Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Tư, 23 tháng 4, 2014

Nghiên cứu văn học


V.E. Khalizev [1]
В.Е. Хализев
V. E. Khalizev

Linh hồn của cách tân là sự tái định giá tương lai từ vị thế thành tựu của quá khứ
 P. Ricoeur [2].
 “Những việc cần làm ở Nga, dẫu đơn giản cũng thành khó khăn”
 M.M. Prisvin [3]

Vài chục năm trở lại đây, những công trình viết về nền nghiên cứu văn học của nước ta thời Xô viết ngày càng xuất hiện nhiều hơn. Có những trường hợp, các học giả chỉ xoáy vào một phạm vi dữ liệu cục bộ nào đó (loại công trình này nhiều không tính xuể), với những trường hợp khác, người ta lại khảo sát sự tác động của hệ tư tưởng chủ đạo tới văn học và tới khoa học về tư tưởng hệ[4]. Ngoài ra, người ta còn nghiên cứu những cuộc đàn áp kéo dài suốt nửa thế kỉ do các cấp chính quyền nhà nước thực hiện đối với giới văn nghệ sĩ và trí thức[5].
Tuy nhiên, loại “siêu đề tài” này vẫn chưa được khai thác cạn kiệt. Công trình của chúng tôi là một thử nghiệm nghiên cứu sơ bộ bối cảnh đời sống và hoạt động của các nhà nghiên cứu văn học thời Xô viết dưới áp lực tư tưởng hệ, nặng nề nhất là những năm 1930 – 1940. Điều chủ yếu chúng tôi muốn bàn bạc là: các nhà nghiên cứu (ngược với những khó khăn có vẻ như không thể vượt qua) đã bảo vệ công việc và bản thân mình như thế nào để thoát khỏi áp lực từ phía bên ngoài.
***
Trong nghiên cứu văn học thời Xô viết, chủ nghĩa Marx có hai mặt. Thứ nhất, đó là cơ sở thế giới quan và phương pháp luận làm việc của những học giả, trước hết là những học giả “hàng đầu”, ví như V.F. Pereverzev, G.N. Pospelov, M.A. Lifshits, D. Lukacs, di sản của họ cho đến nay vẫn chưa mất ý nghĩa.
Hiểu theo nghĩa như thế, thuộc về chủ nghĩa Marx còn phải kể thêm G.A. Gukovski ở giai đoạn cuối, người có những công trình thể hiện sự “tán thành và thậm chí hoàn toàn hoà tan vào hệ tư tưởng chính thống”[6], Iu.M. Lotman, người bác bỏ chủ nghĩa ảo tưởng của hệ tư tưởng marxiste, nhưng lại dựa vào phương pháp của Marx, vào phép biện chứng và chủ nghĩa lịch sử của ông ấy[7], Iu.G. Oksman với hàng loạt công trình lấy nền tảng phương pháp luận là những ý kiến của Lenin về phong trào giải phóng ở nước Nga[8].
Thứ hai, chủ nghĩa Marx (chính xác hơn là “phiên bản Liên Xô” của nó) trở thành quyền lực trừng phạt của nhà nước, nó được sử dụng như một công cụ trấn áp khoa học (chắc chắn, trước hết là khoa học về văn học và nghệ thuật). Nó tựa như một chiếc dùi cui mà người ta nắm chắc trong tay và mang ra dùng thả sức ở thế giới Nga (chính xác hơn, thế giới Liên Xô). Ở chức năng dùi cui, “chủ nghĩa Marx” (trường hợp này dứt khoát phải để trong ngoặc kép) tích cực khẳng định bản thân trong nghiên cứu văn học vào khoảng giáp ranh những năm 1920 – 1930. Một bài báo có tính chất định hướng (“Sự thật”, 18.9.1919) từng tuyên bố: “Người bạn đường của giai cấp vô sản không phải là những ai chỉ dừng lại ở việc “tiếp nhận” cách mạng, mà là nhà văn biết nhìn thấy mục đích cuối cùng của cách mạng là chủ nghĩa xã hội, nhà văn biết dùng sáng tác của mình để tham gia vào công cuộc xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa… Bởi vì, những kẻ ngoảnh mặt đi trước các yêu cầu của thời đại dứt khoát sẽ chống lại các yêu cầu ấy”[9]. Vì thế, nhiều năm sau này, người ta ngang nhiên trương lên khẩu hiệu: “Ai không đi với chúng ta, người ấy là kẻ thù của chúng ta, người ấy cần phải loại bỏ”. Đúng vào thời kì này, kết hợp từ “nghiên cứu văn học marxiste – leniniste” (và/hoặc: nghệ thuật học) xuất hiện và được kiện toàn. Nó tự xưng là thứ khoa học phổ quát, duy nhất đúng. Một trong những tài liệu chính thống từng khẳng định, rằng điều kiện tối quan trọng để xây dựng nền khoa học đích thực về văn học là phải tiến hành một cuộc “đấu tranh triệt để và không khoan nhượng chống lại mọi sự xuyên tạc để bảo vệ sự trong sạch của chủ nghĩa Marx – Lenin”[10]. Sự “trong sạch của chủ nghĩa Marx – Lenin” được hiểu như là yêu cầu bắt buộc phải quy nghiên cứu văn học vào việc khảo sát nguồn cội giai cấp – xã hội của sự sáng tạo ở các nhà văn và trong các tác phẩm. Vào năm 1932, nhà nghiên cứu văn học A.G. Tseitlin khẳng định: “Không ai có quyền quên rằng, vấn đề chức năng xã hội của văn học nghệ thuật chính là vấn đề quan trọng nhất trong số những vấn đề đang đặt ra trước chúng ta”[11]. Tội quên “bản chất giai cấp” của nghệ thuật ngôn từ chẳng những đáng bị phê phán nghiêm khắc, mà còn bị trấn áp, theo nghĩa đen, nghĩa trực tiếp của từ ấy. Điều này đã được A.V. Lunatsarski nói rõ vào năm 1933: “Chúng ta không thể không trấn áp những nhà văn và nghệ sĩ đang sử dụng nghệ thuật và văn học để đấu tranh phản cách mạng với chúng ta”[12]. Điều Lunatsarski nói dĩ nhiên có quan hệ với cả phê bình văn học và khoa học về văn học.
Hệ thống các biện pháp trấn áp đối với nghiên cứu văn học được sử dụng vào những năm 1930 – 1940 (mấy thập niên sau có giảm nhẹ hơn) có rất nhiều mặt và đa dạng theo cách riêng của nó: kiểm duyệt xuyên tạc văn bản, trực tiếp ra lệnh cấm xuất bản bản thảo, tước bỏ quyền xuất bản (hệ thống “gác cổng chuyên nghiệp”), đôi khi trực tiếp tiêu huỷ toàn bộ ấn phẩm của cuốn sách trước khi nó được phát hành, đuổi việc, sa thải các học giả, bắt bớ, bỏ tù họ…
Dưới thời Stalin, việc trấn áp các nhà hoạt động nghệ thuật và văn học, trong đó có các học giả, hoàn toàn không có hồi kết. Danh sách các nạn nhân được mở ra bằng D.S. Likhachev (4 năm tù: 1928 – 1932) và khép lại bằng L.E. Pinski, bạn đồng tuế của ông (5 năm tù: 1951 – 1956). V.F. Pereverzv, M.M. Bakhtin, V.V. Vinogradov, Iu.G. Oksman, D.E. Macsimov từng phải ngồi tù, hoặc đi đày. Chẳng bao lâu sau khi bị bắt (1949), G.A. Gukovski và I.M. Nusinov đã chết trong nhà tù Lefortovo. G.N. Pospelov, L.Ja. Ghinburg và nhiều người khác bị hỏi cung, thẩm vấn. Tiến hành lục soát (ngay cả sau thời đại Stalin), tìm mọi cách để phát hiện các tài liệu bị cấm được lưu giữ trong nhà các học giả (nhà Iu.M. Lotman và Iu.G. Oksman từng bị lục soát như thế).
Một dấu hiệu thời đại không kém phần quan trọng: trên báo chí và trong các cuộc họp, thường xuyên diễn ra những cuộc “kiểm thảo” và tố giác các học giả và các nhóm làm việc của họ kèm theo sự trấn áp tàn khốc với những mức độ khác nhau. Từ năm 1922 đến 1929 (sau sự kiện “con tàu triết học” nổi tiếng(·)), việc buộc tội tuy rất nghiêm khắc, nhưng chưa có sự bắt bớ. Chẳng hạn, năm 1926, theo quyết định của Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản, tạp chí “Nước Nga mới” bị đình bản, Tổng biên tập I. Leznhev (theo sau các nhà triết học) bị trục xuất ra nước ngoài, nhưng năm 1930 lại được quay về Liên Xô.
Vào quãng giáp ranh giữa những năm 1920 – 1930, chính sách của đảng và nhà nước đối với văn học, nghiên cứu văn học và phê bình trở nên vô cùng khắc nghiệt. Nhóm hình thức luận, trường phái Pereverzev và Viện Hàn lâm Quốc gia các khoa học nghệ thuật (“ГАХН”), một cơ quan có nhiều học giả lớn không thuộc về trường phái nào trong số các trường phái kể trên, đã phải hứng chịu những đòn chí tử làm cho tan tác (ở đây, vào nửa sau những năm 1920, xu hướng xã hội học hoá theo kiểu bán cưỡng bức ngày càng tăng lên).
Đến những năm 1930, các biện pháp trấn áp đối với giới ngữ văn học trở nên vô cùng tàn khốc. Vào giữa năm 1933 – 1934, “Vụ án các nhà nghiên cứu Slavơ” được nguỵ tạo và kết thúc bằng hàng loạt cuộc bắt bớ, tù đày; muộn hơn một chút, vào các năm 1937 – 1938, người ta thủ tiêu hàng loạt nhân vật đang bị trấn áp. V.N. Perets, một nhà nghiên cứu văn học chắc chắn là có uy tín nhất trong thế hệ đầu đàn thời đó, phải đi đày và không lâu sau đó thì chết. Theo lời của các nhà nghiên cứu thời ấy, ““Vụ án các nhà nghiên cứ Slavơ” là một khâu của chiến dịch chống lại giới trí thức cũ: mục đích của nó là đe doạ và tiêu diệt những người được giáo dục theo một hệ thống giá trị khác” (không giống với hệ thống giá trị Marxiste – Leninste.- V. Kh.)[13].
Mâu thuẫn gay gắt trong môi trường của giới học giả và những kẻ nguỵ học giả, những chiến binh năng nổ của hệ tư tưởng marxiste, là một sự thật quan trọng trong đời sống của khoa nghiên cứu văn học vào những năm 1930. Những cuộc đối đầu theo kiểu như thế giữa những nhà nghiên cứu văn học vốn thành thực, hoặc làm bộ thành thực nghĩ rằng họ nắm được chân lí tuyệt đối, bao giờ cũng quay ngoắt thành những trận đấu tố, quy kết lẫn nhau phạm tội tư tưởng hệ, tựa như một sự cáo giác được tuyên bố thẳng thắn, công khai. Bằng chứng rõ nhất về chuyện đó là cuộc tranh luận diễn ra vào cuối năm 1934 xung quanh một chủ đề có vẻ như chẳng dính dáng gì tới chuyện chính trị: lí luận tiểu thuyết. Sau tham luận của D. Lukacs (trong số rất nhiều tham luận khác), V.F. Pereverzev phát biểu. Ông chỉ trích nghiêm khắc báo cáo viên, tựa như báo cáo viên đã đứng trên quan điểm duy tâm của Hegel, xa rời chủ nghĩa Marx, xích về phía nhà dân tuý N.K. Mikhailovski: “Trong tham luận của ông ấy không thấy có tính giai cấp”, “chẳng còn một chút gì” của xã hội học marxiste. Bạn của D. Lukacs là M.A. Lifshits lên tiếng đáp lời và tỏ ra khinh bỉ Pereverzev với thái độ trịch thượng, cay độc hơn nhiều so với việc Pereverzev buộc tội Lukacs. Rồi chuyện xoay qua nói về sự thoát li nguy hiểm của học giả với “tư tưởng chuyên chính vô sản”, “xa rời chủ nghĩa Marx để đứng về phía melsevich”, về ý nghĩa to lớn ở những huấn thị của Stalin xung quanh “các vấn đề chính trị của chúng ta”, mà Pereverzev đã coi thường. Rồi cả hội trường vang lên những lời tán thành phải tiêu diệt kẻ thù của chủ nghĩa xã hội[14].
Kết quả của các cuộc tranh luận như thế là những vụ trấn áp mới: vào năm 1938, Pireverzev bị bắt, đến năm 1940, tạp chí “Phê bình văn học” do M.A. Lifshits và D. Lukacs đứng đầu bị đình bản[15]. Trước mắt chúng ta là một trò hề bi thảm cực kì bỉ ổi: những người marxiste có xác tín tranh luận kịch liệt với nhau, rồi về sau, một lực lượng thứ ba nào đó trấn áp cả phía này, lẫn phía kia.
Trong cuộc tranh luận về tiểu thuyết có ý nghĩa quan trọng vào giữa những năm 1930, ta thấy nổi rõ một đặc điểm mang tính loại hình của những người có thể nói là tuân thủ hết sức nghiêm nhặt thế giới quan marxiste. Đặc điểm thấm sâu vào máu họ là niềm tin mù quáng vào sự đúng đắn của bản thân mình, là sự không nhượng bộ đối với tất cả những ai (trong phạm vi của chủ nghĩa Marx và bên ngoài giới hạn ấy) có cách nghĩ khác đi.
Chẳng hạn, vào giữa những năm 20 – 30, V.F. Pereverzev khẳng định rằng các môn đệ của phái hình thức luận đã tạo ra cho công việc nghiên cứu của họ một màu sắc xã hội học để tiến hành “cuộc đấu tranh giấu mặt chống lại quan điểm duy vật về lịch sử”. Ông còn nhìn thấy trong các công trình nghiên cứu của họ một “mớ bòng bong xã hội học”, thậm chí, thấy cả sự siêu hình (xin nhấn mạnh, siêu hình là một trong những địch thủ gớm ghiếc nhất của chủ nghĩa Marx)[16]. Nhưng chỉ hai năm sau, trên chính tạp chí này (“Văn học và chủ nghĩa Marx”), người ta nói về Pereverzev còn gay gắt hơn so với Pereverzev viết về trường phái hình thức luận: hệ thống của Pereverzxev là một “hệ thống hoàn toàn thối nát”[17].
Sự công kích theo kiểu như thế của các nhà nghiên cứu văn học đứng trên quan điểm marxiste vẫn tiếp tục xảy ra cả dưới thời hậu Stalin. Chẳng hạn, vào nửa sau những năm 1950, đầu những năm 1960, đã diễn ra một cuộc tranh luận về bản chất của cái thẩm mĩ giữa những người được gọi là phái “tự nhiên thiên bẩm” (đối tượng thẩm mĩ mang tính khách quan) và những người “thực tiễn xã hội” (cái thẩm mĩ là hiện tượng kinh nghiệm xã hội mang tính chủ quan). Cả phái này lẫn phái kia đều “hành xử” trong khuôn khổ của chủ nghĩa Marx. Vào năm 1964, thấy xuất hiện một bài bút chiến quyết liệt đứng về phía G.N. Pospelov, nhà “tự nhiên thiên bẩm”. Bài bút chiến khẳng định các đại diện của trường phái “mĩ học mới”, những nhà “thực tiễn xã hội” (L.N. Stolovich và những người khác) “không biết mình đã trượt khỏi lập trường của nhận thức luận duy vật – biện chứng”, “tất cả bọn họ đang cắm đầu xuống đất, chổng ngược chân lên trời”: “tất cả được vặn ngược theo kiểu cách của chủ nghĩa chủ quan”. Thậm chí bài bút chiến còn nói rằng Stolovich và những người đồng quan điểm xem các nhà duy vật là địch thủ của mình[18]. Đúng là Pospelov đã quy kết đối thủ rơi vào chủ nghĩa duy tâm một cách thái quá. Nhưng khi biết có một đồng nghiệp trẻ viết rằng, quy kết như thế là vi phạm đạo đức nghề nghiệp (chụp cho đối thủ cái “mũ tư tưởng hệ” nguy hiểm), G.N. Pospelov giận dữ nói: “Hoàn toàn ngược lại! Nếu gọi những kẻ duy tâm là các nhà duy vật thì tôi mới vi phạm phép tắc đạo đức chứ!”. Lời phản ứng này rất tiêu biểu, thể hiện đặc điểm của một người marxiste có xác tín triệt để. Giữa những nhà nghiên cứu văn học cùng theo chủ nghĩa Marx, không thể có, không thể tồn tại bất kì một thứ tình bằng hữu nào. Tranh đấu! Chỉ có tranh đấu! Không chấp nhận mọi sự thoả hiệp!
Ở lĩnh vực này, còn có thể kể thêm một sự kiện nữa. Năm 1964, tại hội thảo bàn về cuốn sách viết về Dostoievski của Bakhtin (hội thảo của Hội Nghiên cứu khoa học sinh viên tại khoa Ngữ văn, Đại học Tổng hợp Quốc gia Moskva, rất đông người tham dự), trong số những cử toạ đăng đàn phát biểu, có V.F. Pereverzev (chắc chắn, đây là lần xuất hiện duy nhất của ông trước công chúng sau chuyến đi đày kéo dài nhiều năm). Ông phê phán gay gắt phương pháp luận của Bakhtin, xem đó là phương pháp sai lệch (sau hội thảo, về chuyện này, V.N. Turbin[19] nói: “Họ chẳng học hành được gì cả”). Sau đó không lâu (tôi tình cờ nghe được chuyện này trong một cuộc gặp gỡ có tính chất gia đình): Pereverzev rất phẫn nộ khi nói về bài phát biểu bảo vệ Bakhtin của S.G. Bocharov…
Hệ tư tưởng marxiste được trộn lẫn với chất men của chủ nghĩa không tưởng sắt máu, như những phát ngôn của Pereverzev, Lifshits, Pospelov vừa dẫn ở trên, đã chứng tỏ, thái độ cố chấp cuồng tín, không chấp nhận mọi thứ quan niệm khác biệt với “quan niệm duy nhất đúng” của riêng mình, là kết cục tất yếu được sinh ra từ những ai trung thành với hệ tư tưởng ấy. Cuộc đấu tranh bảo vệ thế giới quan “cứu rỗi toàn nhân loại” đã diễn ra dưới những hình thức như thế trong thời đại Stalin (và cả sau này nữa!).
Tìm kiếm mọi sự “nhiễu loạn”, “xét lại” và vạch trần nó gần như đã trở thành một thứ mệnh lệnh. Tranh đấu không khoan nhượng để bảo vệ sự “trong sáng” của hệ tư tưởng thống soái trở thành nhu cầu. Một trong những bài báo xuất hiện thời hậu chiến, có giọng đầy hăm doạ (đối tượng của nó là bài M. Gorki và truyền thống dân tộc trong văn học Nga của tác giả V. Vesnhitski), đã mở đầu thế này: “Một trong những nhiệm vụ của nền nghiên cứu văn học Xô viết là đào tận gốc mọi tàn dư của các lí luận nguỵ khoa học”[20].
Và những lời nói về sau này (1975) trong lá thư của M.A. Lifshits gửi biên tập viên M.P. Rozin về bài viết của G.N. Pospelov “Dòng chảy lí luận duy nhất”, dự định sẽ dùng cho tập 9 từ điển “Bách khoa văn học giản yếu”, có ý nghĩa hết sức quan trọng: “Tên G. Lukacs được G.N. Pospelov nhắc tới chỉ thuần tuý do những lí lẽ mị dân”; trong bài ấy chỉ có “sự trống rỗng hoàn toàn”, “một mớ từ ngữ rối rắm”, còn bản thân bài viết ấy là một “hành vi hèn mọn”, “không gì có thể bào chữa được”. Thậm chí còn nói thế này: trước mắt ta là một trò đùa bỡn bất thường “theo phong cách nhà hàng Don Basilio” (ý muốn nói về tài vu khống trong vở kịch Người thợ cạo thành Séville của Beaumarchais)[21].
Quả là những chuyện om sòm trong gia đình các quý ông nghiên cứu văn học – marxiste chẳng bao giờ có hồi kết.
Đến giai đoạn hậu chiến, sự can thiệp thô bạo của thế giới cầm quyền Xô viết đạt tới giới hạn cực đỉnh. Vào những năm 1947 – 1949, một chiến dịch đại quy mô được triển khai để đấu tranh chống lại chủ nghĩa thế giới được xem là cực đối lập với chủ nghĩa yêu nước của Liên Xô (gốc rễ của chủ nghĩa thế giới được tìm thấy trong các công trình của A.N. Veselovski, người mà thời ấy được gọi là “nhà duy tâm tư sản”). Khoa Ngữ văn Đại học Tổng hợp Leningrad trở thành trung tâm trấn áp đối với khoa học về văn học. Có 7 trọng tội được gán cho các nhà nghiên cứu văn học xuất sắc, như V.M. Zirmunski, B.M. Eikhenbaum, G.A. Gukovski, M.K. Azadovski. Giai đoạn cực kì ảm đạm ấy trong lịch sử khoa học của chúng ta đã được nghiên cứu kĩ lưỡng (có kèm theo tư liệu lưu trữ) trong các bài báo của K.M. Azadovski và B.F. Egorov[22].
Thời kì này, tại khoa Ngữ văn đại học MGU (“МГУ”) cũng xảy ra một cái gì tương tự như vậy. Các nhân vật nhơ nhuốc giờ đây hoá ra là P.G. Bogatyrev, N.K. Gudzii, S.M. Bondi, M.N.Peterson, E.V. Pomerantseva và (chắc chưa phải là người cuối cùng) G.N. Pospelov, người bị cáo giác đã biện hộ cho Veselovski, thừa nhận giá trị của tiểu thuyết Những người quỷ ám của Dostoievski, một văn sĩ “thậm khả ố” (chữ của Lenin), giải thích chủ nghĩa lãng mạn như một hiện tượng chỉnh thể, không tính tới mâu thuẫn ở các nhánh “tiến bộ” và “phản động” của nó. Người ta đã nhận xét thế này về bài Vấn đề chủ nghĩa lãng mạn của Pospelov: “Tất cả đã làm lộ ra chủ nghĩa hình thức, làm lộ ra các quan điểm vô chính trị, phản khoa học. Kiểu lập luận rỗng tuếch của G. Pospelov không thể không khiến người ta phải ngạc nhiên”[23].
***
Hệ tư tưởng chính tưởng chính thống thời Xô viết, khi “mở rộng” sang khoa học (có lẽ ở mức độ rộng nhất là vào nghiên cứu văn học) đã sở đắc nhiều hình thức biểu đạt cực kì độc đáo bằng ngôn từ, ở cả văn viết (sách, báo), lẫn văn nói (bài giảng cho sinh viên, các bài phát biểu trong hội nghị, hội thảo, trong bảo vệ luận văn, luận án). Đó là thứ tu từ học thấm đẫm cảm hứng mít tinh, thái độ tự thị và sự hằn học. Ví dụ thế này. Vào những năm 60, tôi (cùng cặp với U.P. Fort) phải làm phản biện cho một luận án phó tiến sĩ viết về Sekhov (việc xảy ra ở trường Đại học Sư phạm Moskva). Trước buổi bảo vệ này, còn có một buổi bảo vệ khác về đề tài giai cấp công nhân trong văn học Xô viết. Tôi và U.P. Fort đứng ngoài hành lang tán gẫu với nhau về chuyện gì đó. Bỗng tất cả giật mình: trong hội trường, nơi đang diễn ra lễ bảo vệ, thấy vang lên tiếng kêu thất thanh, kiểu động kinh. Đó là cách mở đầu bài phát biểu của vị phản biện; luận án và chủ yếu là đề tài của nó đã khơi dậy ở ông niềm phấn khích đầy thống thiết theo tinh thần và phong cách diễn thuyết trước đám đông ở những năm 1930 – 1940.
Tất nhiên là ở đây có sự lố bịch thái quá, nhưng sự thái quá ấy rất tiêu biểu cho tinh thần thời đại. Bản chất của hệ tư tưởng Xô viết cần nghiên cứu một cách thấu đáo, không thiên vị và bình tĩnh. Chúng tôi chỉ giới hạn ở một số vấn đề. Hệ tư tưởng này đã trải qua nhiều thay đổi, nhiều khi rất quyết liệt. Vào những năm 1920 – 1930, ngự trên mặt tiền sân khấu là tư tưởng của chủ nghĩa quốc tế vô sản (cách mạng), nó dẫn tới thái độ rẻ rúng, miệt thị một cách thô bạo các truyền thống dân tộc – miệt thị tất cả những gì từng tồn tại ở nước Nga thời trước cách mạng. Người ta chỉ đề cao kinh nghiệm đấu tranh cách mạng với thể chế chuyên chính (“phong trào giải phóng”). N.V. Kornhienko đã nhận xét chính xác, vào giữa những năm 1920, “người ta đã quyết định dùng tất cả các vũ khí giáng một đòn chí mạng vào kí ức lịch sử, vốn là nền móng của truyền thống dân tộc và văn hoá”[24]. Những đòn đánh như vậy thường được thực hiện dưới ngọn cờ đấu tranh chống chủ nghĩa dân tộc và chủ nghĩa sô vanh cho đến tận thời kì chiến tranh 1941 – 1945.
Về sau này, tinh thần cực đoan theo hướng ngược lại cũng nguy hiểm đối với đất nước và nhân dân: biện minh cho nhân tố quốc gia – dân tộc, chủ nghĩa yêu nước Liên Xô cùng với cương lĩnh tách rời xã hội Xô viết với kinh nghiệm của các nước khác, với sự phủ định triệt để tất cả những gì được người ta gọi là chủ nghĩa thế giới, còn bây giờ (với nghĩa mở rộng theo quan niệm giá trị ngược lại cũng có khiếm khuyết), đôi khi người ta gọi là toàn cầu hoá với hàm ý san bằng và xoá bỏ các khác biệt dân tộc. Sau chiến tranh, việc giới trí thức (chính xác hơn, giới nguỵ trí thức, nhân danh tư tưởng hệ) xua đuổi các truyền thống thời tiền cách mạng có bớt dần, dù người ta vẫn hoài nghi tinh thần “nông dân gia trưởng” từng bị kết tội một cách nghiêm kắc trong các bài viết của Lenin về L.Tolstoi và vẫn được giữ lại như một bộ phận cấu thành của tư tưởng hệ và nghiên cứu văn học chính thống.
Hệ tư tưởng Xô viết dưới “dạng biểu hiện của nó trong nghiên cứu văn học” rõ ràng đã trải qua một số giai đoạn, chí ít là hai thời kì lớn. Đồng thời, trong cấu trúc của nó, bao giờ cũng có sự hiện diện của những hằng số nào đó. Đó là sự tán dương, biện minh quyết liệt cho cách mạng và một quan niệm gắn với nó về các giá trị của quá khứ Nga, ví như lịch sử của phong trào giải phóng (về điều này, bài báo của Lenin Kỉ niệm Ghersen viết năm 1912 có “ý nghĩa chỉ đạo phương pháp luận”), vai trò tòng thuộc của đạo đức đối với chính trị (nhân đây, cần nhớ lại bài phát biểu tại Đại hội đoàn komsomol toàn Liên bang Nga lần thứ III, năm 1920), chủ nghĩa vô thần do Lenin tuyên bố như một mệnh lệnh nào đó (bài viết năm 1922: Về ý nghĩa của chủ nghĩa duy vật chiến đấu).
Chủ nghĩa Marx – Lenin qua sự “chỉnh sửa của Stalin” là một phiên bản của chủ nghĩa Marx bị xuyên tạc nghiêm trọng. Hệ tư tưởng thống trị ở nước Nga thời Xô viết chủ yếu có ý nghĩa tiêu cực đối với đất nước và xã hội. Suốt hai chục năm gần đây người ta đã nói rất nhiều về điều này trên báo chí, trên màn hình tivi, qua đài phát thanh…
Còn một phương diện khác của vấn đề cũng đáng lưu ý. Nó là thế này: kiểu gì thì rồi hệ tư tưởng Xô viết cũng chống lại chủ nghĩa chiết trung, thuyết tương đối luận ở đủ mọi làn điệu của nó: cả tương đối luận của Nietzsche (trong chủ nghĩa tượng trưng và chủ nghĩa vị lai, có tiếng vọng của nó), lẫn tương đối luận của chủ nghĩa hậu hiện đại rất sôi động ở nhiều năm về sau này. Ở một mức độ nào đó, nó còn khư khư giữ lại cho mình một quan niệm thâm căn cố đế (và cả chân lí tuyệt đối, bất khả xâm phạm) tồn tại đời đời trong dân chúng và xã hội của họ như là những đại diện và nơi tập trung tính xác định, tính chuẩn mực nào đó của các quan hệ thế giới và thước đo đạo đức. Hệ tư tưởng này đòi hỏi con người phải có lí tưởng nhân sinh sắt đá. Quan điểm marxiste (trong đó có quan điểm marxiste – leniniste) không chấp nhận chiết trung, nó thù địch với thói vô liêm sỉ (tất nhiên, ở đây không nói về thực tiễn đời sống của thời đại, mà chỉ bàn riêng về phạm vi thế giới quan). Cho nên, khi đã rơi vào khu vực quyền lực của hệ tư tưởng này, con người đôi khi duy trì được tiềm năng để khắc phục quá trình suy thoái giá trị của chủ nghĩa Marx. Những người tiếp nhận hệ tư tưởng Xô viết (thực tế, phần lớn xã hội và nhân dân đã tiếp nhận như thế) đều có thể trở thành (nhiều trường hợp, hiện nay vẫn là) những người trung thành tuyệt đối với các nguyên lí nền tảng của văn hoá Nga và văn hoá toàn nhân loại. Hệ tư tưởng được nhào trộn trong men say của cuộc đấu tranh giai cấp triệt để ở thời đại ấy (may sao!) không phải là hệ tư tưởng tiêu cực hoàn toàn. Nó là sự xuyên tạc đầy cay đắng, mang theo hung triệu đối với các giá trị hiển nhiên, nhưng chưa đối lập tuyệt đối với các giá trị ấy, vì rằng, nó vẫn chứa đựng trong bản thân khả năng (tiềm năng) khắc phục, như chúng ta đã chứng kiến những gì diễn ra vào giữa những năm 1950 (thời tan băng và Đại hội XX) và giữa những năm 1980 (bắt đầu cải tổ).
Các nhà nghiên cứu văn học lọt vào sự thống trị của hệ thống quan điểm được ứng dụng một cách chính thống, bắt buộc phải phục tùng, hay tự nguyện tiếp thu chúng, thể nào rồi cũng thu hẹp đối tượng của mình. Trong thành phần của văn chương nghệ thuật có rất nhiều chuyện giao cắt với nhau. Trước hết, đó là những tiên đề và những vấn đề mang ý nghĩa tôn giáo – đạo đức vô cùng quan trọng, không sao có thể đánh giá hết được. Thế mà, các sự kiện của lịch sử văn học lại bị dồn vào một sơ đồ theo yêu cầu hạn hẹp. Các nhà văn – tác gia cổ điển bị đẩy sang hàng ngũ của những nhà đối kháng, những nhân vật tố cáo chế độ cũ, hàng ngũ của các nhà cách mạng hoặc tương tự như họ. Trong đa số trường hợp, tác phẩm của Sekhov được giải thích như là sự báo trước sự xuất hiện sáng tác của Gorki. Dostoievski bị cấm (hoặc bán cấm), vì đó là “nhà văn thậm khả ố” (những lời này của Lenin được xem như một huấn thị và thường xuyên được trích dẫn). Có thể nói, chỉ Pushkin may mắn được phong thánh chính thức. Lễ kỉ niệm lần thứ một trăm ngày mất của ông diễn ra rất ầm ỹ vào năm 1937 là bằng chứng. Nhưng ở đây, có những mất mát cực kì nghiêm trọng: sáng tác của thi hào vĩ đại được đẩy lại gần một cách thái quá với phong trào của những người tháng Chạp. Nhờ các bài viết của Lenin về Tolstoi mà nhà văn này được chú ý và được kính trọng, nhưng ở đây, sự kính trọng cũng bị đẩy lệch một cách thái quá sang phía nội dung tố cáo trong sáng tác của ông. Tuy nhiên, so với những gì đa số các học giả Xô viết đã khảo sát, thì việc nghiên cứu các văn sĩ tháng Chạp, Bielinski và Ghersen, Secnysepski và Dobraliubov, Nhecrasov và Santykov-Sedrin, ít nhiều, có phần được tự do và đầy đủ hơn (dù cả ở đây cũng bị mất mát nghiêm trọng).
Văn học mười năm đầu thế kỉ XX bị thu hẹp, giảm thiểu lớn nhất: nó bị “teo tóp” một cách thảm hại đến mức chỉ còn Gorki và Maijakovski mà sáng tác của họ cũng bị diễn giải một cách phiến diện và lệch lạc, Solokhov và Tvardovski (nếu chỉ kể tên các nhà văn lớn). Chẳng những thế, có vô số nhân vật thuộc hạng hai, hạng ba được đưa về phía mặt tiền của sàn diễn nghiên cứu văn học. A. Blok được đánh giá cao chủ yếu nhờ trường ca Mười hai, tác phẩm được diễn giải như là sự ngợi ca cách mạng. Mandelstam và Akhmatova vào những năm 30 (và cả sau này nữa!), dĩ nhiên là bị người ta lờ đi. Các nhà văn – “Nga kiều” hoàn toàn không được nhắc tới (thật ra, Làng của Bunhin được thừa nhận vì giá trị tố cáo nước Nga tiền cách mạng). Sự trấn áp các nhà nghiên cứu văn học và việc thu hẹp có tính cưỡng bức đối tượng nghiên cứu của họ, rõ ràng, đi liền với nhau. Vào những năm 1930 – 1940, “liên minh” giữa chúng trở nên vững chắc và hiệu quả nhất.
***



[1] Valentin Evghenhievich Khalizev (sinh năm 1930) là Giáo sư, Tiến sĩ Khoa học, làm việc tại Khoa Ngữ Văn Trường Đại học Tổng hợp Quốc gia Lomonosov từ năm 1957. Ông giảng các giáo trình lí luận văn học, giá trị học, văn hoá học, lí thuyết sáng tác.- ND.
[2] P. Ricoeur.- Lịch sử và chân lí. Spb., 2002. Tr. 14.
[3] M.M. Prisvin.- Tuyển tập. Bộ 8 tập. T. 1. M., 1982. Tr. 748.
[4] Xem: Trong sự kìm kẹp của tư tưởng hệ: Tuyển tập các tài liệu văn học – chính trị. 1917 – 1927. M., 1997; N.V. Kornhenko.- “Tan băng thời NEP”. Việc thành lập Viện Phê bình văn học. M., 2010.
[5] Xem: A.B. Blium.- “Đằng sau cánh gà của Bộ Sự thật”. Bí mật của lịch sử kiểm duyệt Liên Xô. Spb., 1994; Cùng tác giả.- Sự kiểm duyệt của Liên Xô thời khủng bố trắng. 1928 – 1953. Spb., 2000. Cùng tác giả.- Loại sách bị cấm của các nhà văn và nhà nghiên cứu văn học Nga. 1917 – 1991. Bảng kê kiểm duyệt của Liên Xô kèm lời chú giải. Spb., 2003.
[6]V.M. Markovich.- Quan điểm “phân kì sự phát triển lịch sử của văn học” trong các công trình của G.A. Gukovski ở những năm 1940// V.M. Markovich.- Từ lịch sử phê bình và nghiên cứu văn học ở Nga. Spb., 1007. Tr. 228.
[7] Xem: M.L. Gasparov.- Lotman và chủ nghĩa Marx//Iu.M. Lotman.- Bên trong những thế giới biết tư duy. M., 1996. Tr. 419-420, 425.
[8] Có thể xem: Iu.G. Oksman.- Từ “Người con giá viên đại uý” đến “Bút kí người đi săn”. Pushkin – Ryleev – Kolsov – Turgheniev. Nghiên cứu và tư liệu. Saratov, 1959.
[9] Trích theo: Trong sự kìm kẹp của tư tưởng hệ. Tr. 46.
[10] Nghị quyết của Đoàn Chủ tịch viện Hàn lâm Cộng sản về quan điểm nghiên cứu văn học của Pereverzev// Văn học và chủ nghĩa Marx. Q. 1. Tr. 3.
[11] A.G. Tseitlin.- Nghiên cứu văn học// Từ điển “Bách khoa văn học”. T. 6. M., 1932..
[12] A.V. Lunatsarski.- Về vai trò của nhà nước vô sản trong việc phát triển nền văn hoá xã hội chủ nghĩa// “Dưới lá cờ của chủ nghĩa Marx”. 1933, Số 6. Tr. 264.
(·) Về vụ “Con tàu triết học, xin xem: http://boxitvn.blogspot.kr/2012/09/con-tau-triet-hoc.html (chú thích của Văn Việt).
[13] F.D. Asnhin, V.M. Alpatov.- Vụ án các nhà nghiên cứu Slavơ. Những năm 1930. M., 1994. Tr.7.
[14] Những vấn đề lí luận tiểu thuyết”. //“Phê bình văn học”, 1935, số 2, tr. 231; số 3, tr. 245 – 252.
[15] Xem: Những quan điểm độc hại của “Phê bình văn học”//”Đất hoang đỏ”, 1940, số 4. M.A. Lifshits, D. Lukacs và các nhà nghiên cứu văn học trong nhóm của ông bị gán tội cự tuyệt lí luận đấu tranh giai cấp, tội lí tưởng hoá thời trung đại, hạ thấp ý nghĩa cuộc cách mạng Pháp thế kỉ XVIII, và thừa nhận một cách “dối trá”, rằng trên cơ sở thế giới quan phản động, có thể sáng tạo ra những tác phẩm nghệ thuật đích thực. Tất cả những điều đó được gọi là “ những sự xuyên tạc thô bỉ nhất”.
[16] V.F. Pereverzev.- “Phương pháp xã hội học” của các nhà hình thức luận//”Văn học và chủ nghĩa Marx”, 1929, số 1. Tr. 126.
[17] P.I. Lebedev-Polijanski.- Nhiệm vụ của chúng ta//”Văn học và chủ nghĩa Marx”. 1931, số 3. Tr. 3.
[18] G.N. Pospelov.- Sự phát triển của lí luận nghệ thuật ở nước ta và “trường phái mĩ học” mới// Cái thẩm mĩ. Tuyển tập bài báo. M., 1964. Tr. 188, 194, 196, 202.
[19] V.N. Turbin (Турбин Владимир Николаевич, 1927– 93): Nhà nghiên cứu văn học, nhà sư phạm, môn đệ “chân truyền” của M.M. Bakhtin.- ND.
[20] V. Zdanov.- Những kị sĩ của một “dòng chảy duy nhất”// “Báo Văn học”, 1948, số 62.
[21] Theo tài liệu của tác giả bài viết này.
[22] Xem: K.M. Azadovski, B.F. Egorov.- Về thói bợ đỡ và chủ nghĩa thế giới. 1948 – 1949// “Ngôi sao”, 1989, số 6; K.M. Azadovski, B.F. Egorov.- Các nhà chủ nghĩa thế giới// “Tổng quan văn học mới” (НЛО), 1999, số 36.
[23] E. Kovaltsik.- Những ghi chép nguỵ khoa học// “Báo Văn học”, 1949, ngày 28/9.
[24] N.V. Kornhienko.- “Tan băng thời NEP”… Tr. 46. Xem thêm tài liệu này ở các trang 44 – 52. Ngay từ năm 1927, L.Ja. Ghinburg đã nhận ra xu hướng tư tưởng hệ hung triệu này: “Ở ta bây giờ được phép bộc lộ mọi tình cảm quốc gia, ngoại trừ tình cảm đại Nga… Điều đó sỉ nhục lòng trung thành của chúng ta đối với văn hoá Nga” (L.Ja. Ginburg. – Nhật kí. Hồi ức. Tiểu luận. Spb., 2002. Tr. 380).

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Nhà văn Nguyễn Huy Thiệp ngừng viết


Hằng Trần
anha-van-6878-1398064505
Nguyễn Huy Thiệp
Sau “Vong bướm”, một thể nghiệm với chèo cổ, đã hơn 2 năm Nguyễn Huy Thiệp không xuất hiện trên văn đàn. Ông quyết định dừng hẳn nghiệp sáng tác ở tuổi 65.
  Nhà văn Nguyễn Huy Thiệp chia sẻ, thời gian vừa rồi ông ốm một trận “tưởng ra đi rồi”. Hơn 4 tháng qua, ông bị thoát vị đĩa đệm cộng thêm đau thần kinh toại, đau hết nửa người không đi được đến nỗi phải bò lê bò càng. “Giờ khỏi đến 85 – 90% là may lắm rồi chứ mấy tháng trước thảm hại, khủng khiếp, đáng sợ lắm”, tác giả Tướng về hưu nhớ lại.
Nói về vị “thuốc tiên” đã cứu sống mình, ông kể đã thử chữa thuốc tây không khỏi, đông y cũng không ăn thua, may có người giới thiệu gặp được ông thầy lang ở Việt Yên, Bắc Giang. Cứ 3 – 4 ngày “thầy” lại xuống tận nhà và chỉ chữa có mấy phút trong gần 3 tháng mà ông bình phục trở lại, đi đứng như thường.
Nhưng dường như với một nhà văn đã đi trọn thời kỳ văn học đổi mới, sức khỏe, bệnh tật không phải và không thể là lý do chính buộc ông phải buông bút và đoạn tuyệt với con đường văn chương chữ nghĩa. Trong cuộc trao đổi với VnExpress, nhà văn Nguyễn Huy Thiệp giãi bày: “Viết thế thôi, viết nữa bọn trẻ nó thấy mình nó ghét”, “Tuổi tôi giờ là tuổi vứt đi, 65 rồi, giờ ngồi nhà lo dăm ba việc gia đình và trông cháu, tóm lại là chờ chết”…
Với ông, đây là lúc thích hợp để dừng lại: “Tôi xong rồi. Tôi tự thấy đủ tri túc. Chứ viết nữa, làm trò gì nữa đâm dở”, nhà văn chia sẻ.
  Tác giả Không có vua cũng tâm sự thêm, có cuốn tiểu thuyết được ông dụng công khá lâu nhưng suốt 2 năm qua không xin được giấy phép xuất bản nên ông cũng ngán. “Đứa con tinh thần” vẫn còn ở dạng bản thảo có tên Bên dìa nước là một thử nghiệm của ông ở dạng văn học kiếm hiệp, thể loại trước nay ít nhà văn Việt Nam nào viết dù rất nhiều người mê những tác phẩm của Kim Dung hay Cổ Long – hai tác giả hàng đầu của tiểu thuyết kiếm hiệp Trung Quốc. Tuy nhiên, nhà văn khẳng định, cuốn tiểu thuyết không nghiêng về đánh đấm như các truyện chưởng thông thường mà là câu chuyện văn học, chuyện nghĩa hiệp khôi hài và có phần hoang đường được chép lại bên dìa nước ở kinh thành. Bên dìa nước được nhà văn Nguyễn Huy Thiệp viết từ năm 2004 song lúc đó ông cảm thấy chưa đạt nên “vứt đấy”, phải đến 8 năm sau ông mới tiếp tục quay lại với bản thảo này, chỉnh sửa kỹ lưỡng hơn để hoàn thiện. “Sức sáng tạo bao giờ cũng vậy, phải được kích thích, làm ra sản phẩm phải được đón nhận, phải có kết quả, không có kết quả thì làm làm gì”, nhà văn thẳng thắn nói.
Nhà văn bậc thầy của thể loại truyện ngắn thời kỳ đổi mới khẳng định, không phải ông đã chán viết, cạn ý tưởng mà ông cho rằng, “cố gắng của mình cũng chỉ đến thế”. Dù đã rất nổi tiếng trong nước, ông nhận thấy khó mà vươn ra được thị trường nước ngoài trong tình hình hiện tại.
“Văn học ra nước ngoài liên quan đến dịch, chào hàng, xuất bản vì vậy rất cần huấn luyện viên, ông bầu, nhà tổ chức đứng sau nhà văn. Văn chương Việt Nam như đám đá bóng Hàng Đẫy nghiệp dư, lăng nhăng, còn văn học thế giới cũng như bóng đá Anh, Italy vừa ra tiền bạc, ra hồ hởi, hưng phấn vừa ra cả những mối quan hệ”, ông khẳng định.
Theo ông, văn học Việt Nam thời đổi mới đến với nước bạn hầu hết là tự phát, là giai đoạn mở đường nên còn rất phập phù. “Thế hệ chúng tôi ra nước ngoài như chim chích lạc rừng, lọt vào thành phố không biết chỗ nào tả, chỗ nào hữu, không biết ai chân thành, ai dối trá”, nhà văn nhận định.
asach-2135-1398064505.jpg
Một số tác phẩm của nhà văn Nguyễn Huy Thiệp.
Theo đánh giá của nhà văn Nguyễn Huy Thiệp, người ra nước ngoài thành công nhất chính là nhà văn Bảo Ninh với cuốn tiểu thuyết giá trị Nỗi buồn chiến tranhNỗi buồn chiến tranh được đón nhận là bởi ngoài yếu tố văn học, cuốn tiểu thuyết còn có ý nghĩa khai sáng.
Bản thân Nguyễn Huy Thiệp cũng là một trong số nhà văn Việt Nam có tác phẩm được dịch nhiều trên thế giới. Truyện ngắn của ông được dịch sang nhiều ngôn ngữ như Pháp, Anh, Italy, Thụy Điển, Đan Mạch, Hà Lan, Đức, Hàn Quốc, Nhật Bản, Indonesia… Tuy nhiên, ông tự nhận mình là trường hợp mang tính tự phát nhiều hơn và không thành công được như Bảo Ninh. Do không có người hướng dẫn nên nhiều lần ông đã để cơ hội vuột khỏi tay.
Khi được hỏi việc dừng lại lúc này có khiến ông cảm thấy tiếc nuối hay không, cha đẻ củaVàng lửa khẳng định: “Tôi không có gì ân hận về đời văn của mình. Tôi cũng đi được từ đầu đến cuối trong suốt 25 năm đổi mới, từ tay không tên tuổi gì dần được coi là một trong những nhà văn gọi là có thành tựu trong nước và nước ngoài. Nhờ viết văn mà tôi đi được bao nhiêu nước, được huân chương Văn học Nghệ thuật Pháp (2007), giải thưởng Premio Nonino, Italy (2008)”.
Nguyễn Huy Thiệp, sinh năm 1950 ở ngoại thành Hà Nội, là một trong những chân dung văn chương đương đại nổi bật nhất Việt Nam. Ông viết truyện ngắn, kịch, tiểu luận, trong đó thành công nhất là truyện ngắn. Với hơn 50 truyện ngắn, 10 vở kịch, 4 tiểu thuyết cùng nhiều tiểu luận, phê bình văn học gây chú ý, Nguyễn Huy Thiệp được xem là một “hiện tượng hiếm” của văn đàn Việt Nam.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Căn bệnh sợ chính trị của người Việt

Dương Hoài Linh

Người Việt lâu nay vốn sợ chính trị. Nói chuyện với bạn bè trên FB, mình vẫn hay bắt gặp những câu đại loại như: "Thôi,nói chuyện khác đi, đụng tới ba cái chính trị nhức đầu lắm" hoặc: "Rảnh quá ha, để thời gian đó làm chuyện khác có ích hơn...". 


Các trang Web giải trí bao giờ cũng đông lượng truy cập hơn hẳn các trang chính trị. Các ngôi sao ca nhạc, hài kịch biếng ăn, cảm cúm...hoặc tậu nhà, mua xe là có hàng vạn người theo dõi nhưng diễn biến chính trị của đất nước thì rất ít người quan tâm. Thế nhưng đây là đặc điểm của các nước có nền dân trí thấp. Ngày xưa các cụ Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh vẫn hay than vãn về sự vô tâm của dân mình. Ngày nay nhiều người vẫn hay tỏ vẻ thương hại trước sự ngu ngơ,khờ dại của dân Bắc Hàn nhưng đâu biết rằng dân các nước phát triển nhìn mình cũng thế. Họ cũng nghĩ dân Việt Nam quá tội nghiệp, chẳng biết gì đến quyền của mình.

Chính trị là một khái niệm dễ gây dị ứng. Nó được hiểu như là một lĩnh vực khô khan, gây nhức đầu, chóng mặt, bất an...Không chỉ người lao động kiêng nói chính trị mà ngay cả giới trí thức cũng tránh xa nó như tránh hủi. Nói chính trị, làm chính trị, tham vọng chính trị...luôn được dùng với hàm ý mỉa mai. Nó dường như là độc quyền của giới lãnh đạo và người dân chỉ được biết đến chính trị khi nào Đảng cần biến các nghị quyết của Đảng thành "hành động cách mạng".

Thực chất chính trị gần gũi với người dân như cơm ăn nước uống hàng ngày. Chỉ có điều họ không nhận thức được điều này. "Giá xăng, giá điện, giá sữa...tăng liên tục là do đâu?" Chính là do độc quyền kinh tế. Phanh phui vấn nạn này sẽ lòi ra các nhóm lợi ích. Là một vấn đề chính trị. Cuối tháng nghe con cái xin tiền đóng học phí, bảo hiểm, quỹ lớp, sách giáo khoa,học thêm...Là vấn đề thuộc về ngân sách dành cho giáo dục. Cũng chính trị. Vào bệnh viện bị chặt chém không thương tiếc tiền khám chữa bệnh...Lỗi cơ chế. Cũng chính trị.

Thế nhưng con người ta chỉ cảm thấy hơi thở của chính trị nóng rực bên tai mỗi khi có việc động chạm đến cửa quan. Chầu chực chờ đợi, bị khất hẹn lần lửa, bị lừa phỉnh, mất tiền vì nạn hối lộ tham ô...lúc đó họ mới thấy mình dại, chẳng biết gì về chính trị, về cách thức tổ chức của bộ máy nhà nước để ai nói sao nghe vậy, chẳng khác một con lừa.

Nói đến "dân chủ" người Việt chỉ biết đến một khái niệm mơ hồ là người dân làm chủ đất nước mình. Người ta không biết biểu hiện cụ thể của nó như thế nào. Cũng như người nông dân suốt đời chân lấm tay bùn...đâu biết đến cuộc sống tiện nghi nên chỉ một "nắm xôi" đôi khi cũng đủ để thỏa mãn. Họ đâu biết là nếu nước có dân chủ thực sự, họ sẽ tận hưởng được nhiều cái sung sướng như thế nào.

Trước tiên là lá phiếu của họ có thể quyết định đến các ông tai to mặt lớn mà họ vẫn nghĩ là đang nắm quyền sinh sát vận mệnh của họ. Nếu như dân các nước phát triển bằng mọi cách phải gởi cho được lá phiếu mình đi thì người Việt lại mang tư tưởng: "Không có mợ,chợ vẫn đông", việc mình có hay không tham gia bầu cử cũng chẳng ảnh hưởng gì đến sinh mệnh đất nước

Dân chủ sẽ thúc đẩy kinh tế tạo ra thặng dư khiến phúc lợi xã hội lớn. Con cái họ đến trường sẽ được thầy cô giáo dục chu đáo. Vào bệnh viện, các bác sĩ sẽ săn đón, lễ phép chứ không đụng một chút là chửi như tát nước vào mặt. Ra đường gặp anh CA cũng được chào hỏi, thưa gửi đàng hoàng chứ không phải là thái độ hách dịch, lỗ mãng...Về già họ cũng sẽ được chăm lo đầy đủ về vật chất, sức khỏe chứ không phải bị bỏ mặc cho đến ngày ra nghĩa trang hoặc lò thiêu.

Quyền con người là một trong những quyền căn bản được phổ cập toàn thế giới nhưng rất ít người Việt hiểu và biết bảo vệ quyền của mình. Rốt cuộc thì không chỉ người lao động mà ngay cả giới trí thức vẫn bị các cơ quan công quyền chèn ép. Thế nhưng họ vẫn thờ ơ với các vụ việc vi phạm nhân quyền như CA đánh chết dân, tòa án xử oan người vô tội...Bởi họ nghĩ đơn thuần rằng những việc ấy còn lâu mới liên quan đến họ. Vậy nên có một nhà báo nữ than vãn rằng, viết về nhân quyền rất mất công nhưng lượng người đọc rất ít. Phần đông vẫn nghĩ rằng đó là một vấn đề xa xôi chẳng thiết thân chút nào. Chỉ đến khi ngay chính bản thân mình hoặc gia đình mình bị vi phạm trầm trọng họ mới kêu cứu và gặp phải sự ghẻ lạnh của dư luận lúc đó mới thấm thía sự vô tình của mình.

Người Việt hải ngoại quan tâm đến các vấn đề chính trị trong nước không phải như ý kiến thô thiển của một số dư luận viên thường bôi nhọ:"mong muốn một ngày về nước cai trị trên đầu trên cổ người dân". Nó đơn thuần cũng giống như người dân Bắc Triều Tiên sống ở nước ngoài thấy cái cách của Kim Jong Un trị nước mà tức mình không thể không lên tiếng. Họ hoàn toàn không có ý định chấp chính và cũng không vì tương lai của các thế hệ mai sau của mình. Họ chỉ đơn giản là "Người trong một nước phải thương nhau cùng".

Chỉ có người Việt ở nước ngoài mới thấy rõ "nhà dột từ nóc như thế nào" bởi vì họ đang sống trong những nóc nhà vững chãi. Do vậy những bài viết của họ trên FB không phải vì những tham vọng chính trị và cũng chẳng phải vì họ quá rảnh. Mỗi bài viết thường lấy đi rất nhiều thời gian quý báu của họ mà thời gian ở các nước công nghiệp luôn luôn được đong đếm bằng tiền. Thế nhưng họ vẫn viết vẫn nói, những bài viết đôi lúc thấm đẫm nước mắt. Chỉ vì họ không muốn đồng bào mình mãi mãi làm kiếp con lừa.

Ấy vậy mà họ vẫn nhận được cái thái độ nghi kỵ từ chính bạn bè mình trong nước. Nhiều người vẫn luôn quan niệm"Gặp thời thế, thế thời phải thế"  để biện hộ cho thái độ "ngậm miệng ăn tiền". Không những thế họ còn lên tiếng công kích những người có tiếng nói phản biện mạnh mẽ. Mặc dù những tiếng nói ấy có tác động rất tích cực vào chuyển biến xã hội mà ngay chính họ cũng được hưởng lợi. Dù không nói ra nhưng thâm tâm mình hơi buồn với loại người này. Bởi vì nhiều khi vì sự an toàn bản thân, một cái like trên FB cũng chẳng dám click vào tức là họ đã đẩy sự nguy hiểm cho người khác, đẩy người khác vào chốn lao tù. Trong khi với nhận thức của một kẻ có học họ không thể không biết nguồn gốc của các vấn đề xã hội phát xuất từ đâu.

Như vậy, chừng nào người Việt vẫn sợ chính trị, vẫn chưa biết quyền của mình thì chừng đó họ vẫn còn bị đè đầu, cưỡi cổ, lá phiếu của họ vẫn chẳng hơn gì một tấm giấy đi vệ sinh. Họ vẫn để những ông nghị như Hoàng Hữu Phước làm đại diện cho họ, vẫn để những bà bộ trưởng như Nguyễn Thị Kim Tiến nắm trong tay vấn đề sức khỏe của họ. Cũng chỉ vì họ chưa biết rằng ngòi bút đôi khi sắc hơn lưỡi kiếm. Và mọi chính thể độc tài đều rất sợ tiếng nói chính trị của người dân. Không ai có thể cởi trói cho mình bằng chính mình. Nhưng suy cho cùng không phải ai cũng hiểu được điều này. Bởi nếu không thế nước đã chẳng phải HÈN như bây giờ.

Dương Hoài Linh

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Hồ ở Hà Nội nhìn từ trên cao:


Dưới góc nhìn từ độ cao hơn 200 m, hồ Hoàn Kiếm, hồ Tây... hiện ra với vẻ đẹp xanh, sạch và yên bình giữa nhịp sống đô thị náo nhiệt.
Hồ Hoàn Kiếm nhìn từ hướng Quảng trường Đông Kinh Nghĩa Thục. Bên trái là hướng phố Đinh Tiên Hoàng, phố Lê Thái Tổ và nhà hàng Thủy Tạ ở góc phải.

Hồ Ngọc Khánh nằm trên địa bàn phường Ngọc Khánh, quận Ba Đình, bao quanh là hai tuyến phố Nguyễn Chí Thanh, Phạm Huy Thông. Nơi đây xuất hiện nhiều hàng quán cafe, giải khát thu hút giới trẻ từ hàng chục năm qua.

Bên trong công viên Nghĩa Đô (phường Nghĩa Tân, quận Cầu Giấy) là hồ cùng tên. Hồ Nghĩa Đô đối diện với Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam. Sau khi quy hoạch diện tích hồ được giữ nguyên, không gian được bố trí hài hòa, thoáng mát.

Cùng với hồ Hoàn Kiếm, hồ Tây nổi tiếng nhất Hà Nội, từng đi vào nhiều bài thơ hay các ca khúc. Đây là hồ nước tự nhiên lớn nhất ở nội thành Hà Nội, có diện tích hơn 500 ha, chu vi 18 km. Trên hồ nổi lên ngôi chùa Trấn Quốc xinh đẹp.

Tại phía Tây Bắc của hồ Tây là công viên nước và khu vui chơi giải trí ven hồ. Ngay gần đây là các địa điểm đẹp giới trẻ hay các đôi lứa thường xuyên hẹn hò.

Hồ Hoàng Cầu thuộc địa bàn quận Đống Đa. Bao quanh là các tuyến phố Hoàng Cầu, Mai Anh Tuấn. Trên hồ đang xuất hiện những trụ cầu của tuyến đường sắt đô thị số 1 ( đường sắt trên cao) Cát Linh - Hà Đông.

Hồ Bảy Mẫu trong công viên Thống Nhất. Diện tích mặt hồ chiếm khoảng 28 ha, ở giữa có hai đảo Thống Nhất và Hoà Bình. Bao quanh là các tuyến đường Đại Cồ Việt, Lê Duẩn.

Hồ Thiền Quang được bao quanh bởi 4 con phố Nguyễn Du, Trần Bình Trọng, Trần Nhân Tông và Quang Trung. Khu vực này nổi tiếng với hàng cây hoa sữa vào mùa thu.

Hồ Giảng Võ thuộc địa phận quận Ba Đình. Đây là khu vực tập trung đông dân cư và công sở. Xung quanh hồ là hàng loạt quán cafe và khách sạn, nhà hàng lớn.

Hồ Xã Đàn, xung quanh là các khu tập thể cũ của Hà Nội như Trung Tự, Nam Đồng. Bao bọc hồ là các tuyến phố Hồ Đắc Di, Trần Hữu Tước và Đặng Văn Ngữ.

Hồ Văn trên phố Quốc Tử Giám (quận Đống Đa) trước cửa khu di tích Văn Miếu. Giữa hồ có gò Kim Châu, trên gò dựng Phán Thuỷ đường (là nơi diễn ra các buổi bình văn thơ của nho sĩ kinh thành xưa). Đây vốn là một bộ phận trong công trình kiến trúc chung của Văn Miếu - Quốc tử Giám. 

Hoàng Anh - Tuấn Mark - Lê Hiếu

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thứ Ba, 22 tháng 4, 2014

LÃNH ĐẠO TÀI TÌNH.


Lãnh đạo tài tình thật.???
Có bao nhiêu người giỏi
-Có bao nhiêu người tài.
Họ lên nắm quyền lực
-hất văng hết ra ngoài.
Ai dám có chính kiến,
cũng cúi đầu lặng im.
Chỉ tung tẩy mấy anh
-giỏi khéo bề nịnh nọt.
GIỏi rào sau,đón trước
-GIỏi bợ đỡ quan thầy.
GIờ thì thành cơ chế:
dốt cả tớ lẫn thầy.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thư của các gs Hồ Tú Bảo, Ngô Bảo Châu, Trần Văn Thọ, Cao Huy Thuần gửi ông Hiệu trưởng Đại học Sư phạm Hà Nội

Ishikawa, Chicago, Tokyo và Paris, ngày 18 tháng 4 năm 2014
Thư gửi ông Hiệu trưởng Đại học Sư phạm Hà Nội
Kính gửi Giáo sư Nguyễn Văn Minh,
Hiệu trưởng Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Thưa ông Hiệu trưởng,
Chúng tôi được các bạn đồng nghiệp ở trong nước cũng như ở ngoài nước cho biết xúc động của họ về việc tái thẩm định luận văn thạc sĩ của cô Đỗ Thị Thoan và hậu quả khắc nghiệt mà việc đó đã đem lại cho cô giáo Đỗ Thị Thoan và bà Nguyễn Thị Bình, người đã hướng dẫn luận văn của cô. Là những người đã từng làm việc lâu năm trong các đại học ở nước ngoài, chúng tôi chưa thấy một trường hợp nào tương tự đã xảy ra, và cũng không hình dung được khả năng nào có thể xảy ra hiện tượng đó về mặt khoa học. Vì vậy, chúng tôi hoàn toàn chia sẻ nỗi xúc động chính đáng của các đồng nghiệp ở trong nước và bày tỏ mối quan tâm của chúng tôi đối với hiện tình của nền học thuật đại học tại Việt Nam qua sự cố này.
Trong sự việc đang làm dấy lên phản ứng, chúng tôi thấy cần phải phân biệt rõ ràng hai chỗ đứng khác nhau: một đằng là một hiện tượng văn học, một đằng là việc nghiên cứu hiện tượng đó. Nghiên cứu một hiện tượng không có nghĩa là người nghiên cứu đồng ý với hiện tượng ấy. Giá trị của luận văn, vì vậy, không thể căn cứ trên xét đoán chủ quan của người này người nọ về tính cách đúng sai của hiện tượng mà chỉ duy nhất căn cứ trên những tiêu chuẩn khoa học liên quan đến công trình nghiên cứu. Và người thẩm định duy nhất về giá trị khoa học đó không có ai khác hơn là hội đồng giám khảo. Khi một hội đồng giám khảo (do nhà trường lập ra theo đúng quy trình) đã tuyên bố kết quả của việc thẩm định rồi thì không có cơ quan nào khác có thẩm quyền truất phế kết quả ấy. Tất nhiên ai cũng có quyền phê bình luận văn, nhất là trên những sách báo chuyên môn, nhưng phê bình là một chuyện mà trừng phạt là chuyện khác. Sự “trừng phạt” duy nhất mà các luận văn kém chất lượng khoa học phải chịu là sự phê phán của giới khoa học trong ngành, và bất lợi trong các cuộc tuyển chọn giáo chức. Nhưng dù bị loại trong các cuộc tuyển, tác giả cũng không bị mất danh vị tiến sĩ, thạc sĩ. Chúng tôi chưa bao giờ chứng kiến một việc trừng phạt đau xót và bất nhẫn như hình phạt mà cô Đỗ Thị Thoan và, gián tiếp, bà Nguyễn Thị Bình đã phải chịu.
Chúng ta hằng mong muốn chứng tỏ đại học của chúng ta xứng tầm với các đại học trên thế giới tiên tiến. Muốn thế, chúng ta phải tôn trọng những nguyên tắc căn bản của đại học, trong đó phê phán chỉ có thể dựa trên những tiêu chuẩn thuần túy khoa học là một nguyên tắc tối thiểu.
Cuối cùng, chúng tôi cũng mong muốn rằng thái độ cư xử giữa các đồng nghiệp với nhau, cũng như giữa giáo sư và sinh viên trong đại học của ta, không khác với tinh thần trong các đại học của thế giới văn minh: rộng mở, tự do, bình đẳng, nhân ái.
Chúng tôi cám ơn sự chú ý mà ông Hiệu trưởng dành cho bức thư này.
Trân trọng kính chào ông Hiệu trưởng
Hồ Tú Bảo, Giáo sư Viện Khoa học và Công nghệ Tiên tiến Nhật Bản, Ishikawa, Nhật Bản.
Ngô Bảo Châu, Giáo sư Đại học Chicago, Hoa Kỳ.
Trần Văn Thọ, Giáo sư Đại học Waseda, Tokyo, Nhật Bản.
Cao Huy Thuần, nguyên Giáo sư Đại học Picardie, Paris, Cộng hoà Pháp.

THỌ ĐĂNG BỨC THƯ CỦA 4 GS NỔI TIẾNG CỦA VN ĐANG GIẢNG DẠY Ở NƯỚC NGOÀI TRONG ĐÓ CÓ GS NGÔ BẢO CHÂU, THẰNG EM MÀ THỌ YÊU NHẤT, HỒ TÚ BẢO LÀ ĐỒNG ĐỘI CỦA THỌ ĐÁNH NHAU Ở QUẢNG TRỊ NĂM 1972 
THỌ THƯƠNG CÁC CHÁU HỌC SINH VN PHẢI HỌC VĂN DO CÁC THẦY ĐƯỢC ĐÀO TẠO Ở TRƯỜNG ĐH SƯ PHẠM HÀ NỘI QUÁ !!! 
KÍNH MONG CÁC BẠN CHIA SẺ BỨC THƯ NÀY THẬT NHIỀU.
ĐÂY LÀ CUỘC CHIẾN GIỮA THIỆN VÀ ÁC; 
Pb: DXT
Phần nhận xét hiển thị trên trang

NƯỚC ĐÃ ĐẾN CHÂN RỒI !





Nguyên Hà 

Đây là thời điểm thích hợp nhất để thúc đẩy mạnh mẽ quá trình cải cách thể chế tại Việt Nam...

“Động lực phát triển mới từ cải cách thể chế” là chủ đề được Ủy ban Kinh tế của Quốc hội chọn cho Diễn đàn Kinh tế Mùa xuân sẽ diễn ra vào ngày 28 và 29/4 tới đây tại thành phố Hạ Long, Quảng Ninh.

Một trong những nội dung sẽ được tập trung thảo luận là giải pháp để tháo gỡ những nút thắt thể chế đang cản trở sự vận động của các quy luật khách quan và phổ quát trong nền kinh tế thị trường.

Trao đổi với VnEconomy trước thềm diễn đàn, Phó chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế Nguyễn Văn Phúc cho rằng, đây là thời điểm thích hợp nhất để thúc đẩy mạnh mẽ quá trình cải cách thể chế tại Việt Nam. Và những kiến nghị từ diễn đàn sẽ là các hành động cụ thể góp phần gỡ các nút thắt thể chế.

Chưa có đột phá

Cải cách thể chế nói chung và thể chế kinh tế đang là một vấn đề rất thời sự, không chỉ ở diễn đàn Quốc hội. Việc lựa chọn chủ đề diễn đàn lần này có vẻ rất “hợp thời” và cũng là sự nối mạch từ các diễn đàn của các năm trước. Nhưng trong bổi cảnh cải cách thể chế mới bắt đầu được “khởi động” lại thì tại sao diễn đàn không đặt vấn đề động lực cho cải cách thể chế mà lại là động lực phát triển mới từ cải cách thể chế, thưa ông?

Trước hết xin được nhấn mạnh không phải bây giờ vấn đề cải cách thể chế nói chung và cải cách thể chế kinh tế nói riêng mới được đặt ra.

Nhìn lại gần 30 năm qua, từ Đại hội 6 của Đảng đến nay, những bước phát triển ấn tượng của Việt Nam đều gắn với những đổi mới có tính quyết định về thể chế.

Riêng đối với hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thì từ 2008 Trung ương đã có nghị quyết chuyên đề, sau đó được Đại hội 11 xác định là một trong ba đột phá chiến lược. Song, quá trình triển khai từ đó đến nay thì không thể nói là đã có đột phá và mang lại kết quả như mong muốn, còn rất nhiều vấn đề cần tiếp tục làm rõ.
 
 

Hiện nay, việc tổng kết 30 năm đổi mới đang được tiến hành, trong đó có nội dung về cải cách thể chế kinh tế. Nhiều cơ quan của Đảng, Quốc hội, Chính phủ, các chuyên gia, các nhà khoa học đều đang tập trung nghiên cứu xoay quanh nội dung này.

Phó chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế Nguyễn Văn Phúc tại một phiên thảo luận của Quốc hội 
- Ảnh: TTXVN.

Trở lại câu hỏi của bạn, tôi thấy động lực để cải cách thể chế đã rất rõ ràng.

Nhận thức, tư duy của Đảng, Nhà nước và nhân dân đều thấy nguồn gốc của mọi vấn đề là thể chế, đó là động lực thứ nhất để cải cách.

Thứ hai, bản Hiến pháp được Quốc hội thông qua vào cuối năm 2013 có hiệu lực từ 1/1/2014 đã đặt nền tảng và yêu cầu rất mạnh mẽ về cải cách thể chế đồng bộ cả chính trị và kinh tế.

Thứ ba, trong thông điệp đầu năm 2014, Thủ tướng Chính phủ cũng chỉ rõ, những năm gần đây, tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế chậm lại, xã hội có không ít vấn đề bức xúc có nguyên nhân là động lực mà những cải cách trước đây tạo ra đã không còn đủ mạnh để thúc đẩy phát triển.

Thủ tướng cũng nhấn mạnh, đây là lúc Việt Nam cần có thêm động lực để lấy lại đà tăng trưởng nhanh và phát triển bền vững. Nguồn động lực đó phải đến từ đổi mới thể chế và phát huy mạnh mẽ quyền làm chủ của Nhân dân.

Động lực mới từ cải cách thể chế là nhận thức chung hiện nay, và cũng là lý do để Ủy ban Kinh tế lựa chọn chủ đề cho diễn đàn lần này.

Ông có nhắc đến Hiến pháp như một trong ba động lực để cải cách thể chế. Tuy nhiên, vẫn còn có nhiều ý kiến băn khoăn về không gian cho cải cách thể chế kinh tế của bản Hiến pháp này. Vậy theo ông những hiến định nào sẽ thúc đẩy quá trình cải cách?

Tuy vẫn còn có những ý kiến khác về dư địa cho đổi mới thể chế của Hiến pháp, đặc biệt có ý kiến cho rằng là hiến định về sở hữu toàn dân và kinh tế nhà nước chưa thực sự tạo động lực để cải cách. Chúng ta cần tôn trọng các ý kiến khác... Nhưng cần hiểu Hiến pháp một cách hệ thống, ngay cả những điều nói về kinh tế nhà nước hay sở hữu toàn dân cũng phải hiểu theo tinh thần mới, trong bối cảnh mới.

Đừng hiểu về kinh tế nhà nước như cũ, nghĩa là anh lấn át hết khu vực kinh tế tư nhân. Kinh tế nhà nước ở đây không đồng nhất với quốc doanh, với doanh nghiệp nhà nước. Hiến pháp cũng hiến định chính xác và hợp lý hơn về sở hữu toàn dân, đồng thời Hiến pháp bảo đảm quyền sử dụng, khai thác, hưởng lợi từ tài nguyên thiên nhiên được coi là quyền sinh tồn của người dân. Vai trò, chức năng của nhà nước trong nền kinh tế thị trường cũng đã dược hiến định đúng đắn hơn, nguyên tắc phân quyền trong quản lý cũng đã được bổ sung.

Tóm lại là Hiến pháp có nhiều điểm mới, là nền tảng vững chắc để thúc đẩy quá trình cải cách thể chế. Điều quan trọng là việc tổ chức thực thi Hiến pháp như thế nào để có thể đạt được mục tiêu đó.

Cách tiếp cận mới

Như ông đã nói ở trên, cải cách thể chế là vấn đề xuất hiện khá dày đặc không chỉ ở hội thảo, hội nghị mà còn cả các công trình nghiên cứu đã và đang được tiến hành. Vậy diễn đàn có gì  khác biệt trong cách tiếp cận và giải quyết vấn đề?

Hiện nay cách hiểu về thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa còn khác nhau. Ngay cả quan niệm về thể chế, cải cách thể chế là cải cách cái gì cũng còn chưa hoàn toàn thống nhất. Còn có sự lẫn lộn giữa thị trường và thể chế kinh tế thị trường. Nếu không thống nhất về cách hiểu cho dù ở mức tương đối thì khó xác định được phạm vi và đối tượng cải cách.

Bởi vậy, tại diễn đàn sẽ thảo luận và làm rõ yêu cầu đổi mới tư duy, nhận thức, cách tiếp cận mới về kinh tế thị trường và thể chế kinh tế thị trường. Từ đó xây dựng nguyên tắc và nội dung cơ bản về cải cách, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường tại Việt Nam.

Tuy nhiên, với thời gian có hạn, chúng tôi đã thống nhất với các chuyên gia là không nặng về lý thuyết mà sẽ “tấn công” thẳng vào các nút thắt thể chế và đề xuất, khuyến nghị các giải pháp để tháo gỡ và tạo ra các “động lực thể chế” cho phát triển để làm sao sau Diễn đàn sẽ có một số kiến nghị cụ thể, “gạch đầu dòng” các hành động cần làm và “có thể làm được” để cải cách thể chế không còn chỉ là thông điệp, nghị quyết mà đi vào thực tế cuộc sống.

Theo đó các tham luận tiếp theo sẽ trình bày nhận thức mới về vai trò nhà nước và kinh tế nhà nước gắn với sở hữu toàn dân trong nền kinh tế thị trường tại Việt Nam.

Những vấn đề mới đặt ra đối với cải cách thể chế kinh tế trong quá trình hội nhập cũng là nội dung được thảo luận. Một số tham luận sẽ định lượng tác động của những nút thắt thể chế liên quan đến môi trường kinh doanh và hoạt động của các doanh nghiệp Việt Nam, đặc biệt là cạnh tranh bình đẳng. Từ đó, đề xuất một số khuyến nghị đổi mới môi trường kinh doanh thân thiện với doanh nghiệp.

Diễn đàn cũng sẽ đưa ra các đề xuất hoàn thiện thể chế xác định giá theo cơ chế thị trường cho các thị trường hàng hóa cơ bản trên cơ sở các nghiên cứu thực trạng hiện nay của vấn đề này.

Đổi mới thể chế phân bổ nguồn lực và phân bổ lợi ích tạo động lực cho phát triển cũng sẽ có những đáp án mới, từ tranh luận mở tại diễn đàn.

Ở một số diễn đàn trước bạn cũng đã từng nghe chuyên gia lo ngại các nhóm lợi ích đang cản trở cải cảch thể chế. Song, lợi ích ở đây không chỉ là lợi ích nhóm theo nghĩa tiêu cực mà rộng hơn là những năm qua lợi ích rơi vào khu vực không phải kinh tế thực. Như bất động sản, chứng khoán, tài chính, ngân hàng… còn khu vực kinh tế thực bao gồm các ngành sản xuất, chế tạo, cơ khí… thì phát triển èo uột, đó thực sự là sự cản trở rất lớn đối với phát triển kinh tế.

Vậy theo ông thì sự lệch lạc trong phân bổ nguồn lực và lợi ích có quá khó để khắc phục trong bối cảnh hiện tại không?

Giờ nước đến chân rồi, không thể không làm! Chúng ta đặt mục tiêu đến năm 2020 Việt Nam cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Nếu không khắc phục được sự lệch lạc trong phân bổ nguồn lực và lợi ích nghĩa là không ai đầu tư vào nền kinh tế thực thì làm sao có công nghiệp hóa được.

Đâu phải vô cớ mà có lời cảnh báo coi chừng Việt Nam còn thua cả Campuchia khi họ sản xuất được ôtô rồi còn ta nhập cả ốc vít. Như vậy có nghĩa là đòi hỏi phải có điều chỉnh ở tầm vĩ mô, không thể tập trung mãi vào khu vực kinh tế ảo được, dù nó quan trọng nhưng nó phải làm đúng chức năng của nó chứ không thể lấn át lợi ích của khu vực kinh tế thực như những năm qua.

Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Bùi Quang Vinh, một người rất tâm huyết với cải cách thể chế kinh tế, đã từng nói một người nói có thể không ai nghe. Song nhiều chuyên gia cùng hiến kế thì đất nước sẽ đổi mới. “Thương hiệu” các diễn đàn kinh tế mùa xuân và mùa thu của Ủy ban Kinh tế được xây dựng bởi chính sức nặng từ các ý kiến của nhiều vị chuyên gia. Nhiều kiến nghị từ các diễn đàn này cũng được đánh giá rất cao. Theo ông, các kiến nghị đó đã thực sự được lắng nghe và động lực cũng như tâm huyết của các chuyên gia có còn như trước?

Quan điểm của Ủy ban Kinh tế là tôn trọng các ý kiến nhiều chiều tại diễn đàn, bởi các nhà khoa học, các chuyên gia đến với diễn đàn đều có ý thức xây dựng trách nhiệm cao với sự phát triển của đất nước.

Nhưng, ngay cả động lực của chuyên gia cũng có thể cạn lắm chứ. Có vị chuyên gia nói chỉ cần thực hiện những điều mà họ đã kiến nghị là tốt rồi, còn cứ kiến nghị mãi mà không thấy được tiếp thu thì cũng mất động lực.

Còn đặt vấn đề tác động của diễn đàn ở mức nào thì nhiều khi nó đòi hỏi một thời gian nhất định mới có thể đánh giá được. Nhưng nhiều nội dung cũng đã được tiếp thu, như 10 kiến nghị ổn định kinh tế vĩ mô hay kiến nghị về giải pháp tái cơ cấu nền kinh tế đã được nhóm tác giả của đề án tiếp thu khá nhiều.

Xin được mạo muội hỏi ông câu này, là đại biểu của dân ở cơ quan quyền lực cao nhất, ông có thực sự tin rằng Việt Nam đã bắt đầu bước sang giai đoạn mới của cải cách thể chế với những biến chuyển thực sự mạnh mẽ?

Không nghi ngờ gì về cảm nhận một giai đoạn phát triển mới của đất nước mà nếu không cải cách thể chế kinh tế thì rất là nguy hiểm. Mới đây, một chuyên gia người Nhật đã cảnh báo là Việt Nam đã rơi vào bẫy thu nhập trung bình. Thời điểm này thì cải cách không chỉ là ý muốn của nhân dân mà đã thực sự là yêu cầu rất cấp thiết đối với Đảng, Nhà nước.

Bạn hỏi về niềm tin thì đó là câu hỏi quá lớn. Điều không thể né tránh là niềm tin trong cử tri và kể cả bản thân tôi đều “có vấn đề”. Chúng ta đều mong muốn, đều nỗ lực còn tin vào sự thành công đến mức nào thì phải có thực tiễn. Những năm gần đây chúng ta chứng minh mãi là nền kinh tế có vấn đề về cơ cấu, về mô hình nhưng 3 năm qua chưa làm được nhiều và làm một cách mạnh mẽ để tái cơ cấu nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng. Rõ ràng khoảng cách giữa chủ trương và hành động đã làm giảm niềm tin của cử tri.

Về dài hạn thì tôi vẫn tin vào động lực phát triển mới từ cải cách thể chế, nhưng trước mắt thì trả lời câu hỏi của bạn không hề đơn giản. Chúng ta không chỉ củng cố lại niềm tin cho mình, mà còn phải góp phần củng cố niềm tin trong nhân dân.

Tôi cũng xin nhắc lại, gốc của thể chế là Hiến pháp. Và, như đã nói ở trên, Hiến pháp có nhiều điểm mới làm nền tảng để cải cách thể chế kinh tế. Và chúng ta hy vọng qua Diễn đàn Kinh tế Mùa xuân này, những quan điểm mới về cải cách thể chế kinh tế sẽ được các cơ quan có thẩm quyền lắng nghe, và biến thành hành động cụ thể!



Phần nhận xét hiển thị trên trang