Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Năm, 8 tháng 5, 2014

Đáng buồn là các nước ngay trong khối im re: Lào, Căm Pu Chia, Thái Lan, S Malaysia....


luôn chứng tỏ cho chúng biết ý chí bảo vệ chủ quyền của chúng ta.
Dư luận quốc tế ủng hộ chúng ta, mạnh mẽ nhất, rõ ràng nhất chính là Nhật Bản qua lời Thủ tướng Nhật phát biểu ngay trong Hội nghị quốc tế lớn đang diễn ra tại Bỉ:
Thủ tướng Abe đã đưa ra các bình luận trên trong bài phát biểu trước các đại diện của NATO tại trụ sở liên minh quân sự này ở Brussels, Bỉ hôm 7/5.
“Chính sách ngoại giao và sự mở rộng quân sự của của Trung Quốc đã trở thành các vấn đề lo ngại đối với cộng đồng quốc tế, trong đó có Nhật Bản”, ông Abe nói.
Sự tăng cường chi tiêu quân sự của Bắc Kinh “thiếu minh bạch” và các quốc gia Đông Nam Á phải tăng cường chi tiêu quốc phòng của riêng mình để đối phó với Bắc Kinh, ông Abe nói.
“Một lần nữa, Nhật Bản mạnh mẽ kêu gọi kiểm soát nghiêm ngặt việc xuất khẩu vũ khí, các hàng hóa và công nghệ nhạy cảm để đảm bảo rằng những thứ đó không trở thành tác nhân gây mất ổn định trong khu vực”, ông Abe nhấn mạnh.
Cũng theo Thủ tướng Nhật, đã có “nhiều nỗ lực nhằm đơn phương thay đổi hiện trạng bằng vũ lực hoặc ép buộc” tại Biển Đông và Hoa Đông.
“Là một cường quốc có trách nhiệm trong khu vực, Nhật Bản sẽ tiếp tục kiềm chế. Nhưng cùng lúc đó, Tokyo cũng sẽ giữ vững luật pháp và bảo vệ trật tự trên biển, trong đó có tự do hàng hải và tự do hàng không”, ông Abe nói.
Thủ tướng Abe cho hay Nhật “có đủ khả năng và cũng có ý định nhằm đóng một vai trò tích cực hơn trước đây” nhằm đảm bảo hòa bình trong khu vực và trên thế giới thông qua sự hợp tác với cộng đồng quốc tế.
+Đáng buồn là các nước ngay trong khối im re: Lào, Căm Pu Chia, Thái Lan, S Malaysia....Có lẽ đang nghe ngóng và theo dõi....Chỉ có Singgapor lên tiếng phản đối Trung Quốc.


Phần nhận xét hiển thị trên trang

lãnh thổ truyện ngắn không có ngai vàng, và không cần nhà vua


Trong giới văn học và xuất bản ở Mỹ hiện nay, tuy trong thời đại internet và social media, truyện ngắn không được đánh giá trị cao như truyện dài. Những nhà văn trẻ thường bắt đầu với truyện ngắn như một cách “học nghề,” nhưng sau đó bước chân vào truyện dài như một lẽ dĩ nhiên. Alice Munro, Raymond Carver, Lydia Davis và Lorrie Moore được coi là ngoại lệ, vì đây là những nhà văn nổi tiếng với những cải cách trong thể truyện ngắn. Hiện số mệnh truyện ngắn trong giới văn học Việt trong và ngoài nước như sao? Truyện ngắn có được giới độc giả Việt đánh giá cao hơn truyện dài không? Tại sao?
Mỗi người viết phần lớn đều chọn truyện ngắn làm lối đi ban đầu. Nhiều nhà văn trọn đời chỉ viết truyện ngắn và trở thành những bậc thầy trong loại hình nghệ thuật này (Alice Munro, Raymond Carver, Lydia Davis và Lorrie Moore…). Khác với truyện dài hoặc tiểu thuyết, truyện ngắn không đòi hỏi nhiều về dung lượng. Nghĩa là không phải mất quá nhiều trí lực để tạo ra một cơ số nhân vật, tình tiết, nhiều bối cảnh, chương hồi, sự luân chuyển dai dẳng giữa quá khứ, thực tại, giữa người này với người kia… Chỉ cần một cốt truyện, một hai chi tiết, nhân vật, thắt nút, mở nút thế là đã có một truyện ngắn. Để viết ra một truyện dài phải mất nhiều tháng thậm chí cả năm trong khi để viết ra một truyện ngắn chỉ cần vài giờ (Chekhov từng viết một truyện ngắn khi đang tắm). Ngắn gọn, mất ít thời gian, dễ học đấy có lẽ là lý do nhiều người đã chọn truyện ngắn làm mảnh đất đầu tiên. Nhiều nhà văn sau khi tung hoành chán chê đều chuyển sang viết dài. Cũng không ít người bắt đầu nghiệp viết bằng truyện ngắn và trở thành người tình thủy chung với truyện ngắn (Chekhov, Edgar Poe, Raymond Carver, Maupassant). Việt Nam thì có Nam Cao, Thạch Lam, Nguyễn Minh Châu Lê Minh Khuê, Nguyễn Huy Thiệp… Việc bỏ ngắn viết dài không hẳn vì họ đã ngán truyện ngắn và muốn ra đường lớn. Bởi không ít các tiểu thuyết đều được phát triển từ truyện ngắn (Haruki Murakami với Truyện ngắn Đom Đóm và tiểu thuyết Rừng Na Uy). Sự thay đổi này có lẽ bởi chính sự hạn chế của truyện ngắn. Ngắn. Cô đọng. Kiệm lời tối đa. Việc để một vấn đề đi quá lâu, hoặc quá nhiều nhân vật (quản lí được hay không) đều sẽ phá vỡ mô hình của truyện ngắn. Truyện sẽ rườm rà, rối rắm đồi khi còn bị hỏng. Trong khi các nhà văn vẫn còn quá nhiều điều để nói thì bắt buộc phải kết lại. Và họ tìm đến truyện dài, tiểu thuyết như một cách để giải phóng bản thân, để nói hết những suy nghiệm, những trăn trở… Truyện ngắn giống như một thử nghiệm để tìm ra cái gốc để từ đó sẽ nảy mầm lên thành đại thụ. Giữa truyện ngắn và truyện dài vốn có nhiều độ chênh nhưng lý do truyện ngắn không được đánh giá cao có lẽ do chính sự hạn chế về dung tích, nghĩa là một truyện ngắn dù có kiệt xuất thế nào cũng không thể chứa quá nhiều. Truyện ngắn thường nghiêng về hình thái và bút pháp, còn truyện dài nặng về tư tưởng. Truyện ngắn không thể bao quát rộng mà chỉ có thể đi sâu, còn truyện dài có thể chứa cả hai. Trong truyện ngắn luôn cần thiết những “điểm mù”, truyện dài thì khai triển “điểm mù”. Sáng thêm, sáng một nửa, nhập nhoạng, mù hơn, mù một nửa hoặc mù hẳn…
Văn học Việt hàng năm vẫn có nhiều tập truyện ngắn được công bố. Số lượng tập truyện ngắn trong nước luôn nhiều hơn truyện dài hoặc tiểu thuyết. Nhiều cuộc thi truyện ngắn (Văn Nghệ, Văn Nghệ Quân Đội…) rồi thì trên báo, Web không lúc nào thiếu những mục về truyện ngắn. Chưa kể các hội nghị, các lớp tập huấn ngắn hạn…Vẫn có truyện dài nhưng không nhiều. Sự vượt trội này một phần do mạng thông tin quá phát triển, nhiều phương tiện giải trí, đọc ngắn sẽ tiết kiệm được thời gian hơn. Mặt khác truyện ngắn luôn hấp dẫn và dễ theo hơn so với các tiểu thuyết dài hơi. Còn việc đối chiếu so sánh thì rất khó vì mỗi thể loại đều có lợi thế riêng. Truyện ngắn là hạt giống của truyện dài, còn truyện dài là sự cất cánh của truyện ngắn.
(2) Chúng ta có Cung Tích Biền, Trần thị Ngh., Lê thị Huệ, Nguyễn Thụy Long, Nguyễn Xuân Hoàng, Sơn Nam, Bình Nguyên Lộc, Trần Vũ, Nguyễn thị Thảo An, Phạm thị Hoài, Linh Đinh, Lâm Chương (có thể coi Lâm Chương như một nhà văn viết novella – thể truyện giữa “ngắn” và “dài”), McAmmond Nguyễn thị Tú, Lê Minh Hà, Lê Minh Phong, v.v… là những nhà văn đặc sắc ở thể truyện ngắn. Yếu tố nào là yếu tố chung của các nhà văn viết truyện ngắn đã tạo ra sự chú ý từ độc giả? Ngoài ra, yếu tố nào là đã tạo cho họ vị trí cá biệt trên văn đàn? Những yếu tố này có phải cũng là những yếu tố định nghĩa cho sự sinh tồn của truyện ngắn?
Một nhà văn giỏi không hoàn toàn cần phải lôi kéo nhiều độc giả. Số lượng không nói lên gì. Sách ngôn tình có nhiều độc giả nhưng đấy chỉ là bề nổi. Điều cần nói ở đây độc là là ai? Và họ đến với nhà văn vì lẽ gì? Nhà văn mang lại cho họ điều gì? Sự thành bại của mỗi nhà văn là ở phong cách viết, lối đi và những đột phá chưa từng thấy. Trong đấy yếu tố quyết định lại là tư duy/tư tưởng. Trong văn chương chủ đề để viết không nhiều, chẳng quá để nói rằng mọi con đường đều có chân người, có nhà ở, có thành quách rồi. Phải nhìn xem các nhà văn làm gì trên lối đi của họ. Raymond Carver được mệnh danh là Chekhov của Mỹ, người đã tạo ra sự cách tân lớn trong truyện ngắn. Văn phong của ông ngắn gọn, cô đọng, nhiều đoạn như bị cắt lìa ra, thoại ít hoặc thoại có như không, không có nhân vật chính…Đấy là về hình thức nhưng nếu chỉ thế thì đã không làm nên một Raymond Carver bất tử của văn học Mỹ. Các tập truyện chính của ông “Em làm ơn im đi được không?” và “Thánh đường.” Những sáng tác của Carver giống như những đoạn phim được quay chậm, thật chậm trong một khán phòng không tiếng người. Ông không hề bình luận gì, nhưng trong mạch truyện chúng ta đều thấy sự bất toàn, oái ăm thậm chí tuyệt vọng của cuộc sống. phận người trôi mờ, chạm mặt nhau, rồi tan biến đi như bọt xà phòng. Truyện “Anh có phải bác sỹ?” nói về một phụ nữ góa chồng, có con nhỏ gọi điện cho một anh chàng mà mình không biết. Anh ta rõ ràng không biết cô gái nhưng vẫn nhận lời đến nhà gặp mặt. Anh ta đến rồi chán nản đi vì chẳng hứng thú, còn cô gái vẫn mong anh chàng quay lại. Về nhà nhận được điện thoại vợ và cô nàng nghĩ chồng mình bồ bịch nên đã về khuya. Chỉ có thế. Nhưng điều chúng ta nhận thấy ở đây là các rào chắn giữa các nhân vật. Người phụ nữ lạ/chàng trai/người vợ. Không hề có mối liên kết nào giữa họ. Từng nhân vật bị chẻ ra. Sợi giây mỏng để nối họ lại với nhau có lẽ là sự mong đợi. Người phụ nữ thấy thích thú vì được nói chuyện với chàng trai còn anh ta thì chỉ muốn về sớm. Đoạn tiến đưa chàng trai “…cùng lúc cô đóng sập cửa, suýt kẹt cả áo khoác anh. Một câu ngắn, đời thường nhưng sắc bén. Người phụ nữ đã quá cô đơn và cần đến một người đàn ông để khả dĩ bám lại vào cuộc sống. Chàng trai đã bỏ đi và còn thấy lạ lùng. Giữa hai người không chắc có ngày gặp lại. Sự liên kết giữ hai con người này chỉ tới đây. Độc giả sẽ chẳng băn khoăn vì giũa họ chỉ gặp lần đầu. Nhưng đọc dòng cuối cùng. Khi nhận được điện thoại vợ mình với vẻ đùa cợt anh cứ im lặng nghĩ ngợi về giọng của vợ. Tới đây độc giả không khỏi hãi hùng vì ngay đến hai con người tưởng chừng gắn kết được cũng tuột mất rồi. Việc Caver đứng ngoài cuộc, viết bằng chất văn lạnh lùng, thản nhiên khiến truyện ngắn thêm tàn khốc. “Người bố” là truyện ngắn hơn cả, khoảng hơn 2 trang, kể về nhân vật người bố đang ở trong bếp nghe được cuộc đối thoại giữa những đứa trẻ, người mẹ và bà nội bàn luận xem đứa bé mới sinh giống ai. Người bố được nhắc đến duy nhất một lần bằng một câu kể, nghĩa là ông ta đứng ngoài cuộc không hề tham gia cuộc đối thoại của đám đông kia. Chỉ bằng tiếng “suỵt” của bà nội cắt ngang cuộc đối thoại của mấy đứa trẻ. Chỉ một tiếng sụyt. Thật khẽ, thật nhẹ, hồ như còn chẳng bật nổi thành tiếng. Một bí mật liên quan được gợi ra: liệu người bố có phải là con của ông nội và đứa bé mới sinh có phải là con của người bố không? Bởi chỉ nếu xâu chuỗi lại 3 lời thoại của những người tham gia: “Đứa bé có đôi môi của ông nội” (lời bà nội), “Nó giống bố” (Lời một đứa trẻ), mà “Bố không giống bất cứ ai” (Lời một đứa trẻ khác) thì dễ dàng suy luận ra một sự thực rằng bố – đứa bé – ông nội, cả ba thế hệ trong một gia đình này hóa ra không liên quan gì với nhau. Họ không cùng huyết thống. Vậy điều gì sẽ diễn ra tiếp theo. Carver để lửng. Một trường hợp tương tự là hai vợ chồng tranh giành đứa con trong “ Cơ Khí Dân Dã”. Lấy tích xưa hai bà mẹ thật/giả kéo đứa con về phía mình, người mẹ thật vì sợ con đau sẽ buông tay trước. Tuy nhiên trong truyện Carver thì không có sự nhún nhường nào. Đứa bé bị kéo mạnh sang hai bên,“Và vấn đề được đinh đoạt theo cách ấy.”- Truyện kết trong sự ngỡ ngàng của người đọc. Cách kết thúc đột ngột này này đã khiến mỗi người phải suy nghĩ, thậm chí phải đọc lại nhiều lần. Mọi ấn định về cốt truyện, tình tiết, nhân vật ( truyện của Caver không có nhân vật hoàn toàn chính, thậm chí còn có những nhân vật có như không) đều bị phá vỡ. Thay vào đấy là ngôn từ, các tình tiết tưởng như vụn vặt, hời hợt. Mọi vấn đề đặt ra rồi nhà văn biến mất. Caver đã bỏ rơi độc giả và bắt họ tự tìm lối ra. Lối của Caver hoặc lối của chính họ.
Không ai có thể quyết định sự sinh tồn của truyện ngắn. Lãnh thổ truyện ngắn không có ngai vàng, và không cần nhà vua. Đấy là đất thiêng, một đại các tự không cần cửa. Mỗi nhà văn luôn sáng tạo hết mình, cống hiến trí lực để lãnh địa này thêm màu mỡ. Tất nhiên để xây lên những công trình quý mỗi người viết đều phải có một tư duy sắc bén. Tư duy, đấy là tố chất then chốt bởi có tư duy sắc thì mới có tư tưởng lớn mà tư tưởng chính là tầm vóc của nhà văn.
(3) Có cần nên có ranh giới giữa truyện ngắn và truyện dài? “Ngắn” và “dài” nên là bao nhiêu trang? Một truyện ngắn có thể mô tả một thời gian dài tương đương như truyện dài (10, 20, 50 năm), hay phải ngắn hơn? Nên chú ý việc Alice Munro đã “phá giới” về yếu tố thời gian, không gian, và quan điểm cá nhân của các nhân vật. Trong các truyện “Axis,” The Bear Comes Over the Mountain,” và “Runaway,” Alice Munro cho độc giả trải nghiệm một quãng thời gian dài trong đời sống của các nhân vật chính. Bà không áp dụng một quan điểm (point of view) nhất định trong cách kể truyện, mà di chuyển từ cái nhìn của từng nhân vật, bất kể đàn ông hay đàn bà, làm ta nghĩ đến phim Rashomon của Kurosawa. Trong bối cảnh văn học Việt Nam, đã có nhà văn nào “phá giới” giữa quy luật truyện ngắn và truyện dài chưa? Tại sao chúng ta chưa chịu phá giới thường xuyên hơn?
Nếu không có ranh giới giữa truyện ngắn và truyện dài (tiểu thuyết) thì hai thể loại đã là một. Truyện ngắn là một sự tiết chế, cô đọng, tập trung vào một chủ đề, hoặc một hai tình tiết còn truyện dài thì có biên độ lớn hơn, bao quát và có tầm vỹ mô (Trăm Năm Cô Đơn của Marquez nói về một phả hệ nhiều đời. Đi Tìm Thời Gian Đã Mất thì dài cả ngàn trang, với hàng trăm nhân vật…). Điều khác biệt giữa ngắn và dài là vấn đề trong đó. Có những truyện rất ngắn chỉ một vài trang thậm chí một vài dòng (truyện mini hoặc truyện chớp) nhưng nhiều truyện lại kéo dài tới hàng chục trang ( “Axis,” The Bear Comes Over the Mountain,” và “Runaway,” của Alice Munro) nhưng kể cả việc kéo dài câu truyện như vậy thì đấy vẫn chỉ là những truyện ngắn. Bởi văn phong của Alice Munro không hề giống với truyện dài. Nghĩa là bà viết cô đọng, có độ nén, ngôn ngữ tinh và có chắt lọc. Còn ở truyện dài thì không cần thiết những điều đấy. Mười năm, hai mươi năm thậm chí một trăm năm không thể quy một truyện ngắn thành truyện dài. Khi viết về một bông hoa, người viết truyện ngắn sẽ chọn cho mình những góc quan trọng, còn người viết truyện dài sẽ bày nhiều trò hơn (không chỉ là một bông hoa mà những thứ quanh nó, ai sẽ ngắm nó, ai ngắt nó, ai tranh giành nó, rồi khi bông hoa héo đi…) bên cạnh lối hành văn, ngôn ngữ là còn là chi tiết. Truyện ngắn rất thận trọng trong việc sử dụng chi tiết. Rất khó để tìm ra một truyện ngắn vượt quá mười chi tiết. Với truyện dài thì số lượng chi tiết cần nhiều hơn thế. Việc di chuyển điểm nhìn trong từng nhân vật trong các truyện của Alice Munro là một sáng tạo đáng nể. Như thế ai cũng có quyền nói, mỗi người đều có tư cách dẫn truyện chứ không bị bỏ ngỏ hoặc trở thành nền cho sự phát triển của nhân vật chính. Truyện ngắn “Trong rừng trúc” Akutagawa Ryunosuke đã cho toàn bộ nhân vật, thậm chí hồn người chết được lên tiếng. Kết cấu giống như những ghi chép trong một cuộc hỏi cung, cũng giống với sự bài trí thường thấy ở phim ảnh (chia đoạn…) Ở Việt Nam không nhiều người phá giới khỏi quy luật ngắn – dài mà hầu hết họ tập trung vào những cách tân, đổi mới (Nguyễn Huy Thiệp). Việc dài hay ngắn không quan trọng. Dài chưa chắc đã hay, ngắn chưa phải đã dở. Cần phải nhìn vào sự đột phá giữa ngắn và dài. Sự phá vỡ quy luật luôn là một thử thách lớn không chỉ ở giới cầm bút Việt Nam. Nhưng có lẽ ở nước ngoài thì nhiều hơn vì người Việt dù rất tài năng, giàu sáng tạo nhưng rất hiếm hoa tiêu. Đi sau bao giờ cũng chắc chắn và chắc ăn hơn.
(4) Trong một cuộc phỏng vấn với tạp chí The Paris Review, Alice Munro nói rằng “[Hồi còn trẻ] tôi đã mê đọc Eudora Welty, Flannery O’Connor, Katherine Ann Porter, Carson McCullers. Tôi nghĩ nhà văn đàn bà có khả năng viết về những điều quái dị, hoặc những chuyện bên lề … Còn tiểu thuyết vĩ đại trong giòng chính về hiện thực là giang sơn của đàn ông.” (“I loved Eudora Welty, Flannery O’Connor, Katherine Ann Porter, Carson McCullers. There was a feeling that women could write about the freakish, the marginal…. [But] the mainstream …. big novel about real life was men’s territory,” .) Hiện tượng “nhà văn đàn bà viết về những điều quái dị hoặc chuyện bên lề” và đàn ông “viết về những đề tài vĩ đại” có phản ảnh bối cảnh văn học Việt Nam của ngày hôm nay hay không? Hay hiện tượng này đã được đảo ngược, với một số nhà văn đàn ông Việt viết theo thể magic realism như một cách theo mốt, nhằm tránh bị kiểm duyệt, hoặc do nỗi “cô đơn” trong một thực tại nghiệt ngã của những biến cố xã hội và lịch sử mà Gabriel García Marquez đã đề cập trong diễn văn nhận giải văn chương Nobel năm 1982 của ông?
(5) Liên hệ với câu hỏi (4) ở trên. Những điều “quái dị hoặc bên lề” ở vùng Ontario của Alice Munro có còn “quái dị” khi áp dụng vào bối cảnh văn chương Việt Nam hay không? Tại sao một số độc giả Việt Nam nghĩ rằng truyện của Alice Munro có phần “ảm đạm”? Định nghĩa “ảm đạm.” Hiện nay, ai là những nhà văn “ảm đạm” của Việt Nam?
Văn chương vốn là loại hình nghệ thuật quái dị. Không quái dị thì sẽ thành bình thường mà cái thông thường là mồ chôn của nghệ thuật. Nói về sự ảm đạm trong truyện của Alice Munro, trước hết phải nhận diện độc giả. Họ đã từng trải qua thứ không khí ảm đạm mang tên Alice Munro chưa. Phần lớn nhiều độc giả Việt vẫn quen đọc theo lối truyền thống. Truyện rõ nghĩa, kết có hậu và đọc xong phải thấy trời xanh. Sự ảm đạm ở đây có thể hiểu là một không gian khó hít thở, hình ảnh mù mờ, nhìn thấy nhau nhưng khó chạm đến. Thật ra thì ảm đạm, hay đen tối không phải điều gây tranh cãi. Nếu ảm đạm mà khiến độc giả phải nghĩ, thậm chí soi xét lại bản thân (Hơi cá nhân một chút, khi đọc “Mất Tư Cách Làm Người” (Dazai Osamu) tôi đã “diện bích” (nghĩa đen) cả tuần trời thì có phiền phức gì không. So với những truyện đọc xong, gấp lại, rồi quên tiệt, khi hỏi lại chỉ nói một câu “Hay!” thì Alice Munro đáng đọc hơn. Nếu văn chương không làm con người biết đau thì đấy chỉ là hề. Ở Việt Nam hiện nay khá nhiều nhà văn ảm đạm đấy thôi. Nhưng ảm đạm theo nhiều nghĩa, hơi ảm đạm, một chút ảm đạm, ảm đạm vừa vừa, ảm đạm nhạt, ảm đạm đau thương… Còn nếu muốn thấy cái ảm đạm khiến con người phải trăn trở ngay cả khi sách đọc xong nhiều tuần như của Alice Munro thì có lẽ cần phải chờ thêm. Thời gian còn đấy. Đất Nam luôn có nhân tài.
(6) Yếu tố địa lý – vùng Ontario ở miền Trung của Canada – là bối cảnh chính trong nhiều truyện ngắn của Alice Munro. Yếu tố không gian/địa lý có quan trọng trong truyện ngắn Việt Nam hay không? Tại sao (không hay có)?
Không gian/địa lý rất quan trọng đối với mọi nhà văn, cả thế giới lẫn Việt Nam. Môi trường sống là tác nhân lớn đến những điều bạn viết. Việc sinh sống tại đâu, như thế nào, gặp ai, chịu ảnh hưởng sẽ định hình đặc trưng cho mỗi nhà văn (Chekhov, Garshin, Alice Munro, Raymond Carver…) Không ai có thể viết về cái chết nếu chưa chết hụt hoặc nhiều lần nghĩ về cái chết. Sự đau đớn, am hiển, mối hoài cảm, cô đơn thậm chí cả cái ác nữa sẽ dòn tụ lại và đổ thành chữ. Nhiều khi để hiểu một nhà văn chúng ta phải cần biết về cuộc đời họ. Linda Lê là nhà văn gốc Việt tôi thực sự ngưỡng mộ. Truyện ngắn và tiểu thuyết của Linda Lê đều âm u, tăm tối thậm chí nhiều trường đoạn còn lấy mất đi của tôi hơi thở. Tìm hiểu thêm thông tin tôi được biết Linda Lê sang Pháp từ nhỏ và đến nay dù trở thành một tên tuổi lẫy lừng nhưng lại không thể nói được tiếng Việt. Mất đi tiếng mẹ đẻ cũng là mất đi nửa nguồn gốc. Khi tuyệt vọng quá, muốn tự an ủi bằng một tiếng gọi mẹ cũng chỉ đành dùng tiếng Pháp. Điều này còn đáng sợ hơn cả luyện ngục của Đantê.
Riêng ở Việt Nam thì đã có Nguyễn Huy Thiệp. Đâu phải ngẫu ngiên mà Nguyễn Huy Thiệp đặc biệt chú trọng viết về nông thôn, miền núi và những vấn đề thuộc về quá khứ.


Phần nhận xét hiển thị trên trang

làm thế nào để giết một con bọ?

Truyện ngắn
Đông cứng và tan rữa. Hai trạng thái cùng lúc diễn ra và hắn cảm nhận một hậu quả, acid ứa ra đầy dạ dày và trào ngược thực quản. Đông cứng toàn thân và linh hồn. Tan rữa cũng toàn thân và linh hồn. Hắn không biết phải làm gì. Thằng kia, mày làm gì tao? Thằng kia bảo, tao bắt mày. Thằng kia không phải chỉ có một đứa. Bọn chúng lúc nào cũng đông. Cứ một thằng này, giống như hắn, thì có ba thằng kia. Thằng kia bảo, tao bắt tuốt. Bắt sạch. Sạch là một từ hay. Sạch là không còn ai. Không còn ai là sạch. Giống như rác ấy. Nhưng quét nhà ra rác. Rác không bao giờ hết. Vì thế, thằng kia tồn tại. Tồn tại là tao bắt mày. Mày có sợ tao không? Thế là đông cứng và tan rữa. Hắn đút cái đông cứng vào túi và lông bông. Còn cái tan rữa chẳng cất vào đâu được, hắn ném vào thời gian.
Năm 1979, thằng Việt Nam đánh thằng Khmer Đỏ khát máu diệt chủng. Thằng Trung Quốc đánh thằng Việt Nam dạy một bài học về tình anh em. Bài học nào cũng tốt. Học nữa học mãi. Một số người thua cuộc ở miền Nam muốn phục quốc. Nhưng phục quốc bằng súng thì súng hết đạn. Bạn phục quốc lên đoạn đầu đài hoặc đi tù mọt gông. Hắn bảo cay cú là không thức thời. Nước không phải của riêng ai, vì thế hãy hưng quốc chứ đừng phục quốc. Ai cho mày hưng quốc? Thằng kia nói hãy làm những gì bọn tao bảo, đấy là yêu nước. Thằng này cãi, tao có phải cừu đâu. Thằng kia bảo phủ nhận quyền lãnh đạo của tao thì chỉ có chết đến bị thương.
Năm 1972. Mùa hè đỏ lửa. Đêm tháng tư nóng như rang. Hắn nằm trong hầm trú ẩn. Cái nóng im lặng chờ chết. Tiếng bánh xích xe tăng T-54 làm rung chuyển mặt đất. Thành phố núi nín thở. Cả sự bèo bọt và bi tráng đều vô nghĩa. Chỉ có nỗi sợ hãi của con người là thật. Bỏ chạy. Bỏ chạy. Bỏ chạy.
Năm 1975. Xe tăng T-54 vào thành phố. Bỏ chạy. Bỏ chạy. Bỏ chạy.
Năm 1979. Hắn phát hiện ra mình nằm liệt trong luống đất và đông cứng thành củ khoai. Củ khoai ấy bị sùng. Bạn hắn bảo hỏng rồi. Không làm cách mạng thì chết. Nhưng làm cách mạng cần phải có khu an toàn. Thế là những thằng này đi tìm chỗ để làm an toàn khu. Vì là củ khoai, hắn biết không một miền đất nào có thể an toàn, nếu tách khỏi nhân dân. Nhưng nhân dân chỉ muốn bỏ chạy. Hắn tiếp tục là một củ khoai đông cứng và khô héo. Bạn hắn bảo không cách mạng bạo lực được thì cách mạng hợp pháp cho nó lành. Nhưng bất bạo động cũng bị bóp mũi. Thằng kia bảo muốn thở cũng phải được cho phép. Củ khoai dần tan rữa. Trong tù.
Người ta có thể bắt tù một củ khoai được không? Thằng kia bảo tao bắt tuốt. Bắt sạch. Vì thế, chẳng những củ khoai hay củ mì phải đi tù, mà gạo, đường, thuốc lá, rượu, thịt, cá (sống hay chết)… cũng phải đi tù.
Năm 1986. Củ khoai, củ mì, gạo, đường, thuốc lá, rượu, thịt, cá… có giấy tạm tha. Khi ấy, hắn vẫn còn mang hình dạng một củ khoai. Và đi qua bụng của nhân thế. Vì là củ khoai sùng, nên nhân thế bị lộn mửa. Hắn nói, bây giờ tao là văn chương. Cái thứ bị ói ra ấy. Và cái thứ bị ói ra ấy không chơi được với các loại học làm sang hay công tử làm dáng bụi đời. Tất nhiên, bọn chỉnh tề áo mũ cân đai tránh xa hắn.
Tại sao củ khoai bị sùng? Hắn hỏi Google và được trả lời như sau:
“Cây khoai lang dễ trồng, nhưng thường bị sùng (còn gọi là con bọ hà, con dím, mọt khoai lang) gây hại phổ biến và nặng nề, tỷ lệ củ bị sùng khá cao. Sùng thường phát sinh nhiều khi cây khoai đã lớn, ở giai đoạn hình thành củ đến thu hoạch.
Bọ trưởng thành là bọ cánh cứng, to gần bằng con kiến đỏ, dài khoảng 5-7 mm, đầu dài, màu nâu đỏ óng ánh. Bọ trưởng thành hoạt động ban đêm và sáng sớm, đẻ trứng ở những lỗ nhỏ trên dây và chui theo kẽ nứt của đất để đẻ trứng trên củ khoai.
Sùng non mình hơi dài, cong, màu trắng sữa, không có chân ngực và chân bụng. Sùng đục trong dây và củ, nhất là những củ lộ ra khỏi mặt đất. Dây bị đục sinh trưởng kém, chỗ bị hại trở nên dị dạng, phình to và nứt. Củ bị đục thối, có vị đắng không thể ăn được, vị đắng này là do độc tố mà củ khoai sản sinh ra để chống lại sự gây hại của sùng.” (http://congtyhai.com.vn/vn/default.aspx?cat_id=996&news_id=308)
Nếu hắn đã bị sùng như củ khoai, hắn không nên trách con bọ hà. Bởi con bọ, xét cho cùng, cũng chỉ làm công việc tự nhiên của nó là ăn hại. Hắn nên tự trách mình không đủ sức đề kháng.
Củ khoai sùng làm sao để cứu mình? Hắn tự nghĩ phải đấu tranh. Nhưng đấu tranh với bọ à? Chán chết. Bọ đâu nghe được tiếng người. Bạn hắn bảo phải tự xử thôi. Hắn phân vân giữa các khái niệm về quyền sống của hắn. Dân chủ? Nhân chủ? Nhân quyền? Mẹ kiếp, linh tinh quá. Ăn ngủ đụ ỉa theo sở nguyện là ok đúng không?
Ông Lý Đông A của học thuyết Duy dân, ông Ngô Đình Nhu của chủ thuyết Nhân vị đều đã có những cố gắng tạo nên bản sắc Việt. Nhưng cả hai ông duy tâm nội địa đã thua trắng ..duy vật hàng ngoại. Con đường nào cho hắn?
Bỏ của chạy lấy người. Tẩu vi thượng sách. Hắn thiền để trở thành cao cả. Nhưng tất cả mọi thứ thiền đều chỉ là minh họa cho con chim ẩn mình chờ chết. Hắn ỉa vào thiền.
Vật chất lên ngôi. Củ khoai đột biến thành xúc xích. Tròn đều và dài. Chui đâu cũng lọt. Củ khoai đã xa lìa mặt đất và chỉ ngồi trên bàn nhậu.
Trên bàn nhậu, ai cũng là thánh. Đã là thánh còn đấu tranh làm gì. Nhưng bạn hắn đến, bảo xúc xích và cục cứt là một. Bây giờ chính hắn lộn mửa.
Bỏ chạy. Bỏ chạy. Bỏ chạy.
Thế giới hoang vu. Một cảm thức trưởng giả. Hắn thù ghét thế giới, nhưng thế giới chẳng bao giờ quên hắn. Thằng kia nói, tao bắt mày. Tại sao lại bắt tôi? Thằng kia bảo mày phủ nhận bọn tao. Ờ nhỉ, hoang vu và trưởng giả là sao? Mày phủ nhận sự có mặt của bọn tao.
Tôi cam kết các anh đang tồn tại.
Thế đấy. Xúc xích hay củ khoai đều không có chân. Nhưng không chân vẫn phải chạy. Chạy là một giải pháp cho sự tồn tại. Khi chạy, mọi thứ giác quan căng lên. Nếu anh quăng mình như con sâu đo, anh sẽ cảm nhận được nỗi sợ hãi của mình đến đâu. Nếu anh trườn như con rắn, anh sẽ cảm nhận được sự hèn hạ của mình dường nào. Chơi tuốt. Hắn vừa quăng mình vừa trườn mình. Đây chỉ là vấn đề địa hình. Gặp thời thế, thế thời phải thế. Nhưng nói cho cùng, hắn thật sự không biết mình là ai.
Thằng kia bảo, mày không biết mày hạnh phúc à? Nếu chỉ thủ dâm thôi, tao cũng hạnh phúc. Củ khoai hay xúc xích tự nhai lấy mình. Nhưng cả xúc xích hay củ khoai đều không có răng, nó tha hồ tưởng tượng.
Giấc mơ về răng và lưỡi mới tuyệt vời làm sao. Cắn và liếm. Xúc xích tự nhủ nó sẽ ăn theo kiểu trẻ con ăn kem cây. Củ khoai thì nghĩ, muốn ăn cho ngon trước hết phải giết cho được con bọ hà.
Làm thế nào để giết con bọ hà khi củ khoai đã bị sùng? Hắn chợt rùng mình. Đông cứng và tan rữa. Trong dạ dày của hắn, acid ứa ra. Một cảm giác trào ngược rất sóng.
9.4.2014


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Trích đoạn: Nguyễn Hoàng với bài học vượt qua hiểm họa, dựng xây nghiệp lớn

 Vượt qua hiểm họa, chuyển họa thành phúc

            Có chí rồi, phải có mưu lược thì chí mới thành. Bài học cốt tử của cuộc đời Nguyễn Hoàng, đó là biết vượt qua hiểm họa, chuyển họa thành phúc. Cổ nhân bảo “trong họa có phúc”, điều này quả đã ứng vận trọn vẹn vào cuộc đời Nguyễn Hoàng. Mối họa của cuộc đời Nguyễn Hoàng không nằm ở đâu xa mà nằm ngay từ chính ông anh rể của Nguyễn Hoàng là Trịnh Kiểm. “Phủ biên tạp lục” của Lê Quý Đôn đã đề cập đến mâu thuẫn giữa anh em Nguyễn Uông, Nguyễn Hoàng với Trịnh Kiểm, khi cho rằng, Trịnh Kiểm “lại hiểu dụ bọn Lãng quận công (chỉ anh em Nguyễn Uông, Nguyễn Hoàng - chú thích của người viết) bỏ hết hiềm khích” (3). Cách viết của Lê Quý Đôn ở đây nghiêng về Trịnh Kiểm, cho rằng mối hiềm khích với Trịnh Kiểm là đến từ Nguyễn Uông, Nguyễn Hoàng. Ngược lại, “Khâm định Việt sử thông giám cương mục” của Quốc sử quán triều Nguyễn khẳng định mối họa đối với anh em Nguyễn Uông, Nguyễn Hoàng là đến từ Trịnh Kiểm: “Từ khi Triệu Tổ Tĩnh hoàng đế ta (chỉ Nguyễn Kim - chú thích của người viết) mất đi, bỏ dở công to nghiệp lớn, quyền bính trọng yếu trong nước đều do Trịnh Kiểm chuyên chế cầm nắm. Lãng quận công Uông làm tả tướng. Thái Tổ Gia Dụ hoàng đế ta (chỉ Nguyễn Hoàng - chú thích của người viết) thì cầm quân đánh dẹp, lập được nhiều chiến công, được phong đến Đoan quận công. Cả hai đều bị Trịnh Kiểm nghi kỵ. Rồi Tả tướng bị Kiểm làm hại. Còn Thái Tổ Gia Dụ hoàng đế ta thì tự lắng xuống, kín đáo giữ mình” (4). Nguyễn Ư Dĩ biết chuyện, bèn khuyên Nguyễn Hoàng giả bệnh điên, có những cử chỉ thất thường để Trịnh Kiểm hết nghi ngờ. Sau khi cho người đến hỏi Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm về cách tránh họa và được Trạng Trình “mách nước”: “Hoành Sơn nhất đái, vạn đại dung thân” (một dải núi ngang, có thể dung thân muôn đời), Nguyễn Hoàng đã tìm được lối thoát họa, đó là phải lánh mình ở phương xa. Được Nguyễn Ư Dĩ bàn bạc: “Thuận Hóa là đất hiểm trở kiên cố, có thể giữ mình được. Vậy nên nhờ chị là Ngọc Bảo (Ngọc Bảo là con gái Triệu Tổ và là chánh phi Trịnh Kiểm) nói với Kiểm, xin vào trấn thủ Thuận Hóa, rồi sau sẽ mưu làm việc lớn” (5), Nguyễn Hoàng đã cậy chị ngỏ lời cùng Trịnh Kiểm, xin cho đi vào phương xa. Thuận theo lời xin của vợ, Trịnh Kiểm đã dâng biểu tâu vua Lê Anh Tông cho Nguyễn Hoàng vào làm trấn thủ đất Thuận Hóa. Nhân việc cho Nguyễn Hoàng vào Thuận Hóa, Trịnh Kiểm muốn bắn một mũi tên mà trúng nhiều đích: vừa được lòng vợ và em vợ; vừa được tiếng với vua Lê là dùng người tài trí, mưu lược trấn giữ nơi vùng đất có “hình thể quan trọng”; lại vừa mượn xứ Thuận Hóa là nơi lam chướng nước độc, nơi quân nhà Mạc đang khuấy động để biết đâu trừ khử được Nguyễn Hoàng. Nhưng Trịnh Kiểm đã lầm với một người có chí lớn và biết chuyển họa thành phúc như Nguyễn Hoàng. “Trịnh Kiểm chỉ có ý tống khứ một địch thủ. Nhưng ông đã đi sai nước cờ. Và thay vì tống khứ, ông lại đã cho không Nguyễn Hoàng một vương quốc. Và một chuỗi các sự kiện diễn ra đã làm thay đổi toàn bộ lịch sử Việt Nam nói riêng và lịch sử Đông Nam Á nói chung” (6).

            Sau khi đã vào Ái Tử, Nguyễn Hoàng còn gặp nhiều mối họa khác và đều tìm cách vượt qua được. Theo “Đại Nam thực lục”, năm 1571, Trịnh Kiểm đã mật sai tham đốc Mỹ Lương, thự vệ Văn Lan và Nghĩa Sơn (3 vị này nhờ đóng thóc cho nhà Lê mà được làm quan) đánh úp Nguyễn Hoàng nhưng thất bại, Mỹ Lương bị chém, Nghĩa Sơn bị bắn chết, Văn Lan trốn chạy (ở đây “Đại Nam thực lục” đã nhầm, vì Trịnh Kiểm đã mất từ năm 1570, nên việc mật sai này có lẽ là của Trịnh Tùng, con Trịnh Kiểm). Năm 1572, tướng Mạc là Lập Bạo đem 60 binh thuyền vượt biển vào đánh cướp nhưng đã bị Nguyễn Hoàng dẹp tan, Lập Bạo bị giết. Năm 1592, vua Lê sai Trịnh Tùng đánh dẹp Mạc Mậu Hợp, lấy lại được Đông Đô Thăng Long, Nguyễn Hoàng ra kinh yết kiến, mừng vua Lê. Trải qua 8 năm ở Đông Đô, Nguyễn Hoàng đã giúp vua đánh dẹp quân Mạc, bọn tướng làm phản và thổ phỉ, lập nhiều công to. “Trịnh Tùng thấy thế mang lòng ghen ghét, 8 năm không cho về trấn. Gặp lúc ấy, bọn Ngạn, Đình Nga và Văn Khuê làm phản ở cửa biển Đại An, Thái Tổ Gia Dụ hoàng đế ta nhân đem quân tiến đánh, bèn đem tướng sĩ thuyền chiến trong bộ thuộc mình, phóng ra biển về Thuận Hóa” (7).

            Để vượt qua hiểm họa, ngoài việc tìm cách lánh họa ngay trên chính mảnh đất hiểm trở, tìm cách chống chọi, đánh thắng địch họa, Nguyễn Hoàng đặc biệt còn tìm cách hóa giải các mối họa, thông qua ứng phó khôn khéo, đối ngoại mềm dẻo. Khi về lại Thuận Hóa, sau 8 năm ở Đông Đô, với vua Lê, Nguyễn Hoàng đã để con trai thứ năm là Nguyễn Hải và cháu là Nguyễn Hắc ở lại làm con tin. Tuy vậy, sau khi Nguyễn Hoàng trở về, Trịnh Tùng đã gửi thư dọa trách: “Mới đây bọn nghịch thần Phan Ngạn, Bùi Văn Khuê, Ngô Đình Nga manh tâm bội phản, cháu và cậu đã lo liệu việc binh, sai đi đánh dẹp, chẳng ngờ cậu không đợi mạng, tự ý bỏ về, làm dao động nhân dân, không biết ấy là ý của cậu, hay là mắc kế bọn kia… Cậu, trong việc binh, thường lưu tâm đến kinh sử, xin hãy xét nghĩ lại, đừng để hối hận về sau” (8). Để làm dịu tình hình, Nguyễn Hoàng đã viết thư cho Trịnh Tùng hẹn kết nghĩa thông gia. Mùa đông năm 1600, Nguyễn Hoàng đã gả con gái là Ngọc Tú cho Trịnh Tráng, con cả của Trịnh Tùng (Trịnh Tráng lấy Ngọc Tú, tức là cháu mà lấy cô). Từ đó trở đi, Nguyễn Hoàng không ra Đông Đô nữa, khiến triều thần nhà Lê đòi xử trí, “nhưng Trịnh Tùng sợ việc dùng binh, không dám đả động” (9). Chắc rằng mối quan hệ cháu lấy cô “vượt ngoài khuôn khổ” giữa Trịnh Tráng và Ngọc Tú đã góp phần hóa giải, xua tan âm mưu động binh.
            Thông qua việc hóa giải hiểm họa, chuyển họa thành phúc, Nguyễn Hoàng đã tạo được cội phúc vững bền, dài lâu cho các chúa Nguyễn thừa hưởng ân sủng, trong đó đặc biệt chúa Nguyễn Phúc Nguyên không chỉ thừa hưởng mà còn có công lớn vun bồi cội phúc này phát triển, ngay chính từ đất Quảng Trị. Cội  phúc này lan tỏa cả đến những người nhà Mạc đang gặp họa, trong đó có người vợ họ Mạc của Nguyễn Phúc Nguyên. Mạc Cảnh Huống (em Khiêm vương Mạc Kính Điển, người đã từng đem quân vào đánh Thanh Hóa, Nghệ An năm 1570) đã theo Nguyễn Hoàng vào Ái Tử năm 1558, làm Thống binh, tham mưu đắc lực, được Nguyễn Hoàng tin dùng. Theo khảo cứu của L.Cadière (10), vào khoảng năm 1593, lúc nhà Mạc suy yếu, bị đánh đuổi khỏi vùng đồng bằng miền Bắc, phải chạy lên Cao Bằng, con gái Mạc Kính Điển là bà Mạc Thị Giai đã cùng gia quyến theo chú là Mạc Cảnh Huống vào ẩn ở chùa Lam Sơn, làng Cổ Trai, xã Vĩnh Giang, huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị, nhập tịch ở tỉnh Quảng Trị. Được bà Nguyễn Ngọc Dương, vợ Mạc Cảnh Huống (bà Dương là em vợ Nguyễn Hoàng, tức là dì ruột của Nguyễn Phúc Nguyên) tiến vào hầu Nguyễn Phúc Nguyên ở nơi tiềm để (chỗ ở của chúa khi chưa lên ngôi), bà Mạc Thị Giai đã được Nguyễn Phúc Nguyên yêu, quý trọng vì tính tình thuần hậu, đoan trang và đã lấy làm vợ. Sau này, bà được đổi sang họ Nguyễn và được tôn là Hiếu Văn Hoàng hậu. Bà sinh được 5 con trai và 3 con gái. Đặc biệt, trong số này, có 2 người con gái đã được Nguyễn Phúc Nguyên gả cho vua các nước lân bang để mở mang quan hệ đối ngoại. Năm 1620, Nguyễn Phúc Nguyên gả con gái là Nguyễn Phúc Ngọc Vạn cho vua Chân Lạp là Chey Chetta II. Nhờ ảnh hưởng mạnh mẽ của cuộc hôn nhân này, năm 1623, một phái bộ của chúa Nguyễn Phúc Nguyên đi sứ đến Chân Lạp đề nghị được lập cơ sở, được đặt một sở thu thuế hàng hóa ở Prey Kôr, tức thành phố Hồ Chí Minh ngày nay và đã được Chey Chetta II đồng ý. Năm 1631, Nguyễn Phúc Nguyên gả con gái là Nguyễn Phúc Ngọc Khoa cho vua Chiêm Thành là Pôrômê, nhằm tạo mối quan hệ giao hảo Việt-Chiêm, bảo đảm an ninh mặt phía Nam cho chúa Nguyễn. Theo L.Cadière, làng Cổ Trai đã ghi nhận và đánh giá rất cao công lao của bà Mạc Thị Giai đối với làng, sau khi bà qua đời, làng Cổ Trai đã sửa ngôi chùa Lam Sơn thành đền thờ để thờ cúng bà (11). Năm 1824, vua Minh Mạng cho đổi đền thờ này thành chùa Phật: “Cho xã Cổ Trai (thuộc huyện Minh Linh, Quảng Trị) 300 quan tiền. Cổ Trai là làng thích lý của Hiếu Văn Hoàng hậu, trước dân làng cảm ân đức Hoàng hậu lập đền thờ, đến nay tự nghĩ không dám thờ nhảm, tâu xin đổi làm chùa Phật. Vua theo lời xin và cho tiền” (12). Rõ ràng, ân đức của bà Mạc Thị Giai, tức Nguyễn Thị Giai, Hiếu Văn Hoàng hậu không chỉ nhuần thấm với đất Cổ Trai mà ân đức đó cả Đàng Trong và đất nước đều được thụ hưởng, khi bà đã cống hiến cho dân tộc hai liệt nữ Ngọc Vạn, Ngọc Khoa. Như vậy, việc chuyển họa thành phúc, đặc biệt là chuyển họa của cá nhân, dòng họ của Nguyễn Hoàng thành phúc của Đàng Trong, phúc của dân tộc đã diễn ra một cách kín đáo, khéo léo và thành công trên đất Quảng Trị và từ Quảng Trị.

Nhờ biết giữ mình, lánh họa, vượt qua hiểm họa, chuyển họa thành phúc, Nguyễn Hoàng đã đặt nền móng quan trọng cho công cuộc phát triển Đàng Trong, mở cõi của các chúa Nguyễn, bắt đầu bằng việc đặt phủ Phú Yên năm 1611. Từ năm 1611 dưới thời chúa Nguyễn Hoàng đến năm 1757 dưới thời chúa Nguyễn Phúc Khoát, trong vòng 146 năm, đất nước đã được mở rộng từ Phú Yên đến Cà Mau.

            Dựa vào lòng dân, vỗ về dân, yên dân

Để trụ vững ở nơi hiểm trở, nếm mật nằm gai, Nguyễn Hoàng đã dựa vào lòng dân. Lúc Nguyễn Hoàng cùng những người đồng hương ở Tống Sơn, những người nghĩa dũng ở Thanh Hóa mới vào đến bãi cát Ái Tử (theo một nguồn dẫn của Phan Khoang, Nguyễn Hoàng đến Ái Tử trong khoảng từ ngày 10/11 đến 10/12/1558), người dân ở đây đã đem dâng 7 chum nước trong. Nguyễn Ư Dĩ mừng rỡ nói: “Đấy là phúc trời cho đó. Việc trời tất có hình tượng. Nay chúa thượng mới đến mà dân đem “nước” dâng lên, có lẽ là điềm “được nước” đó chăng?” (13). Nhờ có chính sách vỗ về quân dân, thu dùng hào kiệt, sưu thuế nhẹ nhàng của Nguyễn Hoàng, bộ mặt vùng đất hiểm trở mà Nguyễn Hoàng trấn nhậm, chỉ sau hơn 10 năm đã có nhiều thay đổi rõ rệt. Đánh giá về tài trí, đức độ Nguyễn Hoàng, nhà bác học Lê Quý Đôn viết: “Đoan quận công có uy lược, xét kỹ, nghiêm minh, không ai dám lừa dối. Cai trị hơn mười năm, chính sự khoan hòa, việc gì cũng thường làm ơn cho dân, dùng phép công bằng, răn giữ bản bộ, cấm đoán kẻ hung dữ. Quân dân hai xứ thân yêu tin phục, cảm nhân mến đức, dời đổi phong tục, chợ không bán hai giá, người không ai trộm cướp, cửa ngoài không phải đóng, thuyền buôn ngoại quốc đều đến mua bán, đổi chác phải giá, quân lệnh nghiêm trang, ai cũng cố gắng, trong cõi đều an cư lạc nghiệp” (14), “công lao khó nhọc, thực như phên dậu của nhà nước” (15). Quốc sử quán triều Nguyễn viết: “Bấy giờ chúa ở trấn hơn 10 năm, chính sự rộng rãi, quân lệnh nghiêm trang, nhân dân đều yên cư lạc nghiệp, chợ không hai giá, không có trộm cướp” (16). Với tầm nhìn xa của người mở cõi, năm 1597, Nguyễn Hoàng (lúc này đang ở đất Bắc giúp vua Lê ứng phó với quân Mạc và bang giao với nhà Minh) đã có công văn lệnh cho Lương Văn Chánh, Tri huyện Tuy Viễn, trấn An Biên (nay thuộc tỉnh Bình Định) chiêu tập lưu dân vào khai khẩn vùng đất Phú Yên, đồng thời căn dặn không được sách nhiễu dân: “Kết lập gia cư địa phận, khai khẩn ruộng đất hoang cho tới khi thành thục sẽ nạp thuế như lệ thường. Nhược bằng vì việc mà nhiễu dân, điều tra ra sẽ bị xử tội”.

Người biết thu phục lòng dân, ắt được nhân dân che chở, giúp vượt qua hiểm họa. “Đại Nam nhất thống chí” xếp bà Phạm Thị Tôm, người huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình vào hàng liệt nữ vì có công cứu nguy cho Nguyễn Hoàng. Năm 1600, từ đất Bắc, Nguyễn Hoàng cùng tướng sĩ dong thuyền ghe theo đường biển về lại Thuận Hóa. Quân Trịnh đuổi theo. Thủy quân Nguyễn Hoàng phải chèo thuyền thật gấp, bị đứt quai chèo. “Lúc ấy Thị Tôm theo hầu, nhân có một mớ tơ sống, thị liền dâng để buộc chèo. Về đến nơi thị chết, Gia Dụ hoàng đế khen là có công, truy tặng Thị giá phu nhân, lập đền thờ dinh Cát. Dinh Cát nay thuộc Quảng Trị” (17).

Đáng chú ý, có những câu chuyện về “thế trận lòng dân” mà Nguyễn Hoàng xây dựng nên đã được sử sách kể lại mang màu sắc tín ngưỡng, huyền thoại. Đó là chuyện Nguyễn Hoàng lúc đóng quân bên sông Ái Tử để chống giặc Lập Bạo đã nghe vẳng lên từ lòng sông có tiếng “trao trao”, liền khấn thần sông giúp sức đánh giặc và được thần sông báo mộng, thông qua hình ảnh một người đàn bà mặc áo xanh, tay cầm quạt, đến thưa rằng: “Minh công muốn trừ giặc thì nên dùng mỹ kế dụ đến bãi cát, thiếp xin giúp sức”. Sau khi dùng kế mỹ nhân để diệt Lập Bạo, Nguyễn Hoàng đã phong thần sông làm “Trảo trảo linh thu phổ trạch tướng hựu phu nhân” và lập đền thờ. Năm 1601, Nguyễn Hoàng cho dựng chùa Thiên Mụ. Khi Nguyễn Hoàng đến đây, hỏi chuyện, được nhân dân địa phương truyền rằng: “Xưa có người đêm thấy bà già áo đỏ quần xanh ngồi trên đỉnh gò nói rằng: “Sẽ có vị chân chúa đến xây chùa ở đây, để tụ khí thiêng, cho bền long mạch”. Nói xong bà già biến mất. Bấy giờ nhân đấy mới gọi là núi Thiên Mụ. Chúa cho là núi ấy có linh khí, mới dựng chùa gọi là chùa Thiên Mụ” (18). Thông qua những chuyện kể như vậy cho thấy, khả năng thu phục lòng dân, huy động sức mạnh nhân dân của Nguyễn Hoàng đã được “siêu nhiên hóa”, “thiêng hóa”. Nói cách khác, Nguyễn Hoàng đã dựa vào tín ngưỡng, Phật giáo… nhằm “thiêng hóa” sức mạnh thu phục lòng dân của mình.
Không chỉ dựa vào dân, Nguyễn Hoàng còn “làm ơn cho dân”, vỗ về dân, yên dân, đặc biệt là biết “biến giặc thành dân”. Sau khi sai thuộc tướng là Mai Đình Dũng dẹp yên bọn thổ mục nổi loạn, cướp giết lẫn nhau ở Quảng Nam, Nguyễn Hoàng đã giao Mai Đình Dũng ở lại giữ đất và thu phục, vỗ yên tàn quân. Sau khi đánh thắng giặc Lập Bạo, Nguyễn Hoàng đã không giết hàng binh mà cho họ quyền được sống và khai phá vùng đất mới: “Chúa cho ở đất Cồn Tiên (tức tổng Bái Ân bây giờ) đặt làm 36 phường” (19). Cảm kích trước ân nghĩa lớn lao của Nguyễn Hoàng, về sau, thế hệ con cháu của những người được “tha mạng sống” ở các phường An Định Nha, An Hướng và Phương Xuân thuộc tổng Bái Ân đã dựng miếu thờ Nguyễn Hoàng ở An Định Nha (nay là thôn An Nha, xã Gio An, huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị).

Mở mang ngoại thương, hướng tầm nhìn ra biển

Nắm được lòng dân và dân đã thuận theo mình, để đưa Đàng Trong  phát triển, bài học và kinh nghiệm thành công, kinh nghiệm phát triển của Nguyễn Hoàng, đó là mở mang ngoại thương, hướng tầm nhìn ra biển. Dưới thời Nguyễn Hoàng, “thuyền buôn các nước đến nhiều. Trấn trở nên một nơi đô hội lớn” (20). Đặc sản tiêu Quảng Trị đã được Nguyễn Hoàng cho mua, chở cùng vây cá yến sào để đổi cho khách buôn lấy hàng hóa, sản vật. Theo Lê Quý Đôn, họ Nguyễn đã mua tiêu Quảng Trị “chở về phố Thanh Hà, bán cho khách tàu, không cho dân địa phương bán riêng” (21), “hồ tiêu cứ cho 100 cân làm một tạ, giá 5, 6 quan, khách Bắc và khách Mã Cao thường buôn về Quảng Đông” (22). Để chủ động “xúc tiến thương mại”, khuyến khích thương gia Nhật Bản đến buôn bán với Đàng Trong, Nguyễn Hoàng đã viết nhiều thư trao đổi, bàn bạc chuyện buôn bán với chính quyền Tokugawa (chính quyền quân sự ở Nhật Bản). Lời lẽ trong các lá thư ngoại giao vừa sang trọng, lịch lãm, vừa tha thiết, mềm mỏng, có những thư được gửi kèm theo các món quà tặng là những vật phẩm quý như kỳ nam, lôi mộc, khổng tước… chẳng hạn như thư này:
“An Nam quốc Đại Đô Thống Đoan Quốc Công xin ngỏ lời đến Nhật Bản Quốc vương điện hạ!
Thời gian qua, tình hình kết giao của hai nước diễn ra tốt đẹp. Năm ngoái, Ngài đã tặng tôi bảo kiếm, nay lại còn gửi tặng 10 trường đại đao quý, thật cảm kích vô cùng. Hy vọng thương thuyền của quý quốc làm ăn buôn bán ở nước tôi hanh thông thịnh vượng, có thể thấy đây là chốn an cư. Bản quốc sản vật quý không nhiều nhưng cũng xin kính tặng Quốc Vương điện hạ một ít (có danh mục kèm theo) gọi là lễ mọn.
Từ năm nay trở đi, bản quốc sẽ chú trọng mậu dịch, buôn bán với quý quốc, lấy việc thông thương an toàn làm chữ Nghĩa. Vạn vọng Quốc vương lấy việc kết giao để dựng xây sự phát triển như đã giao ước.
Một lời trong thư khó nói hết, xin được minh giám.
Ngày 11 tháng 5 năm Hoằng Định thứ 5 (Nhật Bản Khánh Trường năm thứ 9 - Tây lịch năm 1605)” (23).
Đặc biệt, Nguyễn Hoàng đã nhận một thương gia Nhật Bản là ông Hunamoto Yabeije (Di Thất Lang) làm con nuôi và viết thư báo cho phía Nhật Bản biết về mối giao hảo tốt đẹp này: “An Nam quốc Đại Đô Thống Đoan Quốc Công báo thư - Nhật Bản Bản Đa Thượng Dã Giới Chính Thuần trân quý! Thư đi thư lại giao hảo đã lâu, tấm lòng đã hiểu. Cảm thần được tính cách trung hậu của Di Thất Lang. Tôi nhận Di Thất Lang làm nghĩa tử; chăm sóc ân cần chu đáo mọi bề. Nay Di Thất Lang trở về quý quốc. Sẽ khôn nguôi nhớ, đành tặng chiếc áo tình cảm để mặc lúc đi đường. Rồi đây trong lòng thương nhớ xiết bao. Hy vọng rằng những tình cảm đó sẽ được chuyển đến Bạch Quốc Vương. Và năm tới như đã hứa Di Thất Lang sẽ chỉnh đốn ba thuyền sớm đến bản trấn giao dịch, như thế là lưỡng toàn ân nghĩa. Có một chút lễ mọn (Bạch quyên 2 thất, Kỳ nam 1 phiến) xin gửi tặng làm tin…
Ngày mồng 6 tháng 5 năm Hoằng định thứ 6 (1606) - Nhật Bản năm Khánh Trường thứ 10” (24).
Theo một nguồn mà nhà nghiên cứu Li Tana đã dẫn cho biết, trong số 84 thuyền Châu ấn của Nhật Bản đến buôn bán với An nam (chủ yếu chỉ Nghệ An ở Đàng Ngoài) và Đàng Trong từ năm 1604 đến 1635, có 70 chiếc đến Đàng Trong. Đáng chú ý, trong số 84 thuyền này, có 17 thuyền do Hunamoto Yabeije (Di Thất Lang), con nuôi Nguyễn Hoàng và Araki Sotaro, thương gia Nhật Bản, con rể Nguyễn Phúc Nguyên cầm đầu (theo Li Tana, năm 1619, Nguyễn Phúc Nguyên gả con gái cho Araki Sotaro, nhưng có lẽ Nguyễn Phúc Nguyên đã gả con nuôi thì đúng hơn, vì chiếu theo “Nguyễn Phúc tộc thế phả”, trong số tất cả 4 người con gái của Nguyễn Phúc Nguyên, không có ai được gả cho Araki Sotaro cả). Với việc đẩy mạnh ngoại thương, hướng tầm nhìn ra biển, chúa Tiên Nguyễn Hoàng và các chúa Nguyễn đã làm cho Đàng Trong hưng thịnh và chính sự hưng thịnh này đã góp phần quyết định tạo nên trọn vẹn dáng hình chữ S của Tổ quốc Việt Nam như ngày nay. Cái gốc, điểm tựa và bệ phóng cho sự phát triển và hưng thịnh đó, chính là mảnh đất Quảng Trị với vai trò quan trọng như A.Laborde, Công sứ Pháp tại An nam trước đây đã nêu qua bài viết “Tỉnh Quảng Trị”, rằng “nếu dòng họ nhà Nguyễn không xuất phát tại Quảng Trị, thì ít nhất sự nghiệp lịch sử của họ phải xem là có gốc từ mảnh đất này” (25), “Con người của triều đại này sinh ra từ đất Thanh Hoá, nhưng sự nghiệp của triều đại Nguyễn thì sinh ra từ đất Quảng Trị

Nguyễn Hoàn
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Bạn có muốn hiểu biết của mình nhiều chiều, phong phú hơn?

Khi khoa học nhìn thấy Đức Phật
Nhụy Nguyên


Bầu trời chúng ta đang ngước nhìn, khoa học ước đếm có hàng tỉ ngôi sao. Mà trái đất chưa thể lớn bằng một ngôi sao. Phi thuyền của nhân loại mới chỉ bay đến một số ngôi sao trong hệ ngân hà. Kinh Phật mô tả, một dải ngân hà được gọi là đơn vị thế giới. Cứ một ngàn dải ngân hà được tính là một tiểu thiên thế giới; một ngàn tiểu thiên thế giới là một trung thiên thế giới; một ngàn trung thiên thế giới là một đại thiên thế giới. Trong vũ trụ lại có trùng trùng đại thiên thế giới như vậy. Người tu đạt toàn giác (Phật) tức câu thông với vũ trụ, thấu suốt quy luật vận hành của vũ trụ, rồi đem sự thấy biết đó nói lại với các cõi nước thấp thua. Phật do vậy có thể hiểu đồng nghĩa với vũ trụ. Để thấy rằng Phật không sáng tạo ra vũ trụ, không chế định ra luật nhân quả luân hồi, mà vũ trụ vốn thường hằng từ vô thỉ dù cho Phật có ra đời hay không.

Những khám phá vĩ đại của ngành khoa học vật lý lượng tử đem đối sánh với kinh điển nhà Phật đã phần nào hé lộ chân tướng vũ trụ trong con mắt và sự hiểu biết của loài người. Khám phá về đời sống thực vật, cũng vui ghét giận hờn trước thái độ đối xử của con người. Một kẻ cầm dao chặt cây, từ trường đo được méo xệch chứng tỏ cây đang run sợ. Cũng cầm dao song người ấy chỉ giả bộ, từ trường phẳng lặng cho thấy cây đi guốc trong bụng người. Rồi cùng thể “vô tình” với cây là nước; khoa học phát hiện nước có biểu cảm, có “kiến, văn, giác, tri”; nước hiểu sâu sắc ý nghĩ cũng như mọi ngôn ngữ trên hành tinh. Thậm chí cốc nước đặt ở Nhật, nếu một người ở Việt Nam quán tưởng yêu thương hay hờn giận một chiều, khi đem kết tinh, chụp lại sẽ cho ra hình ảnh đẹp như kim cương hay xấu như trái thối ứng với niệm của người đã quán đó; có nghĩa không gian bị xóa nhòa. Việc thu tần sóng giữa trời đất cũng phần nào biểu hiện không gian đã bị thu hẹp đến mức nào. Nếu thật có khoảng cách không gian, thì trong một phần triệu giây sao cách đại dương có thể bắt được sóng của nhau? Và nếu thời gian là thật tại sao những sự kiện xảy ra trong quá khứ, bằng phát minh khoa học thu được nó vẫn vẹn nguyên tồn lưu trong không gian mênh mông này.
Người ta từng tách mẹ con nhà hươu ra nhốt ở hai quốc gia xa lạ. Hễ mỗi lần đưa một hươu con ra bắn thì từ trường của hươu mẹ (ở quốc gia khác) “rùng mình”! Trong nhà Phật tuyệt đối không ủng hộ thí nghiệm trái đạo này, song qua đây cho thấy ý nghĩ/ý niệm của động vật nói chung đều trong một sát na trùm phủ khắp hành tinh. Chúng ta sẽ rõ hơn qua “câu chuyện” sau: Nước Mỹ từng có hai vệ tinh đặt ở bắc bán cầu và nam bán cầu để đo từ trường của trái đất. Một ngày tháng 9 năm 2001 bỗng từ trường của trái đất cong vênh. Những nhà khoa học trực tại đây chưa từng thấy hiện tượng đột biến này. Đến lúc những chiếc boeing đâm vào tòa tháp đôi newyork gây ra đại họa thảm khốc, mới vỡ lẽ. Trong nhà Phật cũng có câu chuyện về một kẻ, do chuyên khởi niệm quái ác nên hễ đến trú ngụ nơi đâu thì vùng ấy gặp thiên tai. Nay một nhóm người ít ỏi phát ý niệm cực xấu, nguy cơ làm hại nhiều người đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến từ trường trái đất. Phật pháp từng nêu: sóng thần, động đất... cơ bản là do con người chiêu cảm nghiệp lực từ lòng sân hận, đố kỵ, tham si, giết hại chúng sanh quá tàn ác, gây nên “bão từ”... Hiển nhiên, và hết sức khoa học, nhưng khoa học thì vẫn chưa dễ tin sâu và chưa dễ lấy đó làm kim chỉ nam cho tương lai của quả địa cầu đang gồng mình trụ thế.

Khi một cái gì đó quá cao, vượt ngoài sức tưởng tượng của con người thì thường bị quy là mê tín... Khoa học không chứng minh được điều: kinh điển Phật giáo là "cổ tích"; mà sự thật đang tiến triển theo chiều ngược lại khiến kinh điển càng ngời sáng dẫu những câu chữ ấy được nói cách gần ba ngàn năm về trước. Cũng để thấy, tất thảy những gì Phật thuyết đều tơ hào không sai, và dĩ nhiên con người trong Tam giới sẽ có nguy cơ sa vào cảnh giới ác đạo một khi chấp chặt vào tri kiến thế gian.

Đạo Phật không hề có một chế định nào có tính ép buộc ai quy y, cũng không cản trở người quy y hoàn tục. Kinh điển là phác họa một cách chi tiết hình hài vũ trụ. “Tin thì tin không tin thì thôi” - đơn giản như một câu thơ vậy. Công việc không mệt mỏi của Bồ tát chúng là len lỏi vào các giai tầng xã hội thuyết giảng để làm hưng vượng giáo lý tối thượng, tiếp nối bổn hoài và huệ mạng của chư Phật. Nếu nhất nhất pháp chỉ có trong kinh điển là “bé cái nhầm”. Bồ tát cần thân gì để độ liền hóa hiện thân ấy. Một cao tăng từng ví, nếu Phật pháp là ngôi nhà ba tầng thì tầng thứ nhất là Nho, tầng thứ hai là Đạo, tầng trên hết là Phật. Ai chưa vào được Phật giáo Đại thừa hãy học kỹ Nho, Đạo trước. Lão Tử gần Phật nhất; Đạo ở mức thấp hơn nên dễ đứng vững trong kiến trúc thượng tầng xã hội. Cái "Không" (không là gọi cái bản thủy trời đất) trong Đạo Đức Kinh của Lão Tử xem ra còn hạn chế so với Tánh Không hay “sắc tức thị không không tức thị sắc” trong Bát Nhã. Tuy xét đến cùng, Lão Tử cũng là Bồ tát vô vi sanh tử rộng độ quần sanh. Một người tốt bình thường không chừng cũng là Phật “cải trang” trở lại nhân gian huống hồ đến bậc cao siêu như Lão Tử. Nghe “lời than”: Ta có mối lo là có thân này, đủ biết ông này đang thay Phật biểu diễn. Thế mới thấm thía ý câu nói của một vị tổ sư trong Tịnh tông: Chỉ ta là phàm phu lè tè sát đất, cần bao dung khiêm hòa đối đãi với tất cả vạn sự vạn vật thì mới mong nhập vào dòng thánh. Nếu ai đó nghĩ ta tốt thì ta là người tốt, nếu nghĩ xấu thì ngược lại... Trong mắt ta phải thật không có người xấu. Nếu A tàn nhẫn với B, thì A mới là người đáng thương hơn, bởi A vô minh và nghiệp A nhận sẽ nặng bội phần. Hãy thương lấy A, phát ý niệm thanh tịnh về A; cho những ai tương đồng mê lầm sớm tiếp nhận Phật pháp nhiệm màu.

Dẫu rằng, điều nhiệm màu luôn khó tin. Ngay đến người học Phật cũng còn tồn nghi; nghi Phật giáo Đại thừa, nghi pháp môn Tịnh độ. Học Phật chưa thấm thì mặt mũi như mèo sáng sớm. Thấm rồi lúc nào cũng vui. Buồn, người ta bảo học Phật khổ sở vậy theo làm gì (tội này ta phải gánh). Vui, mọi người nhìn vào sẽ bảo: ờ, học Phật quả lợi ích, nên theo… Mọi pháp Phật thuyết đều bình đẳng “vô hữu cao hạ”, tùy vào căn cơ từng người. Cùng bệnh cùng thuốc song không phải ai cũng lành là vì vậy. Một trong những thông điệp căn cốt Phật đưa ra là: “Tất cả chúng sanh đều có đức tướng, trí huệ Như Lai, chỉ vì vọng tưởng chấp trước mà không thể chứng đắc”. Hễ ai muốn thành Phật chỉ cần buông vọng tưởng và chấp trước, mà quan trọng nhất là vọng tưởng. Khoa học chứng minh, phần nhiều năng lượng con người tiêu hao bởi vọng tưởng. Một người nằm trên giường nghỉ ngơi mà đầu óc chồng chéo cuồng loạn với bao ý nghĩ (chưa cần nói đến ý nghĩ xấu) thì năng lượng tiêu hao chẳng thua người bửa củi ngoài sân. Nhiều vọng tưởng cần phải ăn nhiều ăn bổ để bù lại sức, ít vọng tưởng thì cơ thể cần chút cháo cũng khỏe mạnh minh mẫn; nhiều vị sư ăn ngày một muỗng cơm hay hạt mè chính là từ nguyên lý này. Vọng tưởng ít, điều dễ nhận thấy là đêm nằm vắng dần ác mộng, mơ mộng cái đẹp cũng thưa. Vọng tưởng có thể ví như bèo tấm trên mặt hồ (tâm). Bớt vọng tưởng, bèo (tạp niệm, giấc mộng) liền dãn ra tươi xanh, nước hồ nhờ vậy cũng bớt ô nhiễm.

Khoa học kiểm chứng vọng tưởng là kẻ thù tiêu hao năng lượng trong cơ thể người, lại không cách gì trừ diệt. Tịnh độ tông khuyên người niệm “A Di Đà Phật”. Bất kể lúc nào không vướng công việc buộc phải nghĩ suy, trong tâm đều vang lên câu hồng danh, một thời gian vọng tưởng tự khắc thưa bớt. Đây quả là điều kỳ diệu nhất trong những điều kỳ diệu. Tỉnh giác trong mọi lúc mọi nơi. Giả như Phật tử phải tham gia vào một cuộc vui. Giữa ồn ào náo nhiệt, Phật tử tùy duyên nâng ly “khai giới”, vẻ mặt cười nói hòa đồng mà trong tâm thì niệm “A Di Đà Phật” (niệm câu nào tai nghe rõ câu đó), vậy là thiền ngay trong cuộc thị phi nhơn ngã. Niệm Phật phải đến độ ví như nửa đêm tỉnh giấc, câu Phật hiệu tự nhiên vang lên; hoặc sáng ra choàng tỉnh tự hỏi: ủa, ai bật “máy niệm Phật” trong tâm mình rồi nhỉ. Đó là biểu hiện người tu đã có công phu, toàn vọng đang dần quy chân, đạo lộ hướng về cõi màu nhiệm thật sự đã hé mở trong mê lộ của tâm.
*
Đạo Phật không phải triết học, càng không phải là một tôn giáo. Đạo Phật là tấm gương phản chiếu quy luật vận hành của vũ trụ nhân sinh vô cùng tận nên trong nó sẵn chứa điều huyền nhiệm và tầng triết học siêu việt. Nếu chẳng tính căn duyên những kiếp trước (như trường hợp người ngu dốt lại một lòng theo Phật); nếu chỉ xét sở tri nhân thế, thì đến như Albert Einstein với bộ óc thông tuệ tuyệt vời mới tin nổi lời Phật.

Nhiều bậc chân sư thời hiện đại đã rất bội phục việc khoa học phát hiện ra ý niệm tạo nên cảnh giới. Người nào ngày đêm với một ý nghĩ (ước muốn) thường trực, đến quay cuồng, quy luật hấp dẫn tự nhiên theo đó sẽ tạo nên những điều kiện phù hợp để người ấy nắm lấy mà kiến tạo tương lai. Dĩ nhiên điều này còn phụ thuộc vào phước đức, căn mạng từng người. Một nhà khoa học từng vẽ ngôi nhà mơ ước, rồi ông xếp nó vào hộp, thời gian cứ trôi và gia đình ông chuyển đến nơi khác sinh sống. Một ngày sực nhớ bức vẽ, ông lấy ra xem bỗng giật mình: ông đang sống trong ngôi nhà với hình dáng kể cả những sắp đặt nội thất giống y ngôi nhà mơ ước nhiều năm trước. Trong Phật pháp gọi là “duy tâm sở hiện”, hay “Phật do tâm sanh”. Càng đúng với ai đó trong cuộc sống luôn với ý nghĩ và hành động tham (nguy cơ tạo cho mình cảnh giới ngạ quỷ ở kiếp sau),sân (nguy cơ tạo cảnh giới địa ngục), si (nguy cơ tạo cảnh giới súc sanh), v.v. Đáng lưu tâm: nguyên lý trên dễ đưa con người lệch đạo. Những mơ ước vật chất đa phần người đời mong đạt để phục vụ sự hưởng thụ, gần như là con đường ngắn nhất đưa đến khổ đau và cũng là con đường ngắn nhất đưa họ càng dấn thân càng lún sâu vào đất như ý một câu trong kinh Địa Tạng. Hôm nay nhà dột vách xiêu liền sốt sắng kiếm tiền sửa sang; hôm mai xe trục trặc liền nảy ý đổi cái mới, rồi tạm quên việc bố thí, trì giới... Những ước mong tầm thường nhiều khi vô tình khiến cho nguyện vãng sanh lui xuống hàng thứ yếu mà người tu không hay. Vậy là “giấc mơ con” đè nát nguyện lực vĩ đại trong tầm tay. Người tu là người biết nương vào tự nhiên, hài hòa cùng tự nhiên mà sống, không cầu gì ghê gớm ngoài nguyện chí thành vãng sanh ngay đời này. Đó là chánh kiến. Mọi ước muốn khiến nguyện vãng sanh Tây phương Cực lạc thế giới phải xếp hàng đều là phá kiến, tàn hoại cái thân thể vô ngần quý giá chẳng dám mơ sẽ có lại ở kiếp sau.

Một ý niệm phát xuất liền bao trùm, châu biến tận hư không pháp giới. Một cá nhân với những ý niệm cực xấu hoặc cực tốt trong suốt cuộc đời đều có ảnh hưởng đến cả cộng đồng. Mỗi cá thể không tách biệt mà có tác động nhất định đến “tính nết” của trái đất. Thế nên việc ta đóng cửa tha hồ làm việc xấu, tha hồ phát xuất ý nghĩ yêu ma quỷ quái, thật tai hại vì nó tiếp thêm sức mạnh cho nghiệp chướng. Ngược lại, một người luôn với ý nghĩ thuần thiện, cao hơn là không cả nghĩ thiện nghĩ ác mà tâm ý chỉ một câu “A Di Đà Phật”, vậy đã góp công lớn cho sự an bình của trái đất; cá thể ấy dẫu quanh năm suốt tháng không giúp đỡ ai song đó là của quý/hiếm giữa trời đất rồi. Thói thường phân biệt người này tốt kẻ kia xấu, không hay nếu ta cứ nhìn sâu Phật tính trong mọi chúng sanh chẳng những họ mà chính mình cũng mở lượng từ bi và ánh sáng tâm linh vi diệu rọi vào. Đây chính là điều khoa học cảm nhận được và khuyến cáo: Thay vì chống chiến tranh hãy ủng hộ hòa bình.

Trong các nghiệp, ý nghiệp nguy hiểm vô cùng. Ý nghĩ/ý niệm như những con mọt nghiền trong thớ gỗ; nhìn ngoài bóng bẩy trơn tru song khi phát hiện ra một chỗ hư, mới hay lòng cột đã rỗng. Thân tâm ta cũng sẽ mục ruỗng bởi nghiệp ý. Tâm khởi những ý xấu là rơi vào trận đồ của ma. Giả như đến cả ý nghĩ thiện mà ta cứ "nhấm nháp" mãi, thực ra đang bị nó xỏ mũi lôi vào mù mịt; ấy là bộ mặt của vọng tưởng; rồi đến phân biệt (ngon - dở, xấu - đẹp), chấp trước (nguy nhất là chấp ta (tâm) đồng nhất với thân). Pháp môn niệm Phật thù thắng ở cả phương diện đời thường đến giải thoát bởi, hễ nghiệp ý khởi lên thì thay ngay vào từng chuỗi “A Di Đà Phật” sẽ là thần dược số một đặc trị phiền não, tâm sẽ tự hướng đến những giá trị thanh cao thuần khiết.

Chuyên tâm niệm Phật, tâm sở thiện và bất thiện được quân bình, cao nữa thì tâm sở bất thiện triệt diệt. Công phu vượt thắng, niệm thiện cũng vắng nốt; là thời điểm tâm bắt đầu trong lặng rồi phát huy công năng vi diệu. Tâm sáng thân sẽ ít bệnh, hoặc như gặp bệnh hiểm nghèo vẫn có thể tự chữa bằng sự việc “không biết” trong thân mình có căn bệnh. Người niệm Phật chữa lành bệnh nan y kể không hết. Bác sĩ Ihaleakala Hewlen đã học được truyền thống tâm linh cổ xưa của thổ dân Hawaii chữa cho hầu hết người bệnh tâm thần bằng việc hướng vào nội tâm, trở về với "không", đến nỗi bệnh viện nơi ông làm việc phải đóng cửa vì không còn bệnh nhân. Nghĩa là bác sĩ không hề động chạm gì tới con bệnh mà chỉ quán thấy trong tâm, trong ý nghĩ của mình người kia hoàn toàn không có bệnh... Theo lý Phật, bệnh ấy (hay tính xấu ác của đối tượng) chỉ là tập tánh huân tụ lâu dài chứ không phải bản tánh. “Tự tánh hằng thanh tịnh”. Chỉ cần trở lại “cái không” thì dạng vọng tưởng kia biến mất. Bởi vậy một người có khối u, nếu lo lắng, tâm lý nặng nề khối u phát triển càng nhanh. Tập “quên” nó đi, sống vì niềm vui của người khác, và tốt nhất là chuyên niệm Phật, khối u ít nhất không phát triển trong thời gian lâu hơn nhiều so với cách chữa trị theo Tây y lại tốn nhiều tiền bạc. Sở dĩ người ta quên hẳn căn bệnh bởi tâm họ pháp hỉ sung mãn, vắng bặt vọng tưởng. Bệnh chỉ là sự ghé thăm của nghiệp thức, họ làm chủ được. Hòa thượng Quảng Khâm về già có lần đau nặng. Ngài bảo thân này như ngôi nhà tranh đã ọp ẹp, muốn nhập Niết bàn rồi trở lại cõi nhân gian thay một cái nhà bê tông cốt thép chắc chắn hơn. Các đệ tử quây lại ngày đêm tha thiết “thỉnh Phật trụ thế”. Thương tình Hòa thượng gật đầu, và thế là những ngày sau ngài khỏe khoắn như thường. Điều này chứng tỏ tâm tịnh sáng sẽ điều phục được thân. Chẳng những vậy tâm ấy còn điều khiển được cả tinh cầu... (Vấn đề này xin không đề cập thêm bởi dễ sa vào thần thông diệu dụng - điều thường khiến người tu có chút quả vị lạc trong ấm ma như Phật từng nhắc trong kinh Thủ Lăng Nghiêm. Cũng như một số nhà ngoại cảm nhìn thấu cảnh Thân trung ấm, bên cạnh cái tốt là để biết chết không phải hết, lại dễ khiến người đời hiểu sai lục đạo luân hồi khi thấy “họ” vẫn ở bên mồ chứ nào có đầu thai làm con gì. Thân trung ấm chỉ là một chút xíu trong vô biên cảnh giới Phật truyền giảng. Hiểu một nhầm thành “chư pháp thật tướng” thì khác gì vống lên trăm nghìn hỏi sao tam thế Phật không oan cho được!).
Những gì mà người trần mắt thịt như tôi tại thế gian chứng kiến là quá ư hạn hẹp; cho trên đầu ta không có gì lại càng thiển cận. Trong lúc nếu không tụt hậu về tri kiến, ta sẽ biết thế giới đã có nhiều công trình khoa học nghiêm túc khẳng định thuyết luân hồi là đầy đủ căn cứ. Ngày xưa ai dám tin cả thư viện sách chứa gọn trong cái USB nhỏ hơn cả ngón tay. Vậy nên dè chừng lời trong kinh điển; đừng tưởng con người to lớn sẽ không thể chui vào thân kiến ở kiếp vị lai nếu lầm đường lạc lối. Và đừng tưởng con vi khuẩn nhỏ vậy, thể tánh của nó không chứa tam thiên đại thiên thế giới. Hãy xem khám phá khoa học sau: Tấm hình cắt đôi; đưa (một nửa) vào chiếc máy khoa học, vẫn thấy nguyên vẹn bức hình đó. Cắt tấm hình ra chục mảnh, lạ thay, mỗi mảnh như vậy vẫn đầy đủ hình tướng chụp ban đầu. Điều này làm sáng chói một câu trong kinh Hoa Nghiêm: "Nhất tức nhất thiết" (một là tất cả). Cá thể chúng sanh có Phật tính. Vậy cái toàn giác đã có trong mỗi phàm phu. Buông xuống vọng tưởng, “vọng tận hoàn nguyên”, phàm phu thành Phật. Như vậy phàm phu trong tâm mình vốn dĩ là cả vũ trụ. Ấy chính là “tự tánh vốn trọn đủ” như Lục tổ Huệ Năng lúc chứng ngộ từng thốt lên.

Không học kinh điển nhà Phật nghiêm túc, nhất là không chọn lấy một Pháp môn mà rốt ráo thực hành đã khởi tâm bài bác ấy là vừa lội qua đầm lầy lại muốn dò lòng đại dương. 

Khi nhà thiên văn chụp được những thiên hà “hình xa luân”, “hình trụ”, “hình bán nguyệt”,… đúng như Phật tả về Hoa tạng thế giới thì chính là kinh điển Phật giáo lấp lánh dưới ánh sáng khoa học. Khi những khám phá làm rúng động nhận thức của loài người đơn giản chỉ là vô tình minh tường vài nhánh trong rừng kinh điển vô giá, liệu có cần đặt ra vô vàn câu hỏi trước lúc ta tin lời Đức Phật.



Phần nhận xét hiển thị trên trang

Trường Sa 24-4-2014: Bà Ngụy Văn Thà kể hiện tượng lạ giấc mơ và cầu siêu

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Trung Quốc huy động 80 tàu chiến xâm lược Việt Nam

Phần nhận xét hiển thị trên trang