Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Hai, 26 tháng 5, 2014

Trung Quốc đã tiến hành di dời vị trí đặt giàn khoan Hải Dương 981.

ĐSPL:
Tình hình biển Đông mới nhất: Trung Quốc di dời giàn khoan 981  - Ảnh 1
Trung Quốc di dời vị trí đặt giàn khoan Hải Dương 981 về phía Đông Nam đảo Tri Tôn.
Trưa 27/5, trao đổi với báo Đời sống và Pháp luật, thiếu tướng Nguyễn Quang Đạm - Tư lệnh Cảnh sát biển Việt Nam khẳng định, Trung Quốc đã dịch chuyển vị trí giàn khoan Hải Dương 981 một cách rõ ràng hơn so với những ngày trước, tuy nhiên, sự dịch chuyển này có phải do chủ ý của phía Trung Quốc hay không thì vẫn chưa thể khẳng định.
Ông Hà Lê - Phó cục trưởng Cục Kiểm ngư cũng cho biết, đã nhận được thông tin về sự dịch chuyển giàn khoan của Trung Quốc, và nếu như với tốc độ dịch chuyển 4 hải lý/giờ như Đài Hải sự của Hải Nam đưa tin thì trong 1 giờ, giàn khoan sẽ di chuyển khoảng hơn 11 km về phía Đông Nam đảo Tri Tôn.
“Tuy nhiên, cho đến thời điểm hiện tại, chúng tôi vẫn xác định được giàn khoan đã di chuyển ở khoảng cách bao xa so với vị trí đặt ban đầu” – ông Lê nói thêm.
Trước đó, trong bản tin sáng cùng ngày, VTV cho biết, Cục Hải sự Trung Quốc thông báo qua Đài Hải sự, tỉnh Hải Nam cho biết: Giàn khoan Hải Dương 981 được hai tàu Hải Dương 612 và 613 kéo, với tốc độ dịch chuyển 4 hải lý/giờ. Giàn khoan 981 sẽ di chuyển về phía Đông Nam đảo Tri Tôn 25 hải lý.
Đảo Tri Tôn thuộc Quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam. Dự kiến, giàn khoan Hải Dương 981 được Trung Quốc dịch chuyển đến vị trí mới trước 10h30 ngày 27/5 và giàn khoan này vẫn nằm sâu trong khu vực thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam. 
XEM THÊM CLIP: Cận cảnh tàu TQ rượt đuổi, phun vòi rồng vào tàu Việt Nam

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Cận cảnh “quả cầu lửa” khổng lồ rơi xuống Trung Quốc


(Tinmoi.vn) Truyền thông Trung Quốc đưa tin người dân tại Hắc Long Giang vừa tìm thấy 3 vật  thể lạ (nghi là UFO) từ trên trời rơi xuống vào ngày 16/5.
Theo tin tức từ trang China News.cn, các vật thể lạ hình cầu đã rơi xuống  tỉnh Hắc Long Giang - Trung Quốc và được người dân tìm thấy vào sáng ngày 16/5. Theo người dân địa phương thì họ nghe thấy một tiếng động chói tai sau đó thì “một quả cầu lửa khổng lồ” rơi xuống một vườn rau.
Cận cảnh 'quả cầu lửa' khổng lồ rơi xuống Trung Quốc
Vật thể rơi xuống vườn rau của một người dân trong làng. Ảnh: China News
Một nhân chứng cho biết “Tôi nhìn thấy một quả  cầu lửa lớn và nghĩ rằng đó là một thiên thạch. Tôi chạy vào nhà trốn và chờ cho đến khi vật thể đó rơi xuống”.
Các vật thể lạ này có màu xám bạc, dạng khối tròn, làm bằng kim loại, xung quanh là các đường gờ nhọn lởm chởm và nhiều vết cháy. Một vật thể có chiều rộng hơn 70 cm và nặng khoảng 40 kg.
Đã có nhiều giả thiết được đưa ra để giải thích hiện tượng này. Tuy nhiên theo tin tức từ China News thì ngay trước khi vật thể lạ rơi xuống Trung Quốc đã có  một tên lửa Proton-M của Nga, chở theo một vệ tinh liên lạc, đã gặp trục trặc động cơ không lâu sau khi rời bệ phóng sáng 16/5 và bốc cháy trong bầu khí quyển Trái đất.
Truyền thông Trung Quốc nhận định rằng, các vật thể rơi xuống địa phận Hắc Long Giang có thể là một số bộ phận còn chưa bị tiêu hủy hết trong vụ phóng tên lửa của Nga. Trong khi đó, phía Nga vẫn nhất quyết cho rằng, tên lửa của họ gần như đã bị phá hủy phía trên Trái đất. Nhà chức trách Trung Quốc hiện đang tiếp tục điều tra về vụ việc này.
Clip: Vật thể lạ nghi là UFO rơi ở Trung Quốc:

Xem thêm: Giải mã bí ẩn về hiện tượng ánh sáng "ma trơi"

Duy Nguyễn (Tổng hợp)

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Có phải bản chất của xã hội dân sự là " khoảng đệm" và phi chính trị?




 Phóng sự  “Đe dọa từ phương Bắc và xã hội dân sự” của ký giả Trọng Thàn có nhiều thông tin bổ ích và  nhận định  sắc sảo. Để hiều xã hội dân sự là gì, tại sao xã hội dân sự lại hệ trọng đến vậy, và những gì làm nên xã hội dân sự Việt Nam, tác giả đã mời  nhà nghiên cứu Lữ Phương  giải đáp một cách rất ngắn gọn, rành mạch và dễ hiểu. Đặc biệt tác giả  quan tâm  một số nhận định rất hệ trọng trong bài “Những ước vọng của một người dân” của Tiến sĩ Phạm Gia Minh :


               ” Ở Việt Nam xã hội dân sự đang bị chính trị hóa bởi cả hai phía-Nhà nước thì quản lý chặt chẽ một hệ thống các cấp Hội và Hiệp Hội nhằm thực hiện các nhiệm vụ chính trị đề ra, trong khi đó phong trào tự phát trong dân thành lập các tổ chức như Diễn đàn xã hội dân sự, Hội cácbloger,… nhìn chung cũng mang nặng màu sắc chính trị và bầu không khí chung là nghi kỵ và đối đầu nhau một cách không đáng có”. 

                 Ký giả Trọng Thành : “Một nhận định quan trọng khác của Tiến sĩ Phạm Gia Minh là:“ Về bản chất xã hội dân sự là “khoảng đệm” hay không gian trung lập giữa Nhà nước và nhân dân nên chỉ khi nào phục vụ mục đích dân sinh và phi chính trị thì xã hội dân sự mới thực sự phát huy chức năng vốn có của nó”. 

                  Nói chung trong “Những ước vọng của một người dân”, Tiến sĩ Phạm Gia Minh đã đề cập và dẫn giải nhiều vấn đề  xã hội rất sâu sắc. Tuy nhiên  với  hai đoạn văn mà ký giả Trọng Thành  đặt lại thì có lẽ ông phân tích chưa rõ và như vậy có thể gây hiểu lầm không có lợi. Do đó xin có đôi lời bàn thêm.

                     Khái niệm xã hội dân sự đã có từ thời cổ Hy Lạp. Aristote là người đầu tiên dùng thuật ngữ này và có câu nói nổi tiếng “con người là một động vật chính trị”. Trong Khế ước xã hội, Rousseau  dành chương 4, quyển 4, kể  về các hội dân được thành lập thời La Mã. Các hội dân này kiểm soát hoạt động của Nguyên lão Thượng viện. ” Riêng thành phố La Mã được vinh dự đã cho thế giới một tấm gương tốt, trong đó không có sự lạm quyền.” Như vậy là từ thời  La Mã xã hội dân sự đã có những hoạt động chính trị, nhằm hạn chế lạm quyền.

                      Xã hội dân sự nổi lên mạnh dần ở thời  tiền tư bản, khi  con người ý thức ngày càng sâu sắc về  cá nhân và các quyền tự do mà “tạo hóaban cho”. Vào  thế kỷ 16, các triết gia J.Rodin(Pháp),T.Hobbes (Anh), B.Spinoza (Hà Lan)… phân tích sâu sắc về  tự do cá nhân và  đưa ra sự phân biệt giữa  nhà nước với xã hội. Đến thế kỷ 18,  Rousseau, Montesquieu đặt vấn đề tự do cá nhân của công dân độc lập với nhà nước.   Triết gia Hegel (Đức) trong Triết học pháp quyền, được coi là tác phẩm phân tích công phu về xã hội  dân sự với nhà nước hiện đại. Hegel cho rằng xã hội dân sự là nơi các công dân  có hoàn cảnh giống nhau cần liên kết với nhau vì lợi ích. Xã hội dân sự là nơi  tập hợp của các tư nhân, các giai cấp, các nhóm được điều tiết theo dân luật, không phụ thuộc trực tiếp vào nhà nước. Nhưng ông cho rằng xã hội dân sự phải tuyệt đối phục tùng, chịu sự quản lý  của  nhà nước để được bảo đảm tự do. Ông gọi vai trò Nhà nước “ là hành trình của Thượng đế”,  tầng lớp quan chức  là “linh hồn của xã hội.” Về điều này ông đã  thụt lùi so với các nhà tư tưởng ở thế kỷ 18. Trong Phê phán triết học chính trị của Hegel, K.Marx vừa chấp nhận những luận điểm đúng , vừa chống các luận điểm sai trái  như tuyệt đối hóa  vai trò của nhà nước  đối với xã hội dân sự . K. Marx cho rằng Nhà nước phải phục vụ xã hội dân sự.

                             Các triết gia  của  thế kỷ ánh sáng đã  đánh thức con người nhận ra các quyền tự do mà Tạo hóa đã ban cho của mình, từ đó kiên quyết đấu tranh để giành lấy.

                             J.J.Rousseau viết Khế ước xã hội với câu mở đầu :” Con người sinh ra tự do, nhưng ở đâu họ cũng bị xiềng xích”. Từ đó ông đề ra cách tổ chức thiết chế xã hội để sao cho các quyền tự do của con người không bị nhà cầm quyền tùy tiện tước mất. Ông cho rằng với Khế ước xã hội, con người mất đi cái tự do thiên nhiên, nhưng thu được quyền tự do dân sự và quyền sở hữu những gì mình có. Tuy Khế ước Xã hội quan trọng như vậy, nhưng ông nói:” Nếu tất cả dân chúng họp lại và đồng lòng xé bỏ thì không nghi ngờ gì nữa, Khế ước đó bị hủy bỏ ngay một cách hợp pháp.”

                           Khế ước Xã hội của J.J. Rousseau và Tinh thần Pháp luật của Montesquieu với lý thuyết nhà nước pháp quyền, tam quyền phân lập đã  chỉ ra cách thể chế hóa các quyền tự do của con người  bằng một nhà nước dân chủ hiện đại. Các tư tưởng khai sáng này đã đưa tới Cách mạng Pháp 1789 với Tuyên ngôn dân quyền và nhân quyền : - Điều 1, Mọi người sinh ra và sống tự do, bình đẳng về các quyền; mọi phân biệt xã hội chỉ có thể đặt trên ích lợi chung.- Điều 2, Mục đích của các tổ chức chính trị là gìn giữ các quyền tự nhiên và không thể bị tước bỏ của con người; các quyền này là quyền tự do, quyền sở hữu, quyền được bảo đảm an ninh và chống áp bức.- Điều 4.Tự do bao gồm quyền có thể làm mọi điều không gây hại cho người khác. - Điều 11, Việc tự do trao đổi về tư tưởng và ý kiến là một trong những quyền quý nhất của con người”.- Điều 15, Xã hội có quyền bắt mọi công chức phải báo cáo về công việc quản lý của họ…  

                            Từ năm 1835, A.de Tocqueville xuất bản quyển Nền Dân trị Mỹ, trong đó ông ghi chép khá tỉ mỉ, sinh động các hoạt động xã hội dân sự ở nền dân chủ trẻ trung của thời ấy. ( Phạm Toàn dịch, NXB Tri thức 2008). Xin nêu ra đây đôi đoạn:

                               Chương IV- Việc lập các đoàn thể chính trị:

                              “… Có vô số tổ chức khác hoàn toàn được sinh ra và lớn lên nhờ ý nguyện  cá nhân của con người…

                               “ …Nhà trường là nơi trẻ em  ngay cả trong những trò chơi cũng phải tuân thủ luật lệ do chúng đặt ra”… 

                               “ …Có sự lộn xộn xuất hiện ở một con lộ. Ngay lập tức những người sống gần đó  thành lập tổ chức bàn cách giải quyết, đẻ ra ngay một quyền lực hành pháp giải quyết luôn sự cố…”

                                “Khi quyền lập đoàn thể được thừa nhận, người công dân có thể dùng nó theo nhiều cách. Chỉ thành một đoàn thể chính trị khi nó bao gồm sự tham gia công khai của một số cá nhân theo một học thuyết này nọ và được họ cam kết bảo đảm bằng cách nào đó thực hiện học thuyết đó…”

                           …”Phải thừa nhận là tự do vô giới hạn trong việc lập đoàn thể vì lý do chính trị cho tới nay chưa hề tạo ra ở Hoa Kỳ những tác động tai hại nào như người ta  ở các nơi khác đã lo nghĩ sẽ xảy ra”

                             …”Ngày nay quyền tự do lập đoàn thể chính trị  trở thành một đảm bảo cần thiết chống lại nạn cường quyền của phe đa số. Ở Hoa Kỳ khi một đảng nào trở thành đảng cầm quyền thì toàn bộ sức mạnh chính trị rơi vào tay đảng đó….. Quyền tự do công cộng là để ngăn ngừa sự chuyên quyền của các đảng phái giống như tính võ đoán của vị quân vương. Không có đất nước nào mà các đoàn thể chính trị lại cần thiết hơn là các quốc gia có trạng thái xã hội dân chủ”.

                                         Chương V, nói về các đoàn thể trong đời sống dân sự. 

                                        Tác giả cho rằng nếu công dân chỉ với tư cách cá nhân thì không thể bảo vệ quyền tự do của mình, do đó họ phải có hình thức đoàn kết với những người cùng hoàn cảnh để lập ra hiệp hội. Các đoàn thể chính trị của  Hoa Kỳ so với các nước là nhiều, nhưng ở Hoa Kỳ thì chỉ là số rất ít giữa mênh mông  các hiệp hội của đời sống dân sự : Hiệp hội thương mại, hội tổ chức lễ tết, hội lập trường học, hiệp hội dựng nhà thờ , hội quảng bá sách,  cả hiệp hội mở nhà tù. Tác giả kể việc chứng kiến hơn 100 nghìn người dân lập Hội đòi không dùng rượu mạnh. Ông mỉa mai rằng, nếu 100 nghìn người dân này mà sống ở Pháp thì chắc chắn họ sẽ từng người một đến cầu xin chính phủ tổ chức kiểm soát các quán nhậu trên toàn quốc !

                                          Cuối chương này tác giả kết luận :

                                       “ Tại các nước dân chủ , khoa học về sự kết hội và lập hội là khoa học mẹ; sự tiến bộ của các khoa học khác tùy thuộc vào những tiến bộ của “bà mẹ” này. 

                                        “ Trong những quy luật chi phối xã hội con người, có một cái hình như chính xác hơn và tường minh hơn mọi quy luật khác. Muốn cho con người mãi mãi tồn tại văn minh hoặc trở thành những kẻ văn minh, cần thiết phải phát triển được trong bọn họ nghệ thuật kết hội lại với nhau và nghệ thuật ấy phải được hoàn thiện tương tự như sự gia tăng của quyền bình đẳng các điều kiện.”

                                          Nhân dân Hoa Kỳ đã được sống  trong một xã hội dân sự như miêu tả trên đây đã hơn 200 năm, nhờ đó mà nước họ được coi như “miền đất hứa”, khoa học(chiếm hầu hết các giải Nobel),  nghệ thuật dẫn đầu thế giới. Từ nửa đầu thế kỷ 20, nhà tư tưởng , nhà văn lớn Ayn Rand của Hoa Kỳ, trong bài  Bản chất của chính phủ, bà viết rằng,”Thời kỳ mà chính phủ được tự do làm bất kỳ những gì nó muốn, trong khi người dân chỉ có thể hành động nếu được phép , là giai đoạn đen tối nhất của lịch sử con người, giai đoạn cai trị bằng sự dã man.”

                                           Gần chúng ta hơn là sự phát triển xã hội dân sự ở Hàn Quốc thúc đẩy chuyển hóa chế độ độc tài thời Lý Thừa Vãn, Pắc Chung Hy sang chế độ dân chủ. Tác giả Chung Shi Ahn trong bài  Phát triển kinh tế và dân chủ hóa ở Hàn Quốc cho biết, các tổ chức xã hội dân sự của nước này đấu tranh với các chế độ độc tài  nhằm mục đích: 1/ Thay đổi các thể chế  đàn áp của nhà nước bằng những cơ quan đại diện trong tiến trình dân chủ hóa. Các tổ chức  xã hội dân sự dần dần độc lập với bộ máy nhà nước. 2/ Trong quá trình ấy những hình thức của quyền xã hội dân sự  xuất hiện ngày càng nhiều, buộc nhà nước phải chấp nhận để có quan hệ vững chắc hơn với xã hội dân sự. Và sau khi đã chuyển hóa sang chế độ dân chủ thì  “uy quyền của Nhà nước được xã hội dân sự trao cho và do đó các cơ quan Nhà nước có thể trở nên mạnh hơn trước kia,  với một quan niệm hoàn toàn khác.”( Tức là không dùng quyền lực độc tài).

                                          Ngày nay, nhân loại đã có Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền(1948), sau đó là nhiều Công ước cụ thể hóa các quyền trongTuyên ngôn này.Ngày 24- 9 – 1982 Nhà nước Việt Nam ký gia nhập Công ước quốc tế về các quyền dân sự và  chính trị . Lời nói đầu Công ước này viết: “Tuyên ngôn nhân quyền chỉ có thể đạt được lý tưởng của con người tự do được tận hưởng tự do về dân sự và chính trị, không bị sợ hãi và thiếu thốn nếu tạo được những điều kiện để mọi người có thể hưởng các quyền dân sự và chính trị cũng như các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa của mình”. So với Tuyên ngôn Nhân quyền,  quyền tự do ngôn luận được Công ước này ghi rõ ràng đầy đủ hơn ở Điều 19: “1- Mọi người đều có quyền giữ quan điểm của mình mà không bị ai can thiệp.

        2- Mọi người có quyền tự do ngôn luận.Quyền này bao gồm cả quyền tự do tìm kiếm, nhận, và truyền đạt mọi tin tức, ý kiến, không phân biệt ranh giới, hình thức tuyên truyền miệng, hoặc bằng bản viết, in, hoặc bằng hình thức nghệ thuật, hoặc thông qua mọi phương tiện đại chúng khác tùy theo sự lựa chọn của họ.

         3- Việc thực hiện những quyền quy định tại Khoản 2 của điều này kèm theo những nghĩa vụ và trách nhiệm đặc biệt. Do đó có thể dẫn tới một số hạn chế nhất định , tuy nhiên những hạn chế này phải được pháp luật quy định và cần thiết để:

          a/ Tôn trọng các quyền hoặc uy tín của người khác.

          b/ Bảo vệ an ninh quốc gia hoặc trật tự công cộng, sức khỏe hoặc đạo đức của công chúng. 

                 Nước ta, trước Đổi mới ( Đại hội 6, năm 1986)  giống như các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu và Liên Xô, tức là một chế độ toàn trị (totalitaire) , không có xã hội dân sự, tất cả các đoàn thể đều do Đảng lập ra và ăn lương như công chức nhà nước. Sau Đổi mới, các hoạt động kinh tế được trả lại cho người dân, từ đó xã hội dân sự nãy nở ở các  lĩnh vực kinh tế, dân sinh, từ thiện…   Lưu Hiểu Ba gọi  nhà nước Trung Quốc sau cải cách của Đặng Tiểu Bình  là nhà nước  hậu toàn trị. Có lẽ Việt Nam cũng đã sang thời kỳ hậu toàn trị. Các Đại hội Đảng đều ghi nhận phải đổi mới toàn diện. Đại hội 11 quyết định:”Đổi mới chính trị phải đồng bộ với đổi mới kinh tế theo lộ trình thích hợp…” Dù cho việc thực hiện chậm chạp, đổi mới chính trị còn so le với đổi mới kinh tế, nhưng vẫn là quá trình không thể cưỡng lại được.  Cương lĩnh xây dựng đất nước của Đảng cộng sản Việt Nam  được Đại hội 11 thông qua đã ghi nhận “Đảng tôn trọng  tính tự chủ, ủng hộ mọi hoạt động tự nguyện, tích cực, sáng tạo, và chân thành lắng nghe ý kiến đóng góp của Mặt trận và các đoàn thể . Đảng, nhà nước có cơ chế chính sách tạo  điều kiện để Mặt trận và các đoàn thể nhân dân hoạt động có hiệu quả, thực hiện vai trò giám sát và phản biện xã hội”. (Văn kiện Đại hội 11, trang 87). Hiến pháp 2013 ở Điều 2 ,chương 2 “ Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định.”  Trên các báo chí chính thống, từ chỗ coi “ xã hội dân sự là một thủ đoạn diễn biến hòa bình, đã chuyển sang yêu cầu “ Hiểu đúng về xã hội dân sự”, cho rằng “xã hội dân sự đóng vai trò xây dựng cộng đồng, trợ giúp nhà nước” ( Đức Thành, báo Quân đội Nhân dân ngày 30-3-2014). 

                 Tuy còn có nhiều ý kiến khác nhau , nhưng có thể  rút ra một số điều chung nhất về các  đặc trưng của  tổ chức xã hội dân sự :

1- Là những tổ chức do người dân tự nguyện lập ra , tự trang trải về tài chính, không hưởng lương, hoặc trợ cấp của nhà nước, còn được gọi  là những hội đoàn phi chính phủ. .Ở xã hội dân chủ, nhà nước trao hết việc tổ chức hội đoàn cho xã hội dân sự. Thông điệp đầu năm của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng có đoạn:“ Để phát huy tốt nhất quyền làm chủ của nhân dân, Nhà nước phải làm tốt chức năng kiến tạo và phát triển. Nhà nước không làm thay dân mà phải tập trung xây dựng khuôn khổ thể chế phù hợp và tạo điều kiện cần thiết để mọi người phát huy năng lực và sức sáng tạo vì lợi ích của chính mình và đóng góp cho xã hội. Chỉ khi dân giàu thì nước mới mạnh. Xã hội hóa không chỉ để huy động các nguồn lực mà còn tạo điều kiện cho xã hội thực hiện những chức năng, những công việc mà xã hội có thể làm tốt hơn”. Đó chính là sức mạnh và tiềm năng của xã hội dân sự.

Nếu nhà nước giao hết các hội đoàn lớn nhất cho xã hội dân sự thì ngân sách quốc gia sẽ có được một khoản rất lớn để có thể thực hiện dự án cải cách tiền lương mà  ba mươi năm qua vẫn chưa tìm được lối ra. Nhân đây xin nói, hai hội đoàn mà ký giả Trọng Thành cho là “tổ chức mang tính dân sự nhiều hơn như Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật, Hội người cao tuổi” ; có lẽ nhận định này không chính xác, bởi vì cả hai hội đoàn này đều do nhà nước lập ra và cán bộ của họ  ăn lương  nhà nước như công chức. Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật  ghi trên Điều lệ của mình là “ tổ chức chính trị - xã hội thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.” Và có lẽ cách nói của Tiến sĩ Phạm Gia Minh cũng nên  đảo ngược lại là  “về mặt nguyên tắc”, “về mặt nguyên lý” các hiệp hội do nhà nước lập ra chưa  phải là các tổ chức xã hội dân sự.  

2 - Các tổ chức xã hội dân sự không phải chỉ phục vụ mục đích dân sinh và phi chính trị. Như chúng ta đã thấy từ thời cổ La Mã cho đến hiện đại, các tổ chức  xã hội dân sự bao gồm rất nhiều mặt, nhằm  thực hiện các quyền tự do của con người, có các quyền dân sự và cả quyền chính trị. Có điều khác với thời xưa,  người dân trong chế độ dân chủ không đòi các quyền tự do thiên nhiên (do tạo hóa ban cho) mà chỉ đòi quyền tự do dân sự, tức là các quyền do Hiến pháp dân chủ quy định ( theo tinh thần Khế ước xã hội). Theo J.S.Mill (1806-1873) thì quyền tự do tư tưởng và tự do thảo luận là quan trọng nhất. Để có công cụ đấu tranh tư tưởng, người dân lập đoàn thể chính trị, cơ quan ngôn luận… Hai tác giả N.M.Voskresenskaia và N.B.Davletsshina (trong Chế độ dân chủ, nhà nước và xã hội)  định nghĩa: “Xã hội dân sự là xã hội trong đó các tổ chức khác nhau của các công dân như : các đảng phái, các công đoàn, hợp tác xã, nhóm…., thực hiện mối liên hệ giữa công dân với nhà nước, không để cho nhà nước áp bức các công dân của mình.” Thực tế trong thế giới hiện đại, tất cả các nước có chế độ dân chủ trưởng thành,  xã hội dân sự bao gồm các hiệp hội dân sự và chính trị. Một đảng chính trị khi bị thất cử không còn cầm quyền thì hòa mình vào  xã hội dân sự, sửa đổi cương lĩnh để thu phục dân chúng, tiếp tục tranh cử khóa sau.  Xã hội vì thế mà luôn luôn ổn định và không ngừng  tiến bộ. 

    3 -  Thực tế cho thấy quyền lực luôn có xu hướng lạm quyền. Cho dù ở chế độ dân chủ, nhà nước pháp quyền, phân lập ba quyền để kiểm soát, hạn chế quyền lực lẫn nhau , đề cao quyền tư pháp độc lập, nhưng hiện tượng lạm quyền vẫn  xảy ra. Các tổ chức xã hội dân sự là nơi phát hiện tình trạng lạm quyền,  buộc nhà nước phải thực hiện  đúng Hiến pháp.

                    Chúng ta đang trong quá trình đổi mới, đặc biệt  đổi mới chính trị là điều mới mẻ và đầy khó khăn, bởi sức ì của bảo thủ, giáo điều. Các tổ chức xã hội dân sự đúng như  ý nghĩa của nó còn rất ít, quyền lập hội được đề ra từ Hiến pháp 1946, cho đến nay vẫn chưa được thi hành. Tuy nhiên không thể vì vậy mà tước mất của nó chức năng quan trọng là “trợ giúp nhà nước”( cách nói của Đức Thành báo QĐND) hoặc cách nói của  nhà nghiên cứu Lữ Phương là :“Tạo sức ép lên nhà nước, buộc nhà nước phải có chuyển đổi trong chừng mực nào đó thích hợp với ý nguyện của xã hội dân ”. 

                Như vậy không thể gọi xã hội dân sự là “khoảng đệm  hay không gian trung lập giữa nhà nước và nhân dân”. Xã hội dân sự  phản biện, tác động vào nhà nước, buộc nhà nước phải đúng là của dân, do dân, vì dân. Mặt khác, xã hội dân sự giúp nhà nước đào luyện người dân, hội viên của mình có nhận thức đúng, có ý thức trách nhiệm cao đối với đất nước. Tình trạng bạo loạn ở Bình Dương, Đồng Nai vừa qua không sớm được ngăn chặn từ gốc, có  nguyên nhân sâu xa là thiếu những tổ chức xã hội dân sự đúng nghĩa, nhất là trong công nhân lao động.
                 Vì những lý lẽ kể trên,  xã hội dân sự  là một trong ba “chân kiềng” không thể thiếu một của  chế độ dân chủ: xã hội dân sự , kinh tế thị trường, nhà nước pháp quyền. 
   
        Ngày 26-5-2014

   Tống văn Công

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Hải giám" và " Ngư chính" của ta hay của Tàu?



Một chiếc tàu Ngư chính của Trung Quốc


Nhiều người sẽ có câu trả lời ngay. Thậm chí bực mình: “Của Tàu chứ còn gì nữa, chẳng lẽ lại của Ta !?” Tuy nhiên, trong thực tế, không phải ai cũng hiểu biết được như vậy.

Cách đây chỉ một năm, BáoGiáo dục Việt Nam (Giáo dục.net.vn) thứ ba ngày 16/4/2013 có bài: “Sinh viên Việt Nam 'mù tịt' về tàu hải giám, ngư chính Trung Quốc?!”

 
Bài báo cho biết:

“Để tìm hiểu nhận thức của học sinh, sinh viên về chủ quyền biển đảo, nhóm PV Báo Giáo dục Việt Nam đã thực hiện một cuộc khảo sát nhỏ (phỏng vấn ngẫu nhiên) với khoảng 40 sinh viên thuộc các Trường ĐH Thương Mại, ĐH Quốc gia Hà Nội, ĐH Công nghệ, ĐH Mở và ĐH Sư phạm Hà Nội, với 4 câu hỏi cơ bản: 
1. Trung Quốc gọi quần đảo của Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam là gì?(đáp án: Tây Sa và Nam Sa)
2. Trung Quốc đang bành trướng trên biển Đông bằng việc phái các tàu chuyên dụng gì ra biển Đông (ngoài tàu đánh cá và tàu quân sự)? (đáp án: tàu Hải giám, Ngư chính)
3. Trung Quốc cố tình vẽ ra đường phi pháp gì trên bản đồ biển Đông vi phạm chủ quyền Việt Nam và một số nước Đông Nam Á? (đáp án: đường lưỡi bò)
4. Sự kiện mới đây nhất liên quan đế tàu cá của Việt Nam và tàu Trung Quốc là gì? (tàu Trung Quốc bắn cháy ca-bin tàu cá Việt Nam)

Điều đáng buồn là, hầu hết sinh viên không trả lời được 2 câu đầu tiên, đa phần trả lời được câu số 3, và rất ít trả lời được câu số 4 (chứng tỏ ít theo dõi thời sự biển đảo quan trọng của đất nước). Bi hài ở chỗ, có sinh viên nhận thức kiểu nghe loáng thoáng, trả lời "râu ông nọ cắm cằm bà kia", khi nói Trung Quốc gọi Trường Sa, Hoàng Sa của Việt Nam là... “đảo lưỡi bò” (thực tế chỉ có khái niệm "đường lưỡi bò"). Hoặc buồn không kém khi một số chủ nhân trong tương lai gần của đất nước hầu như không biết khái niệm tàu Hải giám, Ngư chính - 2 loại tàu thể hiện âm mưu thâm độc và chiến lược mới của Trung Quốc nhằm bành trướng, độc chiếm biển Đông...” (Trích từ Báo Giáo dục Việt Nam lúc 8 giờ 41 phút ngày 21/5/2014)

Về những ý kiến thảo luận, Báo GDVN cho biết: “Bên cạnh nhiều ý kiến chê trách thì cũng có độc giả cho rằng không nên vội trách sinh viên chính vì công tác tuyên truyền về biển đảo chưa được tốt.

Bạn Ngô Tuấn Dũng viết: “Tôi nghĩ những người được phỏng vấn không phải đại diện cho phần lớn sinh viên Việt Nam. Tuy nhiên kết quả như thế này thì khá kém. Trách sinh viên một phần thì trách các cơ quan truyền thông, truyền hình, báo chí, tổ chức hội sinh viên, đoàn thanh niên 10 phần”.
Bạn Lê Quang Hải nêu ra một thực tế: “Sinh viên, học sinh và rất nhiều người dân cũng chưa biết về Trường Sa, Hoàng Sa đang bị Trung Quốc chiếm đóng một số đảo và chiếm đóng bằng cách nào. Tại sao Trung Quốc chiếm đóng các đảo ở Trường Sa, Hoàng Sa mà người dân chúng ta không được biết ví dụ như: Để mất đảo lớn Gạc Ma hy sinh 64 người, thế mà nhà nước chúng ta không công bố, không tuyên truyền cho người dân được biết. Nếu chúng ta kêu gọi nhân dân đứng lên bảo vệ các đảo thì làm gì để mất các đảo về tay Trung Quốc? Hiện nay, công tác tuyên truyền của chúng ta quá yếu, không có hệ thống và chiều sâu. Để lúc nào kẻ thù vào chiếm các đảo của chúng ta mới kêu gọi thì đã quá muộn”.
Bạn Nguyễn Hùng: “Xin đừng đổ hết lỗi cho sinh viên, lỗi đây chính là do nền giáo dục (nó bét đến nỗi không thể tạo được thành cái hình gì cả). Do sự nhún nhường thái quá không dám cho phơi nên mặt báo thì làm sao đạị bộ phận sinh viên không biết là đúng thôi. Mới đây mới dám đưa nên đôi chút. Chỉ có người quan tâm đến thời sự chính trị thì mới biết thôi. Nói thực là chỗ tôi làm có khoảng 400 CBCNV, nếu được trả lời những câu hỏi trên tôi xin cam đoan đếm dưới 10 đầu ngón tay có thể trả lời được câu hỏi này”.
Bạn Đinh Phùng Đạt tán đồng: “Đừng vội vàng trách sinh viên, nên suy nghĩ sâu hơn, mọi thông tin tuyên truyền thời sự hầu như là không có phần đa thời lượng phái sóng trên truyền hình đều là show game này kìa giành cho showbiz làm loạn. Phần giáo dục thì suốt ngày cải cách, thành tích chả được cái gì”.
Tuy nhiên, ý kiến của bạn Minh cũng chỉ ra rất rõ: “Đúng là công tác tuyên truyền của Việt Nam còn tồn tại nhiều vấn đề (bao gồm cả việc dạy sử lẫn thông tin tuyên truyền), tuy nhiên nguyên nhân quan trọng là do sự thờ ơ của chính bản thân sinh viên, chủ nhân tương lai của đất nước. Bây giờ là thời đại thông tin. Họ hoàn toàn có thể tìm hiểu những thông tin này thông qua các phương tiện truyền thông, đặc biệt là Internet. Rất nhiều bạn trẻ tuy thường xuyên truy cập Internet nhưng không phải để tìm hiểu những thông tin bổ ích mà chỉ để chat chit, chơi game hoặc thậm chí tìm kiếm những thông tin không lành mạnh” (Báo Giáo Dục)
Chúng tôi cho rằng những ý kiến đa chiều trên đây của bạn đọc đã giải thích phần nào nguyên nhân nhiều người Việt Nam không có được những  hiểu biết chính xác, cần thiết về tình hình và những từ, ngữ liên quan đến cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển đảo nước nhà.
Đã hàng chục năm nay, khi tạm lắng, lúc sôi sục, những từ, ngữ như: ngư chính, hải giám, hải cảnh, tuần duyên, đường lưỡi bò, đường chín đoạn...thường được báo chỉ nhắc đến, gắn với những cuộc gây hấn liên tục của Trung Quốc như áp đặt lệnh cấm đánh bắt cá phi lý, bắt bớ ngư dân Việt Nam, cắt cáp tàu Bình Minh 2, v.v...Thông thường, mỗi khi gặp một từ ngữ khó hiểu trên sách báo hoặc giao tiếp hàng ngày, chúng ta tìm đến Từ điển tiếng Việt. Tuy nhiên, điều đáng buồn là khi tìm trong hàng chục sách Từ điển tiếng Việt, có cuốn dày tới cả mấy ngàn trang cũng không hề thu thập và giải thích những từ này. Dường như những “hải giám”, “ngư chính” nó tận đẩu tận đâu và chẳng liên quan gì đến xứ ta. Chỉ duy nhất cuốn “Từ điển tiếng Việt” (Hoàng Phê chủ biên-Trung tâm từ điển học Vietlex tái bản, sửa chữa bổ sung gần đây nhất là 2013 và 2014) thu nhận và giải thích hai từ “ngư chính” và “hải giám”. Tuy nhiên, cuốn từ điển này lại giải thích không đến nơi, đến chốn, có thể gây hiểu lầm, lẫn lộn “địch với ta” rất tai hại. “Từ điển tiếng Việt”(sách đã dẫn) giải thích các từ “ngư chính”, “hải giám”, “kiểm ngư” như sau:
-“Ngư chínhdanh từ: ngành quản lý các hoạt động đánh bắt thủy sản nói chung.
-“Hải giámđộng từ, danh từ:
+động từ: giám sát đường biển. tàu hải giám.
+danh từ: cơ quan giám sát đường biển.
-Kiểm ngư: động từ. kiểm soát việc chấp hành pháp luật trong khai thác và bảo vệ nguồn thủy, hải sản. trạm kiểm ngư. cán bộ kiểm ngư.”
Cách giải thích trên của Từ điển tiếng Việt khiến nhiều người lầm tưởng ở Việt Nam bên cạnh lực lượng “kiểm ngư”, ta cũng có “ngư chính” và “hải giám”.Nhưng xem ảnh chụp những hoạt động gây hấn, xâm phạm vùng biển Việt Nam chúng ta thấy rõ những chữ viết rất lớn trên thân tàu Trung Quốc như: Trung Quốc ngư chính 中國漁政Trung Quốc hải giám 中國海監, hoặc Trung Quốc hải cảnh 中國海警. Trong khi tàu của Việt Nam có dòng chữ là: Kiểm ngư Việt Namhay Cảnh sát biển Việt Nam. Như vậy “ngư chính” 漁政 và “hải giám” 海監(hay Hải cảnh 海警) là cách người Việt Nam nói và viết tắt theo nguyên văn tiếng Trung Quốc phiên âm Hán-Việt (không dịch) để gọi những công cụ và hoạt động trên biển của riêng phía Trung Quốc.
Trở lại vấn đề Từ điển tiếng Việt giải thích “Ngư chính: danh từ: ngành quản lý các hoạt động đánh bắt thủy sản nói chung”. Vậy nếu bạn đọc hỏi lại: cái“ngành” đó ở đâu, trực thuộc Bộ, Cục, Sở... nào của Việt Nam ? Hoặc “Hải giám: danh từ: Cơ quan giám sát đường biển”. Vậy xin hỏi “cơ quan giám sát đường biển” nào của Việt Nam có tên là “Hải giám” ? Rồi “tàu hải giám” là của ai, đi “giám sát đường biển” nào ? Chúng tôi tin các nhà biên soạn từ điển sẽ không giải thích được nếu không gắn với những công cụ và hoạt động trên biển của phía Trung Quốc. Đến từ điển còn lơ mơ như vậy, hỏi sao sinh viên không “mù tịt về tàu hải giám, ngư chính” ?
Chúng ta có thể so sánh phương pháp, nguyên tắc của người làm từ điển thế này: khi thu nhận từ “hà mã”, Từ điển tiếng Việt (cũng như đa số các sách từ điển khác) đều giải thích: “Hà mã: thú lớn gần với lợn, da trần và dày, đầu to, mõm rộng, mắt nhỏ, tai ngắn, ăn cỏ, thường sống thành đàn ở vùng sông, đầm châu Phi”Hoặc như: “Chuột túi: thú di chuyển bằng cách nhảy bằng hai chân sau, con cái có túi ở trước bụng để đựng con mới đẻ, có nhiều ở Australia. Đồng nghĩa: kangaroo”. Như vậy, Việt Nam không có hà mã và chuột túi, nhưng nhiều người biết đến hai loài thú này nên từ điển đã thu nhận. Tuy nhiên các nhà biên soạn đã đúng khi nói rõ nguồn gốc “châu Phi” và “Autralia” của chúng. Vậy khi giải thích các từ “ngư chính” và “hải giám” từ điển cũng cần chú thích rõ cái “bản quán” bên Trung Quốc của nó để phân biệt với lực lượng kiểm ngư của Việt Nam.
Bản thân chúng tôi cũng không biết nên tìm hiểu chính xác và chính thống các từ hải giám, ngư chính ở đâu. Đành phải tìm đến Từ điển “Bách khoa toàn thư mở Wikipedia”:
“Hải giám: Hải giám Trung Quốc Trung văn giản thể中国海监总队bính âm: Zhōngguó Hǎijiān Zǒngduì, Hán-Việt: Trung Quốc Hải giám Tổng đội; tiếng Anh: China Marine Surveillance) là cơ (quan giám sát hàng hải của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Hải giám là một trong 5 tổ chức hành pháp liên quan đến bờ biển ở quốc gia này, gồm: Tuần duyên - lực lượng quân sự tuần tra bờ biển; Ủy ban an toàn hàng hải - chịu trách nhiệm tìm kiếm và giải cứu ven biển; Ngư chính - quản lý các hoạt động đánh cá; Hải quan - giám sát ngăn chặn buôn lậu; và giám sát, kiểm tra, theo dõi các vùng biển, hải phận thuộc Trung Quốc.
Hải giám là tổ chức được thành lập mới đây nhất trong các cơ quan nêu trên, vào năm 1998. Cơ quan này thực chất là lực lượng cảnh sát của Cục Hải dương Nhà nước Trung Quốc (trực thuộc Quốc vụ viện), chịu trách nhiệm các vùng nước không thuộc lãnh thổ lãnh hải Trung Quốc, ở những nơi mà Trung Quốc đơn phương tuyên bố vùng đặc quyền kinh tế của mình. Hải giám cũng là cơ quan thực thi luật môi trường của Trung Quốc tại các vùng duyên hải.
Theo kế hoạch của Trung Quốc, lực lượng của Hải giám sẽ tăng quân số từ 9.000 lên 10.000 người, mua thêm 36 tàu tuần tra. Hải giám thời điểm 2011 có 300 tàu và 10 máy bay. Ngoài ra, Hải giám cũng thu thập và điều phối dữ liệu từ các hoạt động của tổ chức tại 10 thành phố lớn và 170 đơn vị hành chính khác ở vùng vùng duyên hải”.
Tuy nhiên, theo bài “Lực lượng Hải cảnh Trung Quốc (CCG) là công cụ quyền lực để Bắc Kinh cụ thể hóa những yêu sách chủ quyền phi pháp của mình trên biển” (Soha.vn) thì thông tin về các loại tàu “ngư chính”,  “hải giám”, “hải cảnh” của Trung Quốc được cập nhật hơn: Cảnh sát biển Trung Quốc (CCG) gọi tắt là Hải cảnh được thành lập tháng 03/2013 bằng cách hợp nhất các lực lượng Hải giám (CMS), Cảnh sát biển của Cục quản lý biên phòng (BCD), Cơ quan đảm bảo thực thi pháp luật Ngư nghiệp (FLEC/Ngư chính) cùng Tổng cục Hải quan và Cơ quan Hải dương Trung Quốc (GAC).
Trước khi được sáp nhập vào Hải cảnh thì Hải giám và Cảnh sát biển của Cục quản lý biên phòng là 2 lực lượng có quy mô lớn nhất.
Việc hợp nhất 4 lực lượng hàng hải thành một tổ chức thống nhất, nằm dưới sự điều hành của một cơ quan chủ quản duy nhất là một phần trong kế hoạch đầy tham vọng nham hiểm của Trung Quốc nhằm phát triển lực lượng tuần duyên có quy mô và sức mạnh ngang bằng với các nước như Mỹ, Nhật Bản...”
Điều đáng chu ý, trong khi Hải giám, Ngư chính-những công cụ và hoạt động rất thâm hiểm của Trung Quốc có lịch sử 16 năm hoạt động và thường xuyên vi phạm chủ quyền biển đảo của Việt Nam, thì ngày 15/4/2014, Bộ NN&PTNT mới tổ chức lễ ra mắt lực lượng Kiểm ngư Việt NamĐây là lực lượng có chức năng tuần tra, kiểm soát phát hiện xử lý vi phạm pháp luật và thanh tra chuyên ngành thủy sản trên các vùng biển của Việt Nam. Đồng thời hỗ trợ, giúp đỡ ngư dân yên tâm sản xuất, bảo vệ nguồn lợi thủy sản, tham gia bảo vệ an ninh trật tự trên biển và góp phần tham gia bảo vệ quyền chủ quyền, quyền tài phán của Việt Nam trên Biển Đông. Mới ra đời được nửa tháng, vào ngày 01.05.2014, lực lượng Kiểm ngư Việt Nam non trẻ đã phát hiện và phải đối mặt với giàn khoan nước sâu khổng lồ HD 981 và lực lượng bảo vệ hùng hậu của Trung Quốc hạ đặt khoan trái phép, thăm dò ở nam đảo Tri Tôn 17 hải lý, vi phạm vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam. 

Điều đáng nói, trong những ngày cả nước sục sôi khí thế chống giặc Tàu, tin tức, bài vở về vùng biển Hoàng Sa tràn ngập trên các phương tiện thông tin đại chúng. Thế nhưng có người vẫn nhầm lẫn tàu Kiểm ngư Việt Nam với tàu Ngư chínhcủa Trung Quốc. Đơn cử bài Cộng đồng Việt Nam tại Bỉ hướng về biển đảo quê hương” (báo Dân trí (18/5/2014) dẫn lại bài của Việt Nam thông tấn xã, mụcTin tức) viết: Trả lời phỏng vấn phóng viên TTXVN tại Bỉ, ông Marnix Smets, Giám đốc công ty Pinakes kêu gọi Trung Quốc nên tôn trọng luật pháp quốc tế, chấm dứt ngay hành động xâm nhập trái phép vùng biển của Việt Nam. Hành động của Trung Quốc bị cộng đồng quốc tế lên án. Theo ông Smets, việc tàu Trung Quốc được máy bay yểm trợ đã tấn công các tàu ngư chính và cảnh sát biển của Việt Nam đang làm nhiệm vụ "là hành động xâm lược không thể chối cãi". Chúng ta không rõ đó là nguyên văn lời ông Marnix Smets nói và ông ấy đã nhầm hay người dịch, người viết bài nhầm. Tuy nhiên, theo chúng tôi, nếu ông Marnix Smets nhầm, TTXVN tại Bỉ khi dịch nên đính chính lại cho phù hợp với thực tế và cách hiểu của người Việt Nam.

 Trở lại vấn đề từ ngữ tiếng Việt với chủ quyền biển đảo. Điều đáng khen củaTừ điển tiếng Việt (Vietlex) là đã cập nhật hai từ rất “thời sự” là “ngư chính” và“hải giám”. Tuy nhiên, điều chưa được ở đây là Từ điển đã không giải thích đến nơi đến chốn như chúng tôi đã nói. Mặt khác, việc bổ sung những từ này cho việc tái bản lần thứ năm của Vietlex dường như đang còn mang tính tự phát. Do đó mục đích hướng tới độc giả còn rất lơ mơ. Mặt khác, nhiều từ liên quan đến những hoạt động sai trái của Trung Quốc trên biển Đông được báo chí nói đến hàng ngày chưa được Từ điển thu nhận, giải thích một cách có hệ thốngđầy đủ như: hải cảnh, tuần duyên, đường chín đoạn, đường lưỡi bò,v.v...

Có thể đối với những từ, ngữ như đường chín đoạn, đường lưỡi bò, các nhà làm từ điển sẽ lý giải rằng: Việt Nam không công nhận khái niệm đó nên không đưa vào từ điển. Tuy nhiên theo chúng tôi, dù không công nhận, nhưng hàng ngày hàng giờ, chúng ta và cả thế giới vẫn phải đối mặt với những yêu sách ngang ngược ấy của Trung Quốc. Mà nhiệm vụ của Từ điển là thu thập và giải thích một cách khách quan những từ ngữ, khái niệm được dùng trong thực tế cuộc sống. Người xưa có câu “Biết địch biết ta, trăm trận trăm thắng”. Bởi vậy, để có thể đấu tranh chống Trung Quốc xâm lược biển đảo, bác bỏ đòi hỏi sai trái của họ, mọi người dân chúng ta trước hết phải được hiểu rõ hải giám, ngư chính, hải cảnh hay cái gọi là đường chín đoạn, đường lưỡi bò của Trung Quốc thực chất nó là cái gì. Kẻo không chuyện “bi hài”như Báo Giáo Dục Việt Nam nêu: “có sinh viên nhận thức kiểu nghe loáng thoáng, trả lời "râu ông nọ cắm cằm bà kia", khi nói Trung Quốc gọi Trường Sa, Hoàng Sa của Việt Nam là... đảo lưỡi bò”“mù tịt về tàu ngư chính, hải giám”, hoặc gọi tàu kiểm ngư Việt Nam là “tàu ngư chính” sẽ còn diễn ra dài dài theo cuộc chiến chống giặc Tàu./.

 Hoàng Tuấn Công

(Bài này được HTC viết lại, bổ sung tư liệu trên cơ sở bài “Từ điển tiếng Việt và chủ quyền biển đảo” đăng trên Tuấn Công Thư Phòng ngày 21/5/2014)

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Quốc hội Việt - Mỹ sẽ bàn về Biển Đông và nhân quyền


Chủ tịch tiểu ban Châu Á - Thái Bình Dương (thuộc Thượng viện Mỹ) sẽ đến Việt Nam từ 27/5 để thảo luận về vấn đề Biển Đông và việc triển khai thực hiện Hiến pháp mới, trong đó có nhân quyền.
Thông tin trên được Chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại của Quốc hội Trần Văn Hằng chia sẻ bên hành lang kỳ họp sáng 26/5.
- Trong chuyến thăm của đoàn nghị sĩ Ủy ban Đối ngoại Thượng viện Mỹ tại Việt Nam từ 27/5 tới, hai bên sẽ trao đổi những nội dụng gì?
- Nội dung dự kiến thảo luận lần này nhiều vấn đề, trong đó có tăng cường thúc đẩy quan hệ đối tác toàn diện giữa Việt Nam - Mỹ. Thứ hai, họ muốn tìm hiểu thái độ, chủ trương của ta với vấn đề Biển Đông vừa rồi. Thứ ba là việc triển khai thực hiện Hiến pháp mới, đặc biệt là vấn đề nhân quyền 2013. Về vấn đề này, nhận thức và quan điểm của hai bên còn khác nhau, do đó cuộc trao đổi đối thoại này là cơ hội để hiểu nhau hơn, xử lý vấn đề nhân quyền phù hợp hơn.
- Nội dung Biển Đông sẽ được chúng ta đề cập như thế nào?
- Mỹ đã có phản ứng tích cực từ Chủ tịch Thượng viện tới các nhóm nghị sĩ. Trong cuộc làm việc sắp tới, Việt Nam vẫn giữ quan điểm là dùng nhiều biện pháp để bảo vệ chủ quyền. Không ít người chưa thực sự hiểu rõ về vấn đề này nên chúng tôi sẽ cung cấp cho họ cơ sở pháp lý, lịch sử để khẳng định chủ quyền, để họ có cái nhìn khách quan, phản đối những hành động xâm phạm chủ quyền, quyền tài phán của Việt Nam trên Biển Đông. Chúng tôi cũng sẽ đề nghị các nước phải có tiếng nói phù hợp với luật pháp quốc tế.
hang11-5503-1401079164.jpg
Chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại Trần Văn Hằng. Ảnh: Chí Hiếu.
- Trong nỗ lực xây dựng niềm tin và nâng tầm quan hệ giữa hai nước, năm 2006, Mỹ đã bỏ lệnh cấm bán trang thiết bị quân sự phi sát thương cho Việt Nam. Tuy nhiên, lệnh cấm bán vũ khí sát thương vẫn chưa được dỡ bỏ do quan điểm hai bên còn khác biệt về vấn đề nhân quyền. Việc này sẽ được bàn thảo ra sao?
-  Việt Nam và Mỹ đã ký hiệp định về vấn đề hạt nhân dân sự. Còn nội dung bán vũ khí sát thương vẫn đang được bàn và lần này ta sẽ đề xuất bàn kỹ, bởi trong chương trình, đoàn nghị sĩ Mỹ có làm việc với Bộ Quốc phòng. Quan điểm của chúng tôi là nên tiếp tục nêu vấn đề này.
- Tuần tới, Việt Nam sẽ chính thức tham gia lực lượng giữ gìn hòa bình Liên Hợp Quốc, vậy chúng ta tham gia vào những hoạt động, mức độ nào?
- Chúng ta đã có quyết định cử hai sĩ quan liên lạc tham gia vào phái bộ gìn giữ hòa bình quốc tế ở Châu Phi.  Hai sĩ quan này sẽ làm nhiệm vụ liên lạc giữa các tổ, đội của phái bộ Liên Hợp Quốc và chịu sự điều hành của phái bộ do Tổng thư ký cử. 
Sau đó nếu tham gia với lực lượng lớn hơn thì phải có nghị quyết của Quốc hội. Tham gia ở quy mô nào nào phụ thuộc vào trình độ lực lượng của ta. Một khi đã tham gia, tất nhiên phải có kế hoạch, lộ trình đào tạo bồi dưỡng theo yêu cầu của Liên Hợp Quốc để chứng tỏ rằng chúng ta tham gia là để đóng góp cho công cuộc gìn giữ hòa bình.
Mới tham gia vào lực lượng này nên việc học tập kinh nghiệm là mục tiêu chính.
- Quốc tế bày tỏ gì khi Việt Nam tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình Liên Hợp Quốc?
- Hiện không có e ngại nào cả. Ngược lại, cộng đồng quốc tế rất hoan nghênh. Điều này cũng cho thấy vai trò của Việt Nam trên trường quốc tế ngày càng cao, có uy tín. Bạn bè quốc tế tin tưởng Việt Nam sẽ đóng góp tích cực, đáp ứng các yêu cầu đề ra.
Chí Hiếu (ghi)
















































































































Phần nhận xét hiển thị trên trang