Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Năm, 26 tháng 6, 2014

Giới chuyên gia cho rằng Việt Nam sẽ đối mặt với những nguy cơ tiềm ẩn nếu phê chuẩn dự thảo đặc khu kinh tế ở Vũng Áng của tập đoàn Formosa.


H1Giới quan sát nói khu kinh tế Vũng Áng có ý nghĩa quốc phòng quan trọng
Hôm 25/6, lãnh đạo một chi nhánh tại Việt Nam của Formosa – tập đoàn có 100% vốn Đài Loan, đã gửi văn bản đến chính phủ Việt Nam đề nghị thành lập một đặc khu kinh tế ở Vũng Áng để phục vụ cho việc xây dựng cảng nước sâu Sơn Dương và các ngành công nghiệp liên quan như gang thép, điện, theo truyền thông trong nước.
Đề xuất được gửi đi từ ông Dương Hồng Chí Lý, Tổng giám đốc Hưng Nghiệp Formosa, yêu cầu chính quyền Việt Nam có các cơ chế ưu đãi cho đặc khu như bảo hộ ngành thép, ưu đãi thuế.
Bên cạnh đó, Formosa cũng đề nghị được xây căn hộ để cho thuê hoặc bán lại cho nhân viên và thành lập các cơ sở hậu cần như bệnh viện, trường học trong đặc khu.
Phía Việt Nam vẫn chưa có phản hồi chính thức về yêu cầu này.
Trong tin đăng ngày 25/6, báo điện tử VnExpress dẫn lời ông Ngô Đình Vân, Phó trưởng ban quản lý khu kinh tế Vũng Áng, nói đề xuất của Formosa “quá mới” và không thể giải quyết “ngày một ngày hai”.
Động thái mới nhất diễn ra hơn một tháng sau khi các cuộc biểu tình chống Trung Quốc ở Hà Tĩnh leo thang thành bạo động, khiến nhiều cơ sở của doanh nghiệp nước ngoài, trong đó có khu công trường của Formosa Plastics, bị hư hại.
Vào cuối tháng Năm, Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng đã cam kết Hà Nội sẽ có biện pháp đồng bộ để hỗ trợ doanh nghiệp nước ngoài sau khi chính phủ Đài Bắc đã yêu cầu Hà Nội bồi thường thiệt hại cho các doanh nghiệp Đài Loan bị ảnh hưởng.
Những hỗ trợ đó bao gồm miễn giảm thuế, miễn giảm tiền thuê đất, và trợ giúp về vấn đề lao động.
Đài Loan cho biết vụ bạo loạn ảnh hưởng đến 425 doanh nghiệp nước này, trong đó 25 doanh nghiệp bị thiệt hại nặng nề.
Tổng giá trị thiệt hại ước tính dao động trong khoảng 150-500 triệu đôla, và các thiệt hại kinh tế có liên quan là một tỷ đôla.
Khu công nghiệp Vũng Áng, dù là nơi hoạt động của nhiều doanh nghiệp có vốn Đài Loan, nhưng lại sử dụng một lượng lớn lao động Trung Quốc.
Hồi tháng Năm, Bắc Kinh đã cử tàu đến Hà Tĩnh sơ tán hàng nghìn công dân ra khỏi Việt Nam sau các vụ bạo động.

‘Yêu cầu rất cao’

Trả lời BBC ngày 26/6, kinh tế gia Lê Đăng Doanh cho rằng đề nghị của Formosa là “rất cao so với các tiêu chuẩn quốc tế bình thường và cao hơn hẳn khung pháp luật của Việt Nam”.
“Formosa đưa ra yêu cầu này sau vụ đụng độ ở Vũng Áng. Đó là điều đáng xem xét”, ông nói.
“Cần phải rất thận trọng vì nếu chấp nhận yêu cầu này của Formosa thì các doanh nghiệp khác cũng lại theo gương Formosa đề ra những yêu cầu tương tự.”
“Lúc đó thì chính phủ Việt Nam sẽ phải nhân nhượng và cấp những ưu đãi quá đáng.”
Ông khẳng định việc thành lập đặc khu kinh tế “không có lợi gì cho Việt Nam” ngoài việc Formosa sẽ tiếp tục dự án đầu tư hiện nay.
“Tôi cho rằng cần sự giám định, phân tích độc lập, nghiêm túc, không nên dễ dàng chịu sức ép này của Formosa.”

‘Cắt đôi Việt Nam’

Ông Doanh cũng nói về mặt quốc phòng, Vũng Áng “là một địa điểm hết sức nhạy cảm”.
“Ở trên mạng Trung Quốc đã lưu hành kịch bản tấn công Việt Nam trong 32 ngày, trong đó nói Trung Quốc sẽ đánh vào miền trung, chia cắt Việt Nam ra.”
“Vũng Áng hay Quảng Trị là những vùng hẹp nhất trên đất liền của Việt Nam, vì vậy tôi hy vọng những nhà chiến lược quốc phòng của Việt Nam sẽ quan tâm và thận trọng trước những yêu cầu này.”
Trong một cuộc phỏng vấn gần đây với BBC, chuyên gia tài chính Bùi Kiến Thành cũng cảnh báo về những nguy cơ nảy sinh từ việc Việt Nam cho Trung Quốc thuê hàng chục cây số dọc bờ biển Hà Tĩnh và vùng cửa khẩu Vũng Áng.
“Từ Vũng Áng ngó qua Hải Nam không bao xa, nếu ngày nào đó, Trung Quốc đưa một hạm đội từ Hải Nam sang Vũng Áng thì cả Vịnh Bắc Bộ sẽ không giao thông được nước ngoài, không giao thông được với miền Nam Việt Nam, bị biến thành một cái hồ riêng của Trung Quốc”, ông nói.
“Hạm đội trên biển của Trung Quốc đã rất mạnh rồi, nếu bây giờ họ có một điểm tựa trên đất liền nữa thì đó sẽ là nguy cơ rất lớn.”
Căng thẳng trên Biển Đông gia tăng từ khi Trung Quốc đưa giàn khoan Hải Dương 981 vào vùng biển mà Việt Nam tuyên bố chủ quyền.
Cục Hải sự Trung Quốc gần đây thông báo đã dịch chuyển giàn khoan Nam Hải số 9 đến gần cửa vào Vịnh Bắc Bộ.
Cơ quan này cũng cho biết Trung Quốc sẽ sớm đưa thêm ba giàn khoan khác vào hoạt động trên Biển Đông.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Không thể cứ nói Việt Nam ngày nay khá hơn trước đây 20 năm khi nó vẫn tụt hậu so với các nước trong khu vực

Bài phát biểu nhân dịp nhận giải thưởng Phan Châu Trinh năm 2014 tại Sài Gòn, Việt Nam)__Tác giả: Thomas J. Vallely ((Nhà sáng lập Chương trình Việt Nam tại Đại học HarvardChủ tịch Quỹ tín thác Đổi mới Đại học Việt Nam.______________

Được nhận giải thưởng Phan Châu Trinh là một niềm vinh hạnh lớn. Tôi xin cảm ơn các vị lãnh đạo của Quỹ Văn hóa Phan Châu Trinh, cảm ơn Nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình, Nhà văn Nguyên Ngọc, và Giáo sư Chu Hảo, đã trao cho tôi vinh dự tuyệt vời mà tôi e rằng mình không xứng đáng.
14032700004
Nhìn ra khán phòng, tôi nhận thấy sự hiện diện của nhiều bạn bè cũ đã từng biết nhau hàng chục năm nay. Thật là một niềm vui khôn tả khi được gặp lại các bạn ở đây ngày hôm nay. Tôi cũng rất vui khi trở lại Thành phố Hồ Chí Minh. Tôi vừa từ cố đô Yangon của Myanmar đến đây sáng nay. Sau hai tuần ở Myanmar, một đất nước đang phải đối mặt với vô vàn trở ngại trên con đường phát triển, tôi e rằng tôi đã đánh mất năng lực phê phán vốn có của mình đối với sự phát triển của Việt Nam.
Tôi hiểu rằng một trong những tôn chỉ của Quỹ Văn hóa Phan Châu Trinh là phổ biến di sản trí tuệ, văn hóa và chính trị của Phan Châu Trinh, một nhân vật vĩ đại trong lịch sử Việt Nam hiện đại. Tôi xin dành một vài phút để chia sẻ suy nghĩ của mình về lý do tại sao tư tưởng của Phan Châu Trinh vẫn còn mang tính thời sự nóng hổi cho đến ngày hôm nay.
Mặc dù gần một thế kỷ đã trôi qua kể từ khi Phan Châu Trinh qua đời năm 1926, di sản của ông vẫn còn nguyên giá trị đối với những thách thức hiện nay của Việt Nam. Điều này đúng trước tiên và trên hết trong lĩnh vực giáo dục. Trong suốt cuộc đời Phan Châu Trinh, một mảng lớn của thế giới, trong đó có Việt Nam, rơi vào ách đô hộ của một thiểu số cường quốc phương Tây. 
Sự tan rã nhanh chóng của các hệ thống chính trị vốn tồn tại trong nhiều thế kỷ buộc các nhà trí thức ở Việt Nam và trên toàn châu Á phải đi tìm lời giải thích cho sự vươn lên của phương Tây. Nhiều người đắm đuối với cái gọi là quyền lực cứng của phương Tây như công nghệ, quân sự, và sức mạnh công nghiệp. Phan Châu Trinh sâu sắc hơn. Ông kết luận rằng các yếu tố khác, trong đó có giáo dục, mới là bản chất nằm đằng sau sự trỗi dậy của phương Tây.
Vai trò trung tâm của giáo dục và đổi mới trong việc quyết định quỹ đạo phát triển của các quốc gia đúng cho ngày hôm nay cũng như dưới thời của Cụ Phan. Không phải ngẫu nhiên mà những quốc gia châu Á duy trì được sự chuyển biến kinh tế xã hội nhanh chóng và bền bỉ nhất – như Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore – cũng là những quốc gia đã thành công trong việc xây dựng hệ thống giáo dục có khả năng trang bị cho người dân kỹ năng và kiến thức cần thiết để cạnh tranh và đổi mới. 
Giáo dục là một động lực quan trọng của tăng trưởng kinh tế và giúp giải thích tại sao các nền kinh tế này duy trì được tốc độ tăng trưởng cao khi hầu hết các nước đang phát triển tăng trưởng chậm lại. Tất nhiên, giáo dục còn quan trọng vì nhiều lý do khác. Một công dân được giáo dục tốt sẽ là nguồn tạo ra sự thay đổi xã hội tích cực và ổn định. Chắc chắn không phải ngẫu nhiên mà Hàn Quốc và Đài Loan cũng là một trong số rất ít các nước ở châu Á đã có thể chuyển đổi thành công từ chế độ chuyên chế sang dân chủ.
Tôi tin rằng tất cả các quý vị trong khán phòng này sẽ đồng ý với nhận định rằng cải cách giáo dục là thách thức lớn nhất ở Việt Nam hiện nay. Tôi cũng tin là các quý vị sẽ đồng ý với tôi rằng nếu không cải cách nhanh chóng và cơ bản hệ thống giáo dục, đặc biệt là giáo dục đại học, thì có nguy cơ Việt Nam sẽ không đạt được tiềm năng to lớn của mình.
Tôi sẽ không tốn thời gian quý báu mà Ban tổ chức dành cho tôi để xem xét lý do tại sao hệ thống giáo dục Việt Nam đang trục trặc sâu sắc. Những vấn đề của nền giáo dục Việt Nam đã được phân tích một cách thuyết phục bởi Giáo sư Hoàng Tụy, Giáo sư Phạm Duy Hiển, và nhiều người khác, trong đó có Chương trình Việt Nam ở Đại học Harvard.
Chuyển đổi kinh tế của Việt Nam kể từ lần đầu tiên tôi quay lại vào năm 1985 là hết sức ngoạn mục. Chắc chắn là tôi không muốn xem nhẹ những thành tựu này. Tuy nhiên, các nhà hoạch định chính sách ở Việt Nam đã thừa nhận rằng mặc dù nông nghiệp và công nghiệp nhẹ đã giúp Việt Nam thoát ra ngỏi hàng ngũ của các nước nghèo nhất, nhưng Việt Nam không thể tiếp tục dựa vào những hoạt động kinh tế này để nâng cao thu nhập của người dân trong tương lai.
Giáo dục ở tất cả các cấp, đặc biệt giáo dục đại học, là chìa khóa để giải phóng nguồn lực mới cho tăng trưởng và thịnh vượng. Nói tóm lại, giáo dục là một mệnh lệnh kinh tế của Việt Nam. 
Giáo dục còn là một mệnh lệnh chính trị, ít nhất ở trên hai phương diện quan trọng.
Trước tiên, giáo dục là khát vọng của người dân Việt Nam. Trong những năm qua, tôi đã có nhiều người thầy dạy cho tôi hiểu về Việt Nam. Một vài người trong số họ đang có mặt ở khán phòng này. 
Khi nói về sự trọng học hành của người Việt Nam, một người bạn tôi, người đã cống hiến sự nghiệp của mình không phải cho ngành giáo dục mà cho ngành nông nghiệp, đã dạy tôi một bài học rất giá trị. Khoảng 10 năm trước tôi gặp lại ông khi ông vừa trở về từ Đồng bằng sông Cửu Long, nơi ông đã trải qua những năm tháng tuổi trẻ vào thời điểm Đổi mới vừa chớm bắt đầu.
Khi tôi hỏi ông về ấn tượng đối với Đồng bằng sông Cửu Long, ông đã làm tôi hoàn toàn bất ngờ. “Tommy”, ông nói, “tôi cứ cho rằng nông dân chúng tôi khát khao những gì họ luôn khao khát: nhiều đất canh tác hơn, đầu vào tốt hơn, tín dụng nhiều hơn, và sản xuất lớn hơn. Nhưng tôi đã nhầm. Những gì nông dân ở Đồng bằng sông Cửu Long thực sự muốn là một nền giáo dục tốt hơn để con em của họ thoát khỏi thân phận của người nông dân trồng lúa.” 
Cải cách giáo dục vẫn phải là một ưu tiên tối cao, không phải vì đó là điều các nhà đầu tư nước ngoài muốn mà bởi vì đó chính là điều mà người dân Việt Nam đòi hỏi. Rõ ràng là khả năng cải cách giáo dục của chính phủ nhằm cải thiện cơ hội giáo dục cho người dân sẽ quyết định đáng kể cách thức người dân cảm nhận về chính phủ của mình.
Giáo dục còn là một mệnh lệnh chính trị ở một khía cạnh khác. Như tôi vừa trình bày, trong thời đại của mình Phan Châu Trinh là một nhà phân tích địa chính trị sâu sắc. Ông thấm nhuần rằng giáo dục là một cội nguồn sức mạnh của phương Tây và sự lạc hậu về giáo dục là một điểm yếu chết người của Việt Nam. 
Mặc dù tất nhiên là trật tự quốc tế hiện nay rất khác so với đầu thế kỷ XX, song tôi cho rằng đối với Việt Nam hiện nay, mối liên hệ giữa giáo dục và chủ quyền quốc gia cũng thực chất và có tầm quan trọng sống còn chẳng khác gì so với trước đây một thế kỷ. Nếu Việt Nam muốn duy trì nền độc lập đã phải trải qua biết bao gian khó mới có được, thì Việt Nam phải xây dựng một hệ thống giáo dục có thể đóng góp cho sự tiến bộ kinh tế và xã hội. 
Nếu không có một nền kinh tế năng động với giá trị gia tăng cao, mà điều này chỉ có thể đạt được nhờ cải cách giáo dục, Việt Nam có nguy cơ phải chịu đựng những mối quan hệ kinh tế và chính trị bất bình đẳng với các nước lớn, trong đó có Trung Quốc. Cũng cần phải nói rõ thêm, tôi không hề muốn nói rằng Việt Nam có nguy cơ rơi trở lại tình trạng thuộc địa trước đây như thời Phan Châu Trinh.
Tuy nhiên, tại thời điểm khi có sự lo lắng ngày càng tăng về mối quan hệ của Việt Nam với các cường quốc, bao gồm cả Trung Quốc, giáo dục phải được nhận thức như là thành trì của một hệ thống kinh tế xã hội mạnh mẽ và sáng tạo.
Trong bài phát biểu ngắn này, tôi đã cố gắng để giải thích lý do tại sao tôi tin rằng cải cách giáo dục là một nhiệm vụ cực kỳ quan trọng đối với Việt Nam hiện nay và tại sao tư tưởng của Phan Châu Trinh vẫn còn nguyên giá trị. Tôi đã quyết định không đề cập tới các nội dung cụ thể của chương trình cải cách giáo dục. 
Rất nhiều người, trong đó có những quý vị ở đây hôm nay, đã viết rất nhiều bài về vấn đề này. Bà Nguyễn Thị Bình, Giáo sư Chu Hảo, và Nhà văn Nguyên Ngọc đều là những nhà bình luận có ảnh hưởng về cải cách giáo dục, và tôi đã học được rất nhiều từ họ. Quan điểm của riêng tôi cũng như những đồng nghiệp của tôi tại Chương trình Việt Nam về vấn đề này đã được trình bày ở nhiều diễn đàn khác.
Trước khi kết thúc, tôi muốn nêu thêm một lĩnh vực mà tôi cho rằng triết lý của Phan Châu Trinh vẫn còn nguyên giá trị đối với cải cách giáo dục. Mặc dù là một nhà ái quốc vĩ đại nhưng Cụ Phan đã luôn phê phán một cách sâu sắc nhiều khía cạnh của xã hội và văn hóa Việt Nam, những khía cạnh mà ông cho là trở ngại đối với sự tiến bộ của nước nhà. 
(Đặc điểm này, như chúng ta đều biết, có thể bởi vì cũng như Bà Nguyễn Thị Bình, Giáo sư Hoàng Tụy, và Nhà văn Nguyên Ngọc, Phan Châu Trinh đến từ Quảng Nam, vùng đất vốn nổi tiếng là cãi hay nhờ hay cãi!). Phan Châu Trinh luôn tuyên bố rằng Việt Nam có thể và nên học tập tất cả các quốc gia, thậm chí là từ chính nước Pháp khi ấy đang đặt Việt Nam dưới ách thuộc địa. Tinh thần tự phê phán không khoan nhượng của Phan Châu Trinh cần phải được hoan nghênh.
Một mối nguy hiểm thường trực đối với các quốc gia hay các nền văn hóa là niềm tin cho rằng mình là ngoại lệ, vượt ra ngoài những quy tắc có tính phổ quát. Thật đáng tiếc, xu thế này đang lan rộng ở chính đất nước tôi, đến mức có một thuật ngữ cho nó, đó là “ngoại lệ Hoa Kỳ”. Tôi đã trải nghiệm đủ ở Việt Nam để biết rằng ở đây cũng có một phiên bản tương tự của cạm bẫy tinh thần này. Cho phép tôi, nếu có thể, gọi nó là “ngoại lệ Việt Nam”. 
Sau một thời gian dài theo dõi các cuộc tranh luận về cải cách giáo dục ở Việt Nam, tôi thấy tính ngoại lệ này thể hiện ở ít nhất hai lĩnh vực. Đầu tiên là về cách thức đo lường và đánh giá tiến bộ. Không thể cứ tiếp tục nói rằng Việt Nam ngày nay khá hơn Việt Nam trước đây 20 năm một khi nó vẫn tụt hậu một cách tệ hại so với các nước trong khu vực. Giáo sư Hoàng Tụy là tiếng nói mạnh mẽ nhất phản đối sự nguy hiểm của tính tự mãn trong hệ thống giáo dục Việt Nam.
Lĩnh vực thứ hai mà chúng ta phải cảnh giác với ngoại lệ là quản trị đại học. Bất kỳ một nền giáo dục đại học có chất lượng nào đều có một số đặc điểm có tính phổ quát, vượt ra khỏi bối cảnh địa phương. Những trường đại học xuất sắc nhất trên thế giới có chung một số thuộc tính cơ bản, trong đó bao gồm tự do học thuật, trọng dụng nhân tài, và minh bạch. 
Nỗ lực cải thiện giáo dục đại học mà bỏ qua những phẩm chất vô hình này thường không bao giờ đem lại kết quả mong muốn. Các trường đại học nên bắt rễ sâu từ nền văn hóa bản địa, nhưng sẽ là một sai lầm nghiêm trọng nếu dùng văn hóa như một cái cớ để hạn chế những nguyên tắc cốt lõi của đại học, như tự do học thuật chẳng hạn.
Vào năm 1994, cùng với sự giúp đỡ của rất nhiều bạn bè và đồng nghiệp Việt Nam, tôi đã tham gia thành lập Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright. Mục đích của chúng tôi là tạo ra một ngôi trường có thể hỗ trợ cho sự phát triển của Việt Nam, đồng thời cũng đóng vai trò như một mô hình mới về quản trị đại học.
Hôm nay, tôi tự hào được tham gia trong nỗ lực chung của Việt Nam và Hoa Kỳ trong dự án xây dựng một trường đại học mới ở thành phố này – trường Đại học Fulbright Việt Nam. Trường Đại học Fulbright Việt Nam là sự tiếp nối và mở rộng công việc mà chúng tôi bắt đầu khi Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright mở cửa đúng 20 năm trước. 
Khi tiến về phía trước với dự án thú vị này, chúng tôi có thể lấy cảm hứng từ những tư tưởng của Phan Châu Trinh. Tôi nghĩ rằng nếu còn sống, ông chắn hẳn sẽ ủng hộ tầm nhìn của chúng tôi về Đại học Fulbright Việt Nam như một cơ sở học thuật kết hợp nhuần nhuyễn giữa di sản độc đáo và quý báu của Việt Nam với những truyền thống tốt nhất của quản trị đại học trên thế giới.
Một lần nữa, tôi xin cảm ơn Quỹ Văn hóa Phan Châu Trinh đã trao tặng tôi giải thưởng năm nay.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Đoàn người bí ẩn phá lăng mộ vua Trần, đánh cắp kho báu? - Hình như tác giả còn sợ sệt điều gì khi rút tít bài này??:


(VTC News) - Chỉ khi nhóm người Trung Quốc rút đi, dân làng mới tá hỏa rằng họ đã lấy đi sạch sẽ báu vật. 
Loạt bài chiếc hộp vàng hé lộ những kho báu:
Kỳ 4: Đánh cắp kho báu trong lăng mộ

Trại Lốc là địa danh cổ thuộc vùng Yên Sinh xưa, nay thuộc xã An Sinh (Đông Triều, Quảng Ninh). Nơi đây có nhiều công trình hoành tráng, nguy nga thời Trần. Trại Lốc chính là cửa ngõ từ đồng bằng vào rừng và cũng là điểm đầu tiên của hành trình cuốc bộ lên Tây Yên Tử, nơi vua Trần Thái Tông lập am, xây chùa, tu thiền cho đến khi hóa.

Ngay từ đầu thôn Trại Lốc, có tấm bia chỉ đường vào đền Thái, một công trình kiến trúc kỳ vĩ thời Trần, được nhắc đến rất nhiều trong sử sách. Thế nhưng, Đền Thái bây giờ chỉ còn là một gian nhà cấp bốn nhỏ xíu, xây hình chữ Đinh nằm giữa quả đồi, lẩn khuất sau những tán vải um tùm. 

Ông Trần Minh Tòng, người trông nom, hương khói đền và ông Nguyễn Hữu Tâm đang ngồi uống nước trước sân đền. Theo ông Tòng, đền Thái hiện tại do nhân dân dựng lại cách nay hơn chục năm để thờ 3 vị vua là Trần Hiến Tông, Trần Anh Tông và Trần Minh Tông. 

Chiếc hộp vàng ròng tìm thấy ở Trại Lốc, nơi có quần thể lăng mộ vua Trần 

Lăng mộ 3 vị vua Trần nằm ngay sau đền Thái. Ông Nguyễn Hữu Tâm dẫn tôi đi tìm lăng mộ của vua Trần Minh Tông. Đứng trên con đập hùng vĩ, ông Tâm chỉ tay xuống phía chân đập và bảo: “Ngay dưới chân đập, chỗ bãi bằng kia là lăng mộ vua Trần Minh Tông đấy! Chỉ vài người lớn tuổi chúng tôi còn biết đến lăng mộ của ông Minh Tông thôi. Giờ lăng mộ biến mất rồi, không có sự chỉ dẫn của chúng tôi, các nhà khảo cổ cũng khó mà xác định được vị trí”. 

Tôi và ông Tâm tụt xuống chân đập và định vị lăng mộ khổng lồ của một vị vua Trần nổi tiếng thế kỷ 14. Tôi loanh quanh trên khoảng đất rộng mênh mông lọt giữa khe đồi, song tuyệt nhiên không tìm thấy dấu tích gì, dù là một mẩu gạch, một viên đá. 

Đang lang thang ở trên khu vực vốn là lăng mộ vua Minh Tông, ông Tâm chợt dừng lại bên một hố đất vừa bị múc lên một cách bí ẩn. Ông Tâm bảo, không ai được phép đào bới ở chân đập, nên những vết đào bới này rất khả nghi. 

Vết tích đào bới ở lăng mộ vua Trần Minh Tông 

Theo lời ông, thi thoảng vẫn có người lạ mặt tìm đến khu vực đo đạc, tìm kiếm, đào bới. Có thể, những người này đang săn tìm thứ gì đó ở khu vực từng có lăng mộ vua. Nhiều khả năng họ vẫn tiếp tục đi tìm kho báu.

Theo lời ông Tâm, khu vực này từng có tên là Khe Gạch. Địa danh Khe Gạch vốn là một khu dân cư thuộc thôn Trại Lốc. Năm 1970, gia đình ông Tâm đến định cư ở ngay chân đồi Khe Gạch, cách lăng mộ vua Trần Minh Tông khoảng 150m. Lăng mộ khi đó nằm dựa vào chân đồi, ngay cạnh con suối. Địa thế nơi đặt lăng mộ rất đẹp. Phía trong hồ Trại Lốc bây giờ, cách lăng mộ chỉ vài trăm mét, là xóm của người Hoa bí ẩn.

Ngày đó, ông Tâm là chi hội trưởng người cao tuổi của thôn, được nhân dân giao trông nom, hương khói khu lăng mộ này. Khi đó, lăng mộ đã đổ nát, nhưng di vật vẫn còn rất nhiều, nằm la liệt trên mặt đất. Cả một khu vực rộng mênh mông có vô vàn bia đá, tượng, bụt, gạch ngói, bệ đá. 

Đặc biệt, lăng mộ vẫn còn nguyên 8 cửa lên xuống, với mỗi cửa là 2 con “sấu đá” (cách gọi của địa phương, gần giống như rồng đá), tổng cộng là 18 con. Theo ông Tâm, lăng mộ vua Trần Minh Tông ở chân đồi Khe Gạch là lăng mộ lớn nhất, đẹp nhất và còn nguyên vẹn nhất khi đó. 

Cổ vật ở lăng mộ vua Trần Anh Tông bị đập phá để tìm kho báu 

Lời các cụ kể lại rằng, xưa kia, chẳng ai biết đó là lăng mộ, nhưng mưa nắng mài mòn mấy trăm năm, rồi các cuộc đào bới ăn cắp kho báu của những kẻ bí ẩn đã khiến những phiến đá lớn lộ ra. Cả những súc gỗ lớn, là cũi của mộ cũng bị những kẻ săn lùng cổ vật, truy tìm kho báu bới lộ ra ngoài, hất tung lên mặt đất và mục nát hết cả. 

Ông Tâm cũng như những người lớn tuổi ở thôn Trại Lốc kể rằng, mặc dù các cụ kể lại nhiều cuộc đột nhập lăng mộ, đào bới hầm hào vào lăng mộ ăn cắp kho báu, nhưng có lẽ, kho báu, cổ vật cất giữ trong lăng mộ vua Trần Minh Tông vẫn chưa bị lấy hết. Cuộc phá mộ lấy đất đá đắp đập cũng chưa làm phát lộ những báu vật cất giấu dưới mộ vua. 

Lăng vua Trần Nghệ Tông đã bị bọn trộm cổ vật phá hủy hoàn toàn. Đây là một phần lăng mộ mới được xây dựng lại 

Ông Tâm khẳng định điều đó là bởi khi con đập còn đang xây dựng dang dở, thì vào đúng đêm 29, 30 và mùng 1 Tết năm 1979, khi dân làng còn đang bận mải với việc đón Tết, thì tại Trại Lốc xuất hiện một nhóm người Trung Quốc lạ mặt. 

Nhóm người này không nói được tiếng Việt, ăn mặc rất lạ lùng, có một người trông giống thầy pháp. Họ mang theo bản đồ, gia phả, với cả la bàn. Có mấy người còn vác cả dao kiếm, thuổng, súng kíp, dắt theo mấy con chó rất hung dữ. 

Khi đó, chính quyền thôn, xã, gồm cả dân quân đã gặp nhóm người này, nhưng họ bảo đi tìm lại một số di vật thất lạc ở Trại Lốc, nơi mà ông bà, cha mẹ họ mới rời đi. 

Trại Lốc vốn là địa danh người Hoa sinh sống, mọi người nghĩ họ tìm lại đồ vật của mình nên đã không để tâm đến nhóm người này. Hồi đó, ông Tâm ở ngay Khe Gạch, nên thi thoảng vẫn để ý nhóm người này lần mò, đào bới. 

Rùa đã tại lăng Trần Nghệ Tông bị đập vỡ tìm của 

Sau mấy ngày Tết dò la, vạ vật ở khu vực quanh lăng mộ vua Trần Minh Tông, Trần Anh Tông, Trần Hiến Tông, thì đột nhiên nhóm người lạ mặt này… biết mất. Người dân trong vùng đi kiểm tra khu vực, thì phát hiện rất nhiều điểm bị đào bới quanh lăng mộ vua Minh Tông, Anh Tông và Hiến Tông. Ở mỗi lăng mộ, đều phát hiện hố đào sâu vào lòng đất với dấu tích đáy chum rõ rệt. Ông Tâm khẳng định rằng, nhóm người này đã lấy đi rất nhiều kho báu!

Theo ông Tâm, khu vực Khe Gạch là nơi có rất nhiều cổ vật. Ngay cả bây giờ, chỉ cần bới lớp đất lên, sẽ thấy gạch ngói, cổ vật bằng đá rất nhiều dưới lòng đất. Sở dĩ khu vực này gọi là Khe Gạch, vì dưới lòng đất toàn là gạch ngói, đồ gốm. 

Theo đó, ngoài lăng mộ vua Trần Minh Tông, Thái Miếu, khả năng khu vực này còn có một công trình rất lớn mà chưa được biết đến. Lẫn trong những công trình bí ẩn trong lòng đất, ai biết được có những kho báu mà chỉ những người Trung Quốc bí ẩn kia mới biết biết được.

Người dân Trại Lốc đồn rằng, dưới lăng mộ Trần Nghệ Tông có đường hầm dẫn đến chỗ rùa đá khổng lồ 

Để khẳng định việc người Trung Quốc sang tìm kho báu ở lăng mộ vua Trần là sự thật, ông Tâm đã dẫn tôi vòng về lăng mộ vua Trần Hiến Tông. Lăng mộ xưa kia vốn rộng mênh mông, phải tính bằng héc-ta. Tuy nhiên, toàn bộ lăng mộ cũng đã bị mộ tặc săn tìm kho báu đào bới tan tành, phá nát hết cả. 

Lăng mộ vua Hiến Tông được một doanh nghiệp ở Quảng Ninh dựng lại ở khu trung tâm, nhưng không thể sánh với nguyên trạng thời Trần. Giờ đây, khu lăng mộ đã bị chia năm xẻ bảy, mỗi gia đình một mảnh để xây nhà, làm vườn. 

Ở khu vườn của một hộ dân, cách trung tâm lăng mộ khoảng 100 mét là một con rùa đá khổng lồ. Rùa đá cõng bia này vốn nằm trong quần thể lăng mộ, nhưng vì lăng mộ bị dân lấn chiếm, chia năm xẻ bảy, nên giờ rùa đá nằm ở vườn nhà dân. Con rùa đá vẫn nằm chềnh ềnh trên mặt đất. 

Ông Tâm chỉ tay vào rùa đá khổng lồ, nặng vài tấn và nhớ lại: “Sau khi nhóm người Trung Quốc rút đi, dân làng chúng tôi đã phát hiện một đường hầm do họ đào xuyên xuống bụng con rùa đá này. Các cụ kể rằng, dưới hầm mộ vua Hiến Tông có nhiều đường hầm, trong đó có một hầm nối từ lăng mộ ra tận chỗ con rùa này, nhưng không ai đào bới nên không biết. Chỉ khi nhóm người Trung Quốc rút đi, chúng tôi mới tá hỏa rằng họ đã lấy đi sạch sẽ báu vật. 

Không biết họ lấy được gì, nhưng hố đào dẫn xuống bụng con rùa này có nguyên vết đáy chum. Điều đó có nghĩa, họ đã đào được một cái chum, còn cái chum đó chứa vàng bạc, cổ vật, hay thứ gì thì chúng tôi không rõ. 

Theo ông Tâm, nhóm người bí ẩn đã lấy kho báu dưới bụng rùa đá khổng lồ 

Có lẽ, người xưa chôn của quý dưới bụng con rùa này, bởi vì không ai có thể nhấc được con rùa này lên để lấy cắp. Ở khắp núi Tây Yên Tử này, công trình tháp đá, chân tảng, rùa đá đều có vết hang đào xuống đáy. Có lẽ, chỉ người Trung Quốc, hoặc đám mộ tặc chuyên nghiệp mới biết chỗ cất giấu của quý của người xưa”. 

Kể chuyện về con rùa đá khổng lồ xong, ông Tâm dẫn tôi vào góc vườn trước lăng mộ vua Hiến Tông. Hàng chục cổ vật rùa đá, tượng đá, sấu đá bị đập vỡ tan tành, vứt chỏng chơ một góc. Ông Tâm bảo, bọn mộ tặc đập vỡ những di vật đá để… tìm kho báu bên trong. 

Còn tiếp…





Dương Phong
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Đi dưới bóng đè của gã khổng lồ

Tác giả: David O. Dapice – Vũ Thành Tự Anh

KD: Một bài viết điềm đạm và tư vấn hướng đi rất cụ thể, chỉ ra bối cảnh nhãn tiền:
Trong những năm tới, Việt Nam không thể tránh được một thực tại khách quan, đó là người láng giềng phương Bắc sẽ sớm trở thành nền kinh tế lớn nhất thế giới và tiếp tục phủ bóng lên nền kinh tế Việt Nam. Đối diện với thực tại này, thay vì tìm cách hạn chế quan hệ kinh tế giữa hai nước, một cách khôn ngoan hơn, Việt Nam cần chủ động tăng cường nội lực, đồng thời đa phương hóa quan hệ kinh tế quốc tế. Chiến lược này vốn dĩ đã cần thiết ngay cả khi quan hệ giữa hai nước “bình thường” thì lại càng thiết yếu khi quan hệ giữa hai nước trở nên bất thường.
Không phải chỉ các chuyên gia kinh tế mới phát hiện điều này. Báo chí VN cũng đã đề cập nhiều tới sức mạnh nội lực và sự “đa phương hóa” quan hệ kinh tế quốc tế, khi mà TPP cũng là một cái đích VN hướng tới tham gia. Chỉ không biết, sách lượ kinh tế VN có khôn khéo, khôn ngoan đến độ cần thiết hay không? Hay vẫn tiếp tục con đường “cam chịu” và “yên ổn”, như tính cách và sách lược bao năm?
————
Để gìn giữ độc lập dân tộc, người Việt Nam sẽ phải tìm cách giữ thăng bằng trên một lằn ranh mong manh, dưới bóng đè của người láng giềng khổng lồ đầy mưu tính.
Trong bối cảnh căng thẳng trên biển Đông ngày một gia tăng, nhiều người đã đề cập tới nguy cơ Trung Quốc cấm vận kinh tế đối với Việt Nam. Thậm chí, một số người còn cho rằng việc Việt Nam chần chừ, chưa khởi kiện Trung Quốc ra tòa án quốc tế là do e ngại nguy cơ bị Trung Quốc cấm vận.
Trong bài viết này, chúng tôi chủ yếu tập trung phân tích quan hệ thương mại – vốn là lĩnh vực quan hệ kinh tế quan trọng nhất giữa Việt Nam và Trung Quốc, qua đó chỉ ra rằng mặc dù việc cấm vận kinh tế của Trung Quốc (nếu có) có thể gây ra những tác động tiêu cực trong ngắn hạn, nhưng trong trung và dài hạn, Việt Nam sẽ có động cơ mạnh mẽ để vừa tăng cường nội lực vừa đa phương hóa quan hệ kinh tế quốc tế, nhờ đó giảm sự phụ thuộc kinh tế đối với Trung Quốc.
Bên cạnh đó, bài viết cũng sẽ thảo luận ngắn gọn về mối quan hệ chính trị giữa hai quốc gia

Quan hệ chính trị
Ngoại trừ sự gián đoạn từ năm 1979 đến 1989, đảng – nhà nước Việt Nam và Trung Quốc đã duy trì quan hệ trong nhiều thập kỷ. Tuy nhiên, mối quan hệ này luôn ở trong tình trạng bất cân xứng. Sự trịch thượng của Trung Quốc luôn xuyên suốt, thể hiện qua sự can thiệp sâu và thô bạo vào chính sự của Việt Nam – không chỉ về chính sách, mà còn về cả nhân sự và ngoại giao.
Mới đây thôi, Thời báo Hoàn cầu của Trung Quốc mô tả chuyến đi của ông Dương Khiết Trì, Ủy viên Quốc vụ viện Trung Quốc, sang Việt Nam không chỉ như sự dạy dỗ của một ông giáo kiên nhẫn đối với gã sinh viên ương ngạnh, mà còn như người cha nghiêm khắc đối với “đứa con đi hoang” chưa chịu về nhà. Trong bối cảnh Bắc Kinh luôn nhạy cảm và sẵn sàng can thiệp vào chính sự của Việt Nam, không rõ liệu Hà Nội có muốn và có thể đi trước trong cải cách chính trị hay không.
Mặt khác, dù muốn hay không, dù sớm hay muộn thì thay đổi chính trị cũng sẽ xảy ra ở Trung Quốc. Những thay đổi căn bản về kinh tế – xã hội ở Trung Quốc trong hơn ba thập kỷ qua, đặc biệt là sự mở rộng nhanh chóng của tầng lớp trung lưu trong khi dân số đang già đi, khiến cho tham nhũng, bất bình đẳng, ô nhiễm môi trường và sự hà khắc của chính quyền ngày càng trở nên khó chấp nhận. Rõ ràng là hệ thống chính trị của Trung Quốc cần trở nên linh hoạt và đáp ứng hơn trước yêu cầu của người dân. Chiến dịch chống tham nhũng mạnh mẽ của Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình, ngay cả khi xuất phát từ động cơ chân chính, cũng sẽ chỉ là con dao hai lưỡi nếu không đi đôi với cải cách hệ thống chính trị vốn là nguồn gốc chính của nạn tham nhũng.
Bất kể kịch bản tự do hóa chính trị ở Trung Quốc xảy ra như thế nào thì sớm muộn gì Việt Nam cũng sẽ bị ảnh hưởng. Không những thế, Việt Nam sẽ khó giữ vị thế bảo thủ hơn Trung Quốc vì ở Việt Nam không có một “vạn lý trường thành” để ngăn chặn thông tin từ bên ngoài, nhất là khi Việt Nam có tỷ lệ giới trẻ vào internet thuộc loại cao nhất thế giới. Như vậy, tự do hóa chính trị ở Việt Nam gắn liền với Trung Quốc theo cả hai hướng. Thực tế này cần phải được suy xét thấu đáo trong chiến lược phát triển của Việt Nam.
Bối cảnh xã hội và chính trị trong nước cũng sẽ ảnh hưởng đến lập trường của Trung Quốc trong các mối quan hệ song phương với Việt Nam nói riêng và ở châu Á nói chung. Với gần 840 triệu dân (chiếm 62% dân số) trong độ tuổi từ 15 đến 54 – những người hoặc đang trong độ tuổi thanh niên hoặc đã trải qua tuổi thanh niên khi cuộc chiến tranh biên giới 1979 xảy ra – trong đó nam nhiều hơn nữ tới gần 26 triệu, thì ngọn lửa dân tộc chủ nghĩa có thể bị thổi bùng lên bất cứ lúc nào, không chỉ trên các diễn đàn trực tuyến mà ngay trong chính sách quân sự và đối ngoại của Trung Quốc. Không chính trị gia Trung Quốc nào muốn bị coi là “bạc nhược” trong việc bảo vệ “lợi ích sống còn” của quốc gia, ngay cả khi những lợi ích này không hề có cơ sở pháp lý quốc tế. Hiểu rõ các động lực xã hội và chính trị này của các nhà lãnh đạo Trung Quốc có thể giúp Việt Nam tránh được các cuộc đối đầu đắt giá.
Quan hệ thương mại
Quan hệ thương mại song phương giữa Việt Nam và Trung Quốc quan trọng hơn đối với Việt Nam. Trung Quốc hiện là nguồn nhập khẩu lớn nhất và mới đây vượt qua Nhật Bản để trở thành thị trường xuất khẩu lớn thứ hai của Việt Nam. Kể từ năm 2000, tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Trung Quốc dao động xung quanh mức 10%. Ngược lại, tỷ trọng kim ngạch nhập khẩu từ Trung Quốc tăng từ 9% vào năm 2000 lên tới gần 28% vào năm 2013.
Tuy nhiên, kim ngạch xuất khẩu từ Trung Quốc sang Việt Nam chiếm chưa tới 2% tổng kim ngạch xuất khẩu của Trung Quốc. Kết quả của quan hệ thương mại không cân xứng này là nếu như vào năm 2000, Việt Nam còn xuất siêu nhẹ sang Trung Quốc thì đến năm 2013, nhập siêu từ Trung Quốc đã lên tới gần 24 tỉ đô la Mỹ.
Thoạt nhìn, có vẻ như rất đáng lo ngại khi ngoại trừ sắt thép, tỷ trọng nhập khẩu từ Trung Quốc của cả 10 nhóm hàng nhập khẩu lớn nhất đều tăng rất nhanh trong thập niên vừa qua (hình 1). Tuy nhiên, ngay cả trong 10 nhóm hàng nhập khẩu lớn nhất thì mức độ phụ thuộc vào Trung Quốc cũng không đồng đều (biến thiên từ mức thấp nhất 10,1% đối với chất thải công nghiệp thực phẩm và thức ăn gia súc đến mức cao nhất 41,8% của xơ nhân tạo).
Bên cạnh đó, khoảng ba phần tư hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam có nguồn gốc ngoài Trung Quốc. Tóm lại, sự phụ thuộc vào nhập khẩu từ Trung Quốc ngày một tăng, và điều này là đáng lo ngại, song mức độ phụ thuộc không đến nỗi làm sụp đổ nền sản xuất trong nước khi có biến cố xảy ra.   
Ở thời điểm này, Chính phủ Việt Nam cần quan tâm thích đáng đối với các dự án liên quan đến tài nguyên (khai thác bauxite hay thuê rừng đầu nguồn), năng lượng, và những ngành có sự tham gia của nhiều lao động phổ thông Trung Quốc.
Liệu xu hướng gia tăng phụ thuộc vào nguồn nhập khẩu từ Trung Quốc có phải là một vấn nạn của Việt Nam? Nó sẽ là vấn nạn nếu thâm hụt có nguồn gốc từ hoạt động thương mại “không công bằng” hoặc do chính sách có chủ đích của Bắc Kinh. Tuy nhiên, có vẻ như với chính sách phá giá đồng tiền hay trợ cấp sản xuất trong nước, Trung Quốc “không công bằng” với cả thế giới chứ không riêng gì đối với Việt Nam. Tất nhiên Việt Nam cũng cần chuẩn bị trước cho tình huống Trung Quốc chủ tâm thao túng nền công nghiệp và thương mại của mình để có các đối sách thích hợp.
Cũng cần nói thêm rằng nếu Bắc Kinh thực sự duy lý thì họ không những sẽ không cấm vận thương mại đối với Việt Nam mà còn tìm cách thúc đẩy cán cân thương mại nghiêng tiếp về phía họ càng nhiều càng tốt. Logic này không nhất thiết áp dụng đối với các khoản đầu tư trực tiếp nước ngoài hay tín dụng thương mại từ Trung Quốc.
Một vấn nạn tiềm tàng khác là nguồn nhập khẩu tư liệu sản xuất quan trọng từ Trung Quốc có thể bị cắt đột ngột khi quan hệ giữa hai nước trở nên căng thẳng. Ví dụ như nếu nguồn nguyên phụ liệu dệt may từ Trung Quốc bị cắt thì trong ngắn hạn, chắc chắn việc làm và kim ngạch xuất khẩu trong ngành này sẽ giảm mạnh. Tác động trong trung và dài hạn sẽ phụ thuộc vào tốc độ và mức độ tìm được nguồn cung thay thế, cả trong và ngoài nước. Vì Trung Quốc không phải là nước duy nhất xuất khẩu phụ liệu dệt may – cụ thể là Trung Quốc chỉ chiếm khoảng 22% thị trường bông, 27% thị trường xơ nhân tạo, và 31% thị trường sợi nhân tạo toàn cầu – cho nên sẽ không quá khó để Việt Nam có thể tìm nguồn cung thay thế. Hơn nữa, vì khu vực FDI ở Việt Nam cũng đã bắt đầu bước vào ngành này nên nguồn cung trong nước sẽ trở nên dồi dào hơn.
Nói tóm lại, mặc dù cần có những biện pháp phòng ngừa cho tình huống xấu nhất – chẳng hạn như bằng cách bắt đầu tìm kiếm và thẩm định một số nguồn cung thay thế, song không nhất thiết phải cắt giảm hay từ bỏ các nguồn cung từ Trung Quốc nếu chúng rẻ hơn hay chất lượng tốt hơn. Logic này cũng áp dụng cho các ngành khác như điện tử, da giày hay xe máy. Cần nói thêm là vì đa số các hoạt động thương mại này là giữa các công ty tư nhân nên ngay cả khi muốn thì Bắc Kinh cũng không thể dễ dàng ra lệnh chấm dứt hoàn toàn hoạt động xuất khẩu, hay ngăn cấm tuyệt đối việc xuất khẩu qua nước thứ ba.
Khoảng 40% kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam từ Trung Quốc là máy móc và hàng tiêu dùng. Nếu Trung Quốc chủ động giảm xuất khẩu các hàng hóa này sang Việt Nam thì Việt Nam sẽ luôn có thể tìm kiếm các nguồn nhập khẩu thay thế hoặc phát triển năng lực sản xuất nội địa, nhờ đó đa dạng hóa được nguồn cung, đồng thời giảm tỷ trọng nhập khẩu từ Trung Quốc.
Cho đến thời điểm này, những phân tích của chúng tôi mới chỉ nhấn mạnh khía cạnh tiêu cực của sự phụ thuộc thương mại của Việt Nam vào Trung Quốc. Tuy nhiên, trong thế giới càng ngày càng toàn cầu hóa, các mối quan hệ thương mại luôn có tính tương thuộc. Mặc dù tỷ trọng nhập khẩu của Trung Quốc từ Việt Nam trong năm 2012 chưa tới 1%, nhưng một số nhóm hàng có tỷ lệ nhập khẩu từ Việt Nam khá lớn, chẳng hạn như trái cây (16,6%), ngũ cốc (19%), rau củ quả (21,7%), cà phê, chè, gia vị (37,2%). Điều này có nghĩa là Trung Quốc cũng sẽ phải trả giá nhất định nếu cấm vận thương mại đối với Việt Nam.
Không những thế, việc cấm vận thương mại của Trung Quốc với Việt Nam (nếu có) còn đi ngược lại lợi ích của Trung Quốc trên hai phương diện quan trọng. Thứ nhất, đứng trước nguy cơ bị cấm vận, Việt Nam một mặt sẽ phải nỗ lực tăng cường nội lực, mặt khác tìm cách đa dạng hóa thương mại và đầu tư, chẳng hạn như thông qua TPP. Kết quả là Việt Nam sẽ trở nên ít phụ thuộc hơn vào Trung Quốc, điều mà Trung Quốc không muốn. Thứ hai, các đối tác thương mại khác của Trung Quốc, nhất là trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương sẽ không thể coi Trung Quốc là đối tác thương mại đáng tin cậy được nữa, và do vậy cũng sẽ chuyển hướng thương mại ra khỏi Trung Quốc. 
Tạm kết luận
Trong những năm tới, Việt Nam không thể tránh được một thực tại khách quan, đó là người láng giềng phương Bắc sẽ sớm trở thành nền kinh tế lớn nhất thế giới và tiếp tục phủ bóng lên nền kinh tế Việt Nam. Đối diện với thực tại này, thay vì tìm cách hạn chế quan hệ kinh tế giữa hai nước, một cách khôn ngoan hơn, Việt Nam cần chủ động tăng cường nội lực, đồng thời đa phương hóa quan hệ kinh tế quốc tế. Chiến lược này vốn dĩ đã cần thiết ngay cả khi quan hệ giữa hai nước “bình thường” thì lại càng thiết yếu khi quan hệ giữa hai nước trở nên bất thường.
Bài viết này lập luận rằng trên phương diện thương mại (và tương tự như vậy trên phương diện đầu tư), chính sách cấm vận của Trung Quốc (nếu có) mặc dù sẽ gây tổn thất đáng kể cho nền kinh tế Việt Nam, tuy nhiên những tổn thất này chủ yếu có tính ngắn hạn. Trong trung và dài hạn, sức ép buộc phải điều chỉnh sẽ đưa nền kinh tế Việt Nam dần thoát khỏi tình trạng “bóng đè”, trở nên độc lập và bền bỉ hơn trước mọi cú sốc đến từ người láng giềng phương Bắc. 
Nếu tỷ trọng nhập khẩu từ Trung Quốc tiếp tục bành trướng, hay Trung Quốc có xu hướng kiểm soát các lĩnh vực thương mại và đầu tư trọng yếu thì Việt Nam cần triển khai những đối sách thích hợp. Ở thời điểm này, Chính phủ Việt Nam cần quan tâm thích đáng đối với các dự án liên quan đến tài nguyên (khai thác bauxite hay thuê rừng đầu nguồn), năng lượng, và những ngành có sự tham gia của nhiều lao động phổ thông Trung Quốc.
Nói tóm lại, về mặt kinh tế, Việt Nam cần tìm cách để được hưởng lợi từ sự phát triển năng động của Trung Quốc nhưng đồng thời không bị chi phối bởi quy mô và cự ly của nó. Về mặt chính trị, Việt Nam một mặt không muốn Trung Quốc coi mình là mối đe dọa thường trực, nhưng đồng thời vẫn phải tìm cách duy trì sự độc lập và tự chủ. Để gìn giữ độc lập dân tộc, người Việt Nam sẽ phải tìm cách giữ thăng bằng trên một lằn ranh mong manh, dưới bóng đè của người láng giềng khổng lồ đầy mưu tính.

Phần nhận xét hiển thị trên trang