Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Năm, 22 tháng 5, 2014

Cuối cùng thì Nga cũng để lộ thái độ cầu lợi của họ đối với Trung Quốc, phản bội tình hữu nghị với Việt Nam:


  • Novosti (РИА Новости) hoặc ngắn gọn là RIA là một trong những hãng thông tấn lớn nhất Liên Xô và Nga.  Mục tiêu của hãng – đưa tin một cách nhanh chóng, cân nhắc và khách quan về các sự kiện trên thế giới, truyền đạt tới công chúng quốc tế về cái nhìn của Nga đối với tình hình (Xem tại http://ria.ru/docs/about/index.html).
Việt Nam có chủ quyền không thể chối cãi với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa 
Việt Nam có chủ quyền không thể chối cãi với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa 
Với một bề dày truyền thống và sứ mạng phát biểu như vậy, bài báo “Những thỏa thuận giữa Moskva và Bắc Kinh tốt hơn mọi thông báo” (Соглашения между Москвой и Пекином лучше всяких деклараций) của Dmitri Kosyrev đăng trên RIA Novosti đã gây thất vọng sâu sắc cho người Việt Nam.
Bài báo mở đầu bằng những nhận định của các chuyên gia khác nhau trước chuyến thăm Trung Quốc của tổng thống LB Nga Vladimir Putin, và ngay sau đó là một tiểu mục về “Ukraine của Trung Quốc”.
Được Hội đồng Dân ủy Liên Xô thành lập ngày 24/6/1941, tức 2 ngày sau khi Cuộc chiến tranh Giữ nước vĩ đại của Liên Xô bắt đầu, Sovinformburo (tiền thân của RIA Novosti) đã khởi đầu bằng những tin tức chiến trận, phong trào du kích và hậu phương. Năm 1961, Sovinformburo được cải cách thành TTX APN, và trở thành hãng thông tấn hàng đầu của Liên Xô cũ. Năm 1990, tổng thống Liên Xô Mikhail Gorbachev ra lệnh trên cơ sở TTX APN thành lập hãng thông tấn “Novosti”, và vào tháng 9/1991 thì đổi tên thành hãng thông tấn Nga RIA Novosti.
Vào ngày 09/12/2013 Tổng thống Nga Vladimir Putin đã ra lệnh giải thể RIA Novosti và thành lập hãng tin quốc tế Rossiya Segodnya (International Information Agency Russia Today)
Tác giả Kosyrev khẳng định một cách đầy võ đoán – Việt Nam và Philippines đóng vai trò giữa Trung Quốc với Mỹ và phương Tây tương tự như Ukraine đã làm đối với Nga. Việc Trung Quốc sơ tán người dân sau những sự kiện đáng tiếc ở Bình Dương và Hà Tĩnh được Kosyrev cho rằng “Trung Quốc đã phải cứu công dân của mình khỏi bạo loạn ở Việt Nam”.
Đó là một góc nhìn kỳ lạ, cố tình gây căng thẳng và ở một mức độ nào đó, đổ thêm dầu vào lửa.
Tiểu mục tiếp theo trong bài báo “Việt Nam – không phải Trung Quốc”. Trong tiểu mục này, Kosyrev đã xuyên tạc sự thật khi viết dàn khoan là nằm trên thềm lục địa, cách bờ biển Trung Quốc 27 km và cách bờ biển Việt Nam tận 241 km, cố tình cho rằng quần đảo Hoàng Sa hoàn toàn thuộc về Trung Quốc. Trong tiểu mục này, Kosyrev có một đoạn nhấn mạnh đóng khung rất đáng phê phán. Xin dẫn ra nguyên văn và phần dịch:
“Tại sao Việt Nam lại là Ukraine của Trung Quốc: đó là lịch sử lâu đời. Hai ngàn năm trước, Việt Nam là một phần của Trung Quốc. Nhưng từ năm 880 – thì không còn. Tất cả các thế kỷ tiếp theo giới trí thức Việt Nam đã bỏ ra rất nhiều công sức để chứng tỏ: Việt Nam – không phải Trung Quốc.”
Đây là đoạn trích khiến cho bất kỳ một người dân Việt Nam yêu nước nào cũng phải thấy phẫn nộ. Đúng, trong lịch sử Việt Nam có khoảng đen của 1000 năm Bắc thuộc, đó là thời kỳ Việt Nam bị Trung Quốc cai trị, nhưng trước đó và sau đó, Việt Nam luôn là quốc gia độc lập với Trung Quốc, không bao giờ khuất phục trước họ. Mỗi khi có họa xâm lăng từ Trung Quốc láng giềng, đất nước này đều xuất hiện những người anh hùng đánh bật quân thù ra khỏi bờ cõi.
Không thể hình dung được, một nhà báo chuyên về khu vực Đông Nam Á với bao nhiêu năm kinh nghiệm lại có thể thể hiện sự yếu kém về mặt kiến thức như vậy. Đây chỉ có thể là sự cố tình bẻ cong sự thật lịch sử.
Tiếp đó, tác giả Kosyrev tiếp tục đưa ra những luận cứ rất đáng tranh cãi – tỉnh Quảng Đông của Trung Quốc rất giống với Việt Nam, ngôn ngữ của tỉnh này cũng khó hiểu đối với người Trung Quốc từ các tỉnh khác, cũng như tiếng Việt. Không thể hiểu nổi logic của tác giả trong luận cứ này.
Về tác giả bài báo Dmitri Kosyrev
Dmitri Kosyrev, sinh năm 1955, tốt nghiệp Viện Nghiên cứu châu Á và châu Phi của Đại học Tổng hợp quốc gia Moscow và Đại học Nanyang (Singapore). Nhà sử học, và Đông phương học. Đã từng là phóng viên khu vực Đông Nam Á (Malaysia, Singapore, Philippines) trong những năm 1988-1991 của tờ báo Sự thật (Pravda). Từ năm 2001 là bình luận viên chính trị của RIA Novosti.
Kosyrev cũng hoàn toàn bỏ qua những khác biệt về bề ngoài, ngôn ngữ, văn hóa giữa Việt Nam và Trung Quốc, để đưa đến một kết luận: tình hình làm cho Việt Nam trở thành một công cụ thuận tiện để tạo ra vấn đề cho Trung Quốc – như Ukraine đối với Nga.
Tiếp theo, trong bài báo nêu trên, tác giả thông tin về dự định muốn quay lại khu vực Đông Nam Á của Mỹ, và kết luận, tình hình hoàn toàn giống như những điều Mỹ đã làm ở Gruzia và Ukraine đối với Nga.
Chỉ có điều, vai đối trọng với Mỹ được giao cho Trung Quốc. Người đọc có thể thấy ngay – Kosyrev muốn biện hộ cho các hành động vũ lực trong tương lai gần của Trung Quốc, mong muốn hết sức ấu trĩ và hiếu chiến của tác giả.
Và trong phần kết luận, tác giả bài báo cho rằng, việc một số lượng kỷ lục các thỏa thuận được ký giữa Nga và Trung Quốc còn tốt hơn mọi tuyên bố to tát, vì những tuyên bố to tát này là dành cho công chúng, mị dân. Còn Nga và Trung Quốc thì hành động theo những gì họ thấy cần.
Không thể hiểu nổi một hãng tin được người Việt luôn xem là nguồn thông tin tin cậy về quan điểm của nước Nga đối với Việt Nam, khu vực và thế giới lại có thể dễ dàng quay lưng, phản bội lại niềm tin đến vậy.
Ngay từ khi được đưa lên trang web của RIA Novosti, bài báo này đã khiến cho nhiều người đọc Việt Nam, và không chỉ Việt Nam phẫn nộ. Những bình luận của độc giả ngay dưới bài báo, cũng như trên trang Facebook của RIA cũng cho thấy điều này.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Hiếu lại tiếc không còn con riếc trong ao!

Bị tước quyền '' phản động''

Trấn áp bọn " phản động"
 Hôm đang ngồi ở hàng xổ số, lô đề đầu phố, thằng Quân gọi.

- Ông ở đâu đi với tôi chút.



Nó đến đón mình, nhảy lên xe đi một đoạn, nó nói là nó đi đăng ký làm đại biểu quốc hội. Muốn mình đi cùng. Hai thằng đến chổ sở Nội Vụ hay con mẹ gì 
Anh Khanh Nguyen

đó ở Lê Thánh Tông. Lúc Quân làm giấy tờ, tự nhiên bọn ở đó cứ đòi mình cho biết tên tuổi. Mình nói là xe ôm đi theo, sợ đây có đường thông, khách quỵt tiền, nên phải vào đây canh. Nếu các anh trả tiền hộ thì em ra ngoài cũng được.

Bọn nó cứ ỉ ôi bảo mình cho biết tên. Mình nói tên xong chúng nó ghi lại.

Sáng hôm sau mình về ngõ, nhà chưa mở cửa, đứng vật vờ đầu ngõ. Gặp ông tổ trưởng đi tập thể dục, ông ấy hỏi.

- Nghe nói em định ra ứng cử à.?

Mình há mồm ngạc nhiên, mình chưir thề.

- Đm, chuyện gì lạ thế ông, tôi ra ứng cử đại diện cho lưu manh à.? Xưa nay tôi toàn làm lưu manh, giờ có cho lưu manh ra ứng cử nhỡ khi tôi khối phiếu. Ông không còn chuyện gì đùa hay hơn sao.?

Ông tổ trưởng thì vốn anh em từ bé, nên cười xoà.

- Thì hôm qua họp , ông bí thư nói, anh hỏi xem nếu đúng để còn họp tổ dân phố lấy ý kiến. Cái này  đúng luật mà.

Mình xua tay.

- Thôi ông đi đi, bao giờ cho bọn lưu manh tiền án, tiền sự ra ứng cử thì hãy hỏi tôi.


Rồi mình đi biểu tình nhiều, cứ mỗi lần sắp biểu tình mình để xe ở nhà Phất Lộc, từ nhà mình ra chỗ biểu tình hơi gần, bà Hằng thì ở luôn nhà mình cho tiện, anh em cũng hay qua chỗ Phất Lộc tụ. Cả phố xì xầm bọn mình là phản động. Một hôm sáng ngày ra, giữa ngõ đông người ăn sáng lại bị hỏi.


- Đi làm đấy à em.?

Mình trả lời luôn.

- Em làm gì đâu, giờ em làm phản động thôi mà.

- Ấy, chú đừng nói thế.

- Ồi xời, đằng nào thì phường họp chả tuyên truyền em thế, em còn có người ghi âm cho em đây này.

- Không ai nói chú thế đâu, chú đừng nghĩ.

Mình giở ví, trong đó có mấy trăm usd, lấy ra xoè cho mọi người xem.

- Em làm phản động thật, tiền nước ngoài cho đây này, đấy là công việc của em. Vừa rồi em đi biểu tình chống TQ xâm lược hơn 10 cuộc, phường bảo được tiền, nhưng em chưa nhận được, chủ nhật này em sẽ đi để nhận, không đi phải đúng hôm họ phát tiền thì dở hơi cho mình.

Từ đấy mình đi trong ngõ, nhác thấy bóng mình là hộ tich, tổ trưởng, bí thư rẽ ngang. Tránh gặp nhau chào hỏi lại chuyện nọ sang chuyện kia. Thằng Tí Hớn một hôm bỗng gật gù vẻ tâm đắc.
Ảnh Tí Hớn trong một cuộc biểu tình chống TQ
- Bố mình là phản động.

Mẹ nó quát.

- Sao con lại nói bố thế.

Tí Hớn bảo.

- Thì rõ là thế mà, bố chống  TQ, mà chính quyền này nghe lời TQ đánh người biểu tình. Hôm con đi biểu tình với bố, người ta chả làm gì, chỉ hô Hoàng Sa Trường Sa là của VN, thế mà bị bắt, còn bị đánh vào mồm.

Mẹ Tí Hớn gắt.

- Thôi, con bé, đừng nói linh tinh. Đấy không phải việc của con.

Bây giờ thì biểu tình lên báo ầm ầm, áo NoU lên báo chí ầm ầm, được ca ngợi là nhân dân thể hiện lòng yêu nước. Rồi thủ tướng nói không đổi chủ quyền lấy quan hệ hữu nghi viển vông, rồi đủ thứ tin tức chiến sĩ ta đối mặt với tàu TQ..... gọi hẳn TQ là dã tâm, là xâm lươc. Đã thế bọn Mỹ lại còn cho VN đến 18 triệu usd mua tàu cảnh sát biển nữa.

Thôi xong, thế này thì mất mẹ cái chức danh phản động rồi. Giờ mà ở nhà đi ra hàng nước chả dám hiên ngang như ngày xưa. Nhỡ đâu gặp hộ tịch, tổ trưởng, bí thư họ, sẽ không tránh lại còn bắt tay nữa thì còn gì là ''phản động '' nữa.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

THÊM PHÁT HIỆN MỚI XUNG QUANH CÔNG HÀM PHẠM VĂN ĐỒNG

t

Lời dẫn của nhà văn Phạm Viết Đào: 
- Ngày 14 tháng 9 năm 1958 lại là ngày Chủ nhật. Đây là ngày nghỉ hàng tuần của các cơ quan Nhà nước, trong đó có Chính phủ ?
- Tại thời điểm năm 1958, quyền hạn của chức danh Thủ tướng được quy định theo Hiến pháp năm 1946.
- Điều 44 Hiến pháp năm 1946 ghi rõ:

“Chính phủ gồm có Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Phó Chủ tịch và Nội các.

Nội các có Thủ tướng, các bộ trưởng. Có thể có Phó Thủ tướng”.
Quy định trên cho thấy: Thủ tướng chỉ là người đứng đầu nội các, là một thành viên trong số rất nhiều thành viên của Nội các, do Chủ tịch nước chọn và đưa ra Nghị viện biểu quyết. Các quy định khác của bản Hiến pháp xác nhận vị trí người đứng đầu Chính phủ khi ấy là Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa...
- Như vậy chữ ký của Thủ tướng Phạm Văn Đồng trong Công hàm 14/9/1958 hoàn toàn không có giá trị pháp lý, tư cách pháp nhân thay mặt Chính phủ Việt Nam theo Hiến pháp 1946!
Cảm ơn Ls Nguyễn Trọng Quyết đã phát hiện ra "cái bẫy" pháp lý  có giá trị này?

Ngày 14 tháng 9 năm 1958, tại sao?
Ngày 14 tháng 9 năm 1958 từ Hà Nội, “Thủ tướng Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa” Phạm Văn Đồng gửi Chu Ân Lai – Tổng lý Quốc vụ viện nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa có nội dung như sau:
“Thưa đồng chí Tổng lý,
Chúng tôi xin trân trọng báo tin để đồng chí Tổng lý rõ:
Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4 tháng 9 năm 1958, của Chính phủ nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, quyết định về hải phận của Trung Quốc.
Chính phủ nước Việt nam Dân chủ Cộng hòa tôn trọng quyết định ấy và sẽ chỉ thị cho các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc trong mọi quan hệ với nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa trên mặt bể…
Hà Nội, ngày 14 tháng 9 năm 1958 …”
Xét về mặt câu chữ cho thấy: văn bản này được làm tại Hà Nội vào ngày 14 tháng 9 năm 1958. Diễn giải theo trình tự có thể suy luận: Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã nhóm họp, biểu quyết nhất trí ghi nhận và tán thành tuyên bố về hải phận của Chính phủ nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa; cuộc họp có thể diễn ra vào ngày 14 tháng 9 năm 1958 hoặc trong khoảng thời gian 10 ngày trước đó (từ ngày 4 tháng 9 năm 1958 đến ngày 13 tháng 9 năm 1958). Trên cơ sở đó, Thủ tướng Phạm Văn Đồng ký văn bản thông báo quan điểm của Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cho Chu Ân Lai. Vì văn bản được ký vào ngày 14 tháng 9 năm 1958 nên đương nhiên, con dấu của Chính phủ cũng được đóng vào ngày này.
Nhưng ngày 14 tháng 9 năm 1958 lại là ngày Chủ nhật. Đây là ngày nghỉ hàng tuần của các cơ quan Nhà nước, trong đó có Chính phủ. Có đúng là ngày Chủ nhật 14 tháng 9 năm 1958, Thủ tướng Phạm Văn Đồng và bộ máy giúp việc vẫn tới Phủ Thủ tướng làm việc bình thường, soạn thảo và ký ban hành văn bản gửi Chu Ân Lai? Hay sự thật, văn bản này đã được soạn rồi ký sẵn một hoặc nhiều ngày trước đó, thậm chí là sau đó?
Quyền hạn của Thủ tướng!
Tại thời điểm năm 1958, quyền hạn của chức danh Thủ tướng được quy định theo Hiến pháp năm 1946.
Cần nhấn mạnh rằng, văn bản ngày 14 tháng 9 năm 1958 ghi chức danh “Thủ tướng Chính phủ” trong phần người ký là chưa chính xác. Điều này rất dễ gây ra sự hiểu lầm tai hại: Thủ tướng chính phủ là người đứng đầu chính phủ và có quyền đại diện cho chính phủ ấy.
Thế nhưng, quy định của Hiến pháp năm 1946 lại hoàn toàn không phải như vậy.
Điều 44 Hiến pháp năm 1946 ghi rõ: “Chính phủ gồm có Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Phó Chủ tịch và Nội các. Nội các có Thủ tướng, các bộ trưởng. Có thể có Phó Thủ tướng”.
Quy định trên cho thấy: Thủ tướng chỉ là người đứng đầu nội các, là một thành viên trong số rất nhiều thành viên của Nội các, do Chủ tịch nước chọn và đưa ra Nghị viện biểu quyết. Các quy định khác của bản Hiến pháp xác nhận vị trí người đứng đầu Chính phủ khi ấy là Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa.
Không có một điều luật riêng biệt quy định quyền hạn cụ thể của chức danh Thủ tướng và thậm chí, người giúp đỡ Chủ tịch nước là Phó Chủ tịch mà không phải là Thủ tướng. Nói cách khác, quyền hạn của Thủ tướng theo Hiến pháp 1946 rất hạn chế, bó hẹp trong một số công việc như: chọn Bộ trưởng để đưa ra Nghị viện biểu quyết; chọn thứ trưởng để Hội đồng Chính phủ chuẩn y; chịu trách nhiệm về con đường chính trị của Nội các. Bản Hiến pháp cũng không có điều khoản quy định về thẩm quyền của Nội các.
Thay vào đó, Hiến pháp 1946 lại quy định rất cụ thể quyền hạn của Chủ tịch nước và quyền hạn của Chính phủ. Trong số các quyền hạn của Chủ tịch nước theo quy định tại Điều 49, có các quyền hạn sau: 
- Thay mặt cho nước;
- Chủ tọa Hội đồng Chính phủ;
- Ký hiệp ước với các nước;
Rõ ràng, Chủ tịch nước mới là chức danh đại diện cho nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa nói chung, cho Nhà nước và Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa nói riêng trong quan hệ bang giao với các nước mà Cộng hòa nhân dân Trung Hoa không phải là ngoại lệ. Thủ tướng chỉ là một thành viên của nội các – một cơ quan của Chính phủ và không có các quyền hạn này.
Cũng không có bằng chứng cho thấy Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa và Hội đồng chính phủ khi ấy đã ủy nhiệm cho Thủ tướng Phạm Văn Đồng được quyền đại diện ra văn bản phúc đáp tuyên bố ngày 4 tháng 9 năm 1958 của Chính phủ nước cộng hòa nhân dân Trung Hoa.   
Chính phủ có họp?
Văn bản ngày 14 tháng 9 năm 1958 nêu rõ là: “Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ghi nhận và tán thành …”. Do vậy theo logic, sau khi có Tuyên bố về hải phận ngày 4 tháng 9 năm 1958, Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã có một cuộc họp và nội dung cuộc họp đã thể hiện ý chí “ghi nhận”, “tán thành” tuyên bố của Trung Quốc.
Như đã trích dẫn một phần Điều 49 Hiến pháp năm 1946, Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa có quyền “chủ tọa Hội đồng Chính phủ”. Dựa trên tư liệu từ báo Điện tử Đảng cộng sản Việt Nam (dangcongsan.vn), nhật ký làm việc của Chủ tịch Hồ Chí Minh từ ngày 04 tháng 9 năm 1958 đến ngày 14 tháng 9 năm 1958 được ghi lại như sau:
- Ngày 4 tháng 9 năm 1958:
+ Sáng: tiếp đoàn Đại biểu bóng đá  Campuchia;
+ Trong ngày, dự họp ban Bí thư bàn một số vấn đề về báo Nhân dân và công tác dân vận;
+ Trong ngày: tiếp đoàn đại biểu cán bộ trường thiếu sinh quân Quế Lâm và bệnh viện Nam Ninh;
- Ngày 5 tháng 9 năm 1958:
+ Dự họp Bộ Chính trị để bàn về công tác tổ chức Đảng, Chính phủ và công tác thủy lợi;
- Ngày 6 tháng 9 năm 1958:
+ Gửi đện mừng các vị lãnh đạo Quốc hội và Chính phủ Triều Tiên nhân dịp kỷ niệm lần thứ 10 quốc khánh nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Triều Tiên;
- Ngày 7 tháng 9 năm 1958:
+ Sáng: đi thăm công trình thủy nông Gia Thượng, xã Ngọc Thụy, quận 8 (huyện Gia Lâm), ngoại thành Hà Nội;
+ Cùng ngày, đến thăm Trường sỹ quan hậu cần;
- Ngày 8 tháng 9 năm 1958:
+ 7 giờ, tiếp đoàn đại biểu hòa bình Miến Điện;
+ Trong ngày: dự họp Bộ Chính trị bàn về đấu tranh thống nhất nước nhà;
+ Cùng ngày: gửi huy hiệu tặng ông Phùng Quang Chiểu và Thanh niên xã Thống Nhất (Lào Cai);
 - Ngày 9 tháng 9 năm 1958: không ghi lịch làm việc của Chủ tịch Hồ Chí Minh;
- Ngày 10 tháng 9 năm 1958:
+ Dự họp ban Bí thư để bàn về chính sách phân bón cho nông nghiệp và một số vấn đề khác;
+ Cùng ngày, ký quyết định số 86/QĐ giảm án tử hình xuống tù chung thân cho một phạm nhân can tội giết người;
- Ngày 11 tháng 9 năm 1958: không ghi lịch làm việc của Chủ tịch Hồ Chí Minh;
- Ngày 12 tháng 9 năm 1958:
+ Dự họp bộ Chính trị bàn về quản lý gạo vụ mùa năm 1958 và về con số kiểm tra kế hoạch Nhà nước năm 1959;
- Ngày 13 tháng 9 năm 1958:
+ Sáng: thăm lớp học Chính trị của giáo viên cấp II, cấp III toàn miền Bắc tổ chức tại Hà Nội;
+ Sau đó, thăm triển lãm mỹ thuật toàn quốc năm 1958;
+ Chiều: tiếp giao sư người Miến Điện U.Oong la và phu nhân;
- Ngày 14 tháng 9 năm 1958:
+ Bài viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh nhan đề: Công xã nhân dân, ký bút danh Trần Lực, đăng báo Nhân dân, số ra 1645 giới thiệu về quá trình hình thành và những đặc điểm của công xã nhân dân ở Trung Quốc.
Không có tư liệu phản ánh Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chủ tọa bất cứ cuộc họp nào của Hội đồng chính phủ trong khoảng thời gian từ ngày 4 tháng 9 năm 1958 đến ngày 14 tháng 9 năm 1958. Cũng không thể nói có việc Phó Chủ tịch nước thay mặt Chủ tịch Hồ Chí Minh để chủ tọa Hội đồng chính phủ vì thời kỳ này, không ai được bổ nhiệm giữ chức danh Phó Chủ tịch nước.  
Nếu điều này là sự thật thì văn bản của Thủ tướng Phạm Văn Đồng ghi “Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4 tháng 9 năm 1958, của Chính phủ nước cộng hòa nhân dân Trung Hoa, quy định về hải phận…” là hoàn toàn không chính xác; và tiếp nữa, Thủ tướng Phạm Văn Đồng cũng không có quyền đại diện cho Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa để hứa hay cam kết với Cộng hòa nhân dân Trung Hoa về mọi vấn đề có liên quan đến thực thi tuyên bố ngày 4 tháng 9 năm 1958 vì thẩm quyền này thuộc về Hội đồng Chính phủ và Chủ tịch nước Việt nam dân chủ cộng hòa.
Nếu điều này là sự thật thì văn bản do ông Phạm Văn Đồng ký hẳn nhiên không phải là “công hàm ngoại giao” như kẻ xâm lược đã thổi phồng, cường điệu hóa mà thực chất chỉ là một lá thư viết vội của cá nhân Thủ tướng nội các thuộc Chính phủ nước Việt nam dân chủ cộng hòa gửi Tổng lý Quốc vụ viện nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, có nội dung hoàn toàn không phản ánh quyết định của Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa khi ấy. Theo cách nói dân gian, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã nói dối Chu Ân Lai và thật lực cười khi Trung Quốc lại lấy những lời nói dối đó đó làm căn cứ để khẳng định chủ quyền phi lý đối với Hoàng Sa và Trường Sa.
**
Cho đến chừng nào Hoàng Sa và một phần Trường Sa vẫn còn nằm trong tay ngoại bang, lá thư viết vội của ông Phạm Văn Đồng vẫn được kẻ xâm lăng sử dụng như một bằng chứng để biện hộ cho hành vi bành trướng của chúng thì chừng đó, mỗi người con đất Việt vẫn kiên quyết và thẳng thừng bác bỏ văn bản vô giá trị này.
LS. Nguyễn Trọng Quyết 
Phụ lụcDanh sách Chính phủ mở rộng

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Lý sự kiểu Tầu









Người Tầu vốn vẫn được xem là giỏi lý sự. Xưa có hẳn cả một hạng người chuyên làm nghề thuyết khách, chu du khắp thiên hạ để rót mật vào tai người khác, khiến phần lớn họ bùi tai hoặc rối trí mà tán thành những đề xuất của mình. Bọn này là những kẻ xảo ngôn, đa mưu, lắm chước thuật do có chút kiến thức Nho, Y, Lý, Số, giỏi quyền biến trong ngôn từ, biết dò ý, đoán vẻ mặt đối phương để lựa lời tung hứng, kín kín hở hở, hư hư thực thực, nói xa xôi để nhắm tới cái ngay nhãn tiền, nói Đông mà nhằm tới Tây, nói Hươu mà phải hiểu là Ngựa…Chính cái lối dùng nước bọt để ăn thiên hạ, làm loạn thiên hạ, đã cho nước Trung Hoa một thứ văn hoá chính trị độc nhất vô nhị khiến nhân loại còn cứ phải cảnh giác. Phân tích một cách tỉnh táo, thì thuật thuyết khách là sự kết hợp của những tiểu xảo sau:
Thứ nhất: Tung hoả mù.
Thứ hai: Ngoa ngôn, áp đặt.
Thứ ba: Lừa dối.
Thứ tư: Đạo đức giả.
Thứ năm: Nhẫn tâm.
Tung hoả mù là làm cho đối tượng bị rơi vào mê hồn trận (về mục đích thật, về ý đồ, về động cơ…)
Ngoa ngôn, áp đặt là nói quá lên, làm cho đối phương bị hoang mang, thiếu tự tin vào bản thân mình, dùng xảo ngôn làm nhiễu thông tin, biến giả thành thật và ngược lại, rồi nhân đấy áp đặt quan điểm của mình. Lần đầu bảo có hổ ở chợ thì mọi người cười không tin. Lần thứ năm, lần thứ mười vẫn không ai tin. Nhưng cứ nói mãi, nói mãi rằng có hổ ở chợ, thì rồi sẽ có người tin. Một người tin thì một ngàn người sẽ tin.
Lừa dối là có nói thành không, không nói thành có, một nói lên mười, mười nói thành một, đổi trắng thành đen, tung tin vịt, bịa tạc, vu cáo… mà đối tượng không hề cảnh giác, chẳng những thế còn làm cho người ta tưởng mình đang thật lòng. Lừa dối là con bài chính của thuật thuyết khách Trunh Hoa.
Đạo đức giả là nói những lời nhân nghĩa, cao cả để tư lợi tầm thường, nói lời đạo lý để che dấu việc làm vô đạo, thể hiện vẻ ngoài quân tử, hiền từ để khỏi lộ ra dã tâm đen tối, nói tín để bất tín, vờ từ chối để cướp, vờ đau khổ để tận hưởng sung sướng… Nói tóm lại, trong lòng muốn thế này nhưng lại thể hiện bằng vẻ mặt, lời nói ra thế khác.
Nhẫn tâm là không từ một thủ đoạn nào, nếu nó đạt mục đích mình đặt ra, dù có thảm khốc đến đâu đi nữa, dù có khiến người khác đau khổ, điêu linh đến đâu đi nữa, thậm chí vì quyền lợi của mình, có thể hy sinh cả những quốc gia lân bang xóm giềng, gây cảnh đầu rơi máu chảy cho hàng triệu người.
 Tất cả những thứ đó cộng lại, kết hợp với tính cách của người Trung Hoa thể hiện đặc sắc nhất ở ba phẩm chất tiêu biểu: Lì lợm, tham lam, thâm nho- đã cho ra một thứ triết lý sống chỉ biết lợi cho mình. Để đạt mục đích, mọi việc đều có thể làm. Nói dối, nuốt lời, cãi xoá, đổi trắng thay đen, lừa lọc, vu vạ…Tất cả đều đáng là những phương tiện tốt.
Người dân Việt gọi đó là lý sự kiểu Tầu, thuộc như đi guốc vào bụng các Xếnh Xáng, cảnh giác nhưng không chấp, vì nó là thứ ranh vặt, đầy khiếm khuyết về trí tuệ, văn hoá.
Cứ tưởng cùng với thời gian, với biết bao là văn minh, tiến bộ về mặt văn hoá, lối sống cùng hàng trăm mối giao hảo dựa trên những hệ thống luật pháp là sản phẩm trí tuệ toàn cầu, mang tính toàn cầu, thì cái kiểu lý sự ăn người kiểu Trung Hoa như vừa kể, lý sự giỏi biến của người khác thành của mình, chỉ còn là thứ di sản của một thời mông muội, đểu cáng và chậm phát triển. Nào ngờ nó vẫn nguyên vẹn là thứ lý sự mà người Trung Quốc đem dùng trong kinh bang tế thế với lân bang láng giềng và thế giới đang đề cao đạo đức và sự minh bạch này. Ở đâu thì vẫn một phương châm “không từ thủ đoạn nào”. Không từ thủ đoạn nào để biến châu Phi thành thứ thuộc địa kiểu mới, chứa rác chính trị và nạn cướp bóc bằng võ Kung-phu; không từ thủ đoạn nào khi thọc chiếc gậy vào bánh xe Asean đang quay bình yên; không từ thủ đoạn nào khi dùng lưỡi bò tưởng tượng liếm dần lãnh thổ thật của các nước láng giềng…Việc lớn: Không từ thủ đoạn nào; việc nhỏ: Không từ thủ đoạn nào. Từ việc bé tí là làm ăn, buôn bán tiểu ngạch, đến việc to lớn là chủ quyền lãnh thổ, đều vẫn thấy nguyên cái lối ranh vặt kiểu Trung Hoa, thứ đáng lẽ phải bị coi là đáng xấu hổ về phương diện văn hoá, thái độ ứng xử. Nhưng nó vẫn được đề cao ngày ngày, bằng cả một bộ máy truyên truyền khổng lồ, kích động tới từ người nông dân đến các chính khách. Những chuyện hàng hoá Việt Nam bị các chủ buôn Trung Quốc ở cửa khẩu nại ra vô số lý do vô bằng cớ bắt bí để mua giá thấp, thậm chí gần như lấy không; chuyện xui nông dân Việt Nam nuôi đỉa rồi không thu mua; hay như phi vụ thu gom chân, móng, sừng, đuôi trâu, lá điều, rễ hồi…là những chuyện ở tầm tiểu tiết. Nhưng hoá ra nó chả khác mảy may với cách hành xử ở tầm quốc gia. Ví như mới đây, khi nghe ông Hồng Lỗi, phát ngôn viên của Bộ ngoại giao Trung Quốc thản nhiên chối bỏ trách nhiệm việc tầu có vũ trang của nước họ bắn cháy tầu ngư dân Việt Nam, lại còn lớn tiếng yêu cầu Việt Nam giáo dục ngư dân không vào “vùng biển của Trung Quốc”, thì mới thấy lý sự kiểu Tầu quả là sống dai dẳng và đang trở thành nguy hiểm cho thế giới. Bởi vì ông Hồng Lỗi cũng như bất cứ thượng cấp nào của ông không bao giờ dám mặt đối mặt đấu lý với bất cứ người dân Việt Nam nào về chủ quyền của Hoàng Sa. Đơn giản vì các vị thua lấm lưng trắng bụng ngay từ câu đầu. Trung Quốc dùng tầu lớn, súng lớn chiếm giữ Hoàng Sa của Việt Nam, sớm nhất là vào năm 1956, gần đây nhất là năm 1974, với lý do “giành lại” chủ quyền? Phàm giành lại cái gì thì cái đó đã có thời là của mình, bị người khác lấy mất?
Vậy Trung Quốc mất Hoàng Sa vào tay người Việt Nam từ khi nào?
Liệu có ai ở Trung Quốc trả lời được câu hỏi đơn giản của một trẻ em Việt Nam này?
Trung Quốc là nước lớn hơn Việt Nam mấy chục lần, từ cổ chí kim chỉ có Trung Quốc lấy đất của người Việt, chứ chưa bao giờ xảy ra chuyện ngược lại. Chả lẽ riêng với quần đảo Hoàng Sa, Trung Quốc lại chịu mối nhục dân tộc tới mấy trăm năm như vậy trước một nước từng bị họ coi là thuộc quốc?
Đây cũng là câu hỏi mà không người Trung Quốc nào dám trả lời.
Vấn đề rõ như ban ngày là, khi người Việt đặt chân lên Hoàng Sa cách nay bốn thế kỷ, thì quần đảo này chưa hề có dấu chân con người. Có lẽ lúc ấy người trung Quốc kiềng phương Nam vì cứ Nam chinh là thua (Mãi mãi vẫn sẽ như vậy, vì đó là ý Trời), nên không biết có Hoàng Sa? Từ bấy đến khi Trung Quốc lợi dụng cơ hội Việt Nam đang có chiến tranh, dùng vũ lực cưỡng đoạt, thì Hoàng Sa liên tục do người Việt quản lý và xác lập chủ quyền.
Điều này thì Trung Quốc biết rất rõ, biết rõ cả rằng ở bất cứ nơi nào thì họ cũng đuối lý (nếu không thì họ đã không cuống lên khi bị Philíppine lôi cổ ra toà quốc tế!). Biết rõ rằng, thuận theo lẽ trời và lẽ phải của công lý thì họ thua tuyệt đối. Biết rõ mà cứ cả vú lấp miệng em, nói toàn điều ngược đời, lu loa vu cáo, áp đặt dư luận thì đúng là chỉ có lý sự kiểu Tầu.
Thương thay cho nước Trung Hoa vĩ đại, mấy ngàn năm mà trong vấn đề ngoại giao, vẫn chưa thoát khỏi tầm vóc cũng như thái độ tự ti, yếm thế của một tiểu quốc. Thế giới còn phải mất nhiều công để dạy họ. Về phần mình, có lẽ chúng ta lại phải cần đến những bức thư Nguyễn Trãi gửi bọn Phương Chính bị vây khốn như lũ chuột trong thành Đông Quan 600 năm trước để nhắc họ về văn hoá cậy mạnh nói càn. Người Việt đại lượng có thể bỏ qua cho những lời lẽ kiểu như của ông Hồng Lỗi. Nhưng điều đó không có nghĩa họ sẽ bỏ qua cho hành động của những kẻ “vừa cướp vừa la làng”, đã nhẫn tâm và ngông ngược bắn vào đồng bào của họ, trong chính ngôi nhà mà họ sở hữu.
Bi kịch cho chúng ta là suốt cả ngàn năm, luôn phải tìm cách chiến đấu để sống yên ổn bên cạnh người láng giếng khổng lồ là Trung Quốc chưa bao giờ hết cơn đói lãnh thổ, lãnh hải. Nhưng thực tế đó cũng là bi kịch truyền đời của Trung Quốc, bởi vấp phải một quốc gia bất khuất vào loại nhất trên thế giới. Quần đảo Hoàng Sa ( và một phần Trường Sa) mà Trung Quốc đang chiếm giữ của Việt Nam, thay vì phục vụ tham vọng của họ là thôn tính biển Đông, có thể chính cái gai độc làm tiêu tan “Giấc mơ Trung Hoa” mà họ đang theo đuổi. Người Việt cần phải mạnh mẽ nhắc nhở với  láng giềng phương Bắc điều đó.



Tạ Duy Anh 

Phần nhận xét hiển thị trên trang