Dù mi treo mãi lên cao - Vẫn là ở dưới tầng tao mấy vần- Hơn chỗ ngồi, hơn miếng ăn- Vẫn là bợ đít làm thân con cò- Bởi trời ít nắng nhiều mưa- Buồn tình ta viết tai cò có nghe- Đừng tưởng mình quá gớm ghê- Một tay sống chết chẳng hề run tay- Trời có mắt, đất có tai- Những quân gian hiểm lạc loài thế thôi!
Cho ta dịp cám ơn trời- Núi cao, sông rộng khí trời tự do- Khi kiếm củi, lúc ngâm thơ- Một mình không sợ bơ vơ một mình- Đời còn phép lạ hiếu sinh- Còn người ngay thẳng chân tình.. dẫu xa - Ta không sợ mất lời ca- Hòa vào dòng lớn bao la cuộc người - Đừng buồn ta nhá cò ơi-Bên sông ..đã vẳng tiếng ai, ơi đò!!
Phần nhận xét hiển thị trên trang
Thứ Hai, 5 tháng 5, 2014
Mẹo của Hitle và một số người:Hiệu ứng tập thể!
Nghệ thuật điều khiển đám đông | ||
Hitler và Mussolini có khả năng khiến hàng chục triệu người dân tin vào chủ nghĩa phát xít tàn bạo. Giờ đây các chuyên gia tâm lý và thần kinh đã tìm ra bí quyết giúp họ làm được điều đó.
Scott Wiltermuth, một nhà tâm lý của Đại học Stanford (Mỹ) và một số đồng nghiệp nhận thấy việc tổ chức các hoạt động tập thể, như diễu hành hoặc nhảy múa, giúp làm tăng lòng trung thành của đám đông đối với nhóm. “Những hoạt động ấy khiến mọi người cảm thấy họ là một phần của một thực thể lớn hơn, vì thế chúng ta coi tổ chức như cuộc sống của chúng ta”, ông nói. Nhóm nghiên cứu chia 96 người thành 4 nhóm và cho họ nghe cùng một bài hát. Nhóm thứ nhất nhẩm đọc thầm lời bài hát, nhóm thứ hai hát thành lời, nhóm thứ ba hát thành lời và nhảy múa theo một kiểu thống nhất, nhóm thứ tư nghe và nhảy múa loạn xạ. Sau khi bài hát kết thúc, các chuyên gia hỏi tình nguyện viên về suy nghĩ của họ đối với những người trong nhóm. Kết quả cho thấy phần lớn tình nguyện viên trong nhóm nhảy múa loạn xạ không muốn tiếp tục tham gia, trong khi ba nhóm kia sẵn sàng ở lại cùng nhau nếu thử nghiệm tiếp tục. Nhà tâm lý Jonathan Haidt của Đại học Virginia (Mỹ) cho rằng nghiên cứu của nhóm Scott giúp giải thích tại sao các trùm phát xít trong Thế chiến II hay sử dụng hoạt động diễu hành và hát tập thể để xui khiến đám đông thực hiện ý chí của họ. Tuy nhiên, ông nhấn mạnh rằng các thủ thuật đó có thể được sử dụng vì mục đích hòa bình. Chẳng hạn, hoạt động nhảy múa và ca hát tập thể tại một khu vực có mâu thuẫn sắc tộc hoặc tôn giáo có thể làm dịu căng thẳng.
Trong khi đó, Charles Seger, chuyên gia tâm lý Đại học Indiana (Mỹ) và cộng sự thực hiện một thử nghiệm khác để tìm hiểu tác động của các hình ảnh tuyên truyền đối với con người. Nhóm nghiên cứu chia sinh viên thành hai nhóm rồi cho một nhóm xem các bức ảnh liên quan tới trường đại học. Sau đó các chuyên gia yêu cầu sinh viên tự đánh giá cảm xúc (lòng tự hào, cảm giác hạnh phúc) đối với trường theo thang điểm. Kết quả cho thấy, thang điểm của những sinh viên xem ảnh cao hơn hẳn so với nhóm không xem. Jonathan nhận xét rằng não của con người có xu hướng buộc chúng ta bắt chước đồng loại. “Chúng ta được lập trình để tự động sao chép hành vi của người khác. Trong não người có một loại tế bào thần kinh đặc biệt. Chúng phát sáng khi chúng ta thực hiện một hành động hoặc xem người khác thực hiện hành động giống hệt chúng ta”, ông nói. Các nhà khoa học thần kinh đã tìm thấy nhiều bằng chứng ủng hộ giả thiết của Jonathan. Vasily Klucharev, chuyên gia thần kinh tại Hà Lan, phát hiện ra rằng não giải phóng nhiều dopamine (chất gây hưng phấn) hơn khi chúng ta cùng tham gia một hoạt động nào đó với nhiều người. Nhóm của ông yêu cầu 24 phụ nữ đánh giá mức độ hấp dẫn của hơn 200 phụ nữ khác theo một thang điểm. Khi một tình nguyện viên nhận thấy điểm của mình chênh lệch quá lớn so với nhiều người khác, họ có xu hướng điều chỉnh. Kết quả chụp cộng hưởng từ cho thấy não của tình nguyện viên phát ra “tín hiệu lỗi” mỗi khi một phụ nữ nhận ra sự khác biệt về điểm số so với người khác. “Đó là cách chúng ta học cách làm theo đám đông”, Vasily kết luận. |
Phần nhận xét hiển thị trên trang
Ngày đã xa dưới ống kính các NAG nước ngoài: (SOHA )
Một phụ nữ miền Bắc đầu đội nón lá đang tát nước từ mương vào ruộng. Ảnh chụp tại tỉnh Nam Hà (cũ). Ảnh:Werner Schulze/dpa/Corbis
Mối tình thời chiến. Ảnh: Thomas Billhardt
Em bé thổi sáo trên lưng trâu. Ảnh: Thomas Billhardt
Một thanh niên xung phong châm thuốc cho một người lớn tuổi trên nghĩa địa. Ảnh: Thomas Billhardt
Người dân tìm kiếm tài sản còn sót lại trong đống đổ nát. Ảnh: Thomas Billhardt
Bên kia sông Thạch Hãn. Ảnh: Corbis.
Cầu Hàm Rồng qua sông Mã, Thanh Hóa 1973 đã bị đánh sập sau một trận ném bom của không quân Mỹ gần quốc lộ 1. Ảnh:Werner Schulze/dpa/Corbis.
Trẻ em chơi bập bênh trong một nhà trẻ gần Hà Nội. Ảnh:Werner Schulze/dpa/Corbis.
Chợ gạo tại một làng quê ở miền Bắc. Ảnh: Corbis.
Trụ sở Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, thời Pháp thuộc có tên là Ngân hàng Đông Dương. Ảnh: Ishikawa Bunyo.
Hố bom trong sân bệnh viện Bạch Mai - Hà Nội. Ảnh chụp năm 1972
Một khu chợ trong trung tâm Hà Nội, 1972.
Hà Nội 1973 - Cầu Long Biên trong thời gian sửa chữa.
Ngôi làng ở Cam Giá, Thái Nguyên. Ảnh: Günter Mosler
Đoàn xe trâu chở củi. Ảnh: Günter Mosler
Hình ảnh người nông dân. Ảnh: Günter Mosler
Phơi rơm rạ trên đường làng. Ảnh: Günter Mosler
Phần nhận xét hiển thị trên trang
Ngày mai sẽ ra sao?
25 năm thay đổi thế giới |
Sau 25 năm, World Wide Web tiếp tục sứ mệnh cách mạng hóa công nghệ trên toàn thế giới, tạo ảnh hưởng sâu sắc trong nền văn minh nhân loại thời hiện đại.
Cách đây 1/4 thế kỷ, mạng lưới toàn cầu World Wide Web chỉ là một ý tưởng mơ hồ của một chuyên gia máy tính trẻ tuổi. Theo AFP, Tim Berners-Lee của Trung tâm nghiên cứu Cern ở Thụy Sĩ ban đầu chỉ muốn nghĩ ra một phương pháp cho phép truy cập dễ dàng các tập tin từ nhiều máy tính liên kết với nhau. Tuy nhiên, ý tưởng này nhanh chóng mở đường cho một hiện tượng toàn cầu có ảnh hưởng đến cuộc sống của hàng tỉ người trên thế giới. Lúc đó, chuyên gia Anh đã trình bày kế hoạch của mình vào ngày 12/3/1989, và đó là thời điểm được công nhận là ngày khai sinh WWW. Dù vậy, đối với người thời đó, ý tưởng quá mức táo bạo như vậy dường như không thực, và khó có thể triển khai trên thực tế. Trước dự án bị xem là quá “xấc xược”, các đồng nghiệp Cern của Berners-Lee hoàn toàn phớt lờ, theo cha đẻ của WWW nhớ lại. Vào thời đó, ít ai biết được quân đội Mỹ đã bắt đầu nghiên cứu dự án các mạng máy tính nối kết từ những năm 1950, và đến năm 1969 Lầu Năm Góc triển khai Arpanet, được gọi là“tiền bối” của mạng lưới toàn cầu. Do vậy, WWW là một trong vài ý tưởng hiếm hoi được công khai trước dư luận. Berners-Lee đã thuyết phục Cern áp dụng hệ thống của mình, chứng minh mặt hữu dụng của nó bằng cách kết hợp sổ điện thoại của phòng thí nghiệm vào một bảng chú dẫn trên mạng. Bằng cách này, chuyên gia Berners-Lee chứng tỏ được hệ thống hoạt động xuyên suốt trên các hệ điều hành máy tính. Và nó có khả năng cho phép người dùng nhấp chuột lên các đường dẫn nếu muốn truy cập những máy tính được đặt ở nơi khác. Lúc này, WWW không phải là hệ thống tối ưu nhất, nhưng ưu điểm lớn nhất là miễn phí. Các dịch vụ trực tuyến đối thủ khác như CompuServe tại Mỹ và Minitel của Pháp đều thu phí sử dụng. Ý tưởng táo bạo giúp chuyên gia trẻ Tim Berners-Lee sáng lập WWW - (Ảnh: livejournal.ru) Vào lúc khai sinh WWW, nhiều người trong chúng ta không thể nào mường tượng được web ảnh hưởng như thế nào đến tương lai. Đến nay, ý tưởng của Berners-Lee tiếp tục gặt hái thành công chói lọi. Hiện có khoảng 2,3 tỉ trang web mà đại đa số người dùng có thể truy cập, tức chưa tính những website ẩn. Tuy nhiên, mới có khoảng 40% số dân trên toàn cầu tiếp cận được WWW, và cùng với công nghệ di động, các bên đang nỗ lực phủ sóng internet đến những ngóc ngách của địa cầu. Những điều thú vị về WWW• Vào ngày 6/8/1991, website đầu tiên http://info.cern.ch lên mạng.• NeXT là máy chủ đầu tiên trên thế giới của web, và được dùng để viết trình duyệt web đầu tiên là World Wide Web vào 1990. • Cha đẻ Berners-Lee tải bức hình đầu tiên lên web vào 1992, chụp ảnh ban nhạc của Cern là Les Horribles Cernettes. • WWW đã đánh dấu bước ngoặt trong lịch sử với việc triển khai trình duyệt web Mosaic vào năm 1993. Đây là trình duyệt đồ họa của Đại học Illinois. • Archie được xem là cỗ máy tìm kiếm đầu tiên trên internet. • Phim ảnh khiêu dâm chiếm phần lớn trên web, nhưng website đầu tiên mang đuôi miền .xxx đầu tiên lên mạng vào tháng 8/2011. • Internet và web thường bị nhầm lẫn là hai khái niệm đồng nhất. Internet chỉ mạng lưới cơ sở hạ tầng rộng lớn kết nối hàng triệu máy tính trên toàn thế giới với nhau, còn WWW là tập hợp các trang văn bản, ảnh kỹ thuật số, tập tin âm nhạc, video, hoạt ảnh, mà người dùng có thể truy cập trên internet. |
Phần nhận xét hiển thị trên trang
Chân dung mạng Internet năm 2025
Năm 2015, liệu chúng ta có quên mất là mạng Internet đang tồn tại? Internet sẽ tiến hóa nhanh tới mức con người không thể theo kịp hay nó sẽ làm loài người cảm thấy cực kỳ cô đơn?
>>> WWW - 25 năm thay đổi thế giới Danh hài Charlie Chaplin đã từng nói rạp chiếu phim chỉ là mốt nhất thời. Năm 1936, báo The New York Times viết “tên lửa sẽ không bao giờ bay khỏi bầu khí quyển trái đất”. Năm 1955, tạp chí Variety tuyên bố nhạc rock n' roll sẽ biến mất vào tháng Sáu năm đó. Thật khó để dự đoán được tương lai, nhưng điều này không thể ngăn các nhà nghiên cứu phát huy trí tưởng tượng của mình. Thứ Ba vừa qua, dự án Internet Project của Pew Research và Trung tâm Imagining The Internet Center thuộc Đại học Elon đã xây dựng hình ảnh về đời sống trực tuyến năm 2015 bằng cách tổng hợp dự đoán của các viện nghiên cứu và các nhà khoa học. Dưới đây là những dự đoán thú vị nhất: Năm 2015, bạn sẽ quên mất rằng mạng Internet tồn tại“Mạng Internet (và các hoạt động giao tiếp lấy máy tính làm trung gian nói chung) sẽ được sử dụng phổ biến hơn, nhưng sẽ tồn tại dưới những hình thức khó nhìn thấy bằng mắt thường hơn . Ở mức độ nào đó, nó sẽ ẩn phía sau tất cả những gì chúng ta làm”, theo lời ông Joe Touch, giám đốc Viện Khoa học Thông tin của Đại học Nam California.Phổ cập mạng Internet và cơ hội truy cập kho kiến thức nhân loạiVới các nguồn kiến thức đã có như Wikipedia và Khan Academy, mạng Internet hiện đang cho phép chúng ta truy cập một nền giáo dục chưa từng có trước đây. Nhiều học giả tin rằng những nguồn thông tin này chỉ có thể ngày càng tốt hơn, tạo ra một sân chơi bình đẳng hơn. Ông Hal Varian, giám đốc kinh tế của Google, tin rằng “tác động lớn nhất của Internet lên thế giới sẽ là phổ cập đường truy cập vào kho kiến thức của loài người. Hiện tại, biết đâu người thông minh nhất thế giới đang bị mắc kẹt ở góc nào đó tại Ấn Độ hay Trung Quốc. Việc tạo điều kiện học tập cho người đó – và hàng triệu người như anh ta hoặc cô ta – sẽ có tác động sâu sắc tới sự phát triển của nhân loại”.Mạng Internet sẽ thay đổi nhanh chóng tới mức bạn không thể theo kịpNhà triết học Marshall McLuhan đã từng nói: “Chúng ta làm ra các công cụ, và các công cụ lại làm ra chúng ta”. Rất nhiều nhà bình luận tham gia cuộc khảo sát của Pew đồng ý với điều đó. Khi công nghệ tiến bộ và tiến hóa ở tốc độ chưa từng có, xuất hiện mối lo ngại rằng chúng ta không thể nhận ra những hậu quả và cạm bẫy tiềm tàng. Nỗi lo sợ là con người sẽ không thể nhận thấy và nắm bắt đầy đủ những gì họ đang nhúng tay vào, những gì họ đang đồng thuận và những gì họ đang gây ra trên mạng trực tuyến. Một người tham gia cuộc khảo sát đã viết: “thông tin mà chúng ta cần sẽ tự tìm đường đến với chúng ta, khi mạng Internet biết cách dự đoán chính xác sở thích và cả điểm yếu của người dùng. Điều đó sẽ xúi giục chúng ta ngừng tìm kiếm tri thức, giới hạn tầm nhìn của chúng ta”.Mạng Internet sẽ phá bỏ khoảng cách địa lý“Khi mỗi người trên hành tinh này đều có thể tiếp cận và liên lạc qua lại với tất cả những người khác, sức mạnh của nhà nước quốc gia trong việc kiểm sát từng người dân trong biên giới địa lý sẽ dần giảm xuống”, theo ông David Hughes, một nhà tiên phong ở lĩnh vực viễn thông, phát biểu trong buổi phòng vấn với Pew.Mạng Internet sẽ khiến chúng ta cực kỳ cô đơnÔng Bob Briscoe, giám đốc nghiên cứu của hãng viễn thông British Telecom (Anh), lo ngại rằng trong khi Internet khiến con người tương tác với nhau nhiều hơn, nó có thể cũng khiến các mối quan hệ giữa người với người trở nên hời hợt và thiếu bền vững.Một số học giả khác tin rằng kết nối toàn cầu sẽ dẫn tới sự cô lập cục bộ, rằng “ngôi làng thế giới” đem lại những lợi ích riêng, nhưng cũng khiến chúng ta cảm thấy cô độc. “Her” là một bộ phim nổi tiếng của đạo diễn Spike Jonze về tác động của công nghệ hiện đại tới đời sống của con người. Nhân vật chính của phim là một người đàn ông giữa lúc cô đơn vì hôn nhân tan vỡ đã đem lòng yêu một hệ điều hành máy tính. Trong năm 2025, biết đâu kịch bản này sẽ xảy ra ngoài đời thật. |
Phần nhận xét hiển thị trên trang
Tâm trí con người được vẽ lại tuyệt đẹp
Những ai đã nhìn thấy tâm trí? Không phải bạn hay bất cứ nhà thần kinh học nào có thể mở được bí mật vô hình, đầy mãnh lực và thất thường như gió của tâm trí con người.
Trong nhiều thập kỷ qua, các nhà khoa học đã có những kỹ thuật hiện đại để thăm dò phần chưa được khai phá của não bộ, đó là tâm trí, thể hiện qua suy nghĩ, cảm xúc, sự chịu đựng....Tuy nhiên, công việc này vẫn quá sức đối với các nhà khoa học tầm cỡ trung bình. Carl Schoonover, 27, đã tiến tới thách thức này khi làm tiến sĩ về thần kinh học ở Columbia. Anh đã vẽ lại cho những độc giả thông thường những hình ảnh tuyệt đẹp về tâm trí qua cuốn sách vừa xuất bản có tên " Chân dung của tâm trí: Hình ảnh hoá não bộ từ xưa đến thế kỷ 21" ( “Portraits of the Mind: Visualizing the Brain From Antiquity to the 21st Century”. Dưới đây là một phần hình ảnh trong cuốn sách. Tế bào thần kinh tiểu não Purkinje, 2003. Vi ảnh này cho thấy một phần của tiểu não, trong đó chỉ có một loại tế bào thần kinh - tế bào Purkinje. Võng mạc Chick , 2008. Cách chụp vi ảnh này của võng mạc này bằng cách sử dụng một kháng thể nhuộm, trong đó khai thác độ chính xác tinh tế và độ nhạy của kháng thể để nhận ra các phân tử sinh học cụ thể. Ở phía trên của hình ảnh là tế bào thụ cảm của võng mạc (màu xám) - tế bào hình que và hình nón đó nắm bắt các photon của ánh sáng và dịch chúng thành tín hiệu điện mà bộ não có thể hiểu được. Bệnh dại, 2005. Mạng tế bào, 1995. Hình ảnh này cho thấy tế bào thần kinh soma đơn và tinh thể nhánh cây (màu da cam, ở trung tâm) và các nhánh dày đặc của nó (màu vàng). Nền màu xanh thể hiện các tế bào thần kinh lân cận, thể hiện cấu trúc tổng thể của khu vực não bộ. Tiểu não, năm 2007. Các tế bào thần kinh của bộ não nhỏ, phức tạp và rất dày đặc. Điều này làm cho nó cực kỳ khó khăn để "nói" với những tế bào hàng xóm và hiểu được cách thức chúng được kết nối với nhau. Neocortex, 2007. Đây là một phần nhỏ của neocortex, lớp ngoài của não. |
Phần nhận xét hiển thị trên trang
Cuộc đời ngoài cửa - một hiện thực chưa tới bến! ( Bến nào zậy? )
Một Thế Giới
Cuốn tiểu thuyết mở đầu bằng một tình tiết thiếu hấp dẫn, nếu không nói rằng có thể gây chán, khi hai “lão bạn già” gặp nhau và cùng nhau kéo đến một quán bia vỉa hè cũ để mà hoài niệm. Một trong hai “lão già” đó là nhân vật chính, người sẽ dẫn dắt bạn đọc đi xuyên suốt cuốn tiểu thuyết này, và chính sự va đập của những nhân vật trong một cuộc hành trình hơi phi tưởng đã làm nên cái hấp dẫn từ những chương sau.
Nhân vật chính, luôn nghĩ đến tha nhân trước mình, hết lòng vì tha nhân, có muốn làm người xấu cũng không xấu được, một mẫu người “cổ điển” nhưng lại cần cho một xã hội nhân bản, oái ăm thay lại gần như lạc loài giữa đám đông hiện tại.
Cuộc hành trình đó, được mô tả như một chuyến đi bằng xe ô tô “khắp đất nước”, một chuyến đi thấm đẫm chất bi hài, nhưng bi nhiều hơn hài, ở đó nhân vật chính, một người đàn ông có thể gọi là “thành phần trí thức”, bởi ông ta từng là giáo viên dạy Văn, ông ta còn là một nhà thơ không chuyên và đang chạy trốn một bi kịch thời đại: sự nguội lạnh, mâu thuẫn cách sống dẫn đến tan vỡ của một gia đình truyền thống. Đây là một mẫu nhân vật có phần cá biệt, sống khép kín và sau biến cố gia đình mới dám thử đưa đời mình ra ngoài cuộc đời bằng một chuyến đi. Rồi qua những mảnh đời ông gặp ngoài cửa xe, qua tương tác với cô con gái tham gia một cách bất ngờ vào phút chót, ông đã cư xử, nhìn lại, suy gẫm về chính đời mình và hơn hết là thế thái nhân tình.
Trong suốt cuộc hành trình vất vả của hai cha con, từ những cuộc đời ngoài cửa xe của nhân vật, tác giả dần hé lộ một bi kịch về nhân thân của nhân vật chính. Và trong một không gian tù túng là chiếc xe hoặc ngột ngạt như phòng trọ, phòng khách sạn, sự tương tác bắt buộc đó làm bật lên cái bi kịch xung đột hai thế hệ, hai cách sống, hai cách nghĩ và tất nhiên hai cách cư xử hoàn toàn khác nhau trước những tình huống mà cha – con họ gặp phải. Nếu người cha cho rằng cô con gái của mình quá vô cảm, ích kỷ, chỉ biết lo cho bản thân mặc kệ những cảnh đời quanh mình thì cô con gái trong độ tuổi chớm thành niên, lại nhìn người cha với ánh mắt xa lạ, đánh giá cha như một kẻ rỗi hơi, ưa chen vào những chuyện không phải của mình và có phần khùng điên, trong một đối thoại cô bé đã đưa ra nhận xét một cách khái quát: “… bây giờ ai chẳng khùng. Con có một trăm đứa bạn, cả trăm đứa khùng hết trơn. Mỗi đứa khùng với một lý do khác nhau. Đứa gia đình. Đứa yêu đương nhăng nhít. Nhiều đứa khùng rất… mông lung, chẳng hiểu tại sao khùng. Trẻ khùng kiểu trẻ, già khùng kiểu già” (trang 89)
| Bìa tiểu thuyết mới của |
Cuộc hành trình tưởng như vô định đó, đôi khi lại phải nhờ vào phương tiện hiện đại là chiếc điện thoại nối mạng của cô con gái để… dò đường. Họ đã lên núi, xuống biển, ghé miền quê, đến các thành phố chưa từng đến… tiếp xúc, chung đụng với nhiều cảnh đời, nhiều số phận.
Từ chuyện bi hài như một tay “nhà thơ” lợi dụng sự chân chất của người dân tộc, đến nỗi đau uất nghẹn của những nông dân mất đất, ngư dân chết biển, thanh niên nghèo bán thận, những cô gái điếm cô đơn, những tay chủ quán, chủ khách sạn bịp bợm… với sự dẫn dắt câu chuyện khá tự nhiên, cuốn tiểu thuyết dần cuốn người đọc vào cảm xúc bỡ ngỡ nhưng cam chịu của nhân vật chính, hụt hẫng với ông khi đối diện những địa danh hằn trong trí nhớ qua thơ ca lãng mạn, giờ vẫn còn đó mà đã biến mất, bởi sự thực dụng khốc liệt của thời cuộc. Qua mắt nhìn của nhân vật, đó là một cuộc đổ vỡ, từ gia đình đến xã hội, từ ngoại cảnh đến nội tâm.
Và chính cái không thích nghi với thực dụng đó, đã biến nhân vật thành cá biệt. Tuy vậy cái cá biệt đó không phải không mang tính phổ quát. Nhân vật chính, luôn nghĩ đến tha nhân trước mình, hết lòng vì tha nhân, có muốn làm người xấu cũng không xấu được, một mẫu người “cổ điển” nhưng lại cần cho một xã hội nhân bản, oái ăm thay lại gần như lạc loài giữa đám đông hiện tại, bi kịch hơn, chính cái lòng trắc ẩn đó lại khiến ông ta luôn lâm vào những tình thế khó xử ngoài đời và lạc loài ngay trong cái tổ ấm của mình và một phần là tác nhân làm nó đổ vỡ.
Càng về cuối, “cuộc đời ngoài cửa” càng khốc liệt, một sự khốc liệt dành cho một nhân vật lạc loài và lỗi thời. Đó có thể xem là một kẻ thất bại, bất lực từ thể chất đến tinh thần, dùng dằng, không dám chọn cho mình một cách sống lên núi, cất lều ở một mình như người bạn thân của ông ta (chương 3) và người bạn tình cờ gặp bên hẻm núi (chương 20 - chương cuối) nên cái kết thúc bi thảm giành cho ông là đương nhiên.
Cuộc đời thực tàn nhẫn ngoài kia chối bỏ ông dù ông đã thiết kế một hành trình xuyên suốt chiều dài đất nước để đi tìm nó. Nhưng do chỉ và duy nhất với tâm thức hoài niệm, tiếc nuối cái cũ một cách thụ động nên số phận ông gần như đã được báo trước: vực thẳm, chỉ có một cách duy nhất: lao xe vào vực thẳm!
Về ngôn ngữ của cuốn tiểu thuyết này, nhất là ngôn ngữ đối thoại chưa nhuần nhị lắm, có vẻ như tác giả cố tình trung tính hóa nhằm xóa nhòa ranh giới giữa các vùng miền, nhưng chính điều này lại làm cho những đoạn trao đổi giữa các nhân vật gây cảm giác khô cứng, bởi trong một tác phẩm, đối thoại là một trong những biểu cảm quan trọng nhất, nối liền độc giả với tác phẩm, nhất là trong một cuốn sách mà các nhân vật đều không có tên.
| Nhà văn Nguyễn Danh Lam |
Dù vậy đây có thể xem là một cuốn tiểu thuyết rất đáng đọc. Nhìn lại thế hệ của nhà văn Nguyễn Danh Lam và trẻ hơn, khi mà những cây bút đang chạy theo những trào lưu ngôn tình, bí hiểm… để tìm kiếm sự nổi tiếng và lợi lộc thì sự quay trở lại với mô tả hiện thực, cố gắng tiếp cận hiện thực khốc liệt như nó đang là (tất nhiên trong hoàn cảnh sáng tác hiện nay, điều này còn xa) là một ý thức đầy tự trọng của người sáng tác.
Chưa tới bến! Tôi nghĩ vậy khi đọc xong cuốn tiểu thuyết này. Một cuốn khác của Nguyễn Danh Lam đang nằm trong kệ sách của tôi, đó là cuốn “Giữa dòng chảy lạc” nhưng tôi chưa muốn đọc nó vì không muốn cảm xúc bị phân tán. Chưa tới bến, hiểu theo kiểu Nam bộ là “chưa đã, chưa thấm, chưa tới” nhưng cũng có thể hiểu rằng hạnh phúc (của nhà văn) là một cuộc hành trình (của chữ) chứ không phải bến bờ của nó.
------------------
(*) Tiểu thuyết của Nguyễn Danh Lam - NXB Hội Nhà Văn
Nguyễn Đình Bổn
Phần nhận xét hiển thị trên trang
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)