Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Hai, 26 tháng 5, 2014

Mỹ lập liên minh đối phó Trung Quốc

(NLĐO) - Mỹ đang trong quá trình xây dựng một "kiến trúc an ninh mới" cùng một số nước ở châu Á - Thái Bình Dương để đối phó sự khiêu khích của Trung Quốc ở biển Đông
Liên minh an ninh này sẽ gồm các nước Philippines, Việt Nam, Úc và Nhật Bản, theo một số nguồn tin giấu tên trong chính phủ Philippines. Nguồn tin này nói thêm Philippines cũng muốn Singapore và Thái Lan tham gia liên minh, trong lúc khuyến khích Malaysia trở thành đối tác chiến lược. 
Philippines và Việt Nam đang đi đầu trong nỗ lực phản đối ý đồ độc chiếm biển Đông của Trung Quốc.

Đô đốc
Đô đốc Samuel Locklear Ảnh: AP

Thông tin về kiến trúc an ninh do Mỹ đứng đầu xuất hiện sau khi Trung Quốc liên tục cảnh báo các nước không nên lập liên minh quân sự  trong khu vực. 
Theo các nguồn tin, Mỹ không cân nhắc lập căn cứ quân sự mới ở khu vực. Thay vào đó, Washington sẽ làm việc với những đồng minh mà nước này xem là xương sống của liên minh được đề xuất nói trên. 
Phát biểu tại một cuộc họp kín trong khuôn khổ Diễn đàn Kinh tế Thế giới về Đông Á ở Philippines mới đây, Đô đốc Samuel Locklear, Tư lệnh Bộ chỉ huy Thái Binh Dương của Mỹ, cho rằng cần có một kiểukiến trúc an ninh nào đó được thiết lập ở châu Á - Thái Bình Dương để tình hình trở nên ổn định. 
Ông cũng mô tả tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc ở biển Đông, thông qua cái gọi là "đường chín đoạn", là mơ hồ và kêu gọi duy trì hiện trạng ở biển Đông. 
Ông nhấn mạnh rằng chiến lược "kẻ thắng vơ cả", ý nhắc đến Bắc Kinh, sẽ thất bại ở khu vực này.

P.Võ (Theo Chinatopix)
[Quay lại]
CÓ 7 Ý KIẾN

  • Tiến Mai
    46Thích  
    26/05/2014 12:21
    Thành lập liên minh để tự vệ, bảo vệ chủ quyền và sự toàn vẹn lãnh thổ trước âm mưu xâm lược của bọn bá quyền Trung Quốc là điều tất yếu khách quan trong tình hình căng thẳng hiện nay. Hoàn toàn ủng hộ việc thành lập liên minh và cần phải khẩn trương thành lập để đáp ứng yêu cầu cấp bách hiện nay.
  • Nguyễn cao sơn
    29Thích  
    26/05/2014 12:21
    Chỉ cần đặt vài tàu khu trục ở những nước liên minh an ninh là đủ răn đe kẻ ngạo mạn, thiết lập vùng nhận dạng phòng không cho mỗi nước. Cảng Cam Ranh làm cảng hậu cần cho các tàu khi vào Việt Nam. Nên đầu tư xây dựng quân cảng Trường Sa và đường băng cho máy bay quân sự tại đây đễ Trường Sa phát triển và là chiến tuyến đầu khi cần.
  • Chân Lý
    33Thích  
    26/05/2014 12:21
    Đoàn kết hay là chết, chỉ có một sự lựa chọn.
  • 4 NỔ
    91Thích  
    26/05/2014 11:13
    Trung Quốc rất sợ các nước nhỏ lân cận kết hợp liên minh với nhau, tạo thành sức mạnh tổng hợp 
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Ai “hưởng lợi” từ công thư 1958

Lê Bình

Trao đổi với báo giới bên hành lang Quốc hội cuối tuần, Chủ nhiệm VPQH Nguyễn Hanh Phúc cho hay, Chính phủ đang chuẩn bị các hồ sơ chứng lý để làm cơ sở khởi kiện ra toà án quốc tế, nếu Trung Quốc không có động thái rút giàn khoan ra khỏi vùng biển Việt Nam.

Trong vụ kiện đó, Hoàng Sa và Trường Sa sẽ là trọng tâm bởi từ đó sẽ liên quan đến các vùng biển xung quanh.


 Trung Quốc đang lập luận rằng: “Trong tuyên bố ngày 14/9/1958 thay mặt chính phủ Việt Nam, Thủ tướng Việt Nam khi đó, Phạm Văn Đồng, công khai thừa nhận quần đảo Tây Sa và các đảo khác ở Nam Hải là lãnh thổ Trung Quốc.” Vậy sự thật của nội dung công thư năm 1958 của ông Phạm Văn Đồng là gì? Ý nghĩa pháp lý của công thư này đối với chủ quyền ở Hoàng Sa và Trường Sa ra sao? Nó có phải là 1 bất lợi pháp lý ở Tòa án Quốc tế hay không? Tuần Việt Nam xin giới thiệu tư liệu của tác giả Lê Bình.

công thư 1958, công hàm 1958, Phạm Văn Đồng, Trung Quốc, Việt Nam, Hoàng Sa, giàn khoan, Hải Dương 981

Tuyên bố của Chính phủ Nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa về Lãnh hải ngày 4/9/1958 gồm 5 điểm. Trong đó, điểm 1 nguyên văn bản tiếng Trung được dịch ra như sau: “Chiều rộng lãnh hải của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa là 12 hải lý. Ðiều lệ này áp dụng cho toàn lãnh thổ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, bao gồm phần đất Trung Quốc trên đất liền và các hải đảo ngoài khơi, Ðài Loan và các đảo phụ cận, quần đảo Bành Hồ, quần đảo Ðông Sa, quần đảo Tây Sa, quần đảo Trung Sa, quần đảo Nam Sa, và các đảo khác thuộc Trung Quốc (tách biệt khỏi đất liền và các hải đảo khác bởi biển cả)”. 

Sau Tuyên bố này, ngày 14/9/1958, Thủ tướng nước VNDCCH Phạm Văn Đồng gửi bức công thư cho Thủ tướng Chu Ân Lai với nguyên văn như sau: “Thưa đồng chí Tổng lý! Chúng tôi xin trân trọng báo tin để đồng chí Tổng lý rõ: Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ghi nhận và tán thành bản tuyên bố, ngày 4-9-1958, của Chính phủ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, quyết định về hải phận của Trung Quốc. Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tôn trọng quyết định ấy và sẽ chỉ thị cho các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc, trong mọi quan hệ với nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa trên mặt bể. Chúng tôi xin gửi đồng chí Tổng lý lời chào rất trân trọng”. 

Hoàn cảnh đặc thù

Muốn hiểu thấu đáo được ý nghĩa công thư 1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng, chúng ta cần phải nhìn nhận lại lịch sử để thấy được hoàn cảnh lúc bấy giờ. Khi đó, trong bối cảnh của thời kỳ Chiến tranh lạnh, Đài Loan còn giữ hai đảo nằm giáp lãnh thổ Trung Quốc là Kim Môn và Mã Tổ. Tổng thống Hoa Kỳ Harry S. Truman đã ra lệnh cho Hạm đội 7 tiến vào eo biển Đài Loan, ngăn chặn cuộc tấn công của Trung Quốc nhắm vào các đảo trên eo biển Đài Loan. Để tỏ rõ quyết tâm giải phóng Đài Loan, ngày 3/9/1954, Trung Quốc đã tấn công trừng phạt đối với các hòn đảo ven biển như Kim Môn, Mã Tổ. Ngày 11/8/1954, Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai tuyên bố sẽ “giải phóng” Đài Loan, và tăng cường pháo kích vào hai đảo Kim Môn và Mã Tổ. 

Thêm vào đó, ngày 29/4/1958 LHQ thông qua bốn Công ước gồm: Công ước về lãnh hải và vùng tiếp giáp lãnh hải, Công ước về đại dương, Công ước về đánh bắt và bảo toàn các nguồn sinh vật trong đại dương và Công ước về thềm lục địa. Và ra hạn chót để các quốc gia là thành viên của LHQ có thể ký nhận công ước này là ngày 31/10/1958. Vì khi đó, Trung Quốc không phải là một thành viên của LHQ nên nước này ra tuyên bố ngày 4/9/1958 để khẳng định những đòi hỏi của nước này về lãnh hải và vùng tiếp cận là cần thiết. 

Công thư ngày 14/9/1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng phù hợp với hoàn cảnh và mối quan hệ đặc thù giữa Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa bấy giờ. 

Trong một buổi họp tại Hà Nội ngày 2/12/1992, ông Nguyễn Mạnh Cầm, nguyên UVBCT, Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao cho rằng: “Khi đó, Việt Nam đã phải tập trung tất cả các lực lượng quân sự cho mục tiêu cao nhất để chống lại cuộc chiến tranh hung hãn của Mỹ, nhằm bảo vệ nền độc lập quốc gia. Đồng thời, tình hữu nghị Hoa - Việt rất thân cận và hai nước tin tưởng lẫn nhau. Trung Quốc đã cho Việt Nam một sự ủng hộ rất vĩ đại và giúp đỡ vô giá. Trong tinh thần đó và bắt nguồn từ những đòi hỏi khẩn cấp nêu trên, tuyên bố của các nhà lãnh đạo của chúng tôi là cần thiết vì nó trực tiếp phục vụ cho cuộc đấu tranh bảo vệ độc lập và tự do cho Tổ quốc. Đặc biệt thêm nữa là tuyên bố đó để nhắm vào việc đạt yêu cầu cho những nhu cầu cấp thiết vào lúc bấy giờ để ngăn ngừa bọn tư bản Mỹ dùng những hải đảo này để tấn công chúng tôi. Nó không có dính dáng gì đến nền tảng lịch sử và pháp lý trong chủ quyền của Việt Nam về hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa”.

Nếu đọc kỹ công thư này, còn thấy sự khôn khéo trong cách hành văn ngoại giao, trong đó phía Việt Nam chỉ nói: “Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ghi nhận và tán thành bản tuyên bố, ngày 4-9-1958, của Chính phủ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.” 

Câu văn này có nghĩa là phía Việt Nam ghi nhận ý muốn của Trung Quốc muốn nới rộng hải phận qua một tuyên bố đơn phương của mình, và tán đồng ý muốn này. Và đoạn văn kế đó có thể hiểu ngầm là trong tình trạng giao hảo “lúc đó” giữa hai nước, phía Việt Nam sẽ tôn trọng ý muốn 12 hải lý hải phận của Trung Quốc. Đặc biệt, không hề có việc tuyên bố từ bỏ chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. 

Trong một tài liệu nghiên cứu thuộc Văn phòng Địa lý, Vụ nghiên cứu tình báo trực thuộc Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ về “Tuyên bố của Chính phủ Nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa về Lãnh hải ngày 4/9/1958”, ở Điều 1 không có liệt kê quần đảo Ðông Sa, quần đảo Tây Sa, quần đảo Trung Sa, quần đảo Nam Sa. Nguyên văn được dịch như sau:“Chiều rộng lãnh hải của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa là 12 hải lý. Ðiều lệ này áp dụng cho toàn lãnh thổ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, bao gồm phần đất Trung Quốc trên đất liền và các hải đảo ngoài khơi, Ðài Loan và các đảo phụ cận, quần đảo Bành Hồ và các đảo khác thuộc Trung Quốc (tách biệt khỏi đất liền và các hải đảo khác bởi biển cả)”.

Trung Quốc có ý đồ gì khi cắt đi phần liệt kê quần đảo Ðông Sa, quần đảo Tây Sa, quần đảo Trung Sa, quần đảo Nam Sa trong bản tiếng Anh? Từ đó có thể cho thấy ý đồ thâm hiểm sâu xa của Trung Quốc ngay cả khi quan hệ giữa 2 nước là hữu nghị, thân cận! 

Luật pháp quốc tế

Trung Quốc lập luận rằng, với công thư 1958, Việt Nam thừa nhận quần đảo Nam Sa và quần đảo Tây Sa là lãnh thổ Trung Quốc trong quá khứ. Vì vậy, dựa trên nguyên tắc estoppel của luật pháp quốc tế, chính phủ Việt Nam hiện nay nên tuân theo ghi nhận trước đó. 

Estoppel là một nguyên tắc theo đó một quốc gia không có quyền nói hoặc hoạt động ngược lại với những gì mình đã nói hoặc hoạt động trước kia.

Tuy nhiên, theo luật quốc tế, “Thuyết estoppel không có nghĩa là cứ tuyên bố một điều gì đó thì quốc gia tuyên bố phải bị ràng buộc bởi lời tuyên bố đó. Mục đích chính của nó ngăn chặn trường hợp một quốc gia có thể hưởng lợi vì những thái độ bất nhất của mình, và do đó, gây thiệt hại cho quốc gia khác. Vì vậy, estoppel phải hội đủ các điều kiện chính: 1. Lời tuyên bố hoặc hành động phải do một người hoặc cơ quan đại diện cho quốc gia phát biểu, và phải được phát biểu một cách minh bạch. 2. Quốc gia nại “estoppel” phải chứng minh rằng mình đã dựa trên những lời tuyên bố hoặc hoạt động của quốc gia kia, mà có những hoạt động nào đó, hoặc không hoạt động. 3. Quốc gia nại “estoppel” cũng phải chứng minh rằng, vì dựa vào lời tuyên bố của quốc gia kia, mình đã bị thiệt hại, hoặc quốc gia kia đã hưởng lợi khi phát biểu lời tuyên bố đó. 4. Nhiều bản án còn đòi hỏi lời tuyên bố hoặc hoạt động phải được phát biểu một cách liên tục và trường kỳ. 5. Ngoài ra, nếu lời tuyên bố đơn phương có tính chất một lời hứa, nghĩa là quốc gia tuyên bố mình sẽ làm hoặc không làm một việc gì, thì quốc gia phải thực sự có ý định muốn bị ràng buộc bởi lời hứa đó, thực sự muốn thi hành lời hứa đó”.
Theo Hiệp định Genève 1954, 2 hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa nằm phía Nam vĩ tuyến 17 tạm thời thuộc quyền quản lý của Chính phủ Việt Nam Cộng hòa và chỉ Chính quyền này được phát biểu về các đảo. Trong thời điểm đó, dưới góc độ tài phán quốc tế, Chính phủ VNDCCH không có nghĩa vụ và quyền hạn hành xử chủ quyền tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Bà Monique Chemillier Gendreau, giáo sư công pháp và khoa học chính trị ở Trường Đại học Paris VII Denis Diderot, nguyên Chủ tịch Hội luật gia dân chủ Pháp cho rằng: “Việt Nam Dân chủ cộng hòa không phải là chính phủ, về mặt lãnh thổ, có thẩm quyền đối với 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Người ta không thể từ bỏ cái mà người ta không có quyền lực”.Gắn nội dung này vào với điều kiện 1 của estoppel có thể thấy, ông Phạm Văn Đồng không phải là người đại diện cho chính quyền Việt Nam Cộng Hòa, nên dù ông có nói như thế nào về 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đều không có ý nghĩa pháp lý. 

Trong khi đó, đại diện của nước Việt Nam sau khi người Pháp ra đi, Chính phủ Nam Việt Nam luôn khẳng định duy trì quyền của mình đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, bằng nhiều Nghị định về quản lý các đảo, như Nghị định về quần đào Hoàng Sa được ký ngày 13/7/1961 thành lập đơn vị hành chính Định Hải; Nghị định ngày 21/10/1969 gộp xã đó với xã Hoa Long; hay việc sáp nhập các đảo Trường Sa vào tỉnh Phước Tuy ngày 22/10/1956, v.v… So sánh với điều kiện thứ 4 củaestoppel cho thấy, có một tuyên bố được nhắc đi nhắc lại nhiều lần nhưng đó là sự khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa và Trường Sa, chứ tuyệt đối không phải là những tuyên bố từ bỏ chủ quyền. Nhưng người Trung Quốc lại sử dụng thái độ của các Chính phủ Việt Nam khác để làm căn cứ. 

Thêm một lý do nữa không thể vận dụng thuyết trong trường hợp này, vì với công thư của ông Phạm Văn Đồng, Trung Quốc không chịu bất cứ thiệt hại gì và Việt Nam cũng không hưởng được bất cứ lợi ích gì (không đáp ứng được điều kiện thứ 4 như đã nêu). Trên cơ sở phân tích này, có thể thấy lập luận của Trung Quốc dựa trên nguyên tắc estoppel của luật pháp quốc tế là hoàn toàn vô giá trị. 

Từ sau năm 1975, nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, đã kế thừa chủ quyền từ VNCH nên hoàn toàn có đầy đủ cơ sở để khẳng định chủ quyền hợp pháp của mình trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Nhưng quan trọng hơn hết, như ông Đinh Kim Phúc, Trung tâm nghiên cứu Đông Á, Đại học Mở Thành Phố HCM chỉ ra: “Cần phải nói rằng từ năm 1945 đến nay, Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Mặt trận DTGPMN Việt Nam và sau đó là Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và hiện nay là Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam chưa bao giờ lên tiếng hoặc ra nghị quyết từ bỏ chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa – Trường Sa”.

Là quốc gia chiếm hữu 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đầu tiên khi nó còn là những vùng đất vô chủ, ít nhất từ thế lỷ XVII đến này, Việt Nam đã tổ chức khai thác khẳng định chủ quyền theo một cách liên tục, không gián đoạn. 

Đó cũng chính là nguyên tắc thụ đắc lãnh thổ được luật pháp quốc tế hiện đại thừa nhận. Trái lại, Trung Quốc chỉ quan tâm đến 2 quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa từ đầu thế kỷ 20 và đánh cướp từ Việt Nam bằng các cuộc tấn công quân sự vào năm 1956, 1974 và 1988.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

TQ đang thực hiện ở Biển Đông không phải là chính sách ngoại giao bởi sự xâm chiếm lãnh thổ không tồn tại trong khái niệm đó.

Theo tạp chí ngoại giao Mỹ Diplomat, điều TQ đang thực hiện ở Biển Đông không phải là chính sách ngoại giao bởi sự xâm chiếm lãnh thổ không tồn tại trong khái niệm đó.

Trung Quốc dùng ngoại giao chiến hạm?.
Trung Quốc dùng ngoại giao chiến hạm?.
Bài viết của tác giả Ryan Santicola cho rằng, mặc dù Trung Quốc luôn “lớn tiếng” cần phải thực hiện chính sách ngoại giao song thực tế họ đã làm trái điều đó.
Điều này có thể thấy rõ trong những vụ việc xảy ra trong vấn đề tranh chấp lãnh thổ, lãnh hải có liên quan đến Trung Quốc và không chỉ một nước, mà còn nhiều nước khác.
Nếu là một quốc gia theo chính sách ngoại giao thì Trung Quốc sẽ tuân phủ theo các quy tắc vốn có trong đó.
Thực tế hiện nay cho thấy, những việc làm của Trung Quốc trong thời gian qua liên quan đến việc giải quyết tranh chấp lãnh thổ và hàng hải trên Biển Đông giống như một công cụ cho chính sách đối ngoại, cụ thể là song phương.
Đây cũng là lý do tại sao Bắc Kinh lại từ chối tham gia vào vụ kiện của Philippines trước Tòa án trọng tài thường trực (Permanent Court of Arbitration) cũng như miễn cưỡng đối với việc đàm phán về Bộ quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC) với ASEAN.
Vậy, có phải Trung Quốc đang có một chính sách đối ngoại nhất quán song phương trên Biển Đông? Câu trả lời là không phải vậy bởi vì khái niệm nhất quán bao gồm cả khía cạnh đa phương, song phương và những việc làm của Trung Quốc cũng không thực hiện đúng từ đầu đến cuối hay nói cách khác là “nói một đằng, làm một nẻo”.
Trong bối cảnh hiện nay, Trung Quốc luôn thể hiện rằng sẽ phải gia nhập vào những công ước, luật định ràng buộc và cả không ràng buộc song lại không hề có ý định tuân thủ.
tinh hinh bien dong, gian khoan hd 981, HD 981, tranh chap tren bien,trung quoc, tau trung quoc tan cong tau viet nam, xam pham chu quyen,
Việt Nam và Philippines quyết tâm bảo vệ vùng lãnh hải của mình trước sự hung hăng, bất chấp luật pháp quốc tế của Trung Quốc.
Năm 1996, Trung Quốc đã ký vào Công ước của Liên Hợp Quốc về luật biển (UNCLOS) nhưng đến nay vẫn tiếp tục tuyên bố chủ quyền hàng hải ở vùng tranh chấp. Trung Quốc cũng là một thành viên trong Tuyên bố ứng xử của các bên trên biển Đông (DOC) nhưng một mặt vẫn tiếp tục cố tình gây xung đột với các tàu trên vùng biển quốc tế.
Có thể thấy rõ hai vụ việc mà Trung Quốc ngang nhiên hành động bất chấp các quy tắc, luật pháp quốc tế, thứ nhất là hành động leo bang ở bãi đá ngầm Scarborough/ Hoàng Nham với Philippines và thứ hai là vụ hạ đặt giàn khoan HD-981 trên vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam.
Những hành động ngang ngược này đã cho thấy Trung Quốc đã trắng trợn bỏ qua những cam kết chính trị của mình mà theo DOC là đang làm phức tạp vấn đề, ảnh hưởng tới sự ổn định và hòa bình khu vực.
Trong bối cảnh hiện nay, hành động đưa giàn khoan HD-981 vào vùng biển tranh chấp ngoài ở của Việt Nam là không thể chấp nhận. Trung Quốc đã ngang nhiên thực hiện hành động này mặc dù hồi năm 2011 đã ký thỏa thuận song phương với Việt Nam về những nguyên tắc cơ bản trong việc giải quyết các vấn đề liên quan đến biển”.
Kết luận của hững chính sách đối ngoại của Trung Quốc trên biển Đông là hoàn toàn không nhất quán. Việc Trung Quốc ngang nhiên thực hiện các hành động đơn phương không chỉ làm mất đi lòng tin cho các cuộc đàm phán, thỏa thuận tiếp theo của Trung Quốc với các nước mà còn dẫn đến sự mất ổn định và hợp tác trong khu vực.
nega Vn
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Trung quốc nói một đằng, làm một nẻo!

Tạp chí Cộng sản: Trung quốc nói một đằng, làm một nẻo!

Tàu TQ uy hiếp và gây hại cho tàu Việt Nam ở Biển Đông
(ĐCSVN) – Máu "đại Hán" hung hăng của Trung Quốc đang lao vào tranh chấp lãnh thổ với một loạt các quốc gia Đông Nam Á tại Biển Đông. Tuy nhiên, trong phiên khai mạc Hội nghị Thượng đỉnh về phối hợp hành động và củng cố lòng tin ở châu Á (CICA) tại Thượng Hải ngày 21/5, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình vẫn bình thản tuyên bố Trung Quốc đang lớn mạnh cần các biện pháp “hòa bình” để giải quyết các tranh chấp lãnh thổ. Nói vậy nhưng không phải vậy, Trung Quốc bao giờ cũng "nói một đằng, làm một nẻo!"

Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình cho biết: “Trung Quốc cam kết tìm kiếm cách giải quyết hòa bình trong việc tranh chấp với các quốc gia khác về chủ quyền lãnh thổ, quyền lợi và lợi ích hàng hải”. Nghe ông Tập nói vậy, nhưng giàn khoan Hải Dương - 981, vẫn ngang nhiên đặt vào vùng biển của Việt Nam, cùng hàng trăm tàu hộ tống đâm húc, dùng vòi rồng cực mạnh phun nước vào các tàu chấp pháp của Việt Nam.

Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình cũng cảnh báo các quốc gia châu Á muốn tăng cường liên minh quân sự chống lại Trung Quốc đồng thời khẳng định nó không có lợi cho an ninh khu vực. “Việc tăng cường liên minh quân sự nhằm vào một bên thứ 3 sẽ không có lợi cho nỗ lực duy trì an ninh chung trong khu vực”.

Trước đó, Bộ Ngoại giao Trung Quốc đã thành thói quen đổ lỗi cho Mỹ khuyến khích các nước có tranh chấp với nước này thực hiện những hành động “nguy hiểm”, làm trầm trọng thêm căng thẳng tại khu vực tranh chấp trên Biển Đông. Trong cuộc họp báo thường nhật diễn ra mới đây, nữ phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc Hoa Xuân Oánh (Hua Chunying) nói, “cần phải chỉ ra rằng, hàng loạt những bình luận sai trái và vô trách nhiệm từ phía Mỹ đã khuyến khích một số nước có những hành động khiêu khích và nguy hiểm”... “Chúng tôi kêu gọi Mỹ hành động phù hợp để duy trì và giữ gìn an ninh hòa bình trong khu vực, đồng thời hành động và phát ngôn cẩn trọng trước những sự kiện liên quan, chấm dứt những phát ngôn thiếu trách nhiệm và hành động nhiều hơn nữa vì hòa bình và ổn định khu vực”. Trên thực tế, Trung Quốc đang thực thi những hành động mang tính “cả vú lấp miệng em” nhằm thực hiện âm mưu độc chiếm Biển Đông.

Trung Quốc chỉ trích gay gắt Mỹ và kêu gọi hòa bình, ổn định tuy nhiên thực tế tại khu vực đặt giàn khoan trái phép, họ tiếp tục có những hành động hung hãn, đâm húc và tấn công tàu thuyền thực thi công vụ của Việt Nam. Các vòi rồng từ tàu hải cảnh Trung Quốc nhằm vào những chỗ hiểm của tàu Việt Nam như ống khói, ăng-ten, rađa, các tấm cửa kính, thiết bị truyền tin... để phun với mục đích phá hỏng máy móc, thiết bị thông tin liên lạc, làm tê liệt và mất tác dụng tàu của Việt Nam trên biển. Dã man hơn, Trung Quốc còn nhằm cả vào phao cứu sinh để phá nát những phương tiện cứu nạn này của Việt Nam. Mặt khác, nước này còn trắng trợn cáo buộc Việt Nam cố ý đâm vào tàu của họ trên Biển Đông. Đúng là "vừa ăn cướp vừa la làng!"

Cụ thể, ngày 21/5, Trung Quốc duy trì 95 chiếc tàu các loại hoạt động bảo vệ giàn khoan Hải Dương - 981, đồng thời bố trí các tàu bảo vệ trên nhiều hướng và trên mỗi hướng Trung Quốc tăng cường từ 2 đến 3 tàu kéo loại lớn. Các tàu này luôn cơ động tiếp cận và sẵn sàng phun nước, đâm va vào các tàu của lực lượng thực thi pháp luật Việt Nam. Đặc biệt, các tàu cá vỏ sắt Trung Quốc đã áp sát, đe dọa, chặn, ép tàu cá vỏ gỗ của các ngư dân Việt Nam ra xa khu vực giàn khoan và sẵn sàng đâm va vào các tàu cá Việt Nam.

Trong khi liên tiếp có hành động dã man như trên, nhưng mặt khác "Trung Quốc đang cố gắng tạo ra hình ảnh họ mới là nạn nhân". Đây là nhận định của ông Jonathan London, một chuyên gia về Việt Nam đang công tác tại Đại học Thành thị Hong Kong trên báo South China Morning Post của Hong Kong. Ông cho rằng, Trung Quốc đang chơi trò nạn nhân trong việc đưa các công nhân về nước. Với động thái này, Trung Quốc cố tự tạo hình ảnh họ mới là nạn nhân, trong khi dư luận quốc tế đều chống lại những bước đi hung hăng của Trung Quốc ở biển Đông.

Tiến sĩ Oh Ei Sun, một chuyên gia nghiên cứu cao cấp tại Viện Nghiên cứu Quốc tế S. Rajaratnam ở Singapore nhận định: “Thái độ của Trung Quốc đang gây ra sự khó hiểu. Bắc Kinh nói rằng họ muốn duy trì một mối quan hệ tốt đẹp với các nước láng giềng của mình, nhưng họ lại cũng đang cố tình hành động ngày càng quyết liệt hơn”.

Tiến sĩ Oh Ei Sun cho rằng: “Các quốc gia Đông Nam Á đang thấy rằng Trung Quốc đang làm cho vụ tranh chấp leo thang, thay vì là cho vụ việc lắng xuống”.


Vạch rõ âm mưu của Trung Quốc khi trả lời phỏng vấn hãng AP (Mỹ) và Reuters (Anh) về tình hình Biển Đông cũng như các biện pháp giải quyết của Việt Nam trong chuyến thăm Philippines và tham dự Diễn đàn Kinh tế Thế giới từ 21 – 22/5, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nêu rõ: Việt Nam luôn nhất quán sử dụng các biện pháp hòa bình và tận dụng mọi cơ hội, mọi kênh đối thoại để giải quyết tình hình hiện nay một cách hòa bình. Chúng tôi đã hết sức chân thành, thực tâm, thiện chí và kiềm chế, nhưng câu trả lời hiện nay là Trung Quốc ngày càng gia tăng sức mạnh, các hành động uy hiếp và xâm phạm, rồi liên tục vu khống và đổ lỗi cho Việt Nam. Những gì mà Trung Quốc đang làm khác rất xa những gì mà Trung Quốc nói. Những hành động của Trung Quốc trên vùng biển Việt Nam trong nhiều ngày qua là cực kỳ nguy hiểm, đe dọa nghiêm trọng đến hòa bình, ổn định, an ninh, an toàn và tự do hàng hải, hợp tác và phát triển ở khu vực và thế giới.

Có thể nói, những hành động của Trung Quốc trên Biển Đông vừa gia tăng các hành động gây hấn, vừa cố gắng “la làng” nhằm tạo hình ảnh là nạn nhân đã đặt Trung Quốc vào thế tự “vạch mặt” mình, “nói một đằng làm một nẻo”, đây là bản chất của những nhà đương cục Trung Quốc. Dân tộc Việt Nam qua hàng ngàn năm lịch sử dựng nước và giữa nước, hơn ai hết hiểu được "bụng dạ" thật, của "ông láng giềng" này. "Vỏ quýt dày có móng tay nhọn", nhân dân Việt Nam quyết không sợ, đoàn kết một lòng, với tất cả lực lượng và trí tuệ, bảo vệ vững chắc từng "tấc biển" của Tổ quốc./.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Phiên xử đầu tiên vụ gây rối ở Bình Dương: Tòa tuyên 12 tháng tù giam


(Dân trí) - Trong phiên xử đối tượng trộm cắp tài sản vụ gây rối tại Bình Dương, luật sư nêu 4 tình tiết giảm nhẹ án cho bị cáo Châu Minh Tường. Đại diện công ty bị trộm tài sản cũng xin tòa giảm án cho bị cáo. Tòa tuyên án 12 tháng tù giam.
Bị cáo Tường được dẫn giải ra xe về trại giam
9h55, kết thúc phần tranh luận, Hội đồng xét xử tiến hành phần nghị án. Chủ tọa phiên tòa tuyên án bị cáo Châu Minh Tường phạm tội trộm cắp tài sản, nhận mức án 12 tháng tù giam, thời gian thi hành án tính từ ngày 13/5. 


Cũng trong sáng nay 25/5, TAND huyện Bến Cát xét xử lưu động Lê Văn Nghiêm về hành vi Gây rối trật tự công cộng và Cố ý làm hư hỏng tài sản. Nghiêm là một trong số hơn 800 đối tượng có liên quan đến việc kích động, gây rối, đập phá tài sản các công ty nước ngoài ở Bình Dương hôm 13/5. Nghiêm bị tuyên án 36 tháng tù giam.
Phát biểu trong phần tranh luận, luật sư Thái Thanh Hải - luật sư được chỉ định bào chữa cho bị cáo - cho rằng mức phạt đề nghị 12 - 15 tháng tù giam của Viện kiểm sát là quá nặng. Theo luật sư Hải, có 4 tình tiết giảm nhẹ cần cân nhắc để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo: Thứ nhất là giá trị tài sản bị trộm cắp ít. Thứ 2, bị cáo phạm tội lần đầu, tình tiết ít nghiêm trọng, chưa bị xử phạt hành chính hay vi phạm hình sự lần nào, nhân thân trong sạch. Thứ 3, trong quá trình thẩm vấn ở cơ quan điều tra, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo cũng không chủ mưu trộm cắp tài sản mà là do tình thế hỗn loạn và thiếu suy nghĩ nên có hành động phạm tội. Thứ 4, đại diện nguyên đơn dân sự là Công ty Tân Viễn cũng có ý kiến xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Ông Châu Minh Thông, cha bị cáo Tường, phát biểu trước tòa: “Do cháu còn nhỏ, đi làm ăn xa gia đình, thiếu sự giáo dục của gia đình nên có hành động thiếu suy nghĩ, xin Hội đồng xét xử xem xét bản án thấp nhất cho Tường để bị cáo được sớm trở lại xã hội, xây dựng lại cuộc sống”.
Được tòa cho phép tranh luận cho quyền lợi của mình tại tòa nhưng đại diện Công ty Tân Viễn lại khẩn khoản xin giảm án cho bị cáo. Đại diện Công ty Tân Viễn cho rằng: “Do công ty chúng tôi có làm ăn với người Đài Loan nên có thể các cháu hiểu lầm. Hôm đó đoàn công nhân tuần hành cũng nói là mình phản đối Trung Quốc nha chú, tôi nghe cũng thấy các cháu chỉ là yêu nước thôi. Có lẽ trong tình hình hỗn loạn,  các cháu thiếu suy nghĩ nên đã có hành vi sai trái như trên”.
Đại diện nguyên đơn dân sự xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo
Đại diện nguyên đơn dân sự xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo 
9h20, chủ tọa tuyên bố kết thúc phần xét hỏi tại phiên tòa, bắt đầu phần tranh tụng.
Đại diện Viện kiểm sát Tân Uyên công bố truy tố Châu Minh Tường tội trộm cắp tài sản. Theo phần xét hỏi, bị cáo đã thừa nhận tội trộm cắp tài sản. Động cơ phạm tội của bị cáo là tham lam, lợi dụng thời cơ hỗn loạn để trộm cắp tài sản đem về nhà với mục đích để sử dụng.
Tài sản bị cáo trộm cắp được định giá là 6.120.000 đồng. Theo đại diện Viện kiểm sát, hành vi của bị cáo không gây thiệt hại lớn về vật chất nhưng hậu quả phi vật chất rất lớn. Nhà nước đang khuyến khích đầu tư nước ngoài nhưng hành vi của bị cáo đã gây ảnh hưởng lớn đến môi trường đầu tư không chỉ ở Bình Dương mà trên cả nước.
Do đó, đại diện Viện kiểm sát đề nghị xét xử nghiêm minh, trừng phạt đúng người, đúng tội, răn đe những ai có ý định vi phạm, gây rối trật tự công cộng.
Tuy nhiên, do nguyên đơn dân sự là Công ty Tân Viễn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị cáo phạm tội lần đầu; khi phạm tội bị cáo chưa đủ 18 tuổi; nên Viện kiểm sát đề nghị xử phạt bị cáo Châu Minh Tường 12 - 15 tháng tù giam.
Bị cáo đứng nghe hội đồng xét xử tuyên án
Bị cáo Châu Minh Tường là bị cáo đầu tiên nhận án trong vụ gây rối ở Bình Dương
9h15, trả lời tại phiên tòa, bảo vệ Công ty Tân Viễn cho biết, do thấy đông người ùa vào nên không thể ngăn cản, chỉ cố ghi lại biển số xe. Khi Tường và C. chạy vào công ty thì bảo vệ có chặn lại hỏi vì thấy cả 2 không mặc áo quần công nhân. Bị cáo nói là vào công ty nhặt chiếc nhẫn bị rơi.
Khi cả 2 chạy xe ra có mang theo tài sản của công ty, bảo vệ đã ghi lại biển số xe và báo công an địa phương. Cả 2 chạy ra khỏi công ty được vài phút thì bị lực lượng an ninh chặn bắt.
8h40, trước thái độ quanh co chối tội của bị cáo, kiểm sát viên nhắc nhở bị cáo phải thành khẩn khai báo, đó sẽ là tình tiết để tòa giảm nhẹ hình phạt. Ngay sau đó, qua phần xét hỏi và nhân chứng N.V.C. (sinh năm 2000, người được Tường rủ đi theo đoàn tuần hành), bị cáo thú nhận mình đã chạy xe thẳng vào Công ty Tân Viễn, vào khu văn phòng để lấy tài sản.
Ông Châu Minh Thông, cha bị cáo Châu Minh Tường, còn khá trẻ. Ông Thông cho biết, khi sự việc xảy ra, ông đang ở dưới quê nên không biết gì. Mãi đến 3 ngày sau ông mới biết do Công an Tân Uyên báo tin về gia đình.
Tòa hỏi suy nghĩ của ông về tội lỗi do con mình gây ra, ông Thông khẩn khoản xin pháp luật "nương tay" bởi “bị cáo còn trẻ, nông nổi, thiếu suy nghĩ, gia đình không có ai bên cạnh để dạy dỗ”.
Xét xử vụ gây rối ở Bình Dương: Trộm máy tính về chơi điện tử!
Sau những lời quanh co chối tội, bị cáo Tường đã thừa nhận mình chạy thẳng vào khu văn phòng để trộm tài sản
Cha bị cáo Tường phân trần con mình còn trẻ tuổi, nông nổi, không được dạy dỗ đầy đủ
Cha bị cáo Tường phân trần con mình còn trẻ tuổi, nông nổi, không được dạy dỗ đầy đủ
8h15, chủ tọa phiên tòa tiến hành phần xét hỏi bị cáo Châu Minh Tường. Bị cáo quanh co chối tội, cho là mình ngay từ đầu không có ý định trộm cắp. Tường khai: “Bị cáo chở C. theo đoàn công nhân biểu tình từ 20h (ngày 13/5 - PV) để xem chơi thôi”. Đến 22h cùng ngày, Tường và C. đến Công ty Tân Viễn xem công nhân tràn vào công ty, đập phá tài sản nên tiện tay lấy nhiều tài sản như máy tính, chuột, màn hình máy vi tính...
Tường khai: “Thấy người ta đập phá, tưởng hư người ta bỏ nên bị cáo lấy đem về sử dụng”.
Cũng theo Tường thì bị cáo dự định lấy máy tính để về chơi trò chơi điện tử. “Bị cáo tháo màn hình máy tính ra, thấy vậy C. cũng lấy theo”.
Hàng trăm người, chủ yếu là các công nhân, đến theo dõi phiên xử
Hàng trăm người, chủ yếu là các công nhân, đến theo dõi phiên xử
8h, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa Võ Thành Hiệp - TAND thị xã Tân Uyên - công bố quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm. Tòa triệu tập cha mẹ bị cáo là ông Châu Minh Phong và bà Nguyễn Thị Dung nhưng chỉ có cha bị cáo có mặt, mẹ bị cáo xin vắng mặt vì lý do sức khỏe.
Do bị cáo Châu Minh Tường chưa đủ 18 tuổi (sinh ngày 20/10/1996) nên được chỉ định luật sư bào chữa, Viện Kiểm sát cử luật sư Thái Thanh Hải, Đoàn luật sư Bình Dương tham gia bào chữa cho bị cáo.
Chủ tọa phiên tòa công bố quyết định đưa vụ án ra xét xử
Chủ tọa phiên tòa công bố quyết định đưa vụ án ra xét xử
Sáng nay 25/5, TAND thị xã Tân Uyên (Bình Dương) đưa ra xét xử lưu động Châu Minh Tường - đối tượng lợi dụng cuộc tuần hành phản đối Trung Quốc để gây rối, trộm cắp tài sản tại Bình Dương. Từ sáng sớm, hàng trăm công nhân đã tới dự tòa.
Từ 7h sáng, hàng trăm người dân và công nhân sinh sống quanh khu vực phường Tân Hiệp và KCN Nam Tân Uyên đã tập trung tại trường tiểu học Tân Hiệp để theo dõi phiên tòa. Đến 7h30, bị cáo Châu Minhh Tường được dẫn giải đến địa điểm xét xử.
7h50, thư ký phiên tòa công bố thủ tục, quy định khi xét xử, yêu cầu nhân viên tham gia xét xử, bảo vệ phiên tòa, nhà báo tham gia đưa tin và người dân theo dõi phiên xét xử tuân thủ. Lúc này, người dân kéo đến theo dõi phiên tòa đã rất đông; lực lượng cảnh sát cơ động, công an địa phương, dân quân được triển khai đảm bảo chặt chẽ an ninh phiên tòa.
Bị cáo được đưa vào phiên tòa, chờ xét xử
Bị cáo được đưa vào phiên tòa, chờ xét xử

Theo hồ sơ vụ án, khoảng 22h ngày 13/5, Tường thấy có nhiều người đi tuần hành trên đường nên rủ Nguyễn Văn C. (sinh năm 2000) đi theo. Đến công ty TNHH Cao Viễn (phường Tân Hiệp, thị xã Tân Uyên) thấy nhiều người đang đập phá tài sản nên Tường và C. lẻn vào trộm  tài sản gồm: 1 màn hình máy tính, 1 cục thu phát sóng wifi, 1 máy scan, 2 chuột máy tính và bàn phím.
Khi Tường chạy xe chở C. mang số tài sản này ra khỏi công ty thì bị bảo vệ và công an địa phương đuổi theo bắt giữ. Hội đồng định giá tài sản xác định tổng giá trị tài sản là hơn 5 triệu đồng. Dù sự việc mới xảy ra hơn 10 ngày nhưng Công an và Viện kiểm sát Tân Uyên đã cố gắng hoàn tất sớm vụ án để đưa ra xét xử nhằm mục đích răn đe các đối tượng khác. Riêng C. do mới 14 tuổi nên chưa đủ tuổi truy tố trách nhiệm hình sự.
Theo Thượng tá Phạm Xuân Trường, Chánh văn phòng Công an tỉnh Bình Dương, ngay sau khi vụ gây rối xảy ra tại các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh, Ban giám đốc Công an tỉnh Bình Dương đã nhanh chóng lập lại an ninh trật tự và phân loại đối tượng. Ngoài vụ gây rối, trộm cắp tài sản do tên Tường gây ra, trong tuần tới một số vụ án sẽ sớm kết thúc quá trình điều tra để truy tố ra tòa. Trong vụ công nhân gây rối, hiện cơ quan công an đã khởi tố 117 vụ án và 259 bị can.
Liên quan đến vụ việc này, hiện công an các thị xã Bến Cát, Tân Uyên… đã điều tra và thu hồi nhiều hàng hóa của các doanh nghiệp bị lấy cắp trong các ngày 13/5 và 14/5. ngoài ra, nhiều công nhân và người tham gia “hôi của” trong các ngày trên cũng tự nguyện đem hàng hòa, tài sản của doanh nghiệp trả lại cho các cơ quan chức năng. Hiện cơ quan chức năng đang tiến hành thống kê, xác minh số lượng hàng hóa trên để trả về cho doanh nghiệp.
Tùng Nguyên - Đình Thảo
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Tin buồn:


Giàn khoan HD 981 đã cắm mũi khoan xuống biển



(Kienthuc.net.vn) - Cảnh sát biển VN cho biết đã quay được rất rõ hình ảnh dấu hiệu mũi khoan cắm xuống biển. Còn TGĐ Petro Vietnam nói, theo quy trình thông thường, thời điểm này giàn khoan có thể khoan được rồi. 

Theo thông tin từ phóng viên Đài truyền hình Việt Nam tại hiện trường ngày 25/5, vị trí của giàn khoan Hải Dương 981 đã có sự dịch chuyển nhất định theo hướng nam tây nam và ở khoảng cách 10 hải lý.

Đây là thông tin đáng chú ý trước động thái mở rộng khu vực bảo vệ giàn khoan ở khoảng cách xa hơn của các tàu Trung Quốc trong những ngày gần đây.

Tuy nhiên, Thiếu tướng Nguyễn Quang Đạm, Tư lệnh Cảnh sát biển Việt Nam, cho biết: “Chúng tôi có nghe nói về thông tin này và đang cho kiểm tra, xác minh. Còn theo thông tin từ những tàu gần giàn khoan Hải Dương 981 nhất báo về thì không ghi nhận hiện tượng giàn khoan này dịch chuyển vị trí”. 
.
 Giàn khoan Hải Dương 981 

Trước đó, trao đổi với báo Tuổi Trẻ tối qua về việc có hay không giàn khoan Hải Dương 981 dịch chuyển vị trí, một lãnh đạo của Bộ tư lệnh Cảnh sát biển Việt Nam cho hay, nếu giàn khoan có dịch chuyển trên biển khoảng 100m cũng rất khó xác định bằng mắt thường và cả máy móc.
Vị này cũng cho biết: “Hôm trước chúng tôi đã quay được rất rõ hình ảnh dấu hiệu mũi khoan cắm xuống biển. Nhưng hôm nay (ngày 25/5) không thấy mũi khoan nữa”.

Tại buổi họp báo quốc tế lần 3 về tình hình Biển Đông do Bộ Ngoại giao Việt Nam tổ chức hôm 23/5 tại Hà Nội, khi được hỏi đến nay giàn khoan Hải Dương 981 của Trung Quốc đã hoạt động được ba tuần, phía Việt Nam đã có bằng chứng nào về việc Trung Quốc đã hoặc sắp hạ khoan thăm dò chưa, ông Đỗ Văn Hậu, Tổng giám đốc Tập đoàn Dầu khí Việt Nam cho biết: "Nếu theo quy trình của việc định vị và các công tác chuẩn bị để khoan bình thường thì giàn khoan đã có thể khoan được rồi. Nhưng vì chúng ta không thể tiếp cận được vào phía giàn khoan nên không biết thực chất Trung Quốc đã khoan hay chưa. Xin nhắc lại, theo quy trình thông thường thì thời điểm này giàn khoan đã có thể khoan được rồi”. 

Như vậy, theo như những gì vị đại diện Cảnh sát biển Việt Nam và Tổng giám đốc Tập đoàn Dầu khí Việt Nam cho biết thì khả năng giàn khoan của Trung Quốc đã tiến hành khoan khai thác dầu khí ở vùng biển đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam là khá cao. 

Tin mới nhất từ Cục Kiểm ngư Việt Nam cho biết, ngày 25/5, Trung Quốc vẫn duy trì số lượng hơn 120 tàu, bao gồm tàu hải cảnh, tàu vận tải, tàu kéo, tàu cá và một tàu chiến nhằm bảo vệ giàn khoan.

Những ngày trước, máy bay trinh sát và trực thăng Trung Quốc thường xuyên bay ở độ cao thấp gần tàu chấp pháp Việt Nam. Tuy nhiên, ngày 25/5, lực lượng kiểm ngư không ghi nhận sự xuất hiện của máy bay Trung Quốc.

Thế nhưng, liên tục trong vài ngày gần đây, các tàu Trung Quốc đã mở rộng phạm vi ngăn cản các tàu chấp pháp Việt Nam khi tàu chúng ta cách giàn khoan 10-12 hải lý (thay vì chỉ từ 5-8 hải lý so với những ngày trước).

Khoảng 13h15 ngày 25/5, tại khu vực cách giàn khoan Hải Dương 981 cách 12 hải lí về hướng Tây Nam, tàu Kiểm ngư HP 926 của Việt Nam đã phát hiện từng tốp 30 tàu cá vỏ sắt Trung Quốc án ngữ tại đây. Số tàu cá vỏ sắt mà Trung Quốc có mặt tại khu vực này theo quan sát của phóng viên khoảng gần 100 chiếc. Ở khu vực cách xa giàn khoan khoảng từ 8-10 hải lý luôn thường trực các tàu chiến của Trung Quốc, uy hiếp các tàu chấp pháp của Việt Nam.
.
Minh Hiếu 
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Chủ Nhật, 25 tháng 5, 2014

Tửu địa

Phạm Lưu Vũ:
 
Quán rượu nhỏ của lão Côi điếc ở mé đông làng Cát, nhìn thẳng ra một cái hồ lớn, nước xanh ngắt quanh năm. Một hôm, có một ông già gày gùa, nón tơi áo rách ghé vào quán. Ông khách gọi một chén rượu loại ngon đựng trong chiếc hũ sành nút lá chuối khô. Nhưng lão chỉ đưa lên mũi ngửi, chứ không hề uống, ánh mắt lúc nào cũng ngó đăm đăm vào đàn chó đang tranh nhau mấy khúc xương ngoài đường, như thể bị hút hồn vào cái hình ảnh sinh động rất cuộc đời ấy. Lão Côi lấy làm lạ, mấy lần muốn bắt chuyện mà vẫn cảm thấy chưa tiện mồm. Đột nhiên, ông khách trỏ vào một con chó cái lông xù đứng ngoài đám tranh nhau, đang ngoe nguẩy đuôi, phóng ánh mắt về phía hồ nước mà bảo lão Côi:
- Con chó kia của nhà ông phải không? Nó có tướng: “tam nhật nhất tiểu điểm” đấy. Quả nhiên lão đoán không sai. Mới vừa tới đây, lão đã thấy hình thế làng này tuy bệ rạc, song lại có dáng giống cái lưỡi chó đang liếm vào hồ rượu. Sách xưa gọi thế đất này là “tửu địa”. Phải có long mạch gọi là “tửu long”, thì mới sinh ra chốn “tửu địa” như thế này. Giờ lại bắt gặp con chó. Thế thì trong làng tất có tay bợm rượu.

Lão Côi tai vốn nghễng ngãng, song được cái tinh mắt, nhìn mồm có thể đoán ra khách nói gì. Nhưng cũng phải một lúc lão mới hiểu ra, hiểu ra thì càng ngạc nhiên. Bèn hỏi:

- “Tam nhật nhất tiểu điểm”... là tướng gì? xin cụ giảng cho biết.

Ông khách giải thích:

- Theo “Cẩu kinh” (kinh sách chuyên về chó), thì đó là một tướng chó cực hiếm. Giống này khi tiêu hóa, nước thải thoát ra toàn thân theo đường lông. Chỉ có cái tinh chất lắng đọng lại, gọi là “cốt thuỷ”. Ba ngày mới đái một lần, mỗi lần đái chỉ có một giọt, và cũng chỉ đái đúng một điểm nhất định trên mặt đất mà thôi. Chỗ ấy quý lắm đấy.

Lão Côi nghe nói, ngẫm lại con chó nhà mình thấy đúng quá. Bèn hỏi tiếp:

- Thế mà nhà tôi nuôi nó bao nhiêu năm nay lại không hề biết. quả là tôi chưa từng bao giờ trông thấy con chó ấy đái. Thậm chí... ngay cả sủa, nó cũng rất kiệm tiếng, không sủa bừa bãi, cẩu thả như những con khác. Chỗ nó đái quý như thế nào, làm cách nào mà biết được hở cụ ?

Ông khách bảo:

- Phải là người có duyên mới tìm ra được. Người vô duyên dẫu có để ý theo dõi, rình rập cũng uổng công mà thôi. Giời đã sinh ra phải như thế. Chỗ nó đái là một cái huyệt cực tốt, gọi là huyệt “cẩu thuỷ”. Kẻ có duyên tìm được rồi thì đợi đúng giờ Tý (nửa đêm), ngày Tuất, đem mả bố mà táng xuống dưới đó. Đặt mả quay hướng nam, để đầu vừa chạm vị trí nó đái. Nếu là huyệt Âm đột (lồi) thì con cháu có thể làm vua làm chúa, ăn không nói có, đè đầu cưỡi cổ thiên hạ. Nếu là huyệt Dương oa (lõm) thì con cháu có thể làm quan đến tỉnh trưởng, huyện trưởng... Nhưng khi nào con chó ấy chết thì cũng nhanh chóng hết vận.

Lão Côi hỏi:

- Tại sao thế hở cụ?

Ông khách trả lời:

- Huyệt mạch nào thì cũng phải dưỡng mới lâu dài được. Kì cẩu chết, không có chó đái dưỡng huyệt nữa thì hết vận chứ sao.

Lão Côi nói:

- Thế thì có lẽ tôi là người vô duyên chăng? Thật là tiếc quá. Ai biết được có một chỗ chó đái mà quý đến như thế. Song phú quý mà chỉ kéo dài bằng kiếp một con chó thì kể cũng hơi ngắn. Nhưng sao cụ xem tướng chó, lại biết làng tất có tay bợm rượu ?

Ông khách trả lời:

- Hạng trí giả xưa nay xem tướng chó, biết tính chủ là chuyện bình thường. Huống chi loại chó này vốn có sự tích hẳn hoi. Giống này hiếm bởi không do di truyền, mà do giời sinh. Và cũng chỉ có ở chó cái, không sinh vào chó đực. Cái lý nó phải thế. Đi hàng trăm làng may ra mới thấy một con. Ngẫm ra cũng có cái lẽ bên trong của nó. Giống chó ấy mà sẵn thì chẳng lẽ trên đời đầy nhóc cả vua, chúa hay sao? Nó là thứ ngược lại của rượu, là âm tửu. Nó chỉ cất tiếng sủa khi gặp phải đám loạn tửu, sắp gây ra thù hằn nhau, đánh chửi nhau vì rượu đến nơi. Mỗi tiếng sủa của nó có tác dụng làm cho những cái đầu bốc lửa nguội dần đi. Ở đâu có long mạch gọi là “truyền nhân kĩ tửu địa” (đời nào cũng sinh ra một “kĩ tửu” - bợm rượu), thì ở đó mới xuất hiện giống chó này. Song cũng phải có kì duyên, thì hai thứ kì nhân và kì cẩu ấy mới gặp được nhau.

Lão Côi chợt hiểu ra. Hèn nào mà quán của lão chưa bao giờ xảy ra những vụ ẩu đả nhau vì rượu như những quán khác trong làng, mặc dù ở đây không ngày nào là không diễn ra những trận nhậu tưng bừng. Thì ra nhờ có con chó “âm tửu” kia. Nhưng lão Côi nghĩ bụng làng mình đã có tiếng là một làng say, thì thiếu cha gì tay bợm rượu. Già trẻ lớn bé đủ các hạng, cứ tụ tập dăm ba anh là nốc tì tì, hết chai nọ đến chai kia, uống không giới hạn, uống đến say bét nhè, rồi đánh chửi nhau như cơm bữa. Lão bèn bảo:

- Làng này nhiều người hay rượu lắm cụ ạ, không chỉ một người mà thôi đâu.

Ông khách nghe nói, vừa thong thả đưa chén rượu lên mũi ngửi, vừa bảo:

- Uống nhiều, uống say để mà nói nhiều, để mà chửi bới nhau, hay thậm chí tuôn ra thơ phú nhập nhằng thì cũng chỉ là những hạng tục tửu mà thôi. Nhưng đạt đến bậc gọi là “kĩ tửu” ấy, thì dứt khoát chỉ có một. Dân gian quen mồm gọi nôm na là “bợm”, cứ tưởng thế là ghê gớm lắm, chứ thực ra đã ăn thua gì.

Lão Côi lại hỏi.

- Đúng là làng này cứ ai hay rượu đều gọi là bợm hết. Bợm già, bợm trẻ, bợm đàn ông, bợm đàn bà đủ cả. Không hiểu cái bậc “kĩ tửu” mà cụ nói kia thì như thế nào?

Ông khách rung rung chòm râu bạc, mủm mỉm cười ra vẻ bí ẩn và bảo:

- Rồi sẽ đến lúc ông biết thôi.

Lão Côi bắt đầu cảm thấy vừa khâm phục, vừa bị hấp dẫn bởi kiến thức của ông khách về ba cái khoản liên quan: rượu - chó - bợm kia. Bèn rụt rè đề nghị:

- Hay là cụ chịu khó ngồi chơi đến chiều, xem những người đến đây uống rượu, ai là người được như cụ nói, cho bõ một phen cụ lặn lội đường xa?

Ông khách nghe lão Côi nói, vẻ mặt chợt tỏ ra trầm ngâm. Ông bảo:

- Lão đi cũng đã nhiều nơi, rất hiếm khi được chứng kiến một chốn tửu địa như thế này. Nếu may mà gặp được bậc kĩ tửu ấy nữa thì còn gì hay hơn. Có điều không biết đã có duyên gặp được hay chưa. Nhưng làng đâu có thiếu quán rượu, chắc gì họ kéo đến đây mà xem với xét. Ông muốn họ đến thì hãy ra khua đám chó kia, cho chúng sủa nhặng lên...

Lão Côi mừng quớ vì ông khách đã nhận lời, lại càng tròn mắt kinh ngạc về cái sáng kiến ấy của ông ta. Lão vội hỏi, giọng không giấu vẻ thán phục:

- Thì tôi vẫn thường làm như thế mỗi khi muốn kéo họ tụ tập đến đây uống rượu đấy. Làm sao mà cụ biết hay thế?

Ông khách lại nhấc chén rượu đưa lên mũi ngửi rồi chậm rãi trả lời:

- Người hay rượu phản xạ rất nhạy với tiếng chó sủa. Một phần vì có thế mới biết đường mà lần về nhà, khỏi lạc vào ngõ nhà người ta. Một phần vì ở đâu chó sủa nhiều là ở đó có tiệc tùng, đình đám, hội hè...



Lão Côi nghe nói mới biết, thì ra cái tiểu xảo câu khách bấy lâu nay mình vẫn làm, vốn có lý luận biện chứng hẳn hoi. Lão bèn hăng hái vớ lấy cây chổi lao ra ngoài đường, xông vào giữa đám chó, vung chổi lên múa tít. Lũ chó mới đầu ngơ ngác, tưởng lão lên cơn điên. Lát sau dường như chúng hiểu ra, lập tức bảo nhau cùng sủa loạn xạ bằng đủ các thứ giọng trầm, bổng, thanh, đục... chẳng ra bài bản gì. Chúng sủa mãi, sủa mãi, thi nhau mà sủa, sủa như sợ con người quên béng mình là chó, sủa như để tính công... Cứ thế, chúng làm cho huyên náo cả một góc làng.

Quả nhiên, chiều hôm đó diễn ra một tiệc nhậu tưng bừng của các “đệ tử Lưu Linh” làng Cát tại quán rượu lão Côi điếc. Ông khách vẫn thỉnh thoảng nhấc chén rượu đưa lên mũi ngửi, lâu lâu lại thò tay rón một hạt lạc rang bỏ vào mồm nhai, đôi mắt vẫn lơ đãng ngó ra phía ngoài đường cái, dường như không chú ý gì đến cái đám nhậu ồn ào bên trong quán. Thấy thế, lão Côi rón rén nhích tới gần, ghé tai ông khách hỏi nhỏ:

- Đám này toàn những tay “bợm” cả đấy. Cụ không thấy ai trong số họ xứng đáng là bậc kĩ tửu, ứng vào cái triệu con chó “tam nhật nhất tiểu điểm” nhà tôi hay sao?

Ông khách vẫn tỉnh bơ, vừa ngó lướt qua đầu đám nhậu ồn ào, vừa trả lời:

- Tuyệt không có được người nào. Nhưng trong làng thì chắc chắn có. Hôm nay quả chưa gặp được duyên, có chờ thêm nữa cũng vô ích. À phải rồi, ông tính tiền rượu đi, rồi đến lúc ông sẽ biết người ấy là ai thôi.

Lão Côi vội vã xua tay:

- Ấy thôi thôi! Cụ gọi có một chén rượu với mấy hạt lạc rang, có đáng gì mà phải tính tiền. Coi như tôi được hân hạnh hầu cụ. Mà cụ cũng chỉ ngửi, chứ đâu có uống. Chén rượu còn nguyên kia kìa.

Ông khách nói:

- Ai bảo là lão đây không uống? Ông cứ thử xem.

Lão Côi nghe nói vừa cảm thấy khó hiểu, vừa nghi ngờ. Bèn cầm chén rượu đưa lên mũi ngửi. Kỳ lạ thay, chén rượu tuyệt không còn chút hơi rượu nào. Lão vội nhúng ngón tay trỏ vào, đưa lên mồm nếm thử. Quả nhiên, trong chén chỉ còn là nước lã. Quá khâm phục, lão thở phào một cái, vừa tấm tắc, vừa nói:

- Té ra cụ chỉ hít hết hơi rượu, chứ không uống. Nhưng tôi cứ xin được phép đãi cụ.
Ông khách nghe thấy thế bèn trỏ tay vào hũ rượu dựng trong quán bảo:

- Không phải là hít hơi rượu. Đó gọi là phép: “hấp tửu sương” (thu lấy hơi rượu). Lão không trả tiền chén rượu này, mà trả tiền cả hũ rượu kia kìa.

Lão Côi tưởng ông khách muốn mua cả hũ rượu để mang đi, bèn hỏi lại:

- Cụ định mang cả hũ đi à? Liệu có vất vả cho cụ không?

Ông khách vẫn tỉnh bơ giải thích:

- Ông nhầm rồi, lão không mang đi, mà đã dùng hết rồi.

Bấy giờ lão Côi chẳng còn hiểu ra làm sao nữa, chỉ biết đờ người ra vì kinh ngạc pha lẫn nghi ngờ. Lão ngập ngừng tiến lại phía hũ rượu, mở cái nút lá chuối ra. Hũ vẫn còn đầy, song không thấy hơi rượu xông lên như mọi khi, lão vội thò tay vào nhúng rồi lại đưa lên miệng nếm. Quả thực cả hũ rượu đã chỉ còn là nước lã. Lúc này sự kinh ngạc của lão đã biến thành một niềm kính sợ. Thì ra cái phép “hấp tửu sương” gì đấy của ông khách, đã hút hết chất rượu trong chiếc hũ để cách xa hàng mấy mét, biến nó thành nước lã. Thật là một việc chưa từng thấy bao giờ. Lão bắt đầu lờ mờ hiểu ra điều gì, vội vàng quay lại định vái ông khách.

Nhưng ông khách đã không còn ngồi đó nữa.

Trên cái đĩa còn sót mấy nhân lạc, có mấy đồng tiền rượu do ông ta để lại.

Lão Côi hấp tấp chạy ra khỏi quán, ngó đi ngó lại hai phía con đường làng. Không thấy bóng dáng ông khách đâu.

Bên trong quán, đám nhậu đã đến hồi cao trào, mấy gã trai cởi trần trùng trục, mặt đỏ như gà chọi đang bắt đầu lớn tiếng.

Lão Côi điếc tưng hửng quay vào, thừ người ra vì tiếc rẻ. Ông khách đi vội quá, lão còn chưa kịp hiểu thế nào là kĩ tửu, chưa kịp hỏi cặn kẽ về con chó, chắc không chỉ quý ở tiếng sủa và cái chỗ nó đái mà thôi đâu. Biết đâu còn những điều kì diệu nào khác thì sao?... Không biết ông ta có quay lại nữa không? Xưa nay, ngồi nghe bao nhiêu cuộc luận bàn huyên náo bên chiếu rượu, chung quy cũng chỉ là những chuyện đời vặt vãnh mà thôi, chưa bao giờ lão được nghe những chuyện kì lạ. Tự nhiên xuất hiện ông khách cổ quái này, lão linh cảm làng Cát sắp xảy ra chuyện gì. Từ bấy giờ, lão đâm ra hay nghĩ ngợi lung tung... 



Phần nhận xét hiển thị trên trang