Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Tư, 7 tháng 5, 2014

Tư liệu:

Một Góc Nhìn Nhân Vật Trí Thức Trong Tập Truyện Ngắn " Thuyền Viễn Xứ" Của Nguyễn Mộng Giác.
Tác giả : BAN MAI
"...Tôi phải xa lìa quê hương và phải tự mình chịu trách nhiệm đời mình, chịu trách nhiệm cái tự do của mình. Không còn ai bảo bọc tôi, không còn ai cấm đoán tôi. Thành công, tôi không biết khoe với ai. Thất bại, tôi không thể đổ thừa cho ai. Tôi trơ trọi, không mang trên người nhãn hiệu "nhân danh," "đại diện," "phát ngôn viên" để hưởng những ưu quyền (và ưu phiền) dành cho một đám đông, một cộng đồng xã hội.
Với ai khác không biết, với tôi, tôi thích được là mình, và không thích làm đại diện của bất cứ ai, không khoái nhân danh bất cứ ai, không muốn nợ nần bất cứ ai."
("Sống và viết tại hải ngoại" - Nguyễn Mộng Giác)

Sau tháng 4 năm 1975, xã hội miền Nam bị xáo trộn dữ dội. Sau khi thống nhất bằng quân sự, thể chế Xã hội Chủ nghĩa được áp dụng trên toàn quốc. Chính sách tập thể hóa nông nghiệp, ngăn sông cấm chợ, cùng với những khó khăn tất yếu sau chiến tranh làm cho cả nước thiếu ăn. Tiếp theo đó chiến dịch cải tạo công thương nghiệp, đánh tư sản, làm tiêu hủy ngành thương nghiệp tư nhân dẫn đến tình trạng kinh tế kiệt quệ.(1) Trên phương diện dân sinh, phần lớn người miền Nam làm việc cho chính phủ Cộng Hòa đều bị tập trung cải tạo. Từ người lính chiến, đến anh nhà văn, từ chị công chức, đến anh nhà giáo... đều bị nghi ngờ, tình nghi "thành phần nợ máu", "gián điệp CIA" cài đặt. Cuộc sống của nhiều gia đình đảo lộn. Vì sau khi đổi đời, họ bị thất nghiệp, nhiều người lâm vào cùng quẫn. Một số bị tịch thu nhà cửa, một số phải về quê sinh sống, một số phải đi "kinh tế mới" trên những vùng rừng hoang vu. Cảnh quan thành phố tiêu điều xơ xác, thiếu lúa gạo khiến dân phải ăn độn bo bo và mì sợi. Trầm trọng hơn nữa: Sự xơ xác tinh thần của trí thức miền Nam không còn được tự do trình bày suy nghĩ, không còn được tự do hấp thu tri thức nhân loại. Thay vào đó là những đợt học tập chính trị triền miên, theo một định hướng duy nhất: Chủ nghĩa Marx.

Năm 1979, khi Việt Nam tiến quân vào Campuchia chấm dứt chế độ diệt chủng Pol Pot và chiếm đóng xứ này, Trung Quốc liền tấn công biên giới phía Bắc để "dạy cho Việt Nam một bài học". Những người Việt gốc Hoa từ bao đời sinh sống trên đất Việt đột nhiên lâm vào cảnh khó xử. Nhà nước đề phòng "nội ứng", cho phép người Hoa nộp tiền, đóng thuyền, tự do ra khỏi nước. Phong trào vượt biên bán chính thức của Hoa kiều bột phát ồ ạt, cùng lúc với cao trào vượt biên của người dân miền Nam. Họ lũ lượt ra đi, không hẳn vì kinh tế, mà rất nhiều người vì khao khát tự do muốn thoát khỏi những áp đặt ràng buộc vô lý, mà kẻ chiến bại phải gánh chịu hậu quả sau cuộc chiến. Hy vọng tìm lấy cho mình, cho gia đình và con cái mình một tương lai tươi sáng, được đối xử bình đẳng, đầy đủ cơm áo và thụ hưởng tự do tinh thần trên những xứ sở bình yên trở thành giấc mơ lớn của trí thức, văn sĩ và cả dân lao động.

Trong bối cảnh lịch sử đó, cuộc đời của nhà văn Nguyễn Mộng Giác cũng không thoát khỏi những biến động chung của đất nước, trên cái nền lịch sử đã phân ly, vừa sang trang. Từng giữ chức vụ Hiệu trưởng trường trung học nam sinh Cường Để Quy Nhơn, Chánh sự vụ Sở Học chánh Bình Định, rồi chuyên viên nghiên cứu của Bộ Quốc gia Giáo dục Việt Nam Cộng Hòa, sau 30-4-1975 Nguyễn Mộng Giác thất nghiệp. Nhà văn đi bán sách cũ, đi làm công nhân cho một tổ hợp gia công mì sợi. Bị bắt đi tù 3 lần. Lần cuối, năm 1980 ông bị bắt ở tù bốn tháng vì làm việc "trong một tổ hợp mì sợi của người Hoa, Công an Sài Gòn nghi ngờ tổ hợp làm gián điệp cho Trung Cộng".(2) Từ trí thức bị tước quyền phát biểu, từ nhà văn bị tước quyền xuất bản, đến nhà giáo bị tước quyền dạy học, Nguyễn Mộng Giác rớt xuống đáy tuyệt vọng. Như rất nhiều người dân miền Nam khác, như hầu hết các nhà văn miền Nam thời kỳ này, Nguyễn Mộng Giác quyết định tìm tự do.(3)

Ngày 29-11-1981, Nguyễn Mộng Giác vượt biên, sau năm ngày sáu đêm trôi lênh đênh trên mặt biển mênh mông, giữa sống và chết, chiếc thuyền mong manh của ông may mắn được tàu giàn khoan của Công ty liên hiệp Tây Đức – Nam Dương vớt lên đưa vào đảo KuKu, Indonesia. Hơn hai tháng ở lại đảo KuKu, một nơi biệt lập với thế giới bên ngoài, không có gì làm ngoài việc chờ tàu đến đón chuyển về trại chính, Nguyễn Mộng Giác trở lại với công việc cầm bút. Tập truyện "Ngựa nản chân bon" gồm 13 truyện ngắn của Nguyễn Mộng Giác ra đời trong hoàn cảnh này. (4; tr7-8 )

Ngày 23-11-1982, Nguyễn Mộng Giác đặt chân đến nước Mỹ. Với một cảm giác "trống vắng, vô cảm" ghê hồn, như ông thổ lộ sau này. Sau hai năm làm việc cật lực, nhà văn để dành tiền tự xuất bản tập truyện "Ngựa nản chân bon".(4; tr18-22)
Ngay khi mới ra đời tập truyện ngắn đã được bạn đọc hải ngoại đón nhận trìu mến, bởi vì thế giới nhân vật mà nhà văn xây dựng chính là những cảnh đời mà hầu hết thuyền nhân Việt nào cũng từng nếm trải.
Do vậy, tìm hiểu thế giới nhân vật trong truyện ngắn của Nguyễn Mộng Giác, cũng có nghĩa là tìm hiểu tâm tình của một số đông những con người lưu lạc, bên cạnh triết lý nhân sinh mà nhà văn muốn gửi gắm qua từng nhân vật.
Thế giới nhân vật trong tập "Thuyền viễn xứ"(5) của Nguyễn Mộng Giác rất phong phú, đa dạng. Trong giới hạn của một bài viết ngắn, tôi chỉ tìm hiểu "một góc nhìn nhân vật trí thức", qua đó đối chiếu với các nhân vật trí thức của một số tác giả khác, từ đó đưa ra một cái nhìn khái quát về quan niệm nghệ thuật con người của nhà văn.
***
Nếu ai đã từng đọc tác phẩm của Nguyễn Mộng Giác, sẽ dễ dàng nhận ra một trong những nhân vật mà ông thường thể hiện là hình ảnh người trí thức thành thị. Có lẽ xuất thân từ nhà giáo, rồi nhà văn, nên tầng lớp mà ông tiếp xúc hàng ngày cũng thường là giới giáo chức, văn nghệ sĩ, công chức vì vậy ông am tường và thấu hiểu tâm tình, cuộc sống của họ.

Thái độ của người trí thức trước thời cuộc.
Vào những năm 50 thuộc thế kỷ trước, triết học phương Tây, đặc biệt triết học hiện sinh du nhập vào miền Nam gây ảnh hưởng sâu rộng đến suy nghĩ của tầng lớp thanh niên trí thức. Họ là những người luôn có ý thức tự tra vấn về ý nghĩa cuộc đời: Sống để làm gì? Chết rồi sẽ về đâu? Vấn đề tự sát có ý nghĩa gì, đời là hư vô, đâu là thực chất và huyền thoại của vấn đề, sống là vong thân hay phải ngụy tín, thỏa hiệp với tha nhân hay dấn thân vào đại cuộc, thiên chức của nghệ sĩ là gì, ta hợp tác hay đứng ngoài lề xã hội?... Ý nghĩa của bao nhiêu bất công đau khổ trên quãng đời ngắn ngủi. Những tra vấn ấy, theo họ cho đến suốt đời.
Trong truyện ngắn "Ngựa nản chân bon" Nguyễn Mộng Giác đưa ra những cái chết khác nhau của các nhân vật:
Cái chết thứ nhất là cái chết của một nhà văn già, không chấp nhận a dua theo thời cuộc để mưu tìm danh lợi đời thường, muốn tìm cứu cánh cuộc đời trong những niềm tin lớn lao, cuối cùng bế tắc về tư tưởng đành chọn cách đứng trên chồng sách cao treo cổ tự tử.
"Những cuốn sách quý tìm thấy ngay dưới chân xác chết là bộ Tứ thư bằng chữ Hán, Kinh Viên Giác và Lăng nghiêm do Viện Phật học Nam Việt xuất bản, bản Đạo Đức kinh xuất bản tại Hồng Kông, nam Hoa Kinh do Nhượng Tống dịch, bản dịch Kinh Coran bằng tiếng Pháp, bộ tư bản luận của Karl Marx, bộ Luận về Lịch sử của Toynbee, cuốn sách mỏng: Bài học lịch sử của Ariel& Will Durant, cuối cùng là bộ Kinh Cựu và tân ước." (6; tr 237)
Một người đã bỏ cả đời đọc đi đọc lại bao nhiêu kinh sách, bao nhiêu suy nghiệm nhân sinh nhằm cố gắng trả lời cho những câu hỏi lớn của tồn tại kiếp người: "Ta từ đâu đến? Sống để làm gì? Chết sẽ về đâu?...", kết quả thu hoạch, suy nghiệm của cả cuộc đời để lại trong bản thảo cuối là: "Một dấu hỏi, và một dấu than" - Bao nhiêu tinh hoa trí tuệ, đạo đức, niềm tin của loài người cũng không giúp ích được con người - đến chết ông vẫn còn thảng thốt giận dữ và chới với vì không tìm ra câu trả lời.

Cái chết thứ hai là hình ảnh người sĩ quan cảnh sát, mặc quân phục đứng trước tòa nhà quốc hội bắn vào đầu, không chịu nộp mình trưa 30/4/1975:
"…Viên trung tá ngã ngửa ra, nằm thẳng, đầu hướng về phía quốc hội. Thân ông oằn lên một chút, rồi nằm trở lại thế ngửa, hai chân dãn ra. Hình ảnh cuối cùng tôi thấy được là hai chân người hấp hối cố gắng... cố gắng hết sức để khép lại cho đúng thế nghiêm". (6; tr 247). Chính hình ảnh cho đến lúc chết vẫn cố gắng khép đôi chân lại giữ cho đúng tư thế nghiêm của người lính, mặt ngửa lên trời, đã nói lên phẩm tiết của vị sĩ quan này.
Cho dù là người chiến thắng hay người chiến bại, ở bên này hay bên kia, họ thật đáng kính khi vẫn giữ niềm tin vào lý tưởng mình phụng sự.

Cái chết thứ ba là "chết" mà vẫn sống.
Đó là hình ảnh một nhà văn từng có bài đăng trong sách giáo khoa: "Hằng năm, cứ vào cuối thu, lá ngoài đường rụng nhiều, và trên không có những đám mây bàng bạc, lòng tôi lại nô nức những kỷ niệm hoang mang của buổi tựu trường...(...)... Buổi mai hôm ấy, một buổi mai đầy sương thu và đầy gió lạnh. Mẹ tôi âu yếm nắm tay tôi dẫn đi trên con đường làng dài và hẹp." Tôi tin rằng bất cứ ai đã từng cắp sách đến trường đều không quên đoạn văn mở đầu trích trong bài "Tôi đi học" của Thanh Tịnh, viết năm 1941. Bài văn thấm đẫm chất nhân văn này, đã nuôi dưỡng bao tâm hồn trong sáng của bao tuổi hoa niên.
Thế nhưng, điều gì đã khiến cho nhà văn Thanh Tịnh, sau bao dâu bể của đất nước trở thành một "xác ướp không đầu". Sau này, Trung tá Thanh Tịnh chuyên đi làm báo cáo viên ca tụng chủ tịch Hồ Chí Minh. "Đi đâu, lúc nào, bao nhiêu năm nay, Thanh Tịnh chỉ nói về đề tài ấy, gọt dũa luyện tập từng câu từng chữ, để ý đến cả cách nhíu mày, cách đứng nghiêm, mắt nhìn lên chiêm ngưỡng khi nhắc đến Bác. Nghe Thanh Tịnh báo cáo một lần, lần sau đến nghe nữa có thể đoán trước trung tá sắp khóc ở đoạn đó, sắp cúi đầu im lặng ở đoạn kia, sắp ưỡn ngực hô hào ở đoạn khác... Đúng là một cái xác ướp biết đi biết nói, quan trọng nhất là ca tụng không biết chán. So sánh với các cung phi bị giam kín nơi lăng tẩm các vua chúa đã chết thời xưa, Thanh Tịnh còn may hơn nhiều. Nhưng một nàng cung phi mới bị ông hoàng si mê bỏ quên, đã dám nghĩ:
"Dang tay muốn dứt tơ hồng
Bực mình muốn đạp tiêu phòng mà ra."
Nhưng Thanh Tịnh có bao giờ dám nghĩ thế không!
(6; tr 264-271)

Qua ba cái chết tiêu biểu trên, Nguyễn Mộng Giác muốn lý giải về vấn đề chọn lựa thái độ sống của người trí thức trước hoàn cảnh xã hội.
Nhà tư tưởng sau khi đã bỏ cả đời nghiên cứu những tinh hoa trí tuệ loài người, cuối đời bế tắc, không chấp nhận, quyết định tìm cho mình cái chết. Có người không đồng tình. Có người cho đáng kính. Thà chết không thỏa hiệp. Để lại cho đời một lô sứ điệp.
Ông trung tá cảnh sát bắn vào đầu, không chịu nộp mình, để giữ niềm tin về một lý tưởng tự do, dân chủ mà ông phụng sự. Ông chết nhưng khí tiết ấy thật đáng kính trọng. Có không ít những sĩ quan ở thời điểm khốc liệt đó, quyết chiến đấu bảo vệ lý tưởng dù biết rằng sẽ chết, thì cũng không ít những tướng tá, kẻ buôn bán chính trị, sẵn sàng trốn chạy, vứt bỏ binh sĩ của mình bơ vơ trước làn đạn đối phương.
Thế nhưng, nhà văn Thanh Tịnh, một người ở tư thế chiến thắng - vì sao lại biến thành một "diễn viên kịch", tại sao không chọn hành xử đúng với lương tâm mình, chọn làm chính mình?
Chính thái độ chọn lựa cách sống thể hiện rõ nhân cách của một con người.
Cuộc sống quanh ta ngày nay còn có bao người trí thức đang tự nguyện làm cái xác ướp ấy, còn có bao người dám sống với lương tâm mình?
Hơn nửa thế kỷ trước, trong tác phẩm "Con ngựa già của Chúa Trịnh" sáng tác năm 1956, Phùng Cung kể về một con thiên lý mã được chúa Trịnh yêu dấu đem vào cung. Rồi nó được đóng cương, gắn hàm, đeo hai cái lá đa bằng da che ngang hai bên mắt. Từ đó, con thiên lý mã được ăn ngon ngủ yên, nhưng không còn thấy được trời xanh, mây trắng bao la nữa. Nó chỉ được nhìn về một hướng và trở thành con ngựa kéo xe mang kiếp động vật của nhà Chúa. Phùng Cung viết: "Tất cả những cảnh vật trước mắt nó đều nhỏ lại, và thẳng tắp. Nó nhìn cánh đồng, cánh đồng cũng chỉ là một đường thẳng. Rồi cây cỏ, núi đồi cho đến bầu giời xanh cũng chỉ thu lại là một đường thẳng. Nó không ngờ hai chiếc lá đa che hai bên mắt chỉ cho nó nhìn được một chiều." Nhưng con ngựa già không chấp nhận nhìn một chiều. Kết thúc câu chuyện "con ngựa già lấy hết sức tàn, ngốc đầu lên cao, co co hai chân trước, thẳng thẳng hai chân sau, chừng như cố để giữ lấy cái thế cao đầu phong vĩ." (7)
Hình ảnh con ngựa già mà Phùng Cung muốn phản ảnh, chính là thái độ phản kháng của người trí thức, không chịu sự "uốn nắn" của quyền lực, không chấp nhận cái nhìn một chiều. Nếu có loại trí thức khuất phục trước hoàn cảnh, không dám là chính mình để hưởng bổng lộc thì cũng có người trí thức dám làm người, sống đúng với chính mình, chấp nhận tù đày như Phùng Cung, Trần Dần, hay sống một đời khổ cực, đắng cay như Văn Cao.

Bi kịch của người trí thức Việt Nam
Không phải đến Nguyễn Mộng Giác nhân vật trí thức mới được nhà văn khai thác, trong tiến trình phát triển văn học Việt Nam, týp nhân vật này đã được nhiều nhà văn khai phá, nhưng mỗi nhà văn mổ xẻ những khía cạnh khác nhau, tùy theo nhận thức của từng nhà văn về quan niệm nghệ thuật con người.
Trong bối cảnh lịch sử Việt Nam thời Pháp thuộc những năm 40, nhân vật người trí thức của Nam Cao cũng từng khắc khoải như vậy. Đó là những nhân vật trí thức rơi vào bi kịch vỡ mộng, chế độ Pháp thuộc thời đó đã chặt đứt đôi cánh ước mơ của họ. "Còn gì buồn hơn chính mình lại chán mình? Còn gì đau hơn một kẻ vẫn khát khao làm một cái gì đó nâng cao giá trị đời sống của mình, mà kết cục chẳng làm được cái gì, chỉ những lo cơm áo mà đủ mệt?" (Nam Cao); Điền (Trăng sáng), Thứ (Sống Mòn), Hộ (Đời thừa) đều vật vã, đau đớn trong dằn vặt mâu thuẫn giữa ước mơ và hiện thực. Hộ có tài, lúc đầu, anh viết rất thận trọng. Mang một hoài bão lớn: "hắn băn khoăn nghĩ đến một tác phẩm nó sẽ làm mờ hết các tác phẩm cùng ra một thời", "Văn chương không cần đến những người thợ khéo tay làm theo một vài kiểu mẫu đưa cho. Văn chương chỉ dung nạp những người biết đào sâu, biết tìm tòi, khơi những nguồn chưa ai khơi, và sáng tạo những cái gì chưa có"(Đời thừa). Thế nhưng, từ khi phải lo kiếm tiền nuôi vợ con, Hộ "cho in nhiều cuốn văn viết vội", hắn xấu hổ khi đọc lại văn mình, tự xỉ vả mình "là một thằng khốn nạn", "là một kẻ bất lương!". Trước kia tin tưởng bao nhiêu thì nay đau đớn thất vọng bấy nhiêu! Và khi dồn vào nghèo túng nhân vật Hộ có những phản ứng nông nổi, bạo hành gây tổn thương cho người thân: Hộ có tấm lòng nhân ái cứu vớt cả gia đình Từ; nhưng cũng nhiều lần đánh đuổi nguyền rủa mẹ con Từ, làm Từ đau khổ vì cho rằng Từ là nguyên nhân gây ra nỗi khổ.

Khác với Nam Cao, người trí thức của Nguyễn Mộng Giác không rơi vào dằn vặt vì vật chất "cơm áo gạo tiền". Ông ý thức sự quan trọng của vật chất nhưng không bao giờ cho đó là vấn đề lớn đối với trí thức. Sau chiến tranh, ông hiểu khó khăn, thiếu thốn là đương nhiên. Điều ông khắc khoải là bị đứng bên lề cuộc sống.
Với người trí thức, làm người phải dấn thân.
Vòng trời đất dọc ngang ngang dọc
Nợ tang bồng vay trả trả vay
Chí làm trai nam bắc đông tây
Cho phỉ sức vẫy vùng trong bốn bể 

(Chí làm trai – Nguyễn Công Trứ)

Nhưng sau đổi đời, người trí thức miền Nam rơi vào tuyệt vọng. Chính sách đối xử sai lầm đã gây không ít tổn hại đến tinh thần và sự phát triển chung của đất nước. Đất nước cần trí thức, nhưng "chất xám" quý báu của họ trở thành "đồ phế thải"! "tàn dư chế độ Ngụy", không được sử dụng. Họ đứng bên lề cuộc sống nhìn kinh tế đất nước suy sụp (1), mà không thể lên tiếng. Những năm tháng đó, ai cho phép họ lên tiếng, ai cho phép họ làm việc để góp phần xây dựng một đất nước chung.
Im lặng chịu đựng, những nhà trí thức vứt bỏ "sĩ diện", "quân tử tàu"... ra đường bán sách cũ, bán cà phê vỉa hè, đạp xe thồ để mưu sinh. Những anh trí thức càng hiền lành, tự trọng, thì càng thê thảm: "...Giống như phần lớn bạn bè, tôi chẳng còn biết phải làm gì nữa. Vốn liếng không! Mưu chước bán buôn không! Những gì tôi có như lòng thành thực, tính yêu mến trẻ con, khát vọng được sống lương thiện... trở nên lẩm cẩm cồng kềnh vào buổi giao thời. Những kẽ hở của thứ luật pháp mù mờ trong lúc tranh tối tranh sáng, không phải ai cũng chui qua được. Ông biết đấy, phải khinh bỉ con người đến cùng cực (con người nói chung trong đó có cả mình) người ta mới dám mở miệng đề nghị hối lộ để khoan thai lọt qua các ngõ ngách. Thật vậy, phải biết đích xác không lầm lẫn kẻ ngồi đó là cái túi tham mới dám bắn tiếng. Tôi thì có thói quen xem mọi người đều đáng trọng. Thành thử đi đâu tôi cũng gặp những bộ mặt nghiêm nghị, xin làm gì cũng va đầu vào các bức tường nguyên tắc. Tôi thành thật nhận rằng mình không hợp với thời loạn, nên mỗi ngày mỗi thêm lúng túng. Vài người bạn có hảo tâm chỉ vẽ cho tôi một số nghề hái ra tiền. Tôi thử một vài lần, lần nào cũng thất bại. Những nghề quái ác ấy đòi hỏi cái lưng thật mềm, cái lưỡi lém lỉnh lật lọng và đôi chân dẻo chạy không biết mệt.
Nghề gì bây giờ? Tôi có những điều thừa thãi và thiếu điều cần thiết, nên tìm mãi không ra được nghề gì sống lương thiện được! Chỉ còn có nghề bán bong bóng cho trẻ con" (8; tr 124).
Nhân vật nhà văn ("Một ngày như mọi ngày") của Nguyễn Mộng Giác cũng có lúc suy nghĩ: "- Hay là ta nên viết cái gì đăng được?- Phải đấy. Viết không đăng được thì viết làm gì. Viết rồi đốt là điên, viết rồi giữ đó như giữ bom nổ chậm là khùng. Kẻ khôn ngoan thức thời chỉ nên viết cái gì đăng được. Chàng tìm cuốn lịch bỏ túi xem các ngày lễ. Ðây là kinh nghiệm xương máu do các bạn văn nghệ miền Bắc ưu ái truyền lại cho chàng. Cứ giở cuốn lịch ra, tìm các ngày lễ và viết sẵn một số truyện, thơ "lương khô dự trữ". Lễ nhỏ viết vài ba cái, lễ lớn phải chín, mười. Các loại sáng tác "nhân dịp" này năm nào cũng đắt hàng"… nhưng rồi tự xấu hổ vì những sáng tác giả dối: "Chàng khựng lại. Ðọc từ đầu, chàng ngượng chín người. Thiếu sáng suốt, chàng vò nhàu hai tờ bản thảo vứt đi. Sau nghĩ lại. Chàng bưng đèn cúi xuống nhặt lên, vuốt cho thẳng, xếp vào xấp giấy cùng số phận các đêm trước. Xấp bản thảo nhàu nhò vô tội đã khá dày. Có thể được đến vài trăm grams. Với giá 14 đồng một ký giấy học trò viết hai mặt, chàng có thể bán được khoảng 3,4 đồng". (9; tr 107-110).
Sau những dằn vặt, đấu tranh vì "cơm áo", nhân vật nhà văn quyết định đem xấp bản thảo cân giấy vụn... thà đói nghèo nhưng giữ "phẩm giá" của nhà văn. Đối với nghệ thuật họ không thỏa hiệp viếtnhững áng văn vội, những tác phẩm theo đơn đặt hàng như nhân vật Hộ (Đời Thừa). Trong khó khăn, bế tắc nhân vật trí thức của Nguyễn Mộng Giác cũng không gây tổn hại cho người thân. Thất nghiệp, họ ở nhà lo việc nội trợ, dọn dẹp nhà cửa, nấu ăn cho vợ con, tìm niềm vui bên mâm cơm độn mì đạm bạc. Nếu cần tiền vì nhu cầu cà phê, thuốc lá cho riêng mình, họ cũng chỉ dám nghĩ đến những thứ vặt vãnh xứng với giá tiền cà phê, thuốc lá dỏm. Bán Bột ngọt? – Không, của nàng. Bao ni lông chăng? Không, của con gái làm kế hoạch nhỏ. Gạo chăng? Phức tạp quá, trong lu chỉ còn một ít. Cuối cùng "...Chỉ còn lũ sách. Chàng đau nhói cả lòng... Loại sách từng bị chàng rẻ rúng như truyện kiếm hiệp, bói toán, ái tình lâm ly đã bỏ chàng ra đi từ mấy năm trước vì đắt hàng. Mấy cuốn kinh Phật chàng đã "cúng dường" cho chợ sách một năm trước đây. Sách Mỹ bìa dầy giấy khổ rộng nặng cân nên đã theo các chị ve chai. Trong tủ sách hiện giờ chỉ còn loại sách mỏng, khổ nhỏ và có giá trị theo cách đánh giá của chàng... Chàng rút ra một cuốn khá dầy: "Mười khuôn mặt văn nghệ hôm nay" của Tạ Tỵ do Lá Bối xuất bản. Chàng tính nhẩm: Ít ra phải được 10 đồng. Mỗi khuôn mặt văn nghệ lớn chỉ đáng 1 đồng, rẻ quá. chàng lấy thêm hai cuốn nữa theo lối nhắm mắt may rủi: Sử ký của Tư Mã Thiên bản dịch tuyệt vời của Nhượng Tống và Sonate à Kreutzer của Tolstoi. Chàng ghé một sạp sách cũ chuyên nghiệp trước từng bán sách ở đường Lê Lợi. Người mua sách mau mắn chận chàng lại hỏi:
- Có gì bán không chú?
Tội nghiệp, đến nước này mà chàng còn ngượng. Chàng không dám cho khách qua đường thấy chàng nỡ phản bội ông bạn già Tạ Tỵ, đại văn hào Nga và nhà viết sử Trung Hoa. Chàng chìa ba quyển sách ra, cẩn thận úp sấp lại."(9; tr 91)
Họ là những người trí thức trong cùng quẫn vẫn giữ tự trọng.

Quan niệm nghệ thuật về con người của Nguyễn Mộng Giác.
Tính cách người trí thức của Nguyễn Mộng Giác luôn nhất quán, nhân vật của ông là mẫu nhân vật lý tưởng. Họ không phải là nhân vật phức hợp có tính cách lưỡng phân hai mặt như Hộ (Đời thừa), Thứ (Sống mòn) của nhà văn Nam Cao.
Tôi tin người trí thức phải hơn những loại người khác ở khả năng phê phán giúp tự ý thức và tự vượt thắng của mình, nhân cách của họ được đánh giá chính vào những thời điểm gay gắt của lịch sử. Tôi không đồng ý cách đánh giá của những nhà nghiên cứu khi nhân vật sa ngã, đổ lỗi cho hoàn cảnh lịch sử. Hà Minh Đức cho rằng: "Bi kịch vỡ mộng đó chủ yếu là do những căn nguyên xã hội... . Nhân vật trí thức của Nam Cao đang trượt trên con đường dốc do một sức đẩy vô hình rất mạnh mẽ của cảnh ngộ xã hội." (11, tr 280). Với tôi, cái chính là do ý thức con người.
Đọc tập truyện "Thuyền viễn xứ" của Nguyễn Mộng Giác, hình ảnh nhân vật trí thức của thế hệ ông biểu hiện rõ quan niệm nghệ thuật của nhà văn về con người lý tưởng dấn thân. Trong hoàn cảnh bế tắc vẫn điềm tĩnh lạc quan, tìm cho mình một lối thoát khả dĩ thông minh nhất.
Nguyễn Mộng Giác là nhà văn có lối viết cổ điển, kết cấu tác phẩm thường đơn giản, thời gian tuyến tính, ngôn ngữ mang tính triết luận. Tuy nhiên, không phải vì vậy mà tác phẩm của ông khô khan, buồn tẻ. Trái lại, các sáng tác của Nguyễn Mộng Giác luôn có sức hấp dẫn kỳ lạ, nhà văn thường chinh phục bạn đọc ở tầm tư tưởng của tác phẩm, đến sự tinh tế trong cách quan sát rồi miêu tả tâm lý nhân vật. Những chi tiết bình thường tưởng như không có gì nhưng thật ra lại ẩn chứa nhiều ý nghĩa, mỗi chi tiết đều có dụng ý tạo sự liên tưởng bất ngờ thú vị, làm người đọc say mê.(14) Tôi tin, chính vẻ tưởng chừng như "bình thường" trong ngôn ngữ bình dị của Nguyễn Mộng Giác, làm nên tuyệt chiêu của cây bút lão luyện này.

Theo dõi quá trình sáng tác của Nguyễn Mộng Giác từ các tập truyện ngắn đến tiểu thuyết lịch sử như "Sông Côn Mùa Lũ", "Mùa biển động", chúng ta có thể nhận ra ngay mối ưu tư lớn nhất của ông là thái độ sống của người trí thức trước thời cuộc. Qua đó, phản ảnh con người nhà văn luôn băn khoăn về đất nước. Cho dù ở trong nước hay ra nước ngoài, ông vẫn là một người đáng kính, dám sống theo suy nghĩ của riêng mình.

Thế kỷ 20, Lịch sử Việt Nam chưa bao giờ biến động như vậy, trong một thời gian ngắn mà đất nước đã thay đổi đến 6 chính thể: Pháp thuộc, Nhật thuộc, Tàu ô chiếm đóng, Cộng sản thời kháng chiến, Chế độ quốc gia từ thời Bảo Đại đến tổng thổng Thiệu, cuối cùng là Cộng sản toàn quốc sau 1975.
Gần như chưa có một chính thể nào trong suốt thế kỷ 20 tạo được niềm tin và sự đồng thuận trong toàn dân. Người trí thức luôn băn khoăn, day dứt về một thể chế mà mình đang phụng sự. Vấn đề thái độ sống của con người trước thời cuộc, đặt giới trí thức vào những chọn lựa gay gắt không khoan nhượng. Bên này hay bên kia? Sống hay là chết, thỏa hiệp hay vượt thoát, ở lại hay trở về, bản lĩnh của người trí thức được thử thách từng giờ.
Có những chủ thuyết hôm qua là chân lý, nhưng ngày mai là "tội ác". Lịch sử nhân loại trong thế kỷ 20 không thiếu những tội ác chân lý như vậy, và đã được chứng minh. Vì vậy, bi kịch của người trí thức vẫn là nỗi nhức nhối trong mọi thời đại.
Đến khi nào đất nước Việt Nam mới có được một chính thể đủ sức thuyết phục, tạo ra được sự đồng thuận dân tộc?
Đến khi nào người trí thức Việt Nam phụng sự đất nước mình mà không băn khoăn, hối tiếc?
Đến bao giờ? Là câu hỏi của bây giờ.
Ban Mai
06.12.2008

----------------
Tài liệu tham khảo:
(1) Theo tài liệu L’État du Monde 2000, Ed La Découverte et Boréal. Số liệu thống kê tính trên cơ sở số của PNUD và ONU. Tỷ lệ lạm phát kinh tế của Việt Nam từ sau năm 1975 đến 1985 trong vòng 10 năm tăng 18 lần.
% lạm phát Năm 1975 Năm 1985
Việt Nam 5 91,6
Thái Lan 5,3 2,4
( Trích trong phần Tài liệu tham khảo: " Việt Nam, con người từ những bóng ma" của Nam Dao)
(2) Nguyễn Mộng Giác trò chuyện với sinh viên lớp Việt văn 1.11.2005, tại trường Đại học Berkeley. (Nguồn Talawas 14.3.2006)
(3) Theo số liệu của Cao ủy Tị nạn Liên hiệp quốc, trong khoảng từ năm 1975-1995 đã có 849.228 người Việt Nam vượt biên bằng đường biển và đường bộ.
Xem tài liệu về thuyền nhân Việt Nam: http://vi.wikipedia.org/wiki/Thuy%E1%BB%81n_nh%C3%A2n#Sau_30_th.C3.A1ng_4_n.C4.83m_1975
(4) Nguyễn Mộng Giác, Sống và viết tại hải ngoại, Thuyền viễn xứ, nxb damau.org@. 2008
(5) Tập truyện ngắn "Thuyền viễn xứ" của Nguyễn Mộng Giác do damau.org xuất bản năm 2008 là tuyển tập gồm 13 truyện ngắn chọn từ tập "Ngựa nản chân bon" nxb Người Việt ấn hành năm 1984 và một số truyện trong tập "Xuôi dòng" nxb Văn Nghệ ấn hành năm 1987.
(6) Nguyễn Mộng Giác, Ngựa nản chân bon, sđd
(7) Lữ, Cây cau của Phùng Cung, talawas.11.9.2007
(8) Nguyễn Mộng Giác, Lẽ sống, sđd
(9) Nguyễn Mộng Giác, Một ngày như mọi ngày, sđd
(10) Tuyển tập Nam Cao tập1, tập 2; nxb Văn học, 1997
(11) Hà Minh Đức, Khảo luận văn chương, nxb Khoa học xã hội,2003
(12) Dr.Wynn wilcox, Vài nhận định về trí thức miền Nam thời chiến, Nguồn: BBC Ngày 21.10.2008
http://www.bbc.co.uk/vietnamese/culture/story/2008/10/081021_south_vietnam_intellectuals.shtml
(13) Mặc Lâm phỏng vấn, Nguyễn Mộng Giác và "Sông Côn mùa lũ". Nguồn: RFA,
ngày 16.11.2008.
(14) Đánh giá tiểu thuyết của Nguyễn Mộng Giác, nhà văn Trần Vũ từng thổ lộ : "Ðã hai thập niên mà ở hải ngoại chưa có cuốn tiểu thuyết nào làm tôi say mê nhiều hơn vậy. Ði làm ôm theo, ngồi trong xe lửa đọc miên man, vào công ty gấp sách lại chỉ mong chóng mau đến giờ hết việc, xuống xe điện, mở tập 2 Bảo Nổi, các nhân vật lại sống trở lại, cười nói, yêu khóc giận hờn, từng màu áo, sắc son môi, khoé mắt, tưng bừng trên trang giấy, làm như mình chưa hề rời xa họ một giây phút nào, đã thân thiết với họ tột bực, đã sống chung, chia sẻ tận cùng đời sống thầm kín của từng người" trả lời phỏng vấn Lê Quỳnh Mai.
Nguồn : http://tranvu.free.fr/baiviet/phvanTV-LQM.html


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thứ Ba, 6 tháng 5, 2014

Sai lầm của chủ nghĩa duy vật và khoa học


Xã hội rối ren, chiến tranh leo thang, thiên tai, dịch bệnh lan tràn,...
Phải chăng đời là bể khổ?
Cướp của hại người, tranh giành, lấn đất, lấn biển, xâm phạm cướp nước khác, tạo oán thù, gây chiến tranh,... Rồi thì tất cả đều phải chết. Đó là một sự thật mà ta vội quên khi tham dục che mờ sự hiểu biết.
Chủ nghĩa duy vật, khoa học tự hào tin rằng “Thế giới tâm linh không tồn tại”.
Lại lầm lạc! Sự sống của con người là hạnh phúc.
Vậy đã bao ngàn năm rồi con người phải sống trong khổ đau, thù hận, giết chóc và chiến tranh?
Giá trị thực sự của sự sống chỉ là sinh ra và chết đi. Chân lý nằm trong tay kẻ mạnh.
Vậy thiện ác, xấu tốt cần chi phải phân định cho rạch ròi?
Tại sao phải sống lương thiện chịu đời nghèo khổ?
Hãy cứ tàn ác, cay độc để giành giật, cướp lấy sự sang giàu, sung túc.
Ai rồi cũng phải chết?
Chết là hết.
Có gì mà đáng sợ?
Lòng tham dục là đầu mối của khổ đau. Cái tôi thường tại cũng là sự mê lầm.
Có bao nhiêu sự vật hiện tượng mà khoa học không thể giải thích và chối bỏ sự tồn tại những điều dường như phi lý đó?
Kết quả được gì ngoài sự đè nén, kiềm chế sự hiểu biết của nhân loại?
Nuôi lớn lòng tham dục loài người để rồi đau khổ, lầm lạc đi vào ngõ cụt - Diệt vong loài người.
Khoa học đang đi tìm sự sống ngoài vũ trụ, phát những tín hiệu gửi thông điệp về sự sống của loài người ở trái đất. Thật là việc làm hoang đường!
Khi chưa nắm bắt được sự hiện diện của sinh vật tồn tại trong vũ trụ và những hành tinh khác thì làm sao con người có nhận biết được các sinh vật ngoài trái đất giao tiếp với nhau bằng loại ngôn ngữ hay tín hiệu gì?
Vậy tín hiệu mà con người phát đi có giá trị gì?
Thật quá khập khiễng! Việc làm này giống như ta đứng trước con gà mà phát âm thanh tiếng con vịt, con heo, con bò,… và có lẽ con gà nghe những âm thanh đó sẽ ngỡ là tiếng mưa rơi.
Thật ra khoa học đang tìm kiếm một vài “Con chuột bạch” mang về phòng thí nghiệm. Đó mới là mục đích của các nhà khoa học.
Ngoài ra, cùng với lòng tham con người đang tìm vùng đất mới hoặc kiếm tìm những khoáng vật, kim loại quý mang về trái đất và còn gì nữa,…
Họ sẽ cướp những thứ mà con người cần và mang về. Nhưng khoa học chưa lường được hậu quả của những việc họ dự định làm và trước mắt họ đã mang rác ném vào vũ trụ. Có lẽ con người sẽ sớm trả giá cho việc làm thiếu ý thức này.
Phải chăng hình thành (sinh ra), lớn lên, suy kiệt (già yếu), tan ra (mất đi) là biểu hiện của sự sống?
Vậy thì có nơi nào, vật nào không có sự sống?
Sự sống bắt đầu từ sự hình thành và biến diệt của những hành tinh. Con người đã chủ quan áp đặt tâm ý của mình vào vạn vật. Vì thế tri thức con người lầm lạc chất chồng.
Ở mức độ tương đối và góc nhìn khách quan, bạn sẽ nhận ra phần lớn những hành tinh đã từng có tồn tại sự sống như là ở trái đất nhưng hiển nhiên sự phát triển sẽ là không như nhau. Tùy điều kiện tự nhiên và tâm ý nhận thức của những loài có sự sống ở mỗi hành tinh mà việc phát triển sẽ khác nhau. Trải qua hàng tỷ tỷ năm trải qua rất nhiều biến cố sự sống ở mỗi hành tinh sẽ mất dần do những biến đổi về điều kiện tự nhiên cũng như việc chịu ảnh hưởng từ những hành tinh khác.
Nhưng nhìn chung việc biến mất sự sống ở mỗi hành tinh phần lớn là do những nguyên nhân nội tại - Sự mất cân bằng có thể do khách quan hoặc chủ quan ở mỗi hành tinh.
Ví như trái đất đang có những mất cân bằng nội tại - Việc sụt lún, động đất, sóng thần, bão lũ,… phần lớn là do con người tạo ra. Đây là yếu tố chủ quan do con người. Ngay cả những cơn bão từ, bão vũ trụ đang gia tăng sức ảnh hưởng đến trái đất cũng do con người gián tiếp tác động. Việc phát triển công nghiệp quá mức, đất rừng thu hẹp, chiến tranh, tập trận, thử nghiệm vũ khí hủy diệt,… đã sản sinh ra lượng nhiệt khổng lồ bao bọc, nung nóng trái đất. Việc này đã tạo ra một hấp lực cực mạnh hút các trận bão từ, bão vũ trụ về trái đất.
Có lẽ nhân loại sẽ nhận định tôi chủ quan trình bày vấn đề này.
Tôi sẽ chứng minh luận điểm trên.
Xét ở phạm vi nhỏ hơn, tôi sẽ trình bày ở một thành phố lớn, đông dân, phát triển mạnh về công nghiệp.
Thành phố này nằm giữa những vùng ven canh tác nông nghiệp. Bạn sẽ không khó nhận ra mưa chỉ tập trung ở thành phố sầm uất trong khi những vùng ven cần nước trồng trọt canh tác thì lại khô hạn và thiếu nước.
Bạn đừng cố phản biện do ở những vùng khác nhau nên điều kiện khí hậu, thời tiết sẽ khác nhau. Bởi vì trước đó khi vùng đất bây giờ là thành phố sầm uất cũng là chỉ là một khu phố nhỏ thì lượng mưa vẫn phân bố đều khắp khu vực qua từng năm.
Có lẽ các nhà kinh tế, các nhà quản lý hoạch định chiến lược và những nhà khoa học đã quên mối tương quan nhiệt và đã bỏ qua sự thật này.
Quay lại vấn đề sự sống tồn tại ở các hành tinh. Chính vì sự bất ổn nội tại của hành tinh hoặc do va chạm thiên thạch mà sự sống ở các hành tinh bị diệt mất.
Sẽ trải qua thời gian lâu xa, hàng tỷ năm khi điều kiện tự nhiên thích hợp thì sự sống sẽ lại hình thành.
Minh chứng cho việc này bạn hãy dùng một thau cho vào đó một lượng nước đã tiệt trùng hoàn toàn. Nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho sự sống hình thành và phát triển bạn hãy cho vào trong thau một ít dưỡng chất và mang thau nước ra đặt ngoài trời thì không bao lâu trong thau nước sẽ xuất hiện những mầm tảo và sau đó vô số động vật nhỏ sinh sôi trong thau nước. Bởi lẽ trong thau nước có đủ điều kiện thích hợp cho sự sống phát triển có chút nước, chút gió, chút đất, chút ánh sáng.
Để chứng thực việc trình bày của tôi là chuẩn xác thì các nhà khoa học phải lên một hành tinh nào đó chọn một vùng đất thích hợp và tạo điều kiện cần thiết cho sự sống hình thành và phát triển thì sẽ sớm có khám phá sinh vật ngoài vũ trụ.
Chủ nghĩa duy vật bảo vệ khoa học như thế nào?
Khi tôi có những ý kiến về sự hạn chế của tri thức khoa học đã có rất nhiều người phủ định việc làm sai trái của tôi. Họ lập luận nhờ sự phát triển của khoa học mà y học tiến bộ cứu sống, điều trị được rất nhiều căn bệnh hiểm nghèo. Hàng triệu triệu đứa trẻ sơ sinh được cứu sống nhờ những phát minh khoa học tiên tiến,...
Tôi đã từng nói tôi thừa nhận sự phát triển của khoa học là rất hữu ích không chỉ riêng ngành y mà là rất nhiều nghề khác đã phát triển, phục vụ tốt cho loài người nhưng nhân loại lại không nhìn nhận mặt trái của sự việc.
Vũ khí, bom hạt nhân, tên lửa, tàu chiến, máy bay tiêm kích,… những căn bệnh quái lạ, vi khuẩn kháng thuốc, virus biến thể,… tất cả có phải là sản phẩm của khoa học?
Chắc hẳn số người được khoa học cứu sống chỉ là hạt cát trên sa mạc so với số người bị khoa học sát hại. Đó là sản phẩm của sự phát triển khoa học lầm lạc kết hợp với tham dục của lòng người.
Thế nên, tôi mới nói “Khoa học hãy bước đi vững chắc, bền bỉ và có hiểu biết”.
Sự phát triển không định hướng sẽ đưa loài người đi về đâu?
Có lẽ mai này loài người sẽ không tồn tại trên trái đất. Vì lý do sự có mặt của họ là không cần thiết.
Khoa học đang phát triển ngành công nghiệp, nông nghiệp đang được hiện đại hóa, cơ khí hóa, nhiều loại robot năng động, hiểu biết đang thay con người xử lý hiệu quả mọi công việc từ nặng đến nhẹ.
Thậm chí ngay cả việc sinh con, chọn giới tính robot sẽ cũng tự làm lấy. Ngành công nghệ thông tin phát triển khiến con người trở nên nhàn rỗi.
Ngày mai, con người sẽ làm gì?
Chỉ mỗi việc rong chơi nhưng nếu không làm việc thì con người sẽ lấy gì để chi trả cho việc vui chơi và giải trí. Hiển nhiên là không ai tự mang đồ ăn, thức uống cho con người nếu con người không bỏ sức lao động hay một món đồ trao đổi với giá trị tương đương. Nhưng xã hội không cần sức lao động của con người - Con người quá yếu đuối. Xã hội cũng không cần trí tuệ của con người vì trí tuệ con người không bằng một cái máy, khả năng xử lý thông tin thì chậm và chủ quan.
Khi đó con người chỉ là một phế vật sinh ra rồi tự diệt.
Khoa học phát triển con người không cần phải sinh con. Mọi việc đã có máy móc làm nhưng tham dục con người không hề nhỏ. Họ sẽ tạo ra những hình người và khi cơ thể con người già yếu, họ sẽ bỏ xác thân đó và mang bộ não cấy ghép sang những thân người kia và họ tiếp tục sự sống.
Vậy tình yêu thương của con người còn không?
Tình mẫu tử thiêng liêng sẽ chỉ còn là những câu chuyện cổ tích. Những điều tôi trình bày là con đường phát triển không định hướng của khoa học mà lại chịu sự chi phối của lòng tham con người.

Bạn hãy tự chiêm nghiệm. Trân trọng!
nhận xét hiển thị trên trang

Mỹ: Hành động của Trung Quốc là “khiêu khích”


(NLĐO) – Mỹ chỉ trích gay gắt hành động đưa giàn khoan khổng lồ của Trung Quốc vào vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam.
Phát biểu với báo giới ngày 6-5, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Mỹ Jen Psaki nhấn mạnh: “Theo những diễn biến căng thẳng trên biển Đông, quyết định triển khai giàn khoan dầu của Trung Quốc là khiêu khích và không có ích cho việc duy trì hòa bình và ổn định trong khu vực”.
Cùng ngày, Trợ lý Ngoại trưởng Mỹ phụ trách Đông Á Daniel Russel cho hay Mỹ đang theo sát vụ việc và điều tra động cơ của Trung Quốc. Theo Reuters, ông Russel dự kiến đến Hà Nội vào ngày 7-5.

Giàn khoan HD-981 của Trung Quốc. Ảnh: AP
Giàn khoan HD-981 của Trung Quốc. Ảnh: AP

Chiều qua, Phó Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh đã có cuộc điện đàm với Ủy viên Quốc vụ Trung Quốc Dương Khiết Trì về việc giàn khoan HD-981 và nhiều tàu của Trung Quốc hoạt động tại khu vực thuộc lô dầu khí 143 thuộc thềm lục địa Việt Nam từ ngày 1-5 đến nay.
Ông Phạm Bình Minh nhấn mạnh việc Trung Quốc đơn phương đưa giàn khoan HD-981 và một lượng lớn tàu các loại, kể cả tàu quân sự, vào hoạt động ở khu vực này là bất hợp pháp, đi ngược lại luật pháp và thông lệ quốc tế, vi phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa, quyền chủ quyền và quyền tài phán đối với các vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam.
Phó Thủ tướng khẳng định Việt Nam sẽ áp dụng mọi biện pháp phù hợp và cần thiết để bảo vệ các quyền và lợi ích chính đáng của mình, đồng thời yêu cầu Trung Quốc rút hết giàn khoan HD-981 và các tàu hộ tống ra khỏi khu vực.
Một số chuyên gia đánh giá động thái của Trung Quốc là “cái tát vào mặt Tổng thống Mỹ Barack Obama, người vừa kết thúc chuyến thăm châu Á gần đây. Trong chuyến thăm, ông Obama nhiều lần cảnh báo Trung Quốc không được gây hấn trên biển Đông.
Ngoài ra, có ý kiến cho rằng Trung Quốc đang muốn đánh lạc hướng dư luận khỏi vấn đề Tân Cương trong nước.

Hải Ngọc (Theo Reuters)
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Áp lực của những người nặn tượng các lãnh tụ Triều Tiên


Đăng Bởi  
Người dân Triều Tiên kính cẩn trước tượng sáp của ông Kim Chính Nhật
Người dân Triều Tiên kính cẩn trước tượng sáp của ông Kim Chính Nhật
CHDCND Triều Tiên  đã mời một nghệ nhân Trung Quốc làm tượng sáp để tôn vinh nhà lập quốc Kim Nhật Thành (Kim Il-sung) và con trai ông, cố Chủ tịch Kim Chính Nhật (Kim Jong-il). 
Ở  CHDCND Triều Tiên, những bức tượng của hai nhà lãnh đạo đã qua đời, là biểu tượng của sự tôn kính. Không ai được phép chụp hình cạnh tượng của hai lãnh đạo quá cố này, kể cả các quan chức cao cấp của Triều Tiên.
"Mọi người khóc khi nhìn thấy những bức tượng", Zhang Moling, người chuyên nặn tượng sáp cho các lãnh tụ Triều Tiên nói với tờ Guardian. Zhang cũng cho biết thêm: “Đối với những người Triều Tiên, các lãnh tụ giống như vị thần.  Họ tôn trọng các bức tượng hệt như người thật. Các bức tượng không chỉ là một tác phẩm nghệ thuật mà còn rất thiêng liêng. Ngay cả các quan chức cao cấp cũng phải giữ khoảng cách ít nhất 1,5 mét. Không ai có thể . . chạm vào quần áo hoặc tóc của bức tượng”.
Công việc của Zhang với Bình Nhưỡng bắt đầu vào năm 1994, sau cái chết của ông, khi đại sứ của Triều Tiên đề nghị Trung Quốc giúp họ một nghệ nhân nặn tượng để lưu lại thần sắc cuối cùng của lãnh tụ Kim Nhật Thành trên nền tượng sáp.
Zhang cho biết cuộc họp để bàn về chuyện tạc tượng của các quan chức Triều Tiên khi đó “nghiêm túc đến mức khó tin”, đích thân ông Kim Chính Nhật cũng tham dự. Khi tượng hoàn thành, một nhóm vệ binh mặc đồng phục đen, găng tay trắng rước tượng rất thành kính.
Năm 2012, Zhang và một nghệ sĩ nặn tượng khác là Jia Wenlong quay lại Triều Tiên với việc nặn tượng cho lãnh tụ Kim Chính Nhật khi ông qua đời cuối năm 2011. Ông Jia nói với tờ Hoàn cầu rằng nhóm của ông và các nghệ nhân Triều Tiên được cho nhiều thời gian nghiên cứu ảnh mẫu của ông Kim Chính Nhật những ngày cuối đời. “Ông Kim Chính Nhật trông có vẻ yếu nhiều trong những ngày cuối, nên nhìn không được tươi tắn cho lắm. Nhưng nhiệm vụ của chúng tôi là phải thể hiện được thần sắc nhân hậu và thông minh chứ không phải bệnh tật của ông ấy”, Jia cho biết.
Ông Jia cũng cho biết cảm thấy rất áp lực trong quá trình nặn tượng lãnh tụ Triều Tiên vì được chính quyền sở tại theo dõi với thái độ quan tâm, kỳ vọng đặc biệt. Ngay cả Chủ tịch Kim Chính Ân (Kim Jong-un) cũng thường xuyên đôn đốc và kiểm tra kỹ lưỡng đến cả phần răng, tóc của tượng. Ngoài ra, chính quyền Triều Tiên còn gửi cả trăm tấm ảnh cùng với các vật dụng hàng ngày như mũ áo của lãnh tụ quá cố để các nghệ nhân tạo ra bức tượng hoàn hảo.
Anh Tú

Phần nhận xét hiển thị trên trang

CHẾT VÌ SỢ HÃI:

Nguyễn Thanh Hiện
9
Tranh của Đỗ Trung Quân
và tôi còn nhớ là tôi với em cứ ngồi tựa lưng vào nhau như thế, đêm, rừng núi đã bắt đầu trở lạnh, ngôi sao hình cánh bướm ở biên dải ngân hà là của em, còn ngôi sao hình đầu chó, cạnh đấy, là của tôi, tôi giảng giải, có lầm lẫn không đấy, em nói, không lầm lẫn đâu, tôi nói, máu, em kêu, tôi thử sờ lên chỗ vấy ướt ở vạt áo của em nơi em bảo là vấy máu, lúc đầu chỉ nghĩ là nước của con suối tôi và em vừa lội qua, nhưng lát sau  nghe quả có mùi máu, có thể là máu của cuộc va đập đã tan chảy  vào con suối, tôi nói, tôi với em là vừa thoát  khỏi một cuộc va đập khủng khiếp, trốn lên ngồi ở nơi núi rừng ấy là để tìm kiếm ngôi sao chiếu mệnh của mình, 
chúng nó, những ngôi sao chiếu mệnh ấy là sinh ra từ những càn khôn đồ trận nào mà tôi với em  thì luôn hứng chịu những cuộc va đập chết người, nhưng tại sao không phải thứ gì khác mà là cánh bướm với đầu chó, em lại thắc mắc, tôi bảo là tôi cũng chẳng hiểu tại sao là thế,  và cuộc va đập bấy giờ như có vẻ trầm kha hơn, bấy giờ thì dường như từ phía đầu kia  mặt đất đương vang lên những âm thanh hỗn độn tựa  những ngọn núi  đang đổ, những sông suối đang tràn lên nhau, và lũ cua cá đang gào thét, nhưng em bảo đấy không phải cua cá, mà là  tiếng gào thét của con người, là chúng đang cắn nhau bằng chữ nghĩa đấy, 
tôi nói, em cũng nhìn thấy chúng rồi, em nói, phải, mặc cho kẻ khác đau đớn quằn quại,  lũ chúng là đang tiếp tục phun ra những chữ nghĩa, những con chữ vốn hiền hậu, vô can, khi được phun ra từ miệng chúng thì lập tức trở thành những thứ khác, lúc là trở thành những nụ cười trơ tráo, có nghĩa, lẽ ra là khóc nhưng lại cười, lúc là trở thành những tiếng khóc vô cớ, có nghĩa, cái nguyên cớ không phải làm cho khóc mà cứ khóc, hóa ra, thứ âm thanh hỗn độn đang vang lên từ đầu kia mặt đất là sự trộn lẫn giữa tiếng gào thét của những kẻ bị sỉ nhục với tiếng cười trơ tráo của lũ người vô sỉ, lần đầu tiên tôi và em nhìn thấy những kẻ bị sỉ nhục cứ nấc lên những tiếng nấc ứ nghẹt và ngã ra chết, 
hãy lắng thử coi, em chợt kêu, từ đầu kia mặt đất lại vang lên những âm thanh quái lạ hơn, đã có cuộc nổi dậy nào đó hay sao, em bảo, những kẻ bị sỉ nhục không còn chịu nổi sự sỉ nhục, 
tôi tiếp lời em, nhưng nào phải, là  chữ nghĩa chúng phun ra đang  hóa thành những âm thanh kỳ dị mới thoảng nghe ngọt ngào như những bài hát rong của con người buổi sơ khai của lịch sử, nhưng đằng sau những ngọt ngào là những gầm gừ như cái cách gầm gừ của con hổ sắp vồ được con mồi, hóa ra những gầm gừ giấu kỹ đằng sau những ngọt ngào là hóa thân của chữ nghĩa, a ha một thứ tuyên ngôn của chủ nghĩa đương đại, tôi buột kêu, nhưng chủ nghĩa đương đại nó là cái gì, em cũng buột kêu, thì trong lúc bất chợt nghe thấy  âm thanh quái lạ ấy tôi cũng bất chợt nghĩ ra thế thôi, có phải thứ chủ nghĩa đương đại là mang trong mình những giả dối và vô sỉ hay không, 
em lại kêu lên khiến tôi cảm thấy vô cùng bối rối, và những âm thanh quái lạ kia như những thác nước đang cuồn cuộn chảy ngược về phía tôi và em, hỡi những ngôi sao chiếu mệnh, lũ ngươi là được sinh ra từ những tầng trời nào lại để cho  bọn ta luôn hứng chịu những va đập chết người, tôi ngửa mặt lên than như một cách thức xua đuổi nỗi sợ hãi, chúng ta chết mất, em thì thào, và cứ sấn người sát vào tôi làm như thể đề truyền cho nhau sức chịu đựng trước mối đe dọa của cuộc va đập gây ra bởi lũ người  vô sỉ, hãy nhìn lên những ngôi sao chiếu mệnh của chúng ta và chớ nghĩ đến bọn chúng nữa, giữa lúc gần kề sự chết, tôi kêu lên thế, và tựa hồ một thứ phép màu, một ngôi sao mới là đương hình thành trên bầu trời đêm đầy sao, thứ ánh sáng trẻ trung ấy bất chợt chiếu rọi vào tận chỗ sâu thẳm trong ý thức của tôi và em, áo ai bay lộng lẫy giữa đất trời, em nói vừa đủ cho tôi nghe, những phù sinh bay lượn  giữa phù hoa, tôi cũng nói đủ để em nghe, lúc bấy giờ, thứ ánh sáng trẻ trung của ngôi sao mới được hình thành cùng những ký ức sách vở của tôi và em tựa thứ phép màu đang mở ra một cảnh trí mới, 
chẳng biết có xảy ra thật thế không, hay chỉ là những ký ức sách vở, bấy giờ là tôi và em đã nhìn thấy được buổi uyên nguyên của trời đất, dường như em vừa nghe thấy có tiếng nổ lớn, em nói, tôi cũng nghe thấy thế, tôi nói, và bất chợt bầu trời ở trên đầu  như đang phình ra, lũ sao trời là như đang chạy trốn nhau, một vũ điệu sao, em có nhìn thấy hay không, thấy, tôi hỏi, và em đáp, bấy giờ, chẳng ai bảo ai, tôi và em là cùng ngửa mặt lên bầu trời đêm để hứng lấy những âm vang lặng lẽ cùng những nhan sắc lộng lẫy của vũ trụ vô biên, những làng mạc, những thành phố của sao, cùng những ốc đảo của thiên hà là đang bồng bềnh trong thứ vũ điệu trộn lẫn giữa ngẫu nhiên với tất nhiên, đam mê và cuồng nhiệt là được cột chặt vào nhau, còn những đám tinh vân lang bạt kỳ hồ, thứ bụi thời gian vô danh vô kỷ là luôn lãng đãng quanh các thành phố và các  làng mạc của sao như để làm tăng thêm vẻ lãng mạn của tạo hóa, 
lạnh, em chợt kêu, quả tình bấy giờ là tôi cũng nghe thấy lạnh, bấy giờ bầu trời bất chợt phình to đến độ chỉ còn trông thấy một khoảng không trống rỗng, đã xảy ra tận thế hay sao, em hỏi cái câu hỏi trần thế hay hỏi mỗi lúc cảm thấy bất an nhưng nàng lại lộ nỗi hân hoan, tôi bảo không phải tận thế mà là chuyển đổi cách tạo tác, em hiểu ra rồi, là chuyển pha, em thì thầm kiểu sách vở, những chiếc phễu đen ngòm là đang hiện ra trước mắt tôi và em, con quái vật của trời đất là như đang hút sạch mọi thứ, 
bấy giờ, trước mắt tôi và em là một cảnh suy tàn, hoang lạnh, liền sau đó thì bầu trời lại sáng lại, nhưng khi cảnh tang thương ấy hiện ra, tôi nghe nàng kêu lên rằng chẳng lẽ nhân loại này chỉ là một thứ phiên bản của cuộc va đập  nguyên thủy, lộng lẫy và suy tàn… giọng nói của em đầy nỗi sợ hãi, có lẽ là vậy, tôi đáp, và cũng cảm thấy có nỗi sợ hãi to lớn nào đó đang xâm chiếm ý thức của mình, bấy giờ thì bằng một thứ thân thiện vô thức, tôi và em cứ bám lấy những ngôi sao chiếu mệnh của mình như bám lấy những chiếc phao mỏng manh đang trôi dạt giữa phong ba bão táp, lúc mặt trời soi rõ núi rừng, cuộc va đập có phần hòa hoãn hơn, tôi và em quyết định xuống núi để xem thử ai còn ai mất, ở lưng chừng núi có hai xác chết, chẳng phải xác người, mà là xác của mẹ con chúa sơn lâm, con cọp con là chết trong tư thế đang bám chặt lấy cổ mẹ, tôi và em lật xác bọn chúng coi thử thương tích thế nào, thấy thân thể của mẹ lẫn con đều nguyên vẹn nên biết là chết vì sợ hãi.
Phần nhận xét hiển thị trên trang

một tỷ hai trăm lẻ chín triệu con đường đi tìm chìa khóa




ngọc phụng & ngu yên


NGU.YEN
 Nhà sư Nhất hạnh đi tìm Phật tâm trời Đông cách tân Phật pháp trời Tây
          đúng hay sai, thời gian chưa trả lời
Thi sĩ Bùi Giáng viết rằng, Nhất Hạnh tâm hồn bị vây khốn bởi Tây Phương (1)
          đúng hay sai, thời gian chưa trả lời
Chúng ta cũng có thể hiểu, Bùi Giáng tâm hồn bị Đông Phương vây khốn
          đúng hay sai thời gian chưa trả lời.
Nhà sư sạch tóc phân biệt người có tóc loay hoay nhập triều thùy thủ
          thi sĩ tóc dài phân biệt người nghiêm trọng  tóc ngắn lanh quanh kiến tích
          trâu và rồng con nào dễ tìm hơn
          đúng hay sai thời gian chưa trả lời
Con vật này dưới đất gọi là trùn
          vào biển gọi thuồng luồng
          bay lên gọi là rồng        
          chưa hề có ai thấy rồng thật.
Hơn 1500 năm trước Trương Tăng Dao họa long điểm tinh
          không có tưởng ra có
          có rồi vẽ mắt rồng bay
          lập họa Siêu Nhiên
          mãi 1920 mới có Siêu Thực.
        Đúng hay sai thời gian chưa trả lời.
Có kẻ nuôi cá, tập cá từ nước lên bờ
          đi như thú vật bốn chân
          ngày ngày dẫn đi dạo   
          người người ngợi khen
          Charles Darwin chứng minh tiến hóa.
          Một hôm, cá lở vận rơi xuống sông
          chết đuối.
        Đúng hay sai thời gian chưa trả lời.
Ánh sáng đuốc thâm u làm đêm tăng kỳ tích đầy huyền hoặc
          ánh đèn điện làm đêm sáng choang thấy rõ đường đi
          ánh sáng nào cho tim niềm sung sướng
          tự hào hơn
          đúng hay sai thời gian chưa trả lời.
Trái đất có một tỷ hai trăm lẻ chín triệu con đường lớn nhỏ
          đường nào cũng có người đi
          người đi nào cũng cần ánh sáng
          dù kẻ mù, vẫn cần đèn lồng. (2)
Mặt trời mọc phương Đông lặn phương Tây. Thật ra chúng ta xoay quanh mặt trời.
Mặt trăng mọc phương Tây lặn phương Đông. Thật ra mặt trăng xoay quanh chúng ta.
Trời và trăng soi sáng chân bước
          đường đi hướng Đông đi mãi không tới Đông quay về gặp hướng Tây
          đường về hướng Tây đi mãi không tới Tây quay lại gặp hướng Đông.
Đông và Tây khác nhau như máu tuần hoàn tẩy chất dơ mang khí thở vào trí tuệ.
Đông và Tây khác nhau như mắt thấy tai nghe đem tâm tình sung mãn hương thơm.
Nhất hạnh đi hướng Tây đi mãi gặp Bùi Giáng.
Bùi Giáng đi hướng Đông đi mãi gặp Nhất hạnh.
Đông và Tây khác nhau câu hỏi giống nhau câu trả lời:
Mỗi câu hỏi mang tới câu hỏi khác câu hỏi khác câu hỏi khác
          mỗi câu trả lời như mở cánh cửa để thấy cửa khác đóng cửa khác đóng cửa khác đóng
          cánh cửa cuối cùng bị khoá chặt không có chìa khóa
          hỏi chìa khoá trả lời bất khả tư nghị hoặc đây là bí tích
          trả lời chính là ổ khóa.


Không ai tìm thấy chìa khóa
          không mở được cánh cửa cuối cùng
          không biết gì phía sau
          không thể đi trở về
          thôi thì sáng tác hồi sau tái ngộ.
sáng tác cần phải có thưởng ngoạn
          thưởng ngoạn lại yêu thích dâm dục tiền tài danh vọng giả dố
           thôi thì dọa sợ cho xong.
Con nít bị dọa ma
          thiếu nhi bị dọa hỏa ngục điện ngục nấu dầu cưa xương cắt lưỡi
          lớn lên bị dọa ác lai ác báo gieo gió gặt bão
          không ai nói gieo bão gặt được thứ gì
          về già bị dọa bệnh tật chết chóc ân oán đời sau
suốt cả một đời bị dọa bởi Phật Chúa Muhammad Khổng Tử cha thầy quan quyền pháp luật trường học thầy cô ăn cướp ăn trộm giết người da trắng da đen da đỏ Mỹ Nga Tàu....v..v..
          không phút nào ngơi nghỉ
          làm sao không buồn khổ lo âu
          làm sao không hoang tưởng hạnh phúc
          làm sao không sợ cái bóng thiên thu?
Kẻ sống bị dọa có tội
          kẻ chết bị dọa không được lên trời không được đầu thai
          kẻ chưa sinh bị dọa tội tổ tông chờ sẵn
          điều luật cha làm con chịu nay ở trần gian đã bỏ đã quên.
Nào phải Đông hay Tây vây khốn tâm hồn, chính sợ hãi vây tâm hồn khốn nạn.
Không ai tìm thấy chìa khóa nhưng mấy ai biết rằng không hề có chìa khóa?
sống là có chết là không, chìa khóa để làm gì?

Câu hỏi này sẽ mang tới câu hỏi khác câu hỏi khác câu hỏi khác..........
Thời gian chưa trả lời.

GHI:
(1): Không phải nguyên văn, chỉ là ý.
(2) Câu chuyện người mù đi đường cầm đèn, không phải cho ông mà cho người khác thấy.

Ngu Yên

Phần nhận xét hiển thị trên trang