trung Quốc đưa giàn khoan và tàu hộ tống vào vùng biển của Việt Nam – hành động xâm phạm các quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam. Trong các công hàm và tại các lần tiếp xúc này, Việt Nam luôn yêu cầu Trung Quốc rút giàn khoan và tàu hộ tống ra khỏi vùng biển của Việt Nam.
Để bảo vệ hoạt động bất hợp pháp của giàn khoan Hải Dương-981, Trung Quốc triển khai hơn 100 tàu hộ tống, trong đó có tàu quân sự vào vùng biển của Việt Nam. Các tàu hải cảnh của Trung Quốc chủ động đâm va các tàu thực thi pháp luật của Việt Nam.
Nhiều bằng chứng dưới dạng băng hình và hình ảnh được thực hiện bởi các phóng viên quốc tế được Việt Nam mời ra hiện trường cho thấy rõ ràng các hành động bạo lực và hung hăng của Trung Quốc như đâm húc, bắn vòi rồng vào các tàu của Việt Nam, làm bị thương hàng chục cán bộ và đâm hỏng nhiều tàu của các cơ quan thực thi pháp luật dân sự của Việt Nam và đã đâm chìm một tàu cá của Việt Nam (ngày 26 tháng 5 năm 2014) mà không xem xét đến an toàn và tính mạng của ngư dân Việt Nam. Các hành động của Trung Quốc đã không chỉ vi phạm quy định cấm sử dụng vũ lực và đe dọa sử dụng vũ lực trong luật pháp quốc tế mà còn là hành vi vô nhân đạo đối với những người đi biển.
2. Các nỗ lực và thiện chí của Việt Nam để giải quyết tình hình căng thẳng hiện tại thông qua đối thoại và các biện pháp hòa bình khác đã liên tục bị Trung Quốc khước từ
Kể từ khi tình hình căng thẳng hiện nay bắt đầu vào đầu tháng 5 năm 2014, Việt Nam đã nỗ lực hết sức liên lạc và đối thoại với Trung Quốc dưới nhiều hình thức và nhiều cấp khác nhau để yêu cầu Trung Quốc chấm dứt ngay lập tức các hành động vi phạm quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam, rút giàn khoan và tàu ra khỏi vùng biển của Việt Nam để tạo điều kiện thuận lợi cho hai bên bắt đầu đàm phán ngay lập tức để ổn định tình hình và quản lý các vấn đề trên biển giữa hai nước, phù hợp với Hiến chương Liên hợp quốc, các điều khoản có liên quan của Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982, Tuyên bố về Ứng xử của các bên ở Biển Đông và các thỏa thuận khác giữa hai nước.
Việt Nam đã tiến hành hơn 30 lần tiếp xúc ngoại giao với các cơ quan có thẩm quyền của Trung Quốc, trong đó gần đây nhất là cuộc gặp giữa Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam Phạm Bình Minh và Ủy viên Quốc vụ Trung Quốc Dương Khiết Trì tại Hà Nội ngày 18 tháng 6 năm 2014. Nhưng cho đến nay, Trung Quốc vẫn nhất quyết từ chối rút giàn khoan Hải Dương-981 cũng như tiến hành đàm phán thực chất về tính pháp lý của các hành động của Trung Quốc.
Trung Quốc phải tôn trọng các quyền của Việt Nam được xác định bởi Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982. Một lần nữa, Việt Nam kiên quyết yêu cầu Trung Quốc tuân thủ luật pháp quốc tế và ngay lập tức chấm dứt các hành động vi phạm quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam.
Cụ thể, Việt Nam yêu cầu Trung Quốc rút giàn khoan Hải Dương-981, tàu và các phương tiện, thiết bị khác khỏi vùng biển của Việt Nam và không xâm phạm vùng biển của Việt Nam trong tương lai. Việt Nam trịnh trọng yêu cầu Trung Quốc giải quyết tất cả các tranh chấp thông qua các biện pháp hòa bình phù hợp với luật pháp quốc tế, trong đó có Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982, tránh để căng thẳng kéo dài và tránh dẫn đến xung đột giữa hai nước.
PV

Phần nhận xét hiển thị trên trang
Sau một đêm với giấc  ngủ ngon lành, thanh thản vì không phải thức để dõi theo trái bóng tròn lăn trên các sân cỏ Brazil khi giải World Cup sắp bước vào các trận đấu bán kết với 4 đội tuyển hay nhất là Brazil, Đức, Achentina và Hà Lan, buổi sáng ngày 8 tháng 6 tôi thức dậy, ngỡ sẽ lại có một ngày bình yên nữa sẽ tới với ánh năng rực rỡ  phủ đày trên khắp thành phố. Nhưng không, bên tai tôi chợt vang lên một giọng nói  thảng  thốt,  nghẹn ngào..,giọng của một nữ phát thanh viên của đài Tiêng nói Viêt Nam trong bản tin buổi sáng....Một tai nạn thảm khốc đã xảy ra, 21 sỹ quan và chiến sỹ của Quân đôi nhân dân VN trên chiếc trực thăng số hiệu MI 171 trên đương thực hiên chuyến tập huấn nhảy dù đa gặp nạn khi chiếc máy bay bị rơi rồi nổ và bốc cháy dữ dội chỉ 16 phút sau khi cất cánh tại sân bay Hòa Lạc, 16 người đã hy sinh tại chỗ ,5 người bị thương vì bỏng nặng đang được cưu chữa khẩn cấp. Cột lửa bốc lên từ chiếc máy bay bị rơi đã nhuộm đỏ cả một góc trời ngoai ô thành phố Ha Nôi và loang theo vệt nắng đưa nỗi buồn thương dến từng góc phố, tưng ngõ nhỏ của Thủ đô thân yêu. Vậy là trong thời bình nhưng vẫn có : các Anh, những " NGƯỜI LÍNH RA ĐI TỪ ĐÓ KHÔNG VỀ " (1). Thật là đau buồn, thật là thương tiếc vô hạn. Giờ phút này ,tôi cũng như bao người con đất Việt khác đều không thể thờ ơ, không thể chỉ lo cho công việc của riêng mình nữa bởi sự ám ảnh bởi nỗi đau mất mát vô hạn từ tai nạn thảm khốc bất ngờ kia.

  SAO CÁC ANH VỘI RA ĐI ? Các anh ra đi để lai sự mất mát thương đau không thể đong đếm được của bao đông đội, của bao gia đình,  của những người Mẹ, người Vợ  và những đứa con...

         Câu chuyện bi thảm này đặc biệt khiến tôi quan tâm vì nơi xảy ra tai nạn, nơi chiếc máy bay trực thăng rơi ở đia điểm thuộc Huyên Thạch Thất nhưng chỉ cách nhà vườn của gia đình chúng tôi khoảng 2km theo đường chim bay. Sáng nay sau khi nghe tin chung tôi đã lên khu nhà vườn đi qua gần địa điểm máy bay rơi, tại đó còn rất đông người dân vẫn tập trung quanh khu vực sân nhà của một người dân nơi chiếc máy bay rơi, lúc này khu sân vườn đó chỉ còn là một đống đổ nát hoang tàn.. Mấy nguwoif dân chứng kiến tận mắt cảnh tượng máy bay rơi đã  kể lại,  khi chiếc máy bay có biểu hiện sắp bị rơi xuông khu chợ Hòa Lạc họ đã thấy hình như các chiến sỹ lái máy bay đã cố đưa chiếc máy bay ra xa khu vực chợ để tránh tổn thất cho người dân dưới mặt đất. Trong giờ phút đối mặt với cái chết, các chiến sỹ của chúng ta vẫn nghĩ đên người dân, họ thật quả cảm ,họ xứng danh là " chiến sỹ quân đội nhân dân" , người dân sẽ không bao giờ quên các chiến sỹ đã hy sinh vì nhiệm vụ, hy sinh vì Tổ Quốc vô vàn yêu mến.

        Sự phi lý của việc trong thời bình khi tất cả mọi người chung ta đều được sống trong bình yên, hạnh phúc thì những người lính bất chợt có thể phải hy sinh tính mạng của mình khiến chúng ta không thể không bình tâm mà suy ngẫm, đó cũng là điều đã đánh thức lương tâm chung ta, nhắc nhở chúng ta rằng, trong lúc chung ta được sống yên bình, vui vẻ cùng gia đình, vợ chông con cái quây quần bên nhau, tôi và nhiều ngươi đam mê môn bong tròn khác đang còn có thời gian mải mê với trái bóng tròn trong uộc đua tầm cỡ thế giơi, thì vẫn còn đó những người lính đang miệt mài luyện tâp để ứng phó với những biến cố bất thường và để bảo vệ Tổ Quốc, và ở ngoài biển xa kia vẫn còn bao chiến sỹ cảnh sát biền va ngư dân của chung ta vẫn ngày đêm kiên trì bám biển kiên quyết đấu tranh với kẻ thù phương bắc ,những kẻ mất hết tính người, những kẻ vô đạo đức xâm phạm chủ quyền biển đảo của chung ta. Chung ta không được phép quên và chắc chắn sẽ không bao giờ quên sự hy sinh quên mình của các chiến sỹ để bảo vệ cho cuộc sông bình yên ngày ngày của chúng ta.

        Một ngày mới lại đến với bao công việc đang chờ đón mỗi người chung ta, nhưng nỗi đau thầm lặng dường như vẫn khó có thể nguôi ngoai. Là những con dân của đất mẹ Việt Nam Chúng ta gửi đên gia quyến các chiến sỹ đã hy sinh vì nhiệm vụ lời chia buồn sâu sắc nhất, xin kính cẩn nghiêng mình trước anh linh các chiến sỹ , xin thắp một nén nhang thành kính  tưởng niệm vong linh các anh hùng ,liệt sỹ.

                                                                          Công Lý ,  chiều ngày 8/6/2014
                                                                                     Hòa Lạc - Hà Nội.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

BÀI HỌC VỀ TQ TRONG KÝ ỨC CON TRAI TBT LÊ DUẨN

Kỷ niệm 28 năm ngày mất cố Tổng bí thư Lê Duẩn (10.7.1986 - 10.7.2014)

Bài học về TQ trong ký ức con trai cố TBT Lê Duẩn

TS. Lê Kiên Thành, con trai cố Tổng bí thư Lê Duẩn từng chia sẻ về cha mình: “Nhiều người nói, cha tôi là người chống Trung Quốc. Nhưng cha tôi từng nói, bản thân giới lãnh đạo Trung Quốc với người Trung Quốc, với đất nước, với dân tộc Trung Quốc là hai khái niệm khác hẳn nhau". 
Ngày bé, họa báo Trung Quốc tràn lan ở VN, in hình các lãnh đạo Trung Quốc, màu và giấy rất đẹp. Tôi thường lấy để bọc vở. Có lần cha tôi nhìn thấy những cuốn vở đó, hôm sau ông đã yêu cầu thư ký bóc hết  những bìa có ảnh lãnh tụ Trung Quốc để bọc những tờ báo khác vào. 
Ông không muốn người ngoài hiểu rằng con trai mình có gì không tôn trọng với Trung Quốc. Nghĩa là cha tôi lúc nào cũng nghĩ rất sâu xa, cẩn trọng, dù trong thâm tâm, ông luôn cảnh giác với người Trung Quốc.
Thực tế là năm 1979, khi Đặng Tiểu Bình đánh Việt Nam, cha tôi rất buồn. Ở thời điểm đó, ngoài việc tuyên bố dạy cho Việt Nam một bài học, Đặng Tiểu Bình muốn chứng tỏ với nước Mỹ, Trung Quốc bây giờ không còn là một Trung Quốc đứng cạnh Việt Nam nữa.
Cha tôi và Đặng Tiểu Bình từng rất thân thiết với nhau. Năm 1961, ở hội nghị các Đảng Cộng sản, cha tôi và Đặng Tiểu Bình đã từng thức thâu đêm với nhau để chia sẻ quan điểm. Sự thân tình đó kéo dài mãi giữa hai người, kể cả khi Đặng Tiểu Bình bị yếu thế trong giới lãnh đạo Trung Quốc, mỗi lần sang Trung Quốc, cha tôi vẫn tìm gặp. Vì vậy cuộc chiến năm 1979, với cha tôi còn là sự phản bội về quan hệ cá nhân.
"Trong sâu thẳm, tôi tự hào về điều đó: Cha tôi, TBT Lê Duẩn là người quyết bảo vệ đến cùng từng tấc đất ở đây. Trái tim ông đã xui khiến ông hành động như thế. Và nếu còn sống đến hôm nay và đối mặt với vấn đề biển Đông, ông cũng sẽ chỉ có duy nhất một lựa chọn đó!”.
Tuy nhiên, khi Trung Quốc đã đánh ta, có lần xem những bài viết kích động phê phán những lãnh tụ Trung Quốc, cha tôi đã đề nghị: “Đừng viết về cá nhân như thế này. Chúng ta phê phán tư tưởng, hành động của họ, chứ không phê phán cá nhân”.
Nhiều người nói, nếu không vì cha tôi, sẽ không có cuộc chiến tranh biên giới năm 1979. Nhưng thực tế, đến thời điểm này, khi chúng ta đã hết sức mềm mỏng, khi chúng ta đã lùi đến hết mức chúng ta có thể lùi, những tham vọng của Trung Quốc với lãnh thổ nước ta vẫn không hề dừng lại, thậm chí còn công khai và táo tợn hơn rất nhiều.
Tôi luôn tin rằng, lòng yêu nước không phải của riêng ai. Ai cũng sẽ yêu nước, dù ít hay nhiều. Và mỗi người đều có quyền yêu nước theo cách của mình. Nhưng ở vị trí người lãnh đạo đất nước, lòng yêu nước ấy phải là tuyệt đối. Bởi mỗi quyết định liên quan đến con người đó đều ảnh hưởng đến vận mệnh dân tộc. 
Nên, chừng nào trong đầu một nhà lãnh đạo còn có những chuyện cá nhân chi phối, thì chừng đó họ sẽ không thể anh minh trong những quyết định liên quan đến vận mệnh dân tộc. Như cha tôi lúc còn sống luôn nói rằng, khi người ta đã yêu đất nước đến vô cùng, đến mức trái tim chỉ có thể đập vì nó, thì họ sẽ luôn tìm được con đường đúng nhất.
Một lần, khi ghé thăm cửa khẩu Hữu Nghị, nơi được coi là biểu tượng hàn gắn của mối quan hệ Việt Nam – Trung Quốc sau giai đoạn chiến tranh, tôi đã thấy ở nơi trưng bày những kỷ vật về mối quan hệ hai nước, có tất cả những tấm ảnh lãnh đạo Việt Nam qua nhiều thế hệ, trừ cha mình. 

Trong sâu thẳm, tôi tự hào về điều đó: Cha tôi, TBT Lê Duẩn là người quyết bảo vệ đến cùng từng tấc đất ở đây. Trái tim ông đã xui khiến ông hành động như thế. Và nếu còn sống đến hôm nay và đối mặt với vấn đề biển Đông, ông cũng sẽ chỉ có duy nhất một lựa chọn đó!”.
Bởi Đặng Hồng Phương
Phần nhận xét hiển thị trên trang

DANG SINH: Ngư dân ta phải hứng chịu tai họa đến bao giờ?

DANG SINH: Ngư dân ta phải hứng chịu tai họa đến bao giờ?: Theo dõi số phận những ngư dân đánh bắt xa bờ, nhất là ở vùng biển gần quần đảo Hoàng Sa, chỉ có những kẻ vô cảm mới không thấy xót xa, u... Phần nhận xét hiển thị trên trang

GỬI CÁC ÔNG HOÀNG TRUNG HOA THỜI NAY

Lòng quả cảm, trí thông minh, tài thao lược của con cháu dòng Hùng -Lạc

Các Hoàng đế Trung Hoa xưa nay vẫn xem nước mình là trung tâm vũ trụ. Các nước láng giềng là phên dậu , chư hầu. Các ngài ôm mộng bá vương, luôn dã tâm xâm lược, nói một đàng , làm một nẻo, lật lọng, đểu cáng và xảo trá.
Những bài học xâm lược chuốc lấy thất bại cay đắng, lịch sử truyền đời trên các chiến trận với Việt Nam: Bạch Đằng , Đống Đa, Chi Lăng… thì đã nói nhiều rồi. Xem trong chính trường của các hoàng đế Trung Hoa thấy cũng nhiều phen đau đớn ê chề với các sứ thần Việt Nam

1.Giang Văn Minh: Vị sứ thần bất khuất
Giang Văn Minh thuở nhỏ nổi tiếng là người ham học, ông người làng Mông Phụ, xã Đường Lâm (nay thuộc thị xã Sơn Tây). Năm 1628, đời vua Lê Thần Tông, triều đình mở khoa thi, ông đã đỗ Thám hoa trong kỳ thi ấy và được triều đình trọng dụng. 
Năm 1637, Giang Văn Minh được triều đình cử sang sứ nhà Minh.

Vua nhà Minh hôm ấy rất bất bình. Vào ngày khánh thọ nhà vua, các sứ giả các nước đến cống lễ thiên triều, đều mũ áo chỉnh tề, đem phẩm vật đến mừng đúng theo phép tắc. Chỉ mỗi sứ thần Việt Nam là không thấy đâu cả. Vua nổi giận, cho thị vệ đến nơi công quán, đòi sứ giả đến hỏi nguyên do.
Bọn lính đến nơi thấy sứ thần Việt Nam đang nằm trên giường, ôm mặt khóc nức nở. Đem lệnh tuyên triệu ra bắt buộc, ông mới gắng gượng thất thểu đi theo chúng và triều kiến nhà vua. Trả lời câu hỏi và cũng là lời trách cứ vì tội vô lễ, sứ thần Đại Việt quỳ xuống tâu trình: 
- Chúng tôi tự biết việc dự lễ khánh thọ là hệ trọng, vắng mặt thật là điều trọng tội, kính xin thánh hoàng lượng thứ cho. Nguyên do chỉ vì hôm nay lại đúng vào ngày giỗ tổ của thần. Thần được nhận trọng trách đi sứ xa quê hương lâu ngày, gia đình ở quê thì neo đơn, đến ngày giỗ tổ mà không thắp được cây hương tưởng niệm thì thấy xót xa trong dạ. Vì vậy mà không thể nào tham dự được cuộc vui.  
Nói xong, ông lại khóc ầm lên. Vua Minh bỗng bật cười:  
- Tưởng làm sao chứ như thế thì việc gì phải khóc. Cũng đáng khen cho nhà ngươi biết giữ hiếu kính với tổ tiên. Nhưng nếu là giỗ cha, giỗ mẹ thì còn có thể được, chứ ông tổ xa xôi như vậy thì có gì đáng phải băn khoăn cho lắm. Người khuất, chuyện xa đã đến mấy đời, thì cũng có thể “miễn nghị”.  
Vị sứ giả Việt Nam lau nước mắt, ngẩng đầu lên, giọng kiên quyết:  
- Muôn tâu, lời dạy của thánh hoàng thật là quý báu. Chính thần cũng đã nghĩ như vậy, mà vẫn không an tâm, vì thần vẫn thấy trong đời, lắm chuyện xa xôi mà không được “miễn nghị”. Chẳng hạn như việc Trung Hoa bắt nước Nam của thần phải cống nạp người vàng để trả nợ Liễu Thăng chết cách đây hàng mấy trăm năm. Mãi đến bây giờ cũng chưa miễn nghị. Nay được lời thánh hoàng ban dạy, thần cũng xin gác lại ngày giỗ tổ để cùng vui với buổi khánh tiết này. Cúi xin thánh hoàng từ đây “miễn nghị” cho cái nợ Liễu Thăng, cho tình giao hảo hai nước khỏi bị những chuyện xa xôi kia làm bận bịu...  
Vua Minh ngớ người ra! Lý lẽ của sứ thần thật mềm mỏng, ôn hòa mà chặt chẽ, kín không khe hở. Vua đành gật đầu, cho bãi bỏ lệ cống người vàng.


Tiếp sứ giả Giang Văn Minh của nhà Lê, vua nhà Minh tỏ ra ngạo mạn khinh miệt dân, trong lúc đàm đạo vua Minh đã ra một vế đối nhằm hạ nhục sứ giả của triều Lê. Vua Minh đọc:
“Đồng trụ chí kim đài dĩ lục” nghĩa là “Cột đồng đến nay rêu đã mọc xanh”. Vế ra của vua Minh nhằm nhắc lại một sự kiện lịch sử đau buồn của dân Đại Việt. Số là vào năm 40 sau Công nguyên, Hai Bà Trưng đã phất cờ khởi nghĩa chống lại ách độ hộ của nhà Hán. Mã Viện là một viên tướng tài ba của vua Hán được vua Hán phong là Phục Ba tướng quân, đem quân sang đàn áp cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng. Tục truyền sau khi thắng lợi, Mã Viện đã dựng: “Cột đồng Đông Hán” làm phân giới với lời tuyên bố xấc xược: “Đồng trụ chiết, Giao Chỉ diệt”. Nghe vế ra đối của vua Minh, Giang Văn Minh thấy vua Minh đã xúc phạm đến danh dự của dân tộc. Mặt ông nóng bừng nhưng vẫn giữ vẻ bình tĩnh, ông đã khẳng khái đối lại:
Đằng Giang tự cổ huyết do hồng” (Sông Bạch Đằng từ xưa máu vẫn còn đỏ). Vế đối của Giang Văn Minh đã dõng dạc nhắc lại sự tích ba lần quân xâm lược phương Bắc sang đánh nước ta và đều bị thất bại thảm hại. Đó là các chiến thắng của Ngô Quyền, của vua Lê Đại Hành và của Hưng Đạo Đại vương những trận đánh lớn tiễu trừ quân xâm lược đều ở sông Bạch Đằng. Cả ba cuộc chiến trên, máu quân thù đã chảy đỏ cả dòng sông.
Vua Minh nghe vế đối thì tái mặt vì không khuất phục được sứ thần nước ta mà còn bị Giang Văn Minh dạy cho một bài học nhớ đời. Vua Minh cay cú tức giận đã ra lệnh trám mũi, trám miệng rồi mổ bụng moi gan Giang Văn Minh.
2. Mạc Đĩnh Chi là người làng Lũng Động, huyện Chí Linh (nay thuộc tỉnh Hải Dương). Ông có tướng mạo xấu xí nhưng trí tuệthông minh.
Năm 1304 đời vua Trần Anh Tông niên hiệu Hưng Long thứ 12,triều đình mở khoa thi lấy 44 người đỗ Thái học sinh (tiến sĩ). Mạc Đĩnh Chi đỗ đầu, chiếm học vị trạng nguyên. Ông được cử giữ việc coi sóc thư khố của nhà vua, rồi chức Tả bộc xạ (Thượng thư). Đặc biệt hai lần đi sứ Trung Quốc, ông đã dùng tài năng và phẩm chất thông minh của mình khiến người Trung Hoa phải khâm phục.
Năm 1308 Mạc Đĩnh Chi đi sứ nhà Nguyên,
Tới kinh đô nhà Nguyên, Mạc Đĩnh Chi được vời vào tiếp kiến vuaNguyên. Vua Mông Cổ ra một câu đối đòi ông phải đối lại:
Nhật: hỏa; vân: yên; bạch đán thiêu tàn ngọc thố.
(nghĩa là: Mặt trời là lửa, mây là khói; ban ngày đốt cháy vầng trăng).
Mạc Đĩnh Chi hiểu rõ dụng ý tỏ vẻ kiêu ngạo của một nước lớn và cả mục đích đe dọa của vua Nguyên. Ông đã ứng khẩu đối lại:
Nguyệt: cung; tinh: đạn; hoàng hôn xạ lạc kim ô.
(nghĩa là: Trăng là cung, sao là tên; chiều tối bắn rụng mặt trời).
Vế đối rất chuẩn và tỏ rõ sự cứng rắn của người dân nước Việt, không run sợ và sẵn sàng giáng trả và làm thất bại kẻ thù.
Còn nhiều chuyện nữa khiến người Tàu phải tâm phuc, khẩu phục ý chí và trí tuệ Việt Nam ta, đã dậy cho họ nhiều “ Bài học”. Chúng ta kiên cường, dẻo dai, khôn khéo, đánh bại từng bước âm mưu  xâm lược.
Mưu đồ đưa giàn khoan và hàng trăm tàu hộ tống để cướp phá vùng biển của ta rồi cũng sẽ chuốc lấy thất bại cay đắng như ông cha bọn chúng mà thôi. Chúng sẽ vấp phải lòng quả cảm, trí thông minh, tài thao lược của con cháu dòng Hùng Việt kiên cường.
TQL

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Trung Quốc sẽ bị tổn thất lớn nhất nếu xung đột với Mỹ ở Biển Đông

(GDVN) - "Trong tương lai, các nước ven biển như Việt Nam, Philippines có thể bị Trung Quốc “thôn tính như cắt xúc xích (kiểu tằm ăn dâu)”.
Tàu hộ vệ hạng nhẹ Type 056 mới, có khả năng biên chế thêm cho Hạm đội Nam Hải trong thời gian tới, triển khai ở Biển Đông (nguồn mạng sina Trung Quốc).
Tờ “Hoàn Cầu” Trung Quốc ngày 5 tháng 7 đăng bài viết nhan đề “Báo Nhật: Trung-Mỹ nếu xung đột ở Biển Đông, người chịu tổn thất lớn nhất là Trung Quốc”.
Bài báo dẫn tờ “Sankei Shimbun” Nhật Bản cho rằng, kinh tế Trung Quốc bị tổn thất lớn nhất có thể do xung đột ngẫu nhiên, Trung Quốc và một số nước ven Biển Đông xảy ra va chạm tàu, tiến tới phát triển đến mức sử dụng vũ khí cỡ nhỏ…
Khi cùng thảo luận với các chuyên gia trong và ngoài nước về vấn đề phòng thủ chuỗi đảo, tập đoàn nghiên cứu chính sách biển Nhật Bản đã đặt ra tình huống nguy hiểm tiềm tàng này, xây dựng thành báo cáo dự báo “tổn thất kinh tế trong tình hình hàng hải Biển Đông bị đe dọa”, đồng thời qua đó cảnh báo, khi nền kinh tế thế giới xảy ra cục diện hỗn loạn lớn, kẻ “bị tổn thất lớn nhất” là Trung Quốc.
Báo cáo dự đoán khả năng xảy ra xung đột, khi đó, cụm tấn công tàu sân bay quân đội Mỹ triển khai ở khu vực chuỗi đảo thứ nhất ở dọc tuyến đường các hòn đảo tây nam Nhật Bản và quần đảo Philippines. Trung Quốc sẽ đưa vùng biển bên trong chuỗi đảo thành “vùng biển phòng thủ”, hạn chế tàu thuyền nước khác qua lại.
Cụm tấn công tàu sân bay Mỹ (ảnh tư liệu minh họa)
Đồng thời, tàu vũ trang và máy bay Trung Quốc sẽ xâm nhập Biển Đông, xác định vùng biển giữa chuỗi đảo thứ nhất và chuỗi đảo thứ hai là khu vực “ngăn chặn tiếp cận” – cuối cùng ở đây sẽ trở thành chiến trường chính xảy ra xung đột giữa Trung-Mỹ.
Như vậy, tàu chở dầu cỡ lớn từ vịnh Ba Tư đến Nhật Bản buộc phải đi vòng ở Tây Thái Bình Dương, trong khi đó, tàu chở dầu Trung Quốc sẽ đi qua Biển Đông dưới sự yểm trợ của tàu chiến.
Trong tình hình này, Mỹ sẽ khởi động chiến lược “kiểm soát ngoài khơi”, tuyên bố vùng biển phía Trung Quốc của chuỗi đảo thứ nhất là vùng đặc quyền kinh tế, sau đó cùng đồng minh điều tàu ngầm hạt nhân tấn công và không quân, cảnh cáo tàu chở hàng và tàu chở dầu cỡ lớn của Trung Quốc không được đi qua vùng biển này.
Do tất cả các cảng của Trung Quốc đều nằm ở biển Hoa Đông và Biển Đông, vì vậy không thể bố trí tuyến đường đi vòng, đồng thời có thể rơi vào cục diện thiếu năng lượng nghiêm trọng.
Đồng thời, quân đội Mỹ sẽ phong tỏa các eo biển lân cận như eo biển Malacca để chặn đứng tuyến đường vận tải trên biển của Trung Quốc.
Tàu ngầm hạt nhân tấn công lớp Los Angeles Mỹ (ảnh tư liệu minh họa)
Như vậy, mặc dù tàu thuyền Trung Quốc vượt qua kênh đào Panama và eo biển Magellan do Mỹ quản lý, trong tình hình không có sự yểm trợ của tàu chiến, cũng khó mà đi qua Thái Bình Dương.
Chiến lược “kiểm soát ngoài khơi” của Mỹ là sách lược để tránh phát động tấn công vũ lực đối với lãnh thổ Trung Quốc, để ngăn chặn xung đột song phương phát triển thành chiến tranh hạt nhân.
Washington hy vọng thông qua sách lược này, trên cơ sở không tiêu hao thực lực chiến đấu, làm cho Bắc Kinh hiểu rõ rằng, hóa giải xung đột là cách làm sáng suốt, từ đó cuối cùng kết thúc chiến tranh.
Điều này cũng có nghĩa là, Mỹ sẽ thông qua tấn công kinh tế, tiến hành răn đe đối với Trung Quốc. Nhưng, Trung Quốc đã hiểu rõ ý đồ của Mỹ, sẽ vừa đặt hạ tầng đường ống dẫn dầu trên đất liền, vừa sử dụng lực lượng cảnh sát biển làm chuyện đã rồi trong khi không dùng đến hải quân.
Một giả thuyết nữa tờ Hoàn Cầu Thời báo nêu ra đó là, trong tương lai các nước ven biển như Việt Nam, Philippines có thể bị Trung Quốc “thôn tính như cắt xúc xích (kiểu tằm ăn dâu)”?
Máy bay chiến đấu Nhật-Mỹ trong cuộc tập trận chung ở Guam ngày 15 tháng 2 năm 2010.

Phần nhận xét hiển thị trên trang