Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Hai, 26 tháng 5, 2014

Bí mật cuộc chiến tranh biên giới Trung-Ấn


trung quốc














Bức màn bí ẩn đang dần hé lộ khi nhà báo Úc Neville Maxwell gần đây đã công bố phần lớn báo cáo Henderson Brooks - Bhagat trên trang web cá nhân, báo India Today và nhiều báo Ấn Độ khác đăng tải.
Mặc dù đã gỡ xuống một thời gian ngắn sau đó, nhưng 126 trang tài liệu được cho là Phần I của báo cáo Henderson Brooks - Bhagat sẽ làm sáng tỏ những lý do dẫn đến thất bại của Ấn Độ trong năm 1962. Phần II của báo cáo vẫn chưa được công bố và Bộ Quốc phòng Ấn Độ xếp báo cáo vào loại “Tối mật”.
Vào năm 2010, Bộ trưởng Quốc phòng A.K. Antony đã nói với Quốc hội Ấn Độ rằng báo cáo này không thể giải mật vì nội dung của nó "không chỉ cực kỳ nhạy cảm mà còn có giá trị thực tại". Các hãng thông tấn Ấn Độ đã kêu gọi chính phủ phải minh bạch hơn nữa, đồng thời cho rằng việc giải mật báo cáo sẽ cho phép xem xét lại sai lầm trong quá khứ.
Theo nhận định của nhà báo Neville Maxwell thì chính sách “tiến tới” (Forward Policy) của chính phủ Ấn Độ đã khiêu khích Trung Quốc sử dụng vũ lực, là điều mà Thủ tướng Jawaharlal Nehru và các nhà lãnh đạo khác của Ấn Độ đã không lường trước do tin tức tình báo lạc hậu. (Chính sách “tiến tới” là chiến lược được Ấn Độ triển khai vào năm 1961 nhằm mở các cuộc tuần tra và thiết lập các chốt quân sự tại các khu vực tranh chấp với Trung Quốc với niềm tin rằng Bắc Kinh sẽ không đáp trả bằng phản ứng quân sự).
Báo cáo Henderson Brooks - Bhagat là gì?
Báo cáo Henderson Brooks - Bhagat từ trước tới nay là đề tài nghiên cứu gây nhiều suy đoán trong cộng đồng chiến lược gia và giới sử học Ấn Độ. Báo cáo được cho là bản cáo trạng gay gắt về những thất bại tình báo và tính toán chính trị sai lầm dẫn đến chiến tranh của chính phủ Ấn Độ.

Vào năm 2007, R.D. Pradhan, Thư ký riêng của Bộ trưởng Quốc phòng Ấn Độ Y.B. Chavan, đã xuất bản một tài liệu khái quát lịch sử ra đời của báo cáo Henderson Brooks - Bhagat.

Theo Pradhan thì Thủ tướng Nehru, trong một cuộc tranh luận ở Quốc hội, đã đảm bảo sẽ tiến hành điều tra về thất bại ở Vùng biên giới Đông Bắc (NEFA - bây giờ là bang Arunachal Pradesh). Sau khi cân nhắc, Bộ trưởng Chavan đã đề xuất thành lập Ủy ban điều tra bao gồm 2 sĩ quan cao cấp và giao cho Tham mưu trưởng Lục quân chịu trách nhiệm thi hành.

Theo đó, Trung tướng Henderson Brooks và Chuẩn tướng P.S. Bhagat được chỉ định tham gia vào Ủy ban điều tra. Báo cáo của họ đã được trình lên Bộ tham mưu Lục quân ngày 12.5.1963 và chuyển cho Bộ trưởng Chavan vào ngày 2.7.1963.

Báo cáo Henderson Brooks - Bhagat được cho là chứa đựng nhiều thông tin về chiến dịch cũng như hoạt động thực tế của quân đội Ấn Độ.

Vì sao phải giữ bí mật?

Theo Pradhan thì Bộ trưởng Chavan đã nhận thấy báo cáo có những nhận xét khắc nghiệt về cách xử lý của Thủ tướng Nehru trong mối quan hệ Trung - Ấn. Trong đó cho rằng ông đã quá gắn bó với Hiệp định Panchsheel (1954) để bỏ qua những ý đồ khác của Trung Quốc.

Chính vì thế, Bộ trưởng Chavan đã quyết định ngăn chặn tiết lộ những kết luận của cuộc điều tra. Mối quan tâm lớn nhất của ông là tìm cách bảo vệ uy tín của chính phủ và đồng thời giữ vững tinh thần chiến đấu của các lực lượng vũ trang.

Vì thế ông nhiều lần nhấn mạnh trong Quốc hội rằng, cuộc điều tra là để “rút ra bài học cho tương lai chứ không phải là một cuộc thanh trừng các viên chức chịu trách nhiệm về thất bại”. "Nội dung của nó không được tiết lộ vì những cân nhắc về mặt an ninh”, và bởi vì nó có khả năng “ảnh hưởng đến tinh thần chiến đấu của binh sĩ", theo Pradhan.

Vào ngày 2.9.1963, Bộ trưởng Chavan tiết lộ rằng Ủy ban không chỉ điều tra về các chiến dịch ở NEFA mà còn kiểm tra "các diễn tiến và sự kiện trước khi chiến sự xảy ra, bao gồm cả việc lập kế hoạch và xây dựng năng lực quân đội". Ngoài ra, còn đánh giá chi tiết các hoạt động thực tế cả ở Ladakh và NEFA với sự tham khảo về “địa hình, chiến lược, chiến thuật và triển khai quân đội".

Rõ ràng, Trung tướng Henderson Brooks và Chuẩn tướng Bhagat đã quyết định tập trung vào cả "những kế hoạch đầy lúng túng của chính phủ Ấn Độ”, Pradhan cho biết thêm.

Theo giải thích của Pradhan thì "vào thời điểm đó, báo cáo Henderson Brooks - Bhagat được coi là quá nhạy cảm để công khai, và mặc dù đã lạc hậu ngày hôm nay, báo cáo không may vẫn còn bí mật”.

Ngày 23.2.1972, Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai trong một cuộc thảo luận tại Bắc Kinh với Tổng thống Mỹ Richard Nixon và Tiến sĩ Henry Kissinger, đã đề cập đến cuốn sách của nhà báo Neville Maxwell.

Thủ tướng Chu đã trích dẫn tác phẩm của Maxwell và cho biết “vào năm 1962, chính phủ Ấn Độ tin vào những gì người Nga nói với họ, là chúng tôi, Trung Quốc, sẽ không sử dụng vũ lực để chống lại họ”.

Neville Maxwell là phóng viên khu vực Nam Á của tờ The Times of London vào năm 1962. Ông là một trong số rất ít người đã đọc Báo cáo Henderson Brooks - Bhagat. Tác phẩm mà Thủ tướng Chu Ân Lai đề cập đến là cuốn sách “Cuộc chiến với Trung Quốc của Ấn Độ” được ông xuất bản vào năm 1970. Thông tin trong cuốn sách chủ yếu lấy từ báo cáo Henderson Brooks - Bhagat.

Mặc dù các nhà lãnh đạo Mỹ và Trung Quốc trong thập niên 1970 đã thảo luận về nội dung của báo cáo Henderson Brooks - Bhagat, nhưng cho đến hôm nay, báo cáo này vẫn là tài liệu được giữ bí mật nhất của chính phủ Ấn Độ.

Đề cập đến tuyên bố của Bộ trưởng Quốc phòng A.K Antony, nhà báo Maxwell nhận xét: "Những lý do này hoàn toàn không đúng sự thật và vô nghĩa. Các vấn đề chiến thuật, chiến lược, hoặc chiến dịch quân sự trong báo cáo hoàn toàn không liên quan tình hình hiện nay".

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Hai nước ASEAN vừa dạy cho Trung Quốc bài học về cách ứng xử trên biển


Anh Tú (theo Inquirer và Jakarta Globe)
Một Thế Giới - Indonesia và Philippines hôm thứ Sáu (23.5) đã ký một hiệp định biên giới trên biển (biển Mindanao và biển Celebes). Báo chí khu vực ca ngợi đây là một mô hình giải quyết tranh chấp lãnh thổ ngày càng căng thẳng trong khu vực một cách hòa bình.

Theo phân tích của trang ABS-CBN, Indonesia và Philippines đã dạy cho Trung Quốc một bài học về cách ứng xử trên biển Đông. Dù không nêu đích danh Trung Quốc nhưng cách phát ngôn của hai vị tổng thống thừa đủ cho mọi người thấy họ đang ám chỉ Trung Quốc đang hung hăng với các nước láng giềng.

Tổng thống Indonesia Susilo Bambang Yudhoyono cho biết thỏa thuận này là kết quả của 20 năm đàm phán và nó cho thấy các tranh chấp leo thang ở biển Đông có thể được giải quyết mà không có bạo lực. 

"Đây thực sự là một mô hình, một ví dụ tốt, rằng bất kỳ tranh chấp bao gồm căng thẳng biên giới biển có thể được giải quyết một cách hòa bình - không gắn với việc sử dụng sức mạnh quân sự mà có thể gây nguy hiểm cho sự ổn định và hòa bình trong khu vực của chúng ta", Tổng thống Yudhoyono cho biết sau khi giám sát việc ký kết hiệp định tại dinh tổng thống ở Manila.

Tổng thống Philippines Benigno Aquino cho biết thỏa thuận mới giữa Indonesia và Philippines là "bằng chứng vững chắc về cam kết kiên định của chúng tôi về duy trì sự tôn trọng pháp luật và theo đuổi các giải pháp hòa bình" .

Ngoại trưởng Indonesia và Philippines đã ký bên dưới thỏa thuận phác họa ranh giới của khu đặc quyền kinh tế chồng chéo cả hai quốc gia ở biển Mindanao, biển Celebes và biển Philippine .

Tổng thống Indonesia cũng tỏ ra lo ngại với những diễn biến gần đây tại biển Đông do Trung Quốc hung hăng gây nên. "Tình hình ở Đông Á là đầy căng thẳng và tình hình ở Đông Nam Á, bao gồm cả Biển Đông cũng vậy", ông Yudhoyono nói.

Ông kêu gọi Trung Quốc và các quốc gia Đông Nam Á "trở lại với tinh thần" của thỏa thuận năm 2002 , trong đó họ nói rằng họ sẽ không thực hiện bất kỳ hành động gây căng thẳng trong khu vực tranh chấp.

Báo chí Philippines đánh giá bản hiệp định này giúp chính quyền của ông Aquino sẽ tập trung tốt hơn trong việc đối phó với những hành vi khiêu khích của Trung Quốc trên biển Đông. Đồng thời, họ cũng tin rằng sau hiệp định này, tinh thần đoàn kết của ASEAN sẽ dâng cao hơn trong bối cảnh Trung Quốc đang muốn chia rẻ các nước ở Đông Nam Á.


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Mọi thứ đã kích hoạt


Cu làng cát
Từ ngày Trung Quốc hạ đặt giàn khoan trái phép trong vùng biển chủ quyền Việt Nam, mọi thứ đã kích hoạt. Mọi thứ đã thay đổi. Tất cả, tất cả chúng ta đều vĩnh viễn thay đổi cách suy nghĩ, cách tư duy, cách tiếp cận, cách nhìn nhận. Mặc dù trong góc khuất nào đó, có không ít người vẫn ít nhiều muốn nghĩ về một điều gì đó “lành” hơn, nhưng thực tế đã buộc thay đổi vĩnh viễn về ý thức.

Lòng yêu nước đã được kích hoạt trở lại sau vụ cắt cáp tàu Bình Minh 02 trước đây. Lúc đó cộng đồng mạng trở thành làn sóng phản đối rầm rộ và truyền thông đưa tin theo “chừng mực”. Nhưng ngày nay, với giàn khoan trái phép của Trung Quốc hạ đặt trong vùng biển chủ quyền Việt Nam, một cấp độ phản ứng lớn hơn cả trong nước và thế giới. Lòng yêu nước của người Việt trong và ngoài nước bùng lên mạnh mẽ, chỉ cần một “công tắc đẩy”, mọi thứ đều có thể lay chuyển. Từ đồng bằng lên miền núi, từ làng biển đến trung du, đâu đâu cũng một lòng sục sôi.

Một người phụ nữ ở TP. Hồ Chí Minh đã tự thiêu để lại các di thư phản đối Trung Quốc, bà nêu lên khí phách Hai Bà Trưng xưa để những ai có chí hướng nhớ lấy. Hành động của bà là hệ quả tất yếu của sự ngang ngược, đè nén từ “máu đại Hán” đe dọa không gian sinh tồn của người Việt trong nhiều năm qua.

Tất cả mọi việc đều kích hoạt từ sự kiện giàn khoan trái ngược. Lãnh đạo cấp cao có các chuyến con thoi với các nước trong khu vực và những tuyên bố từ Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cho thấy không trông đợi gì vào thứ “viễn vông” vô bổ và vô tích sự. Các phát biểu mạnh mẽ của Thủ tướng trên diễn đàn ASEAN hay từ philippine đều mang đến sắc thái khác trước đây rất nhiều. Chỉ rõ Trung Quốc là mối đe dọa biển Đông, điểm thấu Trung Quốc nói khác xa với làm từ một vị nguyên thủ cấp cao là sự khác biệt rất lớn so với thời gian của những năm qua.

Chủ tịch nước hay Chủ tịch quốc hội cũng có những phản ứng tương thích trước diễn đàn quốc dân. Những vị nhân sĩ trí thức, đến giới nghiên cứu chuyên môn, hoặc về những cá thể công dân đâu đâu cũng một quan điểm nhìn nhận sự tráo trở của Trung Quốc trong hành vi bất trắc xâm phạm chủ quyền Việt Nam. Nếu có một hội nghị Diên Hồng lần nữa, chắc chắn không chỉ những vị cao niên tâm vững như bàn thạch đả thông tư tưởng cho các thế hệ con cháu về lịch sự chống ngoại bang phương Bắc mà những bậc lão thành cũng thay đổi nhân sinh quan, thế giới quan đã mang theo mấy chục năm nay.

Bộ ngoại giao cũng hoạt động năng nổ hơn với các cuộc họp báo quốc tế. Những lời phát ngôn đanh hơn, thép hơn và rõ ràng hơn nhiều so với thời kỳ tàu Trung Quốc đánh phá tàu cá dân sự ngư dân nhưng vẫn phải nuốt bồ hòn gọi là “tàu lạ”.

Một sự cởi trói trong thế giới quan và nhân sinh quan từ tất cả mọi giai tầng xã hội đã hét lên rõ ràng, kêu lên rõ ràng, điểm lên rõ ràng, chỉ mặt rõ ràng, ghi vào lịch sử một cách rõ ràng danh từ Trung Quốc “nói khác với làm”. Khi một nhà khoa học hỏi ông bình luận thế nào về 16 chữ vàng và 4 tốt, Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam đã đáp lời không do dự: “Tôi nghĩ vàng cũng tốt nhưng kim cương còn tốt hơn”.

Kim cương ở đây là gì? Là dòng dân, là đất nước, là quốc gia, là dân tộc. Kim cương ở đây không phải là thứ “viễn vông” mà có thật. Kim cương ở đây không phải là thứ “lệ thuộc” mà là sự quý báu của các đối tác trên bình diện đa phương. Kim cương ở đây không phải là thứ giao hảo với kẻ cướp, mà kim cương ở đây là thứ thuộc về lòng dân, thuộc về nhân dân. Chính nhân dân chỉ ra viên kim cương đó, một cách bền bĩ, mài giũa một cách hòa hiếu, nhưng sắc cạnh vô cùng, long lanh vô cùng, nhạy bén vô cùng, bền gan vô cùng, chính nghĩa vô cùng. Kim cương đó cũng là khí phách tổ tiên cha ông ngàn đời đánh bại giặc phương Bắc truyền lại.

Tất cả đều kích hoạt bởi một thứ năng lượng cố kết toàn dân, “lòng yêu nước’. Từ những tộc người nhỏ bé trên những rặng núi xa xôi đến những làng xóm hẻo lánh ở biển chân trời, từ bao miền quê còn nghèo khó đến những đô thị hiện đại đều chung một tấm lòng. Đó là những bức trường thành chống đỡ mọi hiểm ác từ kẻ lớn luôn rắp tâm thôn tính đất đai hương hỏa nước Việt.

Người ta hy vọng rằng, sự “viễn vông” sẽ được cảnh tỉnh, bị đẩy lùi, được đả thông để tránh đi nhiễu sự cho dân tộc. Nhưng khi điều “viễn vông” cố bám lấy, chắc chắn nó bị tiểu phạt bởi chính bàn tay của người nước Nam vốn là con cháu của hào khí Đông A của khí phách Bặch Đằng giang, của phòng tuyến Như Nguyệt, của Chi Lăng-Xương Giang, của Ngọc Hồi-Đống Đa...


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thế nào là phản biện?

Ngố: Từ hôm nước nhà có biến, biển đông sôi sục mỗi ngày, các pác lắm ní, nhiều nuận chả thấy có ỷ kiến gì. Phải chăng đầu óc các pác để chín tầng mây cao hay là có vấn đề???

Sưu tầm trên facebook
Năm ngoái, xong Hội thảo của Hội đồng Lí luận phê bình Trung ương tại TPHCM, ngồi bàn tiệc 10 người toàn nhà xịn, tôi có đề nghị anh Đông La:
-        Mấy tháng nay ông múa gậy vườn hoang trên Văn nghệ TP, đánh hết ông trí thức này đến vị phản biện kia, mỗi tuần chiếm hết 3-4 trang to cồ; còn ở ngoài Hà Nội ngày qua ngày, nhà thơ Nguyễn Hoàng Đức một mình một cõi công phá “văn học quốc doanh” trên một trang web. Thử đề nghị vậy nhé: Tôi sẽ tổ chức bàn tròn, Sài Gòn hay Hà Nội cũng được miễn là sân trung lập cho 2 ông tranh luận, trước bàn dân thiên hạ: 60 sinh viên và trí thức. Tôi đứng chủ trì cho 2 ông tranh luận từng luận điểm một…
-        Không, tôi chỉ trao đổi trên mặt giấy thôi…
 Đông La trả lời.
-          Mặt giấy, vậy nếu ai viết phản bác lại ông, hỏi có báo giấy nào chịu đăng không? 

Một hồi vậy thôi, Đông La đánh trống lảng, bỏ đồng đội đi qua bàn khác… ngồi.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Phản đối Truyền Hình Trung Quốc công khai kế hoạch đánh Việt Nam

Phần nhận xét hiển thị trên trang

cuộc xung đột biên giới giữa bộ đội biên phòng Xô viết và PLA (quân đội TQ), có nhiều điều ít được biết tới

TPO - Nhiều năm về trước, cuộc xung đột biên giới giữa bộ đội biên phòng Xô viết và PLA (quân đội TQ), có nhiều điều ít được biết tới về cuộc xung đột này. Dưới đây là toàn cảnh một trận đánh ác liệt từ những chiến sĩ biên phòng – cách mà giới truyền thông quốc tế vẫn gọi là xung đột vũ trang biên giới.
Giải mật cuộc chiến biên giới Xô - Trung năm 1969
TPO - Nhiều năm về trước, cuộc xung đột biên giới giữa bộ đội biên phòng Xô viết và PLA (quân đội TQ), có nhiều điều ít được biết tới về cuộc xung đột này. Dưới đây là toàn cảnh một trận đánh ác liệt từ những chiến sĩ biên phòng – cách mà giới truyền thông quốc tế vẫn gọi là xung đột vũ trang biên giới.
Lịch sử và địa lý của đảo Damanski
Damanski (Trân Bảo đảo theo cách gọi của người Trung Quốc) - hòn đảo nhỏ không có người ở trên sông Ussuri. Chiều dài khoảng 1500-1700 m, chiều rộng khoảng 500 m. hòn đảo nằm cách bờ là 47 mét tính từ phía Trung Quốc và 120 mét tính từ bờ bên Liên bang Xô viết. Tuy nhiên, theo thỏa thuận với Bắc Kinh vào năm 1860 và bản đồ được vẽ vào năm 1861, đường biên giới giữa hai nước đã chạy dài không phải trên đường trục tâm của dòng sông Ussuri mà chạy theo bờ sông bên Trung Quốc. Như vậy, hòn đảo trên thực tế lịch sử là một phần không thể tách rời của lãnh thổ Liên Xô.
Vào giữa năm 1968, những cái đầu nóng của Bộ tổng tham mưu PLA với mục đích tạo sức ép giải quyết vấn đề biên giới giữa CCCP và Trung Quốc đã vạch ra kế hoạch triển khai một đòn tấn công quân sự đủ mạnh trên khu vực biên giới Suifenhe. Tại khu vực này, các khu đồn trú của bộ đội biên phòng CCCP nằm gần với lãnh thổ Trung Quốc và việc đánh chiếm các đồn biên phòng này trên lý thuyết hoàn toàn không gặp khó khăn. Để giải quyết bài toán này, các đơn vị chiến đấu của quân đoàn 16 PLA được lệnh hành quân đến khu vực biên giới Suifenhe. Mục tiêu cần lấn chiếm đầu tiên được lựa trọn là là đảo Damaski. Theo khẳng định của một cán bộ thuộc Viện hàn lâm khoa học xã hội Trung Quốc ông Lý Dân Huệ, khu vực Damask được lựa chọn không phải là ngẫu nhiên.
Thứ nhất: Trong các cuộc đàm phán về đường biên giới, dường như Đảo Damaski có vẻ nghiêng về phía Trung Quốc, do đó, có thể phản ứng của Liên bang Xô Viết sẽ không quá gay gắt và quyết liệt. Thứ hai – Đảo Damaski nằm dưới quyền kiểm soát của quân đội Xô viết mới bắt đầu từ năm 1947, điều đó cho thấy, hiệu quả của các hoạt động lấn chiếm biên giới sẽ lớn hơn nhiều, so với các khu vực đang tranh chấp khác. Đồng thời, tại khu vực Damaski, Liên bang Xô viết chưa xây dựng được một khu vực phòng thủ biên giới đủ độ tin cậy về sức mạnh và cơ sở vật chất, điều cần thiết để tiến hành một đòn giáng trả dựa trên sức mạnh tổng hợp của các lực lượng.
25 Tháng 1 năm 1969, nhóm sĩ quan tham mưu của Quân khu Thẩm Dương đã hoàn thiện bản kế hoạch tác chiến mang tên "Trừng phạt". Để thực hiện được kế hoạch này, kiến nghị phải sử dụng lực lượng chủ công là 3 đại đội bộ binh và một số các đơn vị yểm trở và dự bị thê đội 2, bí mật triển khai trên khu vực đảo Damaski. Ngày 19 tháng 2 năm 1969, kế hoạch tác chiến mang tên “Trừng phạt” được phê chuẩn bởi Bộ tổng tham mưu PLA, thống nhất với Bộ Ngoại giao Trung quốc và nhận được sự đồng thuận của các nhà lãnh đạo cao cấp chính phủ.
Theo chỉ lệnh của Bộ tổng tham mưu PLA, lực lượng bộ đội biên phòng Trung Quốc được bổ xung thêm một trung đội tăng cường, tổ chức thành từ 2 – 3 nhóm tuần tiễu. Thành công của hành động quân sự dựa trên cơ sở của yếu tố bất ngờ. Sau khi hoàn thành nhiệm vụ, bước triển khai tiếp theo là đưa toàn bộ lực lượng tham chiến nhanh chóng thu dọn chiến trường, rút lui về tuyến phòng thủ đã chuẩn bị trước đồng thời khẳng định chủ quyền trên đảo bằng truyền thông.
Các quân nhân PLA với trước tác Mao Trạch Đông trên tay đang khẩu chiến với các sĩ quan biên phòng Liên xô trên biên giới
Các quân nhân PLA với trước tác Mao Trạch Đông trên tay đang khẩu chiến với các sĩ quan biên phòng Liên xô trên biên giới.
 
Trong đó, đặc biệt quan trọng là lấy chứng cứ buộc tội quân đội Xô viết về các hành động xâm lấn “ vũ khí trang bị, các bức ảnh chụp”….
Sự kiện xung đột trên Damaski diễn ra như sau:
Vào đêm ngày mồng 1 rạng ngày mồng 2 tháng 3 năm 1969. Một lực lượng binh sĩ và sĩ quan lớn Trung Quốc bí mật tập hợp bên kia biên giới, bờ bên Trung Quốc của sông Ussri. Sau này đã xác định được, đó là một tiểu đoàn tăng cường của PLA, quân số gần 500 người biên chế thành 5 đại đội, hỏa lực chi viện gồm có 2 khẩu đội súng cối và 1 khẩu đội pháo. Hỏa lực đi cùng có pháo không giật, súng máy hạng nặng và súng máy hạng trung (thượng liên), súng phóng lựu chống tăng RPG-2 model Trung Quốc. Tiểu đoàn được biên chế trang bị đầy đủ cho chiến đấu. Theo các nguồn tin thu được sau này, các đơn vị này được huấn luyện đặc biệt nửa năm để tiến hành các hoạt động tác chiến trên đường biên. Cũng trong đêm đó 3 đại đội bộ binh quân số khoảng 300 người bí mật triển khai đội hình phòng thủ dọc theo đường bờ dốc tự nhiên. Tất cả các quân nhân Trung Quốc đều mặc áo choàng ngụy trang, vũ khí được chuẩn bị sao cho không gây tiếng động (buồng nòng được tưới pha-ra-phin, lưỡi lê được bọc bằng giấy, để không làm lóe sáng ban đêm).
Trận địa hỏa lực gồm có 2 khẩu đội súng cối 82-mm và một khẩu đội pháo binh (cỡ nòng -45 mm), kết hợp với súng đại liên cỡ nòng lớn, trận địa được bố trí sao cho có thể tiến hành phát huy hỏa lực vào vũ khí, phương tiện cũng như binh lực của quân đội Liên Xô bằng đường ngắm trực tiếp. Các trận địa súng cối (theo phân tích kết quả trận đánh) cũng được lấy tọa độ bắn rất chính xác từ trước. Trên toàn bộ hòn đảo, hỏa lực của tất cả các hỏa khí được tổ chức để có thể tạo ra một lưới lửa dầy đặc trên toàn bộ tiền duyên tiểu đoàn, có chiều sâu từ 200m đến 300 m.
2 tháng 3 vào lúc 10.20 (theo giờ địa phương ) từ trạm quan sát của Liên xô, ban chỉ huy biên phòng nhận được thông báo có hai nhóm quân nhân có quân số là 18 và 12 người, xuất phát từ trạm gác Hùng Sa. Hai nhóm quân nhân tiến về phía biên giới Xô viết với ý đồ thách thức rõ rệt.Đồn trưởng đồn biên phòng "Nhiznhie Mikhailovka" thượng úy Ivan Strelnikov nhận được mệnh lệnhngăn chặn và trục xuất những người Trung Quốc, cùng với một chiến sĩ lính biên phòng trên xe bộ binh cơ giới BTR-60PB (№ 04) và hai chiếc xe ô tô quân sự di chuyển cơ động về hướng những kẻ xâm phạm biên giới. Tính huống cũng được thông báo cho hai trạm trưởng hai trạm canh gác biên phòng hai bên sườn khu vực là B. Bubenin và Soroxov. Đồn trưởng đồn biên phòng "Kulebyakiny copki" nhận được mệnh lệnh yểm trợ cho phân đội của thượng úy Ivan Strelnikov.
Có thể nhận thấy rằng, mặc dù gần một tuần quân đội PLA cơ động binh lực số lượng lớn trong khu vực liền kề với khu vực biên giới, cùng với những hoạt động chuẩn bị đường hành quân cơ động về khu vực biên giới, nhưng từ Bộ tư lệnh quân khu Thái Bình dương hầu như không có một động thái tăng cường các hoạt động cảnh giới như tăng cường lực lượng cho các trạm biên phòng hoặc tiến hành các hoạt động điều nghiên, giám sát của các lực lượng trinh sát, tình báo quân đội. Hơn thế nữa, vào ngày Trung Quốc tấn công, biên chế của đồn "Nhiznhie Mikhailovka" chỉ có 1/2 quân số, cũng trong ngày đó theo biên chế có 3 sĩ quan chỉ huy, có mặt tại chỗ chỉ có Thượng úy Ivan Strelnikov, ở đồi biên phòng "Kulebyakiny sopki" quân số có mặt sẵn sàng chiến đấu có lớn hơn.
10.40 giờ, thượng úy I. Strelnikov tiến đến vị trí các quân nhân Trung Quốc xâm phạm biên giới chủ quyền, ra lệnh cho các chiến sĩ sẵn sàng, súng ở tư thế Mang và triển khai đội hình hàng ngang. Các chiến sĩ biên phòng chia ra thành hai tốp. Tốp thứ nhất do thượng úy I. Strelnikov chỉ huy, tốp thứ hai có 13 chiến sĩ do hạ sĩ Rabotri chỉ huy, có nhiệm vụ bảo vệ phía bên sườn của I. Strelnikov từ phía bờ sông phía Trung Quôc. Nhóm của I. Strelnikov trên khoảng cách 20 m tiến đến gần các quân nhân Trung Quốc. Thượng úy I. Strelnikov giải thích với bên quân nhân PLA về biên giới và yêu cầu họ quay trở về địa phận Trung Quốc.
 
Bức ảnh cuối cùng, được chụp bởi N. Petrov, Các quân nhân PLA tản ra các vị trí khác nhau và chỉ sau 1 phút, đã bắn thẳng vào các chiến sĩ biên phòng Xô viết. 2 tháng 2 năm 1969.
Đừng đằng sau chỉ huy trường là binh nhất N. Petrov, anh chụp ảnh và quay phim ghi lại các bằng chứng xâm phạm biên giới của các quân nhân PLA. Chụp một số các bức ảnh bằng máy ảnh Zorky – 4, sau đó bắt đầu quay phim. Đúng thời điểm đó một quân nhân PLA ra hiệu, hàng quân thứ nhất của PLA tản ra khỏi vị trí, hàng quân thứ hai hạ súng bắn thẳng vào đội hình của binh lính biên phòng Xô viết trên khoảng cách khoảng từ 1-2m. Tổ chiến sĩ biên phòng bao gồm Thượng úy J. Strelnikov, Thượng úy N.Buinevich thuộc Cục công tác đặc biệt, phòng số 57 lực lượng canh phòng biên giới., các binh sĩ N. Petrov, Vetrich, A. Jonas, V. Izotov, Alexander Shestakovhy sinh tại chỗ. Cùng lúc, từ phía hướng đảo Damaski, hỏa lực tập trung từ súng máy hạng nặng, tiểu liên, súng phóng lựu bắn thẳng vào tốp biên phòng xô viết còn lại. Một số chiến sĩ hy sinh tại chỗ, số còn lại phân tán và chiếm vị trí bắn trả. Nhưng do địa hình hoàn toàn trống trải, họ nhanh chóng bị bắn hạ, nhưng binh sĩ bị thương bị diệt bằng lưới lê. Cả hai tốp chiến sĩ biên phòng chỉ còn lại một chiến sĩ sống sót – binh nhất Gennady Serebrov. Anh bị thương ở tay, chân, lưng và bị đâm bằng lưỡi lê và bị ngất. Các chiến sĩ biên phòng - lính thủy của lữ đoàn tuần tiễu trên sông, khi đến chi viện cho phân đội của I. Strelnikov đã phát hiện ra và đưa về quân y viện.
Cũng vào thời điểm đó, phân đội của hạ sĩ Yu. Babanski tiếp cận trận địa, bị chậm lại so với phân đội của I. Strelnikov trên đường do xe bị trục trặc kỹ thuật. Lính biên phòng phân tán chiếm lĩnh vị trí chiến đấu và khai hỏa nhằm về phía binh sĩ của PLA. Đáp trả đợt phản công, binh lính PLA tập trung hỏa lực súng cối, súng máy hạng nặng và tiểu liên. Đặc biệt, các trận địa súng cối tập trung hỏa lực vào lớp băng xung quanh xe BTP và ô tô. Kết quả là một xe GAZ 69 bị bắn tan tành, một xe GAZ-66 bị hư hỏng nặng. Sau đó mấy phút, xe BTP№ 4 cùng kíp xe đến kịp chi viện cho Babanski. Hỏa lực dữ dội từ tháp pháo trên xe đè bẹp các điểm hỏa lực của đối phương, giúp cho năm chiến sĩ còn sống sót từ đội của Babanski thoát ra khỏi lưới lửa dày đặc.
Sau 10 – 15 phút chống trả dưới hỏa lực vượt trội nhiều lần của đối phương, tiếp cận trận địa là phân đội cơ giới của đội biên phòng số 1 thuộc đồn biên phòng "Kulebyakiny sopki" dưới quyền chỉ huy của thượng úy B. Bubenin.
 Sơ đồ tác chiến ngày 2 tháng 2 năm 1969
Sơ đồ tác chiến ngày 2 tháng 2 năm 1969.
Các chiến sĩ biên phòng đội số 1, tham gia chiến đấu trong các trận đánh ngày 02 và 15 tháng 3 trên đảo Damaski.1969
Các chiến sĩ biên phòng đội số 1, tham gia chiến đấu trong các trận đánh ngày 02 và 15 tháng 3 trên đảo Damaski.1969.
 
“Đổ bộ từ xe BTR, ẩn nấp ở sườn phía đông của bờ sông, chúng tôi triển khai đội hình chiến đấu hàng ngang và xông lên đảo - V. Bubenin kể lại - Khoảng 300m trước chúng tôi là nơi đã xảy ra thảm họa. Nhưng chúng tôi không biết điều đó. Chúng tôi có 23 người. Theo đội hình chiến đấu chúng tôi tiến về phía tiếng súng đang thưa thớt dần. Khi chúng tôi đi được khoảng 50 m, chúng tôi phát hiện, từ sườn dốc tự nhiên trên đảo, một trung đội binh sĩ PLA ồ ạt tấn công. Họ vừa la hét, vừa chạy và bắn. Khoảng cách giữa binh sĩ xô viết và PLA khoảng 150 – 200 m và nhanh chóng rút ngắn lại. Tôi không nghe thấy tiếng nổ, chỉ nhìn thấy từ nòng súng đối phương chớp lửa liên tục. Hiểu là bắt đầu trận đánh, nhưng lại cho rằng không phải sự thật, họ chỉ bắn đạn mã tử và dọa chúng tôi".
Hỏa lực phản kích của phân đội Bubenin thật dữ dội, đợt tấn công quyết liệt của PLA bị đẩy lùi ra phía sau sườn dốc che khuất tự nhiên trên đảo. Thượng úy Bubenin trúng thương, ra lệnh cho bộ đội lên xe, và quyết định đi vòng quanh đảo, tấn công từ phía sau đối phương.
"Lực lượng PLA rất đông – V. Bubenin thuật lại – họ ồ ạt nhẩy từ trên bờ sông dốc đứng xuống sông băng và xông thẳng lên đảo. Khoảng cách đến đối phương là 200 m. Tôi ra lệnh khai hỏa toàn bộ hỏa lực trên xe từ súng máy 14,5mm và 7,62mm. Sự xuất hiện của xe BTR ngay sau hậu phương khiến các binh sĩ PLA sững sờ, đến nối cả đám đông đang chạy đột ngột đứng sững lại, như vấp phải tường đá. Họ hoàn toàn bị choáng mất vài giây, đến nỗi không kịp cả bắn. Hỏa lực súng máy và súng bộ binh trên xe tạo thành một trận mưa đạn, khoảng cách giữa binh sĩ PLA và xe rút ngắn rất nhanh. Binh sĩ PLA vỡ trận, lớp bị đạn bắn gục, lớp quay trở lại bờ sông, cố gắng trèo lên rồi bị trượt xuống. Các sĩ quan PLA bắn thẳng vào những người lính rút lui để buộc họ lao vào trận đánh. Tình hình thật sự hỗn loạn, xe BTR và quân lính của PLA quấn lấy nhau trong một trận hỗn chiến giữa xe và người ở ngay bên bờ của đảo Damaski.
Mặc dù rất nhiều chiến sĩ biên phòng đã hy sinh, bản thân V. Buberin bị thương lần thứ 2, nhưng trận đánh vẫn diễn ra khốc liệt. Chuyển sang xe BTR thứ hai do xe số 1 bị hỏng, Buberin lại đánh tạt sườn đội hình tấn công của đối phương, đợt tấn công thứ hai bất ngờ đã tiêu diệt trạm chỉ huy tiền phương của tiểu đoàn PLA và sinh lực địch cũng bị tổn thất rất nhiều.
Trung tâm của trận địa là tiểu đội do Trung sĩ Ivan Larechkin chỉ huy, bình nhất Plekhanov Peter Kuzma Kalashnikov, Sergei Rudakov, Nicholas Smelov. Ở bên cánh phải, chỉ huy chiến đấu làTrung sĩ Alexei Pavlov. Trong bộ phận của anh có: Quản trị trưởng Victor Korzhukov, bình nhấtAlex Zmeev, Alex Sursev, Vladimir Izotov, Islamgali Nasretdinov, Ivan Vetrich, Alexander Yunhin, Vladimir Legotina, Peter Velichko và những quân nhân khác.
Đến 14.00 giờ cùng ngày, lực lượng biên phòng Xô viết đã chiếm lại đảo. Theo các bản tin chính thức, trong hơn hai giờ chiến đấu quyết liệt, bên PLA tổn thất 248 binh sĩ và sĩ quan, trong trận đánh này 31 chiến sĩ biên phòng đã hy sinh, hơn 20 người bị thương ở các cấp độ, quản trị trưởng Pavel Akylov bị bắt và bị bắn chết, xác bị ném trả cho lực lượng biên phòng.
Cuộc tấn công của quân đội Trung Quốc vào lực lượng biên phòng Liên xô đã gây lên phản ứng dữ dội trong chính quyền Liên bang Xô viết và các lãnh đạo Lực lượng vũ trang. 2 tháng 3 năm 1969. Chính quyền CCCP gửi công hàm cho chính quyền Trung Quốc, trong công hàm đã lên án quyết liệt hành động xâm phạm chủ quyền này. Trong đó có đoạn viết: “"Chính phủ Liên Xô dành cho mình quyền hành động quyết liệt nhằm ngăn chặn các hành động khiêu khích trên đường biên giới Liên Xô-Trung Quốc và cảnh báo chính phủ Trung Quốc rằng, mọi trách nhiệm đối với hậu quả của chính sách thiếu thận trọng với sự leo thang xung đột vũ trang trên biên giới giữa Trung Quốc và Liên Xô, thuộc về chính phủ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa" Nhưng phía Trung Quốc đã bỏ qua bức công hàm nghiêm khắc này.
Để ngăn chặn mọi hành động khiêu khích quân sự có thể tiếp tục leo thang, trong khu vực của các đồn biên phòng "Nhiznhi Mikhailovka" và "Kulebyakiny sopki" được điều đến từ lực lượng dự bị của quân khu biên giới Thái bình dương các đơn vị cơ giới ( hai đại đội bộ binh cơ giới, 2 trung đội xe tăng và khẩu đội cối 120 mm. Đơn vị bộ đội biên phòng số 57 được biên chế thêm một biên đội máy bay trực thăng Mi-4 thuộc phi đội máy bay biên phòng Ussuri. Vào đêm ngày 12 tháng 3 các đơn vị thuộc sư đoàn bộ binh cơ giới số 135 của Quân khu Viễn đông do tướng Nhesov chi huy bao gồm: trung đoàn BBCG số 199, trung đoàn pháo binh, tiểu đoàn xe tăng độc lấp 152, tiểu đoàn trinh sát độc lập số 131 và tiểu đoàn pháo phản lực Grad BM-21. Ở đây, bộ tư lệnh biên phòng quân khu Thái Bình dương đã ra lệnh thành lập cụm quân lực cấp chiến dịch và bổ nhiệm phó tư lệnh trưởng quân khu, đại tá G.Sechkinym.
Đồng thời cùng với những hoạt động tăng cường sức mạnh phòng thủ biên giới, đã tiến hành tích cực các hoạt động trinh sát thu thập thông tin. Theo những kết quả đạt được từ trinh sát, bao gồm cả trinh sát đường không và trinh sát vũ trụ, PLA tập trung vào khu vực đảo Damaski các lực lương rất lớn – chủ yếu là bộ binh và pháo binh. Ở chiều sâu 20 km so với đường biên đã xây dựng kho tàng quân sự, sở chỉ huy và điều hành tác chiến cùng với các công trình khác. Ngày 7 tháng 3 trên hướng Damaski và Kirkin đã xác định được lực lượng PLA tập trung đến 1 trung đoàn bộ binh cơ giới với các trang thiết bị tăng cường. Trong khoảng 10 – 15 km tính từ đường biên giới trinh sát phát hiện đến 10 khẩu đội pháo cỡ lớn. Ngày 15 tháng 3 phát hiện trên hướng Guberovski có một tiểu đoàn bộ binh, trên hướng Imacki – một trung đoàn cũng với xe tăng tăng cường, trên hướng Patenleymonov 2 tiểu đoàn tăng cường, trên hướng Pavlovo – fedorov một tiểu đoàn. Tổng số quân lực Trung Quốc tập trung trong khu vực tác chiến tuyến biên giới lên đến một sư đoàn cơ giới đi cùng với các phương tiện tác chiến tăng cường.
Trong những ngày này, phía PLA cũng tăng cường các hoạt động trinh sát mục tiêu, sử dụng cả các máy bay trinh sát. Phía Liên xô không triệt phá các hoạt động trinh sát của đối phương, cho rằng, nếu thấy được thực lực từ phía quân đội Xô viết. PLA sẽ chấm dứt các hoạt động khiêu khích. Nhưng điều đó đã không xảy ra.
Ngày 12 tháng 3 một cuộc gặp giữa đại diện của lực lượng biên phòng Xô viết và đại diện của lực lượng biên phòng Trung Quốc đã được thực hiện. Trong cuộc gặp, sĩ quan biên phòng Hutou của Trung Quốc, dựa vào trước tác Mao Trạch Đông, đã tuyên bố sẽ sử dụng vũ lực mạnh mẽ đối với lực lượng biên phòng đang canh giữ đảo Damaski của Liên xô để bảo vệ chủ quyền của Trung Quốc.
Ngày 14 tháng 3 vào hồi 11.15 các trạm quan sát xô viết phát hiện được một cụm binh lực PLA lớn đang cơ động về hướng đảo Damaski. Hỏa lực của súng máy đã ngăn chặn lực lượng này và toán quân buộc phải quay lại phía bờ của Trung Quốc.
Vào lúc 17.30 hai tốp lính PLA từ 10-15 người đã tiếp cận hòn đảo và bố trí các hỏa điểm trong đó có 4 súng máy và các vũ khí khác. 18.45, lực lượng PLA chiếm lĩnh bàn đạp tấn công ngay phía sau các hỏa điểm được củng cố vững chắc.
Sơ đồ tác chiến ngày 15 tháng 2 năm 1969
Sơ đồ tác chiến ngày 15 tháng 2 năm 1969.
 
Để ngăn chặn các đòn tấn công tiếp theo. 6.00 ngày 15 tháng 3 một lực lượng cơ động mạnh của đơn vị biên phòng dưới quyền chỉ huy của đại tá E. Yanshin (45 người được trang bị cả súng phóng lựu) trên 4 xe BTR-60pb. Yểm trợ cho lực lượng là thê đội dự bị bộ đội biên phòng – 80 người (thuộc trường Trung cấp Biên phòng của đơn vị biên phòng số 69 Quân khu biên giới Thái bình dương) trên 7 xe BTR-60pb cùng với súng phóng lựu đạn gaz hơi cay và súng máy hạng nặng.
10.05 cùng ngày, lực lượng PLA triển khai đánh chiếm đảo, hỏa lực của 3 khẩu đội súng cối dọn bãi bao trùm lên toàn bộ hòn đảo từ 3 hướng khác nhau, nhằm vào tất cả các khu vực của hòn đảo và bờ sông, nơi nghi ngờ binh sĩ biên phòng Xô viết có thể ẩn nấp.
Phân đội của E. Yanshina bắt đầu trận đánh:
"…trong xe chỉ huy ngột ngạt tiếng gầm rú của động cơ, tiếng nổ, khói xe và khói thuốc súng-Yanshin nhớ lại- Tôi nhìn ngang, Sylzenco (xạ thủ súng máy) vất cả áo lông, áo khoác, một tay nhấn cò súng, một tay cởi cúc cổ áo quân phục…anh chàng đứng phắt dậy, gạt bỏ ghế ngồi và đứng xả đạn vào đội hình tiến công của đối phương…..
Chỉ huy trưởng phân đội cơ động mạnh của đơn vị biên phòng số 57 đại tá E.I.Yanshin cùng với các chiến sĩ biên phòng của mình, 15 tháng 3 năm 1969
Chỉ huy trưởng phân đội cơ động mạnh của đơn vị biên phòng số 57 đại tá E.I.Yanshin cùng với các chiến sĩ biên phòng của mình, 15 tháng 3 năm 1969.
 
“…Gần như không ngoái lại, xạ thủ Sulzenco giơ tay cho băng đạn mới. Xạ thủ số 2 Kruglov phải cố gắng lắm mới kịp nạp đạn. Tất cả đều im lặng, hiểu nhau qua hành động. Tôi ra lệnh – bình tĩnh, tiết kiệm đạn, đồng thời quay kính quan sát chiến trường, chỉ thị mục tiêu. Quân đội PLA, bất chấp lưới lửa dày đặc, tiếp tục đổ dồn lên tấn công. Hết đợt này đến đợt khác…Trong tiếng nổ, khói bụi của mìn và đạn pháo các xe bộ binh cơ giới khác hoàn toàn không thể nhìn thấy. Tôi ra lệnh không dùng mật khẩu: Tôi tiến công, Mankovsky và Klyge bắn che, yểm hộ sau lưng. Lái xe Smelov vào số và đạp gaz hết cỡ, xe chồm lên, vượt qua lưới lửa ngăn chặn, với tay lái điêu luyện, Smelov cơ động ngoằn ngoèo tránh các hố đạn pháo và đạn cối, xông thẳng vào đội hình tiến công của đối phương, tạo điều kiện cho hỏa lực trên xe. Đột ngột, súng máy im bặt, Sylzenco ngẩn người trong chốc lát. Nạp đạn, lên đạn và nhấn cò điện – chỉ phát một. Quân PLA ồ ạt xông đến. Sylzenco mở khóa nòng, sửa lại lẫy đẩy đạn. Đóng nắp hộp khóa nòng và nhấn cò. Hỏa lực của súng máy gần như trực diện vào đối phương. Tôi ra lệnh cho Smelov- Tiến-và đợt tấn công tiếp theo bị đẩy lùi.
Bị tổn thất một số chiến sĩ và mất 3 xe BTR, Yanshin buộc phải lùi lại bên bờ sông, đến 14.40 thay đổi biên chế và các xe BTR đã bị hỏng, bổ sung cơ số đạn đầy đủ, Yanshin lại tiếp tục tổ chức tấn công và đánh bật đối phương ra khỏi các vị trí địch chiếm được. Tăng cường thêm lực lượng dự bị, PLA tổ chức hỏa lực dữ dội của súng cối, pháo và súng máy hạng nặng vào các xe BTR. Kết quả là 1 xe BTR trúng một loạt đạn cối và pháo bắn trực diện, 7 chiến sĩ hy sinh tại chỗ. Sau mấy phút chiếc xe BTR thứ 2 bốc cháy. Thượng úy L. Mankovsky, bắn che cho đồng đội rút lui bằng súng máy trên xe, đã không thoát ra được và bị cháy cùng với xe. Trong vòng vây còn lại một xe BTR, trung úy Kluga chỉ huy. Xe kiên cường chiến đấu và cơ động linh hoạt, phải sau gần nửa giờ, phát hiện điểm yếu trong tuyến chiến đấu của đối phương, xe BTR đột phá rất mạnh, chọc thủng vòng vây và trở về đội hình chiến đấu. .
Trong thời gian cuộc chiến đấu diễn ra quyết liệt, một đại đội xe tăng 9 chiếc T-62 hành quân đến khu vực chiến sự. Ban chỉ huy trận đánh quyết định sử dụng phương án đòn đột kích từ phía sau đảo, sử dụng tình huống mà V. Bubenin đã thành công trong ngày 2 tháng 3. Trung đội xe T-62 do đại tá D.Leonov chỉ huy trưởng đơn vị bộ đội biên phòng Imansk. Nhưng đòn đột kích không thành công, lần này, lực lượng PLA đã sẵn sàng đón chờ tình huống. Khi các xe tăng xô viết tiến đến gần bờ sông phía Trung Quốc, hỏa lực dày đặc và tập trung của súng cối, pháo và súng chống tăng lập tức chùm lên các xe. Xe chỉ huy đầu tiên bị bắn vỡ hệ thống chuyển động và mất khả năng cơ động, hỏa lực lập tức đổ dồn lên xe bị trúng đạn. Các xe còn lại của trung đội vừa bắn vừa lùi về tuyến chiến đấu bên bờ bên này của biên giới. Mọi biện pháp cứu hộ và giải thoát cho xe bị hỏa lực súng bộ binh của PLA đẩy lùi. Đại tá D. Leonnov trúng thương vùng tim, hy sinh tại xe.
Mặc dù đã có những tổn thất nặng nề về binh lực, Matxcova vẫn chưa quyết định đưa lực lượng quân đội vào tham chiến. Quan điểm của Trung tâm rất rõ ràng. Khi trận đánh đang được tiến hành bởi lực lượng biên phòng, mọi vấn đề ngoại giao đều có thể đưa về Xung đột biên giới, dù có sử dụng vũ khí. Đưa lực lượng quân đội thường trực vào trận, sẽ làm tăng thêm cường độ xung đột, có thể trở thành xung đột vũ trang và chiến tranh nhỏ khu vực. Nếu xét đến những cái đầu nóng trong PLA, có thể xảy ra một cuộc chiến tranh lớn – giữa 2 nước có sở hữu vũ khí hạt nhân.
Tình hình chính trị đã quá rõ ràng với tất cả mọi người. Nhưng tình huống xảy ra, khi ngay bên cạnh mình các chiến si biên phòng hy sinh, còn các đơn vị chiến đấu thì khoanh tay bàng quang quan sát, cảm giác hoàn toàn không dễ chịu, sự không quyết liệt của lãnh đạo đất nước và quân đội đã gây lên sự bất bình và tức giận.
“Lực lượng quân đội kết nối vào mạng thông tin biên phòng, và tôi nghe thấy, các chỉ huy đơn vị kêu réo cấp trên của mình do không kiên quyết – Chủ nhiệm chính trị phân đội biên phòng Imanski trung tá A.D. Konstantinov nhớ lại – họ muốn lao vào trận đánh, nhưng bị trói buộc cả chân lẫn tay vì những chỉ lệnh bất động từ cấp trên. "
Khi từ vùng chiến sự có báo cáo về hai xe BTR của phân đội Yanshin bị bắn cháy, phó tham mưu trưởng ban tham mưu đội Grodekovski thiếu tá P. Kosinov quyết định tự mình nhận trách nhiệm cá nhân, trên 1 xe BTR xông vào trận tiếp ứng. Tiến đến sát 2 xe bị cháy, anh dùng xe của mình để che chắn cho kíp xe của các xe bị bắn cháy thoát khỏi vùng hỏa lực dày đặc. Nhưng khi rút lui, chính xe của Kosinov cũng bị bắn cháy, Kosinov bị thương cả vào hai chân và bị ngất. Các chiến sĩ biên phòng lôi được anh vào vùng an toàn, tưởng đã hy sinh nên đưa vào khu vườn, nơi tập trung tử sĩ. Rất may, khi bác sĩ quân y biên phòng kiểm tra thi thể liệt sĩ, phát hiện trong mắt anh đồng tử chưa bị rãn ra, xác định Kosinov vẫn sống, đã ra lệnh cho trực thăng cứu hộ đưa anh về Khabarovsk.
Matxcova vẫn im lặng, tư lệnh trưởng quân khu Viễn Đông, trung tướng O.Losik đã dũng cảm ra một quyết định duy nhất hỗ trợ lực lượng biên phòng. Lệnh cho Sư đoàn trưởng sư đoàn BBCG 135 chế áp binh lực đối phương bằng hỏa lực pháo binh sư đoàn, sau đó sử dụng tiểu đoàn 2 thuộc trung đoàn bộ binh cơ giới số 199 và các đơn vị của đoàn biên phòng số 57 đẩy lùi đối phương khỏi biên giới Liên bang Xô viết.
17.10 trung đoàn pháo binh và tiểu đoàn pháo phản lực Grad của sư đoàn BBCG 135 cùng với khẩu đội súng cối 120 mm của trung tá D. Krupeynikov khai hỏa. Trận tập kích hỏa lực kéo dài 10 phút. Đòn tấn công được tính vào chiều sâu đến 20 km. (theo một thông tin khác, vùng tập kích là khu vực có diện tích 10km chiều rộng và 7 km chiều sâu trên lãnh thổ Trung Quốc). Kết quả của đợt tập kích là toàn bộ lực lượng thê đội dự bị, kho tàng, trang thiết bị quân sự, các trạm cung cấp đạn và cơ sở vật chất cho tiền duyên cùng với binh lực của PLA bị tổn thất nặng nề, không có khả năng phục hồi. Cùng lúc, lực lượng chủ công bao gồm 5 xe tăng T-62, 12 xe BTR-60PB, đại đội 4 và đại đội 5 BBCG thuộc tiểu đoàn 2 trung đoàn BBCG số 135 (chỉ huy – đại tá A.Smirnov) phối hợp với một phân đội cơ giới mạnh của bộ đội biên phòng tấn công lên đảo. Binh sĩ PLA cố gắng chống trả, nhưng dưới hỏa lực dữ dội đành rút lui về phía biên giới.
Trong trận đánh ngày 15 tháng 3 năm 1969, đã hy sinh 21 chiến sĩ biên phòng, 7 chiến sĩ BBCG (lực lượng thường trực chiến đấu), 42 chiến sĩ biên phòng bị thương. PLA mất khoảng 600 người. Trong toàn bộ cuộc xung đột trên đảo Damaski Hồng quân mất 58 người. PLA tử thương gần 1000 binh sĩ. 50 quân nhân PLA bị bắn do đã bỏ chạy hoặc rút khỏi trận đánh. Hồng quân có 94 quân nhân bị thương, PLA khoảng vài trăm người.
Trận đánh kết thúc, 150 cán bộ chiến sĩ lực lượng biên phong được nhận các phần thưởng cao quý của nhà nước Xô viết. 5 quân nhân được nhân danh hiệu Anh hùng Liên bang Xô viết (Đại táD.V. Leonov – liệt sĩ, Thượng úy I.I Strelnikov – liệt sĩ, Thượng úy B. Bubenin, Hạ sĩ Yu.V.Babanski, tiểu đội trưởng tiểu đội hỏa lực thuộc trung đoàn BBCG số 199 Hạ sĩ V.V.Orekov). 3 người được nhận huân chương Lenin ((Đại tá A.D. Konstantinov, Trung sĩ V. Kanygin , Trung tá E. Yanshin) 10 người được nhận huân chương Cờ đỏ, 31 người nhận huân chương Sao đỏ, 10 người nhân Huân chương Vinh quang hạng III, 63 người – huy chương Vì lòng dũng cảm; 31 người – huy chương “ Vì thành tích trong chiến đấu”.
Trung Quốc tuyên bố dành thắng lợi trong xung đột biên giới vùng Damaski và thắng lợi thuộc về vũ khí trang bị PLA. 10 quân nhân PLA được tặng danh hiệu Anh hùng. Trong thông cáo chính thực của Bắc Kinh về sự kiện Damaski có nội dung như sau:
"2 tháng 3 năm 1969. Một nhóm quân nhân biên phòng Liên xô có số lượng khoảng 70 người, với 2 xe bộ binh cơ giới, một xe vận tải và một xe ô tô hạng nhẹ, đã xâm phạm đảo Trân Bảo thuộc Quận Hồ Lâm, Tỉnh Hắc Long Giang, tiêu diệt đội tuần tra biên giới của Trung Quốc, và tấn công gây tử vong nhiều chiến sĩ thuộc lực lượng biên phòng của ta. Hành động vô nhận đạo này đã buộc các chiến sĩ quân đội Trung hoa phải có hành động tự vệ.
15 tháng 3 năm 1969. Liên Xô, phớt lờ nhiều lần cảnh cáo của nhà nước Trung hoa, đã tiến hành các hoạt động tấn công, xâm chiếm đảo Trân Bảo với lực lượng lên tới 20 xe tăng, 30 xe bọc thép và 200 binh sĩ cùng với sự yểm trợ của không quân.
Yu.V. Babansky (bên phải) trong buổi lễ trao tặng huân chương tại điện Kremlin. Tháng 4 năm 1969
Yu.V. Babansky (bên phải) trong buổi lễ trao tặng huân chương tại điện Kremlin. Tháng 4 năm 1969.
 
Với lòng dũng cảm và ý chí quyết tâm cao, lực lượng quân đội và dân quân tự vệ đảo Trân Bảo đã đã đánh bại 3 đợt tấn công của quân đội Liên xô. Ngày 17 tháng 3 năm 1969, quân địch với lực lượng xe tăng, xe cứu kéo và bộ binh đã cố gắng lôi chiếc xe tăng bị quân ta bắn cháy về biên giới. Nhưng hỏa lực dữ dội của pháo binh Trung Quốc đã tiêu diệt một phần lớn lực lượng địch, số còn lại rút lui về phía bên kia biên giới Liên xô.
Sau trận xung đột vũ trang tại khu vực đảo Damaski, trên khu vực phòng thủ còn lại một tiểu đoàn bộ binh cơ giới, một tiểu đoàn xe tăng độc lập và tiểu đoàn pháo phản lực BM-21 “Grad”. Đến tháng 4 năm 1969, trong khu vực phòng thủ còn lại 1 tiểu đoàn BBCG và sau một thời gian ngắn cũng cơ động về nơi đóng quân cố định. Tất cả mọi con đường dẫn đến đảo Damaski từ phía Trung Quốc đều bị gài mìn phòng thủ dày đặc.
Trong thời gian này, chính phủ Liên bang Xô viết tiến hành những hoạt động nhằm điều chỉnh tình hinh bằng các giải pháp chính trị.
15 tháng 5 năm 1969, Nhà nước CCCP gửi cho phía Trung Quốc một bản tuyên bố, trong đó nghiêm khắc cảnh báo ngăn chặn các hoạt động khiêu khích trên tuyến biên giới hai nước. Trong công hàm có đoạn nêu rõ: “ nếu tiếp tục tiến hành các hoạt động xâm chiếm chủ quyền lãnh thổ thiêng liêng của đất nước Xô Viết, toàn thể Liên bang Xô viết và quần chúng nhân dân sẽ kiên quyết bảo vệ và giáng cho kẻ xâm lược những đòn quyết liệt".
 Tang lễ thượng úy I.I Strelnikova tháng 3 năm 1969
Tang lễ thượng úy I.I Strelnikova tháng 3 năm 1969.
 
29 tháng 4 Chính quyền Xô viết tiếp tục đưa công hàm, nội dung có đề nghị phía Trung Quốc nối lại nhưng cuộc đàm phán về biên giới đã bị đứt đoạn từ năm 1964, đề nghị phía Trung Quốc kiềm chế các hoạt động khiêu khích trên tuyến biên giới, có thể gây thêm phức tạp cho tình hình đối ngoại chính trị giữa hai nước. Phía Trung Quốc không trả lời bức công hàm nói trên. Hơn nữa, Mao Trạch Đông, ngày 15 tháng 4 trong cuộc hội thảo với các đại biểu về những kết quả và thành tích đạt được của cuộc cách mạng văn hóa, đã nhắc lại những sự kiện xảy ra và kêu gọi chuẩn bị cho chiến tranh. Lâm Bưu trong báo cáo đọc tại Đại hội Đảng cộng sản toàn quốc lần thứ 9 (tháng 4 năm 1969) đã quy tội Liên xô liên tục xâm phạm biên giới Trung Quốc bằng vũ lực” Đồng thời cũng khẳng định định hướng Trường kỳ cách mạng và chuẩn bị chiến tranh.
Ngày 11 tháng 4 năm 1969 Bộ Ngoại giao Liên bang Xô viết gửi cho Bộ Ngoại giao Trung Quốc một công hàm, trong đó có đề nghị nối lại các cuộc đàm phán giữa các đại diện toàn quyền của cả hai nước CCCP và Trung Quốc, đồng thời tuyên bố sẵn sàng bắt đầu đàm phán vào bất cứ thời điểm nào, thuận lợi cho phía Trung Quốc.
14 tháng 4 trong công hàm trả lời, Bộ ngoại giao Trung Quốc thông báo rằng, những đề xuất của Bộ ngoại giao CCCP, liên quan đến việc giải quyết tình hình trên biên giới Trung Xô, sẽ được “nghiên cứu kỹ lưỡng và sẽ có trả lời trong thời gian tới".
Trong thời gian “nghiên cứu và trả lời” những xung đột vũ trang và khiêu khích quân sự vẫn tiếp tục diễn ra.
23 tháng 4 năm 1969 một đơn vị vũ trang của PLA xâm nhập biên giới của Liên bang Xô Viết, chiếm lĩnh đảo № 262 trên sông Amua, gần với khu dân cư Kalinovka. Đồng thời một lực lượng vũ trang khác được tập trung trên bờ sông Amua phía Trung Quốc.
2 tháng 5 năm 1969 trong khu vực của ngôi làng nhỏ Dulaty ở Kazakhstan lại xuất hiện một xung đột vũ trang biên giới. Nhưng lần nay các chiến sĩ biên phòng Xô viết đã sẵn sàng cho một cuộc xâm nhập và khiêu khích. Trước khi xảy ra khiêu khích, đơn vị biên phòng Makanchi đã được tăng cường lực lượng. Đến mồng 1 tháng 5 năm 1969 đơn vị biên phòng đã có 14 đội biên phòng cơ động, mỗi đội có 50 cán bộ chiến sĩ (Riêng đội biên phòng "Dulaty" - 70 người) và phân đội biên phòng cơ động mạnh (182 người) trên 17 xe BTR -60pb. Ngoài ra trên đoạn biên giới quản lý, khu vực đồn Macanchi tập trung một tiểu đoàn xe tăng độc lập của quân khu, theo kế hoạch liên kết phối hợp với các đơn vị quân đội, có thêm một đại đội BBCG và một đại đội Tăng, một trung đội súng cối chi viện hỏa lực thuộc đơn vị liên kết phối hợp lấy từ trung đoàn BBCG số 215 (đồn Vaxta) và một tiểu đoàn từ trung đoàn BBCG số 369 khu vực nông trường Druzba.
Các đơn vị tổ chức canh gác trên các điểm cao, lực lượng trinh sát tiền tiêu trên xa ô tô và kiểm tra, kiểm soát liên tục các tuyến đường, dải phân cách hai bên biên giới. Công lao chính của tinh thần cảnh giác cao độ của các đơn vị quân đội – biên phòng Xô viết thuộc về tư lệnh trưởng quân khu vùng biên giới phía Đông, trung tướng M.K.Merculov. Ông không những đã thực hiện các giải pháp nhằm tăng cường khả năng kiểm soát, ngăn chặn từ hướng Dylatin bằng các lực lượng của mình, mà còn đạt được yêu cầu tăng cường cảnh giác và liên kết phối hợp với bộ tư lệnh quân khu Turkestan.
Tình huống xảy ra như sau: Sáng ngày 2 tháng 5, phân đội tuần tra phát hiện một đàn cừu di chuyển qua biên giới Trung – Xô. Tiếp cận khu vực xảy ra tình huống, phân đội phát hiện một đội quân PLA quân số khoảng 60 người, Để ngăn chặn khả năng chắc chắn có chạm súng, phân đội biên phòng yêu cầu tăng cường thêm 3 phân đội bộ đội biên phòng từ các đội liền kề, đồng thời yêu cầu đại đội BBCG của trung đoàn BBCG số 369 cùng với một trung đội xe tăng và 2 phân đội biên phòng cơ động mạnh. Hoạt động triển khai ngăn chặn được sự yểm trợ ngay tức khắc của trung đoàn không quân cường kích ném bom, có căn cứ tại Ycharale, đồng thời báo động chiến đấu các đơn vị ở các khu vực gần là các trung đoàn bộ binh cơ giới và pháo binh, 2 tiểu đoàn pháo phản lực Grad và hai tiểu đoàn súng cối.
Để điều hành chuẩn xác các hoạt động sẵn sàng chiến đấu, ngay tức khắc được tổ chức cụm quân lực tác chiến liên hợp dưới quyền chỉ huy của Tham mưu trường quân khu biên giới Viễn đông, thiếu tướng Kolodyazhny , đóng tại đồn biên phòng Dylata. Đồng thời cũng là sở chỉ huy tiền phương của quân khu, dưới quyền chỉ huy của thiếu tướng G.N. Kutki.
16.30 Bộ đội biên phòng Xô viết bắt đầu tăng áp lực đẩy đối phương, cũng được tăng cường lực lượng hỗ trợ ra khỏi biên giới CCCP. Quân đội PLA, nhận thấy khả năng sẵn sàng chiến đấu và hỏa lực vượt trội nhiều lần từ phía đối phương, buộc phải lùi bước dần ra khỏi biên giới Liên xô. Tình huống được giải quyết cuối cùng bằng con đường ngoại giao từ ngày 18 tháng 5 năm 1969.
Ngày 10 tháng 6 tại khu vực sông Tasty trong vùng Semipalatinsk, một nhóm quân nhân PLA đột nhập sâu vào lãnh thổ Liên xô đến 400 m và khai hỏa từ súng tiểu liên vào lực lượng biên phòng. Lực lượng biên phòng xô viết lấp tức đáp trả, sau khi đấu súng các quân nhân PLA quay về biên giới phía Trung Quốc.
Ngày 8 tháng 7 năm 1969 một nhóm quân nhân Trung Quốc vượt biên giới, nấp trên đảoGoldinsky thuộc lãnh thổ Liên bang trên sông Amua và tấn công bằng súng tiểu liên và lựu đạn vào nhóm công nhân đường sông xô viết, cập đảo để sửa chữa các biển báo, kết quả một người chết, ba người bị thương.
Các tình huống xung đột trên đảo Damaski cũng liên tục diễn ra. Theo lời kể lại của chính V.Bubenin, vào những tháng cuối của mùa hè sau sự kiện xung đột vũ trang, có tới hơn 300 trường hợp buộc phải sử dụng vũ khí để chống lại các hoạt động khiêu khích. Tình huống tương tự như trong chiến tranh. Cho đến tận thời điểm, vào trung tuần tháng 6 năm 1969 tại khu vực Damaski lần thứ hai xuất hiện hệ thống pháo phản lực Grad dành cho thử nghiệm đến từ Baikonur (Đoàn trắc thủ thuộc đơn vị 44245, chỉ huy – thiếu tá A.A. Shumilin).
Trong đội trắc thủ pháo phản lực ngoài các quân nhân lực lượng pháo binh, còn có các chuyên gia về không gian vũ trụ của các chương trình tác chiến trên khoảng không thượng tầng khí quyển. Trong đó có: JK Razumovsky, chỉ đạo kỹ thuật tổ hợp chuyên gia về Mặt Trăng, Papazian- chủ nhiệm kỹ thuật tổ hợp chuyên gia kỹ thuật tên lửa, A. Tasha- chỉ huy trưởng kỹ thuật chế tạo tổ hợp radar Vega, LeonidKuchma – sau này là tổng thống nước cộng hòa Ucraina, lúc đó là chuyên gia kỹ thuật của cục nghiên cứu thử nghiệm, Kozlov- chuyên gia đo xa bằng sóng vô tuyến,.I A. Soldatov – kỹ sư thử nghiệm tên lửa và các chuyên gia kỹ thuật hàng không vũ trụ và tên lửa khác. Thử nghiệm pháo phản lực Grad được kiểm soát bởi ủy ban chuyên trách cao cấp của nhà nước, đứng đầu là tư lệnh trưởng các lực lượng tên lửa Kamanin.
Khả năng, các thử nghiệm pháo phản lực của thiếu tá A.A. Shumilin được thực hiện với mục đích thúc đẩy phía Trung Quốc bắt đầu các cuộc đàm phán hòa bình nhằm giải quyết những vấn đề tranh chấp. Dù sao đi nữa, ngày 11 tháng 9 năm 1969 trong thời gian thực hiện các cuộc đàm phán bí mật giữa thủ tướng chính phủ liên bang Xô viết ông A. Kosygin với thủ tướng Chu Ân Lai tại Bắc Kinh, đã đạt được thỏa thuận tiến hành các cuộc đàm phán chính thức về các vấn đề biên giới Liên xô – Trung Quốc, các cuộc đàm phán này bắt đầu vào ngày 20 tháng 10 năm 1969.
Nhưng một tháng trước khi có cuộc gặp cấp cao giữa hai nhà nước đã xảy ra một cuộc xung đột lớn trên đường biên giới và cướp đi hàng chục mạng quân nhân.
Trịnh Thái Bằng

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thêm vụ oan sai: Chính thức đình chỉ điều tra 7 thanh niên

(NLĐO) - Sáng 25- 5, theo nguồn tin riêng của Báo Người Lao Động, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Sóc Trăng vừa ra quyết định đình chỉ điều tra đối với 7 bị can trong vụ án giết tài xế xe ôm từng gây rúng động dư luận ở huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng.
Theo đó, 3 bị can đầu tiên được mời lên trao quyết định là Thạch Mươl, Trần Cua và Nguyễn Thị Bé Diễm. Riêng 4 bị can còn lại là Trần Hol, Trần Văn Đỡ, Thạch Sô Phách và Khâu Sóc sẽ được trao quyết định vào ngày 26- 5.

Bà Xót mong các ngành chức năng xử đúng người, đúng tội để chồng mình được yên nghỉ nơi chín suối
Bà Xót mong các ngành chức năng xử đúng người, đúng tội để chồng mình được yên nghỉ nơi chín suối

Như đã thông tin, rạng sáng 6-7- 2013, người dân phát hiện thi thể ông Lý Văn Dũng (43 tuổi, ngụ huyện Trần Đề, hành nghề xe ôm) nằm chết gục trên đường lộ đan thuộc xã Đại Ân 2, huyện Trần Đề. Trong quá trình truy tìm thủ phạm, Cơ quan CSĐT quyết định bắt tạm giam 6 nghi can để điều tra về hành vi giết người, gồm: Trần Hol, Thạch Mươl, Trần Cua, Trần Văn Đỡ, Khâu Sóc và Thạch Sô Phách, cùng ngụ tại huyện Trần Đề. Riêng Nguyễn Thị Bé Diễm (nhân viên phục vụ quán nhậu) cũng bị tạm giam về hành vi không tố giác tội phạm.
Đến giữa tháng 12- 2013, trong lúc vụ án đang chuẩn bị bước vào gian đoạn truy tố, xét xử và ban chuyên án cũng chuẩn bị nhận khen thưởng vì thành tích phá án nhanh, bất ngờ Lê Thị Mỹ Duyên (ngụ Kiên Giang) đến Công an phường Bình Trị Đông, quận Bình Tân, TP HCM đầu thú và thừa nhận chính Duyên và Phan Thị Kim Xuyến (ngụ huyện Trần Đề) đã cùng nhau giết chết ông Dũng để cướp tài sản.
Đây là 2 đối tượng đồng tính, quen biết với nạn nhân sau nhiều lần thuê ông Dũng chở đi làm. Sau khi thực hiện xong hành vi giết người, cả 2 đã trốn lên TP HCM thuê nhà sống chung. Tại đây, do phát hiện Duyên có “người mới”, Xuyến tỏ ra ghen tuông, quyết định ra đầu thú để 2 người được… mãi mãi bên nhau.

Hiện trường vụ án cách nay 1 năm
Hiện trường vụ án cách nay 1 năm

Đề phòng có người thuê Duyên và Xuyến đứng ra nhận tội thay cho các bị can đã bị khởi tố trước đó nên sau khi di lí về Sóc Trăng, 1 trong 2 đối tượng này được chuyển đến tạm giam tại Bạc Liêu để phục vụ điều tra. Tuy nhiên, qua nhiều lần thực nghiệm điều tra, cơ quan chức năng xác định lời khai của Duyên trùng khớp với tình tiết của vụ án.
Do đó, 7 bị can bị bắt “nhầm” trước đó được xác định là không cùng thực hiện hành vi phạm tội, không đồng phạm và không phạm tội khác. Từ kết quả điều tra mới này, ngày 25-2-2014, VKSND tỉnh Sóc Trăng đã ra quyết định hủy bỏ biện pháp tạm giam và cho tại ngoại đối với 6 bị can nam. Riêng bị can Diễm đã được cho tại ngoại trước đó.
Trao đổi với chúng tôi qua điện thoại sau khi nhận được quyết định đình chỉ bị can, Diễm cho biết cô và gia đình rất vui sướng. Sợ mất tờ quyết định này, mẹ cô đã bỏ vào tủ khóa cẩn thận để lúc cần thì đem ra khoe với bà con lối xóm rằng con mình đã được minh oan.
Riêng bà Hà Thị Xót (vợ của nạn nhân), dù vẫn còn chưa nguôi sau cái chết bi thảm của chồng nhưng vẫn tỏ ra nhẹ lòng khi hay tin các bị can trước đó đã bị đình chỉ điều tra. Bởi lẽ, ngay từ lúc đầu, bản thân bà không tin Trần Văn Đỡ lại cùng đồng bọn ra tay giết chết cậu họ của mình. Bà Xót tâm sự: “Dù gì chồng tôi cũng đã mất rồi! Giờ tôi chỉ mong các ngành chức năng xử lý đúng người, đúng tội để chồng tôi được yên nghỉ nơi chín suối”.

Bài-ảnh: Phạm Công

Phần nhận xét hiển thị trên trang