Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Chủ Nhật, 20 tháng 4, 2014

Những phong tục lạ ở thượng du miền Bắc


IV. Đi “mò đêm” nhà sơn nữ người Thái
Căn nhà sàn của cô gái Thái vẫn còn bật đèn, bố mẹ cô chưa đi ngủ, A Lý tiến vào khẽ gõ lên cửa một lát thì cánh cửa mở ra… Sau đây là lời kể của một phóng viên ngoài Bắc…
image
Tục lệ diễm tình hoang sơ
Trong chuyến công tác ở xã Suối Bàng, huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La, sau khi tôi đã xong công việc thì cũng là lúc trời bắt đầu xâm xẩm tối. Bởi vậy tôi đành đến xin ngủ nhờ tại nhà của một người dân trong bản. May mắn là dân chúng trong làng Pưa Lai này đều là những người tốt bụng, hiếu khách. Thế nên, tôi được ngủ nhờ ở nhà anh Đinh Văn Thắng và chị Lường Thị Giang, họ là đôi vợ chồng trẻ mới cưới nhau chưa đầy hai năm. 

Bữa cơm thết đãi khách có thịt trâu và rượu ngô thơm nồng, đối với tôi quả thật là ăn mày vớ được xôi gấc, vì sau một ngày lăn lội đường đồi, đường núi, lại chẳng có quán xá nào để tạt vào ăn lót dạ, đến giờ đã sắp đói lả, ấy vậy mà vợ chồng anh Thắng vẫn ái ngại, sợ bữa ăn đạm bạc quá, không phải lễ với khách.

Ngồi nhâm nhi chén rượu ngô, tôi hỏi anh Thắng vùng này có phong tục gì đặc biệt. Anh Thắng cười, hỏi lại: “Anh đã nghe nói tới tục “đi mò” chưa?”
Thật tình là khi nghe anh Thắng nói thế, tôi ngỡ anh nói mò ốc, mò cua gì đó. Có lẽ đoán được sự hiểu lầm của tôi, anh cười, bảo: “Đấy là một tập tục đã có từ lâu đời của người Thái Đen ở bản này. “Đi mò” là một kiểu tìm kiếm bạn tình, cũng giống như người Thái Trắng có tập tục “chọc sàn”, người Dao có tục “cạy cửa ngủ thăm”, người Mông có tục “đánh mông” chắc anh đã nghe qua…”.
(Chú thích: người Thái còn gọi là người Tày. Thái Đen hay Tày Khao: chuyên mặc đồ đen. Thái Trắng hay Tày Đăm: chuyên mặc đồ trắng. Họ chiếm tới 55% dân số tỉnh Sơn La và có liên hệ về chủng tộc với người Thái Lan.– ĐD).

image

Anh cho biết, con trai ở bản Pưa Lai này cứ đến khoảng 15-16 tuổi là bắt đầu biết “đi mò” rồi, đứa nào không chịu khó đi mò thì chỉ có nước ế vợ. Họ có thể “đi mò” theo kiểu đánh lẻ hoặc từng nhóm. Nếu đi theo nhóm thì cứ việc đàng hoàng đến nhà cô gái mà mình ưa thích rồi gõ cửa, bố mẹ cô gái sẽ ra mở, mời vào nhà uống nước và trò chuyện. Vì “đi mò” là một phong tục nên dù có đến muộn bố mẹ cô gái cũng chẳng cảm thấy phiền hà. Sau khi đã chuyện trò, rào đón với “phụ huynh” dăm ba câu, đợi họ đi ngủ, cả nhóm sẽ kéo nhau về, để lại một anh chàng có tình ý với cô gái để hai người bắt đầu giai đoạn “tìm hiểu”.

Đối với những chàng trai thích “một mình xung trận” thì phải hẹn với cô gái trước. Đợi khi cả nhà đã đi ngủ, chàng trai đến gõ nhẹ vào cửa hoặc vào vách nơi cô gái ngủ làm hiệu, cô gái sẽ biết ý ra mở để chàng trai vào.

Ngược lại, đã thích một cô nào đấy nhưng nếu không hẹn trước, tối khuya chàng trai cứ tìm đến, lẳng lặng dùng dao lách vào khe cửa, bẩy cái chốt lên để vào nhà, đến buồng cô gái. May mắn được đồng ý, cô gái sẽ im lặng và cho vào giường. Còn nếu không được sự đồng ý, chàng trai vẫn cố ý chui vào giường để “tìm hiểu” rất dễ bị cô gái hô hoán cho bố mẹ đuổi về. Tuy nhiên, ở bản này chưa bao giờ xảy ra chuyện trai bản bị “muối mặt” như vậy.

Những chàng trai khi đã tìm được đối tượng để gửi gắm tình cảm, sau những lần “đi mò” rồi được cô gái ưng thuận cho ngủ lại thì sau đó sẽ về thưa chuyện và nhờ bố mẹ đến hỏi cưới. Tuy nhiên, trước khi lấy vợ, chàng trai phải đến nhà cô gái làm giúp một thời gian, nhanh thì ba tháng, chậm thì một năm. Trong lễ cưới, nhà trai phải là người lo hết mọi chi phí của đám cưới, từ của hồi môn cho đến việc cỗ bàn thết đãi khách bên nhà gái.

Kể xong anh Thắng nhìn sang vợ, chị Lường Thị Giang, và cười khì khì: “Nói đâu xa, cách đây hai năm tối nào tôi cũng cùng đám thanh niên đi mò đêm suốt ở cái bản Pưa Lai này, thậm chí là sang cả bản bên cạnh nữa. Cuối cùng là “mò” được cô ấy đấy”.

Thấy tôi háo hức muốn đi cho biết, anh Thắng giục vợ dẹp bát đũa, cùng tôi ra ngồi uống nước trà rồi bảo: “Cứ uống nước xong đi là vừa. Tí nữa mình gọi mấy thằng em ở bản, tối nào chúng nó cũng đi, cho cậu đi cùng luôn thể”. 

Tôi đi “mò”

Tối hôm ấy, người em họ của anh Thắng tên là A Lý khoảng chừng 16 tuổi cùng mấy đứa bạn của nó cũng cỡ tuổi đó đến dẫn tôi đi. Đường đèo đầu mùa đông, lạnh giá. Đang đi, A Lý khẽ bảo tôi: “Tụi em dẫn anh vào nhà con bé tên Luyến xinh lắm. Nó là “hoa chưa có chủ” vì mới cỡ 16 tuổi, đẹp nhất bản. Anh xem nếu nó đồng ý thì tụi em để lại anh ở đấy, tụi em có chỗ khác. Nó mới lớn, tán nó hơi khó, tụi em không thích”.

Căn nhà sàn của gia đình cô gái tên Luyến vẫn còn sáng ánh đèn, bố mẹ cô chưa đi ngủ. A Lý khẽ gõ lên cửa, một lát thì cánh cửa mở, cả bọn kéo tôi vào. Chúng tôi ngồi uống trà với bố mẹ của Luyến, còn cô thì ngồi e ấp trên giường của mình ở góc nhà sàn.

Thấy tôi lạ mặt, bố của Luyến hỏi chuyện. Tôi không dám nói thật mình là người Kinh ở dưới xuôi lên mà trả lời rằng là bà con của anh Thắng, hôm nay đến đây được mấy cậu em dẫn đi chơi.

Sau vài ba câu chuyện, bố mẹ Luyến biết ý, đi nghỉ và bảo chúng tôi cứ ngồi chơi. Tôi đang e ngại vì chưa hiểu tình thế ra sao, không biết nên về hay nên ở thì A Lý rủ rỉ vào tai tôi: “Con bé Luyến có vẻ “kết” anh rồi đấy. Từ nãy đến giờ nó cứ nhìn anh chằm chặp”. Nghe vậy, tôi để ý thì thấy đôi mắt tròn xoe, đen lay láy của Luyến đang nhìn tôi với gò má ửng hồng, không hiểu vì thời tiết lạnh hay vì bản năng riêng của con gái người dân tộc. Thấy tôi nhìn, cô bé mỉm cười quay đi. Thấy vậy, cả bọn cười, vỗ nhẹ vào vai tôi ra chiều chúc mừng rồi kéo nhau đi. A Lý bảo tôi: “Tụi em cũng loăng quăng ở gần đây thôi. Nếu có gì không ổn, anh muốn về sớm thì cứ ra bên ngoài, ho lên mấy tiếng là em biết, sẽ dẫn anh về”.

image

Đâm lao thì phải theo lao, đợi Lý đi xong, tôi mạnh dạn đến bên chiếc giường lót rơm làm nệm của Luyến, ngồi xuống cạnh giường. Bất ngờ, Luyến thả mùng xuống, cài chung quanh rồi kéo tôi vào trong mùng, ôm chầm lấy tôi, áp mặt vào ngực tôi và cười khúc khích: “Hồi chiều em đã gặp anh rồi”. Hỏi ra mới biết, lúc chiều tôi đi loanh quanh trong bản chụp hình, thấy một đám sơn nữ đang địu ngô trên lưng từ đằng xa đi tới, tôi giơ máy ảnh ra chụp vài bức, té ra trong đám có Luyến mà tôi không biết.

Cũng nhờ “quen trước” như vậy nên tôi với Luyến nằm bên cạnh nhau, chuyện trò với nhau cởi mở hơn. Tôi thành thật kể cho Luyến nghe rằng mình là người Kinh ở dưới xuôi lên, Luyến cười: “Em biết rồi. Anh là nhà báo”. Tôi rất ngạc nhiên: “Sao em biết?”. “Tại vì anh có máy ảnh to loại chuyên nghiệp. Với lại nhà báo thì anh mới đi một mình chứ nếu là khách du lịch họ đi cả đoàn”. “Thế anh là người lạ, em không sợ à?”. “Không. Tối nào các trai bản cũng đến nhà em, có vài người quen mặt nhưng cũng có người lạ mặt, em không sợ đâu. Với lại con gái thì phải để người ta đến mới lấy được chồng, tục lệ ở đây là như vậy”.

image

Câu nói của Luyến khiến tôi cảm thấy thương nàng. Luyến có cảm tình với tôi. Tôi biết rõ điều đó. Các cô sơn nữ thường thích những chàng trai Kinh. Cũng có người đã ở lại đây, ăn đời ở kiếp với nhau, sống cuộc sống bình dị có thể coi là hạnh phúc. Nhưng tôi thì không, tôi sẽ phải trở về Hà Nội. Người ta bảo “ngủ thăm”, “mò đêm”, hoặc “chọc sàn” thì không được phép làm điều gì không trong sạch trước khi cô gái đồng ý và sẽ phải tính đến chuyện lâu dài. Riêng tôi thì khác, tôi là chàng trai người Kinh, tôi biết nếu tôi tiến tới, cô bé sẽ phá bỏ tục lệ, sẵn sàng chấp nhận nhưng tôi không thể làm như thế được…

Đợi cho Luyến ngủ yên, tôi rón rén trở dậy, cố gắng không gây tiếng động kẻo làm Luyến thức giấc. Trước khi chui ra khỏi mùng, dưới ánh sáng lờ mờ của ngọn đèn nhỏ đặt trên chiếc giá ở giữa nhà, tôi thấy gương mặt cô bé trông thật hiền dịu và thật dễ thương, đôi môi hé mở trong giấc ngủ như một đóa hoa rừng. Tôi đặt nhẹ lên má nàng một chiếc hôn từ biệt. Chợt, tôi giật mình: trên hai gò má nàng có hai dòng nước mắt chảy dài nhưng Luyến vẫn giả bộ ngủ. Các cô sơn nữ là như thế, rất quý trai Kinh nhưng cũng hiểu khó có chuyện lâu dài nên đành im lặng chia tay…

Thêm vài hình ảnh miền thượng du

image

Ảnh thiếu nữ Tây Nguyên trên tạp chi Life. Váy là loại váy hở được dệt trang trí hoa văn với những phong cách bố cục đa dạng. Còn về cuối năm, mùa lạnh thì họ choàng thêm tấm mền cũ. Trang phục khi đi hội của người dân thường được trang trí hoa văn nhiều màu sắc cả nam, nữ đều đeo vòng bạc. Giản đơn trong cách ăn mặt nên cũng thuận tiện khi xong buổi làm việc trên rẫy, trên rừng: các thiếu nữ bản làng cứ thoăng thoắt bước xuống suối nô đùa với dòng nước mát mà không cần cởi bỏ thứ gì ngoại trừ nếu muốn không ướt váy. Nếu muốn giặt váy áo thì sơn nữ sẽ cởi bỏ nó giặt giũ ra khi thân mình đầy đặn đắm trong dòng nước tinh khiết và mát lạnh giữa núi rừng Tây nguyên.

image

Bây giờ người ta phải dàn dựng... Bây giờ thì người viết báo muốn tìm nguồn tin làm phóng sự thì tìm đỏ mắt, nhiếp ảnh gia muốn sáng tạo ảnh nghệ thuật phải tìm chốn thuê người làm mẫu cởi trần tắm suối như ngày xưa để có những tác phẩm gọi là có hồn... Nhưng cái hồn ấy là sao có được sự tinh khôi thuần khiết như tục tắm tiên ngày cũ với một bên là cái đẹp chân chất, trong sáng đến mức thánh thiện trong cuộc sống đời thường, còn kia là sự gò ép dàn dựng, khó có thể so sánh được.

image

Ru con. Âu cũng là cái đương nhiên của sự phát triển để đánh đổi phần nào bản sắc dân tộc vùng cao, vùng xa... và những cái mất đi sẽ chỉ còn tồn tại trong ký ức, trong những tấm ảnh còn lại của ngày xưa hay hiếm hoi một đôi nơi xa khuất ánh sáng hiện đại bây giờ. Nếu biết trân trọng phong tục cổ truyền, nếu nhìn sự việc dưới ánh mắt nghệ thuật, biết chiêm ngưỡng vẻ đẹp của suối nguồn Tây Bắc, Tây nguyên trong một chiều các cô sơn nữ tắm tiên thì bạn sẽ thấy lòng mình trong sáng, thanh cao hơn như được hòa mình cùng đất trời và người của vùng cao huyền thoại... Nhưng những cảnh này còn được bao lâu dưới con mắt soi mói của cái gọi là "văn minh" trần trụi của người miền xuôi? Du lịch, GO! - Biên tập từ BĐVN, Zing, MTH Blog, Nguoinoitieng, SGTT và rất nhiều nguồn khác.

image

Bé bỏng.

image

Cọn nước.

image

Tắm trên sông Mã.

image

Lên nương.

image

Sơn nữ.

image

Ngày hội.

image

Rừng núi Tây Bắc.
Đoàn Dự 

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Chân dung các vị vua cuối cùng đời nhà Nguyễn


image
Chân dung các vị vua triều Nguyễn được khắc họa qua những họa phẩm tuyệt đẹp. ( thiếu vua Dục Đức )

image
Gia Long (1762 – 1820) là vị Hoàng đế đã thành lập nhà Nguyễn, vương triều phong kiến cuối cùng trong lịch sử Việt Nam. Ông tên thật là Nguyễn Phúc Ánh (thường được gọi tắt là Nguyễn Ánh), trị vì từ năm 1802 đến khi qua đời năm 1820.

image
Vua Minh Mạng, cũng gọi là Minh Mệnh (1791 – 1841), tức Nguyễn Thánh Tổ, là vị Hoàng đế thứ hai của nhà Nguyễn, Được xem là một ông vua năng động và quyết đoán, Minh Mạng đã đề xuất hàng loạt cải cách từ nội trị đến ngoại giao, trong đó có việc ngăn chặn quyết liệt ảnh hưởng phương Tây đến Việt Nam.

image
Vua Thiệu Trị (1807 – 1847) là vị Hoàng đế thứ ba của nhà Nguyễn, trị vì từ năm 1841 đến 1847. Ông có tên húy là Nguyễn Phúc Miên Tông, ngoài ra còn có tên là Nguyễn Phúc Tuyền và Dung. Ông là con trưởng của vua Minh Mạng và Tá Thiên Nhân Hoàng hậu Hồ Thị Hoa.

image
Vua Tự Đức (1829 – 1883), là vị Hoàng đế thứ tư của nhà Nguyễn. Ông tên thật là Nguyễn Phúc Hồng Nhậm hay còn có tên Nguyễn Phúc Thì, là con trai thứ hai của vị hoàng đế thứ 3 triều Nguyễn, Thiệu Trị. Ông là vị vua có thời gian trị vì lâu dài nhất của nhà Nguyễn, trị vì từ năm 1847 đến 1883. Trong thời gian trị vì của ông, nước Đại Nam dần rơi vào tay quân Pháp.

image
Hiệp Hòa (1847 – 1883) là vị vua thứ sáu của vương triều nhà Nguyễn trong lịch sử Việt Nam. Tên thật của ông là Nguyễn Phúc Hồng Dật, còn có tên làNguyễn Phúc Thăng, là con thứ 29 và là con út của vua Thiệu Trị và bà Đoan Tần Trương Thị Thuận. Ông lên ngôi tháng 7/1883, nhưng bị phế truất và qua đời vào tháng 10 cùng năm.

image
Kiến Phúc (1869 – 1884), tên húy là Nguyễn Phúc Ưng Đăng, thường được gọi là Dưỡng Thiện, là vị vua thứ bảy của vương triều nhà Nguyễn. Ông là con thứ ba của Kiên Thái vương Nguyễn Phúc Hồng Cai và bà Bùi Thị Thanh, được vua Tự Đức chọn làm con nuôi. Kiến Phúc lên ngôi năm 1883, tại vị được 8 tháng thì qua đời khi mới 15 tuổi.

image
Hàm Nghi (1871 – 1943) là vị Hoàng đế thứ 8 của nhà Nguyễn, là em trai của vua Kiến Phúc. Năm 1884, Hàm Nghi được đưa lên ngôi ở tuổi 13. Sau khi cuộc phản công tại kinh thành Huế thất bại năm 1885, Tôn Thất Thuyết đưa ông ra ngoài và phát hịch Cần Vương chống thực dân Pháp. Phong trào Cần Vương kéo dài đến năm 1888 thì Hàm Nghi bị bắt. Sau đó, ông bị đem an trí ở Alger (thủ đô xứ Algérie).

image
Vua Đồng Khánh (1864 – 1889), miếu hiệu Nguyễn Cảnh Tông, là vị Hoàng đế thứ chín của nhà Nguyễn, tại vị từ năm 1885 đến 1889. Tên húy của nhà vua các tài liệu ghi khác nhau, nơi thì ghi là Nguyễn Phúc Ưng Kỷ, Nguyễn Phúc Ưng Thị, Nguyễn Phúc Ưng Biện, Nguyễn Phúc Chánh Mông, ngoài ra còn có tên Nguyễn Phúc Đường. Ông là con trưởng của Kiên Thái VươngNguyễn Phúc Hồng Cai và bà Bùi Thị Thanh, được vua Tự Đức nhận làm con nuôi năm 1865.

image
Vua Thành Thái (1879 – 1954) là vị Hoàng đế thứ 10 của nhà Nguyễn, tại vị từ 1889 đến 1907. Tên húy của ông là Nguyễn Phúc Bửu Lân, còn có tên làNguyễn Phúc Chiêu. Ông là con thứ 7 của vua Dục Đức và bà Từ Minh Hoàng hậu (Phan Thị Điểu). Do chống Pháp nên ông bị đi đày tại ngoại quốc.

image
Vua Duy Tân (1900 – 1945) là vị vua thứ 11 của nhà Nguyễn (ở ngôi từ 1907 tới 1916), sau vua Thành Thái. Khi vua cha bị thực dân Pháp lưu đày, ông được người Pháp đưa lên ngôi khi còn thơ ấu. Tuy nhiên, ông bất hợp tác với Pháp và bí mật liên lạc với các lãnh tụ khởi nghĩa Việt Nam. Vì lý do này, ông bị người Pháp đem an trí trên đảo Réunion ở Ấn Độ Dương.

image
Vua Khải Định (1885 – 1925), hay Nguyễn Hoằng Tông là vị Hoàng đế thứ 12 nhà Nguyễn trong lịch sử Việt Nam, ở ngôi từ 1916 đến 1925. Ông có tên húy là Nguyễn Phúc Bửu Đảo, còn có tên là Nguyễn Phúc Tuấn, con trưởng của vua Đồng Khánh và bà Hựu Thiên Thuần Hoàng hậu Dương Thị Thục.

image
Bảo Đại (1913 – 1997) là vị Hoàng đế thứ 13 và cuối cùng của triều Nguyễn, cũng là vị vua cuối cùng của chế độ quân chủ Việt Nam. Tên húy của ông làNguyễn Phúc Vĩnh Thụy, còn có tên là Nguyễn Phúc Thiển , tục danh "mệ Vững" là con của vua Khải Định và Từ Cung Hoàng thái hậu. Đúng ra "Bảo Đại" chỉ là niên hiệu nhà vua nhưng tục lệ vua nhà Nguyễn chỉ giữ một niên hiệu nên nay thường dùng như là tên nhà vua.

baomai.blogspot.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Những phong tục lạ ở thượng du miền Bắc


Những dân tộc thiểu số miền Bắc có những bộ y phục cổ truyền rất rực rỡ và đẹp mắt; trong khi đó người Kinh văn minh hơn ở miền quê chỉ đánh độc một bộ cánh nâu và cái quần cháo lòng, đi chân đất kéo dài kiếp nhếch nhác cả ngàn năm ???
I. Tục “coong trình” của người Dao Đỏ ở Sa Pa
Ở Sa Pa, người Dao Đỏ có dân số đứng thứ hai sau người H’Mông (Hơ Mông, hay còn gọi là người Mông). Họ cũng có nguồn gốc từ Vân Nam, Trung Quốc, và là một bộ phận nhỏ của tộc người Dao di cư vào Việt Nam từ thế kỷ XIII đến những năm 1940 của thế kỷ trước. Họ sống tập trung đông nhất ở các xã Tả Phìn, Nậm Cang, Thanh Kim, Suối Thầu, Trung Chải…


image

Theo các nhà nghiên cứu thì người Dao có quan hệ mật thiết với người H’Mông. Trước đây, hai nhóm này được cho là có cùng nguồn gốc, nhưng sau khi thiên cư từ Trung Hoa vào Việt Nam thì hai cộng đồng này đã hình thành những đặc điểm khác nhau. Ngày nay, đến Sa Pa chúng ta có thể nhận ra sự khác biệt giữa người Dao và ngươi Hơ Mông về hình dáng, trang phục, cách sinh hoạt v.v…, nhưng họ vẫn chung sống tại cùng một vùng núi mặc dầu nơi cao nơi thấp khác nhau.

Nếu người H’Mông thường chọn những nơi núi cao để ở thì người Dao lại chọn thung lũng hoặc lưng chừng núi ở để tỉa ngô, trồng lúa và thảo quả. Các lái buôn thường đến tận nhà thu mua, mang bán sang Trung Quốc nên cuộc sống của họ cũng khá. Nhiều nhà có xe máy, tivi, thậm chí là cả xe hơi, máy kéo dùng trong nông nghiệp.

image

Tộc người Dao có nhiều nhóm, nhưng sinh sống ở Sa Pa chủ yếu là người Dao Đỏ, bởi phụ nữ thường quấn khăn đỏ hay đội mũ đỏ, áo màu xanh đen nhưng có nhiều hoa văn đỏ và trắng ở cổ, ở vạt áo và tà áo. Trang phục của họ được xem là đẹp nhất ở Sa Pa. Phụ nữ Dao Đỏ còn có tục tỉa bớt chân mày và tóc phía trên trán cho đẹp. Họ cũng có chữ viết riêng dựa theo chữ Hán cổ gọi là chữ Nôm Dao, nhưng loại chữ này nay chỉ người cao tuổi mới đọc, hiểu và viết được. 

Người Dao có tín ngưỡng rằng loài chó là tổ tiên của họ nên chó luôn luôn được quý trọng. Ngoài ra, đàn ông chỉ được coi là trưởng thành sau khi đã chịu lễ cấp bằng sắc của nơi thờ cúng. Họ cũng có các tục lệ khác như gia đình nào đang nấu rượu thì cắm một cành cây trước cửa, không cho người lạ vào vì quan niệm rằng hễ có người lạ vào là rượu sẽ chua và khê. Khi thấy có dấu hiệu cắm lá trước cửa nhà người Dao, người ta kiêng không vào. Trong gia đình có phụ nữ sinh nở cũng cắm cành lá trước cửa để không cho người lạ vào, sợ đứa trẻ mới sinh sẽ khóc nhiều.

image

Họ cũng có tục kiêng sờ đầu trẻ con. Khi cắt tóc, cạo đầu cho trẻ họ để một chỏm tóc ở đỉnh đầu vì cho rằng đó là nơi trú ngụ của hồn vía con người, để chỏm tóc như vậy trẻ sẽ không hay ốm đau. Họ cũng quan niệm là nam và nữ khi chưa kết hôn thì không được chụp hình chung. Khách du lịch muốn chụp tốt nhất là hỏi trước họ.

Mỗi năm người Dao cũng có những lễ hội đặc biệt như: “Hội tết, nhảy múa” tổ chức vào ngày Mồng một và Mồng hai tháng Giêng; “Hát hội giao duyên” vào ngày Mồng mười tháng Giêng ở bản Tả Phìn, cách thị trấn Sa Pa khoảng 12km. Bản này nổi tiếng với các loại thổ cẩm đủ màu sắc và kiểu dáng do bàn tay khéo léo của phụ nữ H’Mông hoặc phụ nữ Dao tạo nên. Đặc biệt, họ có bài thuốc tắm bằng lá cây rừng của tổ tiên người Dao Đỏ truyền lại đến ngày nay, rất tốt cho du khách đi đường xa mệt mỏi.

image
Thiếu nữ Dao Đỏ thoải mái ngủ với người lạ

Người Dao Đỏ không coi quan hệ “không phải vợ chồng” là vô đạo đức. Họ gọi chuyện đó là “coong trình”, thậm chí càng “coong trình” với nhiều đàn ông càng tốt.

Bản Tân Phong ở tỉnh Lào Cai là nơi có nhiều người Dao Đỏ sinh sống. Cách đây ít lâu, một sinh viên Nông Lâm ngoài hai mươi tuổi, mới ra trường, được cử về phụ trách kiểm lâm tại địa phương nên chưa hiểu gì về phong tục tập quán của người Dao Đỏ. Tới cơ sở, cậu được giới thiệu tạm thời ăn ngủ tại nhà ông trưởng bản. Đêm ấy, sau khi chủ nhà mổ gà, mời cán bộ kiểm lâm một chầu rượu say, cậu lăn ra ngủ.

Chừng nửa đêm, có hai cô gái tuổi độ 17-18 đến bên giường kéo áo cậu lôi dậy. Cậu chưa hiểu ra sao thì các cô thì thầm vào lỗ tai cậu: “Cán bộ ra rừng ngủ với chúng tao đi. Chúng tao thích cán bộ mà. Dậy đi ra rừng ‘coong trình’…”

Cậu kiểm lâm cố rụt đầu vào trong chăn thì hai cô gái càng lôi cậu mạnh hơn khiến cậu vô cùng sợ hãi. Trước khi lên vùng thượng du, người ta đã kể với cậu chuyện ma cà rồng hút máu người. Ma cà rồng hiện hình qua các cô gái xinh đẹp, đêm đêm đi tới các ngôi nhà, chờ thiên hạ ngủ say rồi cắn vào cổ, hút máu người đang ngủ. Ai bị ma cà rồng hút máu thì da vàng bủng vì mất máu rồi chết.

Trong ánh lửa từ lò nấu cám lợn và ngọn đèn đốt bằng mỡ trâu đặt trên giá của chiếc cột giữa nhà hắt tới, gương mặt hai cô gái Dao đẹp hoang dại, rực rỡ như hai đóa hoa rừng, cậu sợ quá hét lên. Nghe tiếng kêu, ông trưởng bản trở dậy. Thấy hai cô gái, ông bật cười nói gì đó với họ, họ cười rồi bỏ đi.

Sáng hôm sau, ông trưởng bản giải thích về tục “coong trình” của người Dao Đỏ cho cậu nghe rồi cười bảo cậu: “Mấy đứa con gái nó thích thanh niên miền xuôi nên muốn kéo cán bộ ra rừng ngủ với tụi nó đấy mà”. Cậu kiểm lâm trẻ tuổi bấy giờ mới tiếc hùi hụi!

Tháng 3 năm sau, hạt kiểm lâm phối hợp với chính quyền địa phương tổ chức lễ cúng rừng và làm thủ tục để người dân ký hợp đồng nhận khoán, bảo vệ rừng. Buổi tối, cậu kiểm lâm trẻ tuổi rủ cô gái Dao Đỏ xinh nhất trong bản vào rừng. Nhưng vừa mới ôm cô gái vào lòng thì cô ta hét toáng lên rồi vùng bỏ chạy về bản. Thì ra, cô gái không đồng ý “coong trình” với chàng kiểm lâm nên chàng bị phạt vạ.

Theo phong tục, chàng kiểm lâm phải mua hai con gà trống và hai chai rượu để gia đình cô gái cúng ma, gọi hồn cô gái lạc ngoài rừng về.

image

Kể lại chuyện này, anh chàng kiểm lâm cười khì khì: “Hồi ấy mình còn trẻ, chưa biết gì về phong tục của họ chứ bây giờ thì cứ cô nào thích là mình “coong trình” đại, chả tốn một đồng nào cả, lỡ có bị phạt cũng… rẻ!”. “Thế lỡ cô ấy có con thì sao?”. “Thì cô ta nuôi. Cô ta “coong trình” với bao nhiêu người, đâu biết là con của ai”.

Ông Đặng Văn Tâm, hạt trưởng Hạt Kiểm lâm Lục Yên và ông Hoàng Cửu Tung, trạm trưởng Trạm Kiểm lâm Tân Phong nói rằng Tân Phong là nơi có tới 96% dân chúng là người Dao Đỏ. Kể lại chuyện của mình, ông Tung cười: “Năm 2006, tôi được phân công phụ trách địa bàn xã Tân Phong. Hôm ấy đã muộn, tôi nghỉ lại tại nhà của một gia đình ở thôn Khiểng Khun. Chủ nhà mổ gà tiếp đãi tôi rất niềm nở. Cả chủ lẫn khách đều uống rượu say quá chừng. Người vợ của chủ nhà nhìn tôi với đôi mắt long lanh lạ lắm. Đêm ấy đã khuya, tôi đang ngủ thì thấy một phụ nữ chui vào trong mùng rồi ôm lấy tôi. Tôi giật mình tỉnh dậy thì thấy người ôm mình là vợ chủ nhà. Chị ta thì thầm vào lỗ tai tôi: “Mình thích cán bộ, cán bộ ‘coong trình’ mình đi!”. Tôi hoảng quá bèn mở cửa chạy ra ngoài vì sợ chủ nhà tỉnh dậy, nhưng anh ta vẫn ngủ say như chết. Anh ta uống rượu say quá! Vậy là tôi bèn quay trở lại mùng và “coong trình” cho vừa ý vợ chủ nhà…”.

image

Sự phóng khoáng trong chuyện “coong trình”

Chuyện quan hệ tình dục của người Dao Đỏ khá phóng khoáng. Có người giải thích rằng do cuộc sống khép kín của cộng đồng người Dao Đỏ, nên quan hệ hôn nhân cận huyết khiến nhiều cặp vợ chồng vô sinh hoặc có những đứa trẻ sanh ra dị dạng hay kém phát triển về trí tuệ cũng như thể hình. Chính vì thế nên phụ nữ Dao Đỏ có phong tục duy trì nòi giống bằng cách quan hệ với nhiều đàn ông khác có vóc dáng cao to, đẹp trai, để sinh ra những đứa con khỏe mạnh, xinh đẹp.

(Người Eskimo ở Bắc cực cũng vậy, cuốn “The Eskimos” của Mục sư Peter Jergens người Mỹ nói rằng khi khách tới igloo (nhà hình vòm xếp bằng các tảng băng của người Eskimo) thì được mời ngủ chung với vợ chủ nhà. Hàng xóm đi săn trên tuyết mà vợ không đi theo được thì có thể “mượn” vợ của bạn gần đấy, và người đàn bà này sẽ phục vụ mọi chuyện kể cả việc “thay thế người vợ” một cách tự nhiên bất cứ lúc nào, không hề mặc cảm. Nếu may mắn có con, đứa trẻ sẽ thuộc về người chồng đã cho mượn vợ chứ không phải thuộc về người đi mượn). 

Tập tục “coong trình” đã có từ lâu đời, chợ tình Sa Pa của người Dao Đỏ phải chăng là để giao lưu tình cảm, thỏa mãn nhu cầu tình dục hay sâu xa là cải tạo giống nòi? Điều này các nhà khoa học sẽ nghiên cứu tiếp để giải đáp. Nhiều người kinh ngạc khi nhìn thấy các cô gái Dao Đỏ xinh đẹp lạ thường, họ cho biết: “Các cô gái đó đẹp chẳng khác gì tiên sa. Không ai hiểu họ có phải là sản phẩm trong những đêm “coong trình” do mẹ của họ với những người đàn ông khỏe mạnh, đẹp trai ở nơi khác đến hay không?”.

image

Ông thợ săn tên là Bàn Phúc Châu sau khi nghe phóng viên hỏi về phong tục “coong trình” và hỏi thật rằng trong đời ông đã “coong trình” với bao nhiêu phụ nữ rồi. Ông cười, rung đùi đầy hứng khởi: “Ô, không nhớ hết đâu. Mình xấu trai, các cô gái ít cô thích. Nhưng nếu vợ người ta thích thì mình cũng “coong trình” luôn”. “Lỡ chồng họ bắt được?”. “Thì mình bị nộp phạt hai con gà và một chai rượu, rẻ thôi mà”.

Ông cười khoái trá rồi lại kể tiếp: “Vợ mình chắc nó cũng đi “coong trình” với nhiều đàn ông khác lắm nhưng mình không biết thì chịu, không được bắt phạt gà, rượu. Còn nếu nó có con với người ta thì cũng chả sao, đứa con đó gọi mình là bố chứ có gọi người kia là bố đâu. Có người không có con còn phải mua con nuôi nữa kia mà. Người Kinh bảo cá vào ao nhà ta là cá của ta, thì có gì mà phải buồn”. 

ChịTriệu Thị Luyến, người hàng xóm của ông Bàn Phúc Châu, được ông mời sang chơi, uống rượu, nghe chuyện “coong trình” thì cứ cười khúc khích. Khi được hỏi ba đứa con của chị Luyến có mấy đứa là con của chồng? Chị Luyến cười, không biết nói thật hay dối: “Cả ba đứa đều là con của chồng em”…
Chị Đặng Thị Tâm, phó chủ tịch xã, cười ý nhị, bảo: “Ba đứa con của Luyến đều gọi chồng của nó bằng bố đấy. Còn em là người bên xã Tân Lĩnh, lúc còn con gái cũng hay “coong trình” nên gặp được chồng em rồi về làm dâu bên xã này”.

II. Tục “kéo vợ” của người Dao Đỏ

image

Trời Tây Bắc vào xuân, thiên nhiên giao hòa, cây cối nảy lộc, cũng là lúc những chàng trai Dao Đỏ hòa vào điệp khúc mùa xuân – điệp khúc của tình yêu– đang tràn ngập trên khắp núi đồi với tục lệ riêng của người Dao Đỏ: “Kéo người mình thương về… làm vợ!”.

Từ những ngày giáp Tết đến hết tháng Giêng, khi nhà nào thóc cũng đã đầy bồ, thịt đã treo kín trên ránh bếp, người người được nghỉ ngơi chuẩn bị cho vụ mùa năm tới thì cũng là lúc trai gái đến tuổi trưởng thành hướng theo tiếng gọi của tình yêu đôi lứa, lo chuyện xây dựng mái ấm gia đình.

Nếu các dân tộc thiểu số khác thuộc vùng Tây Bắc có tục “ngủ thăm”, “chọc sàn”, “bắt vợ” v.v… để chàng trai có thể lấy được người con gái mà mình yêu về làm vợ thì dân tộc Dao Đỏ có tục kéo vợ.

Truyện kể rằng, ngày xưa có một chàng trai nhà nghèo đem lòng say mê một cô gái xinh đẹp con nhà giàu. Không đủ bạc trắng, không có trâu, dê để cưới hỏi cô, chàng chỉ biết thầm thương trộm nhớ, còn cô gái thì hoàn toàn không đoái hoài gì tới chàng.
Thế rồi một ngày kia, tấm chân tình của chàng đã thấu tới thần, Phật và đấng linh thiêng. Thần đã báo mộng cho chàng rằng hãy làm sao bắt cóc được cô gái về, nhân duyên sẽ thành. Chàng làm theo và đã bắt được người mình yêu về giữ trong nhà mình. Tính tình ương ngạnh của cô gái đã được tình cảm chân thành của chàng cảm hóa, họ yêu nhau, sống với nhau, sinh con đẻ cái và sống đến trọn đời.

image

Chuyện xưa thể hiện ước mơ của những người nghèo túng không có khả năng trả nổi tiền cưới để lấy được người mình yêu. Tính “hợp lý” của câu chuyện đã có từ xa xưa và được thể hiện đầy đủ trong cuộc sống của thanh niên dân tộc Dao Đỏ cho đến ngày nay.

Giữa lưng chừng những vách đá còn phủ sương sớm, các chàng trai, cô gái người Dao Đỏ dường như đã hẹn hò từ trước, ngồi bên nhau, trao nhau những lời nói yêu đương, tình tứ. Chờ đến chiều, dường như đã hiểu nhau hơn, chàng trai cùng với bè bạn của mình bắt đầu “kéo” người mình yêu về làm vợ.
Theo giải thích của người Dao Đỏ, không phải cứ thấy cô gái nào xinh xắn, giỏi giang là kéo về nhà mình làm vợ. Thật ra, trước khi “kéo vợ”, đôi nam nữ đã tìm hiểu nhau rất kỹ, rồi ưng nhau. Kéo vợ chỉ là phong tục “bắt buộc phải có” để người con gái chính thức bước chân về nhà chồng.

Sau khi bị “kéo” về nhà chàng trai, cô gái được giữ ở trong nhà 3 ngày và vẫn sinh hoạt bình thường, được cha mẹ chàng trai xem như con cái trong nhà.

Sau 3 ngày, nếu ưng thuận, cô gái Dao Đỏ sẽ cắt bớt tóc và trở thành người vợ chính thức trong gia đình, chờ đến khi nào kinh tế khá giả họ mới tổ chức đám cưới, còn nếu không ưng thì lại trở về nhà mình. Chính vì thế, phong tục “kéo vợ” có tính hợp lý trong sinh hoạt của người Dao Đỏ.

III. Tục “cạy cửa ngủ thăm” của người Dao Tiền

image

Dao Đỏ là người Dao mà phụ nữ thường đội khăn hay mũ đỏ, mặc áo màu xanh đen có các nẹp cũng màu đỏ. Y phục của phụ nữ Dao Đỏ đẹp nhất trong các dân tộc thiểu số trên vùng thượng du Bắc Việt. Còn Dao Tiền là người Dao mà phụ nữ thường đeo vòng cổ hay vòng tay chân có các đồng tiền bằng đồng hay bằng bạc, khi cử động chúng kêu leng keng thánh thót rất hay. Trên đất nước Việt Nam có 54 sắc tộc (thường gọi là “dân tộc”) cùng chung sống. Mỗi dân tộc có những phong tục, tập quán mang nét độc đáo, rất riêng. Quý bạn đã từng nghe nói đến Lễ bỏ mả ở Tây Nguyên, Chợ tình (ở Khâu Vai – Hà Giang) v.v…, chúng tôi muốn giới thiệu với quý bạn một phong tục đặc biệt của người Dao Tiền ở vùng Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ: tục “cạy cửa ngủ thăm”.

Bản Cỏi thuộc xã Xuân Sơn, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ, nằm dựa lưng vào núi. Một bên giáp huyện Đà Bắc tỉnh Hòa Bình, phía bên kia giáp với huyện Phù Yên của tỉnh Sơn La. Bản Cỏi được bao quanh bởi suối và các núi non hùng vĩ. Nơi đây tập trung các dân tộc Dao, Mường… sinh sống. Cả bản có 66 hộ dân với 350 nhân khẩu.

image

Theo sự giải thích của người dân nơi đây, “ngủ thăm” có nghĩa là con trai, con gái đến tuổi trưởng thành đều có thể “cạy cửa ngủ” để thăm nhà nhau. Tuy nhiên, theo phong tục và quy định riêng của người Dao và người Mường từ bao đời nay, chỉ con trai người Mường mới được lấy vợ người Dao, còn con trai người Dao không được lấy gái Mường.

Các cô gái đến tuổi trưởng thành, ban ngày đi làm công việc đồng áng, tối đến thắp một ngọn đèn, buông mùng sớm và nằm trong đó. Các chàng trai có nhu cầu tìm hiểu người con gái mình sẽ lấy làm vợ, có thể tìm đến thăm nhà cô gái. Nếu thấy đèn trong buồng cô gái còn sáng, nghĩa là chưa có ai đến ngủ thăm, chàng trai phải tự cạy cửa để vào trong nhà, nằm xuống bên cạnh cô gái, cô này sẽ tắt hoặc vặn nhỏ ngọn đèn. Hai người chỉ trò chuyện, tâm sự mà không được đụng chạm vào người nhau.

Sau một thời gian tìm hiểu, cô gái có quyền quyết định xem có nên cho chàng trai đó “ngủ thật” hay không. Nhưng trước khi đi tới “ngủ thật”, hai người phải thưa với bố mẹ để bố mẹ coi có hợp tuổi với nhau không. Nếu hợp tuổi, gia đình sẽ cho phép đôi bạn trẻ “ngủ thật” với nhau.

Sau khi thời gian “ngủ thật” bắt đầu cũng là lúc chàng trai phải đến làm công cho gia đình cô gái. Cứ ngày đi làm cùng gia đình, tối về ngủ với cô gái mình có ý định tìm hiểu. Trong thời gian này, chàng trai không được về nhà mình, muốn về phải được gia đình cô gái cho phép. Nếu cô gái không thích chàng trai nữa thì cô ta sẽ gói quần áo cùng với một gói cơm nắm cho vào cái địu và bảo chàng trai: “Anh cứ về thôi!”, như thế có nghĩa là cô gái đã từ chối. Hoặc cũng có khi, cô gái bảo: “Hôm qua, em nằm mơ thấy không thể chung sống với anh được”, đó cũng là một cách từ chối nhẹ nhàng.

Nếu bạn là người Kinh, bạn vẫn có thể đến “ngủ thăm” ở nhà bất cứ một cô gái nào bạn thích, miễn là cô gái ấy chưa có ai đang “ngủ thăm” đêm hôm đó hoặc đã có người “ngủ thật”; và phải nhớ là bạn không được làm một điều gì… “thiếu trong sạch” khi muốn thử cái phong tục rất độc đáo này. Cũng có trường hợp cô gái để cho hai chàng trai đến “ngủ thăm” ở hai bên cạnh mình. Phong tục của họ cho phép như vậy. Trong trường hợp này, cả hai chàng trai cùng chuyện trò, tâm sự với cô gái, ai nói giỏi hơn thì người đó thắng.

image
Cho đến thời điểm này, các hãng du lịch vẫn chưa có các tour đưa du khách đến Bản Cỏi. Tuy nhiên, càng ngày càng có nhiều du khách tự động thuê xe đến đây để khám phá thiên nhiên hoang sơ và những phong tục tập quán kỳ lạ… có một không hai này!

Để đến được Bản Cỏi, người ta có thể mua vé xe tuyến Hà Nội – Phú Thọ ở bến xe Kim Mã Hà Nội (giá vài chục ngàn đồng/vé), xuống xe tại thị trấn của huyện Thanh Sơn.
Ở chợ của thị trấn Thanh Sơn có rất nhiều mặt hàng của đồng bào các dân tộc quanh vùng mang đến bán hoặc trao đổi hàng hóa như: thổ cẩm, đồ lưu niệm, hàng tiêu dùng, đặc biệt là các loại thuốc Nam. Giá nhà nghỉ ở đây tương đối rẻ, khoảng 50-100 ngàn đồng/phòng giường đôi, còn nhà trọ thì 10-20 ngàn đồng/người/ngày. Trung tâm thị trấn cũng có nhiều điểm vui chơi với giá cả rất rẻ và người dân ở đây hết sức thật thà, mến khách.

Từ thị trấn Thanh Sơn người ta có thể thuê xe ôm đến Bản Cỏi, khoảng 50-70 ngàn đồng/xe chở 2 người. Cánh xe ôm ở đây tay lái rất vững, khách có thể yên tâm dù cho quãng đường đồi núi gập ghềnh.

Tuy Bản Cỏi chưa có khách sạn và nhà nghỉ nhưng khách có thể đến gõ cửa bất cứ một ngôi nhà nào, bảo đảm không phải trả tiền mà còn được chủ nhà coi như thượng khách.


Phần nhận xét hiển thị trên trang

5 TIÊU CHUẨN CỦA MỘT NGƯỜI ĐƯỢC KÍNH TRỌNG Ở PHƯƠNG TÂY




Xã hội Việt Nam gần đây văn hóa đang trên đà suy đồi. Một kiểu của cô gái quê lên thị thành bị cái choáng ngợp của thị thành biến thành cô cave rẻ tiền. Văn hóa xấu của các nơi xâm thực vào dân Việt rất rõ nét. Đây là một giai đoạn ắt phải có của bất kỳ quốc gia nào đang chuyển mình từ thuần chủng văn hóa hội nhập với văn hóa toàn cầu.

Vấn đề hòa nhập hay hòa tan văn hóa là vấn đề mà hơn ngàn năm nay, tất cả những nhà văn hóa lớn của toàn cầu luôn đưa ra những cảnh báo cho các quốc gia đang phát triển. 

Ở Việt Nam, từ văn hóa Nho giáo du nhập từ Trung Hoa sau ngàn năm nô lệ. Những tam cương, ngũ thường của Khổng Khâu đã định hình hơn ngàn năm qua. Muốn thay đổi, nước Việt đã có cuộc cách mạng văn hóa thời thuộc Pháp do các chí sỹ, và các nhà du học phương Tây đã làm một bước lớn. Câu chuyện đàn ông từ bỏ bím tóc dài do ảnh hưởng tư tưởng nô lệ của nhà Thanh bên Trung Hoa, và sử dụng chữ Quốc Ngữ theo La Tinh do các nhà truyền giáo là những sự hòa nhập tích cực, mà không hòa tan.

Nhưng song hành với những thay đổi tích cực ấy của thời thuộc Pháp, thì vẫn có cái xấu của xã hội chuyển mình. Nó như cơn đau chuyển dạ của người phụ nữ làm thiên chức cho loài người. Chính vì thế, văn học sử của Việt Nam thời này mới có những tác phẩm hiện thực phê phán như Tắt Đèn của Ngô Tất Tố; Chí Phèo của Nam Cao; Quan Phụ Mẫu của Nguyễn Công Hoa; Số Đỏ của Vũ Trọng Phụng.

Gần đây, phong trào hiện thực phê phán trong văn học bị đè nén do sự kiểm soát của chính quyền, từ cái đề cương văn hóa của ông Trường Chinh viết ra từ năm 1943. Nhưng văn học tha hóa và méo mó làm văn hóa, đạo đức xã hội suy đồi lại nổi lên như một cuộc chuyển dạ sai lệch, do những con người bị hòa tan bỡi cái văn hóa xấu của phương Tây, mà không biết gạn đục khơi trong để hòa nhập, lại được đẩy lên đến tột đỉnh. Nó nguy hiểm đến nỗi mà một cây cổ thụ của âm nhạc cổ truyền của dân tộc - Nhạc sư Vĩnh Bảo - phải lên tiếng là, nếu văn hóa mất thì sẽ mất nước.

Chính quyền có kiểm soát những tác phẩm mang nặng tính bản năng của loài vật như Bóng Đè của Lê Hoàng Diệu, như Sợi Xích của Lê Kiều Như, Phải lấy người như Anh của Trần Thu Trang, v.v... đã buộc phải có cuộc Tọa đàm về Văn chương và Tình dục do hội nhà văn tổ chức tại Cửa Lò, Nghệ An năm 2012.

Có nhiều ý kiến khác nhau, nhưng tựu trung đi đến một quan điểm chỉ ở bề nổi của một vấn đề lớn là: " Tình dục không phải là vùng cấm của văn chương. Ở đây cần nhắc lại một định đề tưởng như rất cũ nhưng luôn luôn mới không phải là viết về cái gì mà là viết như thế nào". Các nhà văn đã hầu như không đá động đến tư tưởng của tác phẩm văn học. Vì tư tưởng mới là vấn đề quyết định. Chính tư tưởng sẽ ngấm dần làm cho văn hóa hùng cường hay suy đồi.

Gần đây, nổi lên một tác giả họ Phan, tên Tâm, nhưng vì hòa tan với văn hóa phương Tây, mà không hòa nhập, nên cô lấy cái tên của mình là Tâm Phan, và cô cổ súy cho nữ quyền trong hôn nhân và kiếm tìm hạnh phúc cho mình, chỉ vì sau một bữa tiệc với bạn bè, anh chồng và bạn bè lăn kềnh ra ngủ, trong khi cô phải nhìn đống bát đĩa ngổn ngang phải lo thu dẹp. Cô nghĩ rất lung về hạnh phúc, và cô quyết định xách xe đến vũ trường để giải sầu. Tại vũ trường cô nhận chân ra hạnh phúc là gì? Tại sao phải ép mình sống với người đàn ông gia trưởng kia? Và cô quyết định sang ngang. Từ đó, cô đã có nhiều lần lang chạ với đàn ông. Giờ cô đã kiếm được một người đàn ông Tây "lý tưởng" sau vài lần đổ vỡ với anh ta, và nhiều người đàn ông khác. Cuộc đời lang chạ của cô đã trở thành một trường thiên hồi ký nhiều tập ưa thích cho những phụ nữ bất hạnh, và những người trẻ hời hợt về văn hóa sống thế nào để được kính trọng.

Tôi xin kể kinh nghiệm và sai lầm của mình khi tôi từ nhà nước ra tư nhân. Sau khi thành lập doanh nghiệp, tôi tuyển nhân viên cho clinic của mình. Chỉ trong năm đầu hoạt động rất thành công. Tôi không hài lòng với chuyên môn, đạo đức của nhân viên. Là một ông chủ thực sự, tôi sa thải 8 bác sỹ và 4 điều dưỡng. Nhưng những lần tuyển nhân viên bổ sung, tôi không thể nào tuyển được bác sỹ và điều dưỡng tốt bằng 12 người tôi đã sa thải. Tôi biết mình có vấn đề trong quản lý. Tôi phải bỏ ra $2,000 để học khóa quản lý doanh nghiệp trong 3 tháng. Và từ đó đến nay, mọi việc trôi chảy. Vấn đề của một ông chủ là hướng nhân viên đi theo cái Đạo của mình đưa ra để uốn nắn, sửa chữa, chứ không phải là, mỗi lần đạp cứt là một lần chặt chân.

Hạnh phúc của mình, mình phải kiếm tìm và mình phải chịu trách nhiệm với quyết định của mình sau những kiếm tìm, dù thành công hay lầm lỗi. Nhưng cái đáng nói ở đây là truyền thông chính thống cổ súy cho cô Tâm Phan về việc sống lang chạ để kiếm tìm hạnh phúc. Nó nguy hiểm ở chủ đề tư tưởng của một văn hóa sống thực dụng, gần với bản năng động vật hơn là Người.

Tại sao các tôn giáo có những con đường Chân, Thiện, Mỹ để hướng người theo có đức tin với tôn giáo đến mức họ sẵn sàng tử vì Đạo mà họ đã theo? Đó là những Người lo chuyện giữ lửa cho Đạo phải sống với những giới luật nghiêm khắc để làm gương cho tín đồ.

Trong gia đình cũng vậy, cha mẹ là tấm gương phản chiếu trung thực nhất và gần gũi nhất cho trẻ noi theo - nhất là trẻ bắt đầu tuổi vị thành niên, teenager. Khi trẻ chuyển từ tư duy chân thật sang tư duy lý luận, chính hình ảnh cha mẹ là cái trẻ sẽ đi theo. Không ai trong chúng ta muốn mình bất hạnh với hôn nhân lứa đôi. Nhưng khi đã bất hạnh tan vỡ vì hôn nhân lứa đôi thì, phải nhìn thấy rằng bản thân ta đã có những quyết định sai lầm, hoặc những sai lầm trong đời sống vợ chồng.

Hạnh phúc sau hôn nhân là vấn đề lớn cả đời người. Ngày xưa ông cha ta xem công danh sự nghiệp chỉ là Tiểu Đăng Khoa - thi đỗ chuyện nhỏ của đời người. Nhưng hôn nhân gia đình là Đại Đăng Khoa - thi đỗ lớn của đời người. Cũng giống như một doanh nghiệp theo nghĩa bóng. Vợ chồng ăn đời ở kiếp là, chính bản thân mọi người cần phải sửa mình để cả hai - vợ và chồng là 2 nửa khác nhau về cả truyền thống gia đình, văn hóa giáo dục, hoàn cảnh kinh tế và cả nhân cách sống - phải hòa nhập thành một, chứ không hòa tan theo bên vợ hay bên chồng. Và càng không nên chủ trương phá bỏ hôn nhân để đi tìm "cái mới", mà đôi khi ta lầm tưởng là hạnh phúc hơn.

Văn hóa phương Tây không bao giờ cổ súy kiểu hôn nhân vô đạo - sẵn sàng phá vỡ nó vì một ý vợ hoặc chồng không giống nhau, mà cả 2 nên sửa mình để hòa nhập cuộc sống mới. Điều này thể hiện qua 5 tiêu chuẩn để đánh giá một người được kính trọng rất rõ ràng theo thang điểm từ trên xuống dưới như sau:

1. Một người được kính trọng phải giàu có bằng khả năng thực sự của mình, chứ không phải bằng cái khôn vặt luồn lách trong xã hội đang loạn vì vô đạo, vô luật pháp như ở Việt Nam hiện nay.

2. Người được kính trọng phải có một gia đình hạnh phúc, một vợ một chồng cùng nhau nuôi dạy con để làm gương cho gia đình, dòng tộc và xã hội.

3. Một người được kính trọng phải biết lo cho cái riêng của gia đình mình, và phải biết lo cho cái chung của cộng đồng trên giá trị Mỹ học của cuộc đời: Chân Thiện Mỹ bằng Tài Đức và Sức khỏe của mình.

4. Một người được kính trọng phải có bằng cấp và địa vị xã hội tôn kính bằng chính khả năng của mình, chứ không phải mua bằng bán cấp.

5. Một người được kính trọng phải có các con thành đạt như mình hoặc hơn mình bằng sức tự thân của chúng, chứ không phải cha mẹ nâng đỡ, hoặc cha làm thầy mà con đốt sách.

Nhìn lại 5 tiêu chuẩn trên ta thấy, phương Tây hay phương Đông đều có chung một giá trị nhân bản và thẫm mỹ về cuộc sống của con người.

Giao lưu văn hóa để phát triển là điều không ai chống lại. Nhưng giao lưu văn hóa để hòa nhập, chứ không phải để hòa ntan. Hòa tan văn hóa là sụp đổ và suy vong. Bao nhiêu quốc gia đã bị diệt chủng không phải vì không còn sắc tộc đó sống, mà vì nền văn hóa của dân tộc đó đã bị diệt vong.

Tôi không có oán thù gì với đạo diễn Lê Hoàng, cô Tâm Phan và cả đài truyền hình Việt Nam kênh VTV3. Thậm chí tôi còn phải học hỏi nghị lực sống và sức bật của cô Tâm Phan, nhưng đem cuộc đời lang chạ của mình ra để dạy một nét văn hóa bị hòa tan cái xấu của phương Tây, cho xã hội đang suy đồi văn hóa là một trọng tội với văn hóa dân tộc,. Khi việc làm ấy chỉ vì hám danh, và kiêu ngạo sai lầm của nền văn hóa giáo dục xã hội ta hiện nay.

Thế nhưng không biết vô tình hay cố ý, mà vai trò truyền thông chính thống của xã hội ta đang làm việc gì đây, khi chương trình "Chuyện Đêm Muộn" phát sau 23h đêm ngày 19/4/2014 vừa qua, của đạo diển Lê Hoàng phỏng vấn cô Tâm Phan, và cổ võ một người sẵn sàng phá bỏ hạnh phúc gia đình, để đi kiếm tìm hạnh phúc theo ý mình? Như thế có là cổ võ cho một cuộc sống ích kỷ cá nhân, và phá bỏ đạo đức rường cột của văn hóa nhân bản của xã hội không, đôi khi chỉ vì chuyện câu khách của đài truyền hình, và chuyện bán hồi ký của một cuộc đời, nếu không nói là tấm gương xấu cho xã hội?

Cái đáng sợ của nguyên lý Phá và Xây là, phá thì trong chốc lát, nhưng xây thì rất lâu. Nhưng càng đáng sợ hơn là, với văn hóa phá nát chỉ gần 40 năm qua, chúng ta phải xây bằng vài thế kỷ chưa chắc đã trở lại thời thập niên 1960 ở cả 2 miền đất nước!

Câu chuyện đến đây xin dành cho những người đọc, những người làm văn hóa nước nhà, và nhà cầm quyền phán xét, phải nên làm gì cho văn hóa Việt trong lúc này?

Asia Clinic, 11h29' Chúa Nhật, 20/4/2014

Phần nhận xét hiển thị trên trang

VIÊN TRẠI TRƯỞNG VÀ NGƯỜI TÙ CẢI TẠO

ĐỖ XUÂN TÊ
Mình hoạ
Mình hoạ
Chuyện tù cải tạo tưởng như mới đây, nay nhìn lại đã hơn ba mươi năm. Mùa hè năm ấy (76), chúng tôi là số sĩ quan cấp tá được ‘tuyển chọn’ đem ra Bắc chuyến  đầu tiên. Lênh đênh trên chuyến tàu Sông Hương ăn ngủ tiêu tiểu tại chỗ dưới hầm tàu, đám tù chúng tôi đoán già đoán non tưởng Đảng ta cho ra Phú Quốc hoặc Côn Đảo. Rốt cuộc tầu cập bến Vinh, một thành phố cảng gần quê Bác.
Chưa kịp hoàn hồn sau chuyến hải trình kinh hoàng, xe lửa đưa chúng tôi tiếp con đường từ Vinh ra Yên Bái. Tổn thất đầu tiên trên đất Bắc: hai ông trung tá (mới xuất viện thì có tên đi bắc) đã bị chết ngộp vì không đủ không khí để thở do toa tàu dùng để chở súc vật bị bít bùng, chỉ chừa một lỗ thông hơi phía trên. Nhiều ông cao tuổi đang ngất ngư suýt ghé Diêm vương nhưng may là tàu đã vào ga cuối.
Trại của chúng tôi là những dãy lán xây dựng bằng tre nứa và lợp bằng cỏ tranh, nằm rải rác trong một lòng chảo hẹp bên sườn phía đông của rặng Hoàng Liên Sơn, cách ga Yên Bái chừng 20 cây số. Cán bộ quản lý thuộc đoàn 776 đã từng chiến đấu tại miền Nam. Những tháng đầu họ thả chúng tôi đi từng đội, rồi tẻ ra từng cá nhân, mỗi người một con rựa cán dài, chui vào các khu rừng vầu, bương, mây, nứa tự chặt rồi quẩy về trại theo tiêu chuẩn đã giao để làm vật liệu xây dựng các trại mới cho các đợt tù kế tiếp từ miền Nam ra.
Cũng vì được đi tự giác như vậy, nên có một lần tạm nghỉ bên suối, tình cờ chúng tôi gặp một toán ăn mặc rằn ri đang tải thực phẩm qua suối. Hỏi ra mới biết là anh em ta  thuộc đơn vị Dù của đại tá Thọ bị bắt từ chiến dịch Hạ Lào (1971). Vì có cán bộ áp tải nên chuyện liên hệ là điều cấm kỵ, anh em chia tay. Nhưng một chú nhỏ tuổi nhất đám có lẽ là hạ sĩ quan, nói với lại một câu, “các ông Thầy cứ nhớ kỹ lời Tông Tông”. Tôi vốn tinh ý nên hiểu ngay câu nói của ông Thiệu, là đừng nghe những gì CS nói, mà hãy nhìn kỹ những gì CS làm. Sau này ngẫm lại mới thấy đây là lời khuyên thấm thía đánh tan mối hoài nghi canh cánh bên lòng vì đa phần chúng tôi vẫn cứ to đầu mà dại tin vào cái chính sách khoan hồng.
Trở lại cuộc sống lưu đầy, bản thân tôi sau mấy tháng lao động trên rừng, được điều về đội nhà bếp chuyên lo khâu củi. Tình cờ nằm cạnh  anh trung tá T., một đàn anh vui tính rất được trọng nể vì cách cư xử với đồng đội bạn bè. Anh làm ở kho dụng cụ, kèm thêm khâu làm đậu hũ bồi dưỡng cho cán bộ Trại một tuần hai lần. Vừa lao động cần mẫn, vừa có lối kể chuyện có duyên, anh có mối quan hệ khá thoải mái với cánh bộ đội. Thậm chí, viên trại trưởng vốn xuất thân nông dân, đã từng chiến đấu đối mặt với anh tại chiến trường Pleiku, có vẻ cũng mến anh. Ông ta hay ngồi hút thuốc lào cùng trò chuyện với anh ngay tại kho dụng cụ trong lúc tù cải tạo chúng tôi đi lao động trên non.
Do nằm cạnh, thỉnh thoảng tôi cũng được anh lén cho loong nước đậu nành mà anh nói tụi nó bồi dưỡng cho tao. Rồi cũng có đêm, tôi dở ra định tu một hơi cho khỏe, bỗng khựng lại vì mãi gần đáy loong có chất gì đặc quánh, hóa ra là mật mía.
Vài tháng sau, đội nhà bếp được lệnh cử một toán bốn người để cáng một tù cải tạo đi nằm viện. Chúng tôi tưởng có anh em mình bị tai nạn lao động hoặc đau ruột thừa, nhưng sang tới nơi mới biết người được cáng lại là anh T. Theo kể lại, anh mới tự tử trong kho, nhưng được cứu kịp và bệnh tình không đến nỗi trầm trọng. Cả trại khá xôn xao về vụ này, chính bản thân tôi cũng không hiểu vì sao anh tính chuyện từ giã cõi đời sớm vậy.
Hai tuần sau, anh xuất viện và lại được điều về đội cũ, nhưng tạm thời chưa lao động vì mất sức. Anh yếu nhiều, đôi mắt buồn, đăm chiêu và ít nói, tôi có cảm tưởng anh không phải là anh. Tôn trọng thái độ u ẩn của anh, tôi không dám hỏi cớ sự mà chỉ khuyên anh cố ăn ít cháo và nghỉ ngơi.
Cho đến một hôm, lựa lúc vắng người, anh gọi tôi lại và tâm sự với tôi rất chân tình như một người bạn vong niên tri kỷ. Anh nói, ‘chuyện này tao cũng chẳng giấu mày làm gì, nhưng nghe rồi để bụng nghe em.’
                                                            ***
Chuyện xảy ra vào một buổi sáng sau giờ phát dụng cụ lao động. Cả trại im vắng. Anh đóng cửa kho và sửa dụng cụ như thường lệ. Đột nhiên một ý nghĩ thoáng qua, xuất phát từ mùi mật mới nhập kho hai bữa. Kho mật và thực phẩm của cán bộ chỉ cách kho dụng cụ của anh có một hàng liếp chắn cao hơn đầu người. Nhìn trước ngó sau, anh bắc một tấm ván nhỏ  rồi lấy đà nhảy qua bên kia tấm liếp. Tay thủ một loong ‘gô’, anh tới thẳng chiếc lu đựng mật, múc đầy một gô. Xong việc, leo trở lại, anh tiếp tục sửa chữa dụng cụ coi như không có chuyện gì xảy ra. (Tới đây tôi chợt hiểu việc anh chia xẻ loại mật này cho người đàn em, một món quí hiếm đối với tù cải tạo khi mới ra Bắc)
Chuyện lậy trộm mật được tái diễn đôi ba lần, anh cảm thấy an tâm vì không bị ai bắt gặp. Có một điều anh vốn cận thị, tầm nhìn rất hạn chế, lại có phần thiếu cảnh giác.
Bẵng  đi ít lâu, vào khoảng giờ ăn trưa, viên trại trưởng lại ghé chỗ anh. Sau khi rít xong điếu thuốc lào bằng cái điếu cầy do anh tự chế, viên trại trưởng với nét mặt không bình thường đã thẳng thắn cho anh biết là ông ta tình cờ đã nhìn thấy việc anh lén qua kho mật rồi khuyên anh nên tự kiểm điểm để tránh tái diễn.
Anh chưng hửng, mặt đỏ bừng, không chối mà cũng không nhận, nhưng một cảm giác xấu hổ thoáng qua anh, vì không ngờ nhân chứng bắt gặp lại là viên trại trưởng, người mà anh thường trò chuyện trong tư thế Anh và Tôi với niềm kiêu hãnh về nhân cách của riêng anh.  Như đọc được suy nghĩ và thái độ sượng sùng của anh T.,viên trại trưởng rời khỏi kho không quên nhắc anh đưa bản kiểm điểm cho cán bộ quản giáo.
Đêm hôm ấy anh băn khoăn suy nghĩ. Quá nửa đêm anh quyết định không viết kiểm điểm và có sẵn kế hoạch cho ngày mai. Hôm sau, một ngày như mọi ngày. Phát dụng cụ xong anh đóng cửa kho, nhưng lại làm một việc không giống như mọi ngày. Lấy một sợi dây thừng anh cột lên xà ngang như một cái thòng lọng, phía dưới đặt một chiếc ghế đẩu bằng tre. Rồi bằng một động tác hết sức nhanh, anh tự treo cổ, chỉ kịp đá chiếc ghế qua một bên rồi…không còn nhớ gì hết.
Oái oăm thay đoạn kết của bi kịch lại được tiếp nối bằng lần viên trại trưởng xuống thăm anh ngày xuất viện. Ông kể lại là sáng hôm ấy ông linh cảm như có chuyện gì không hay xảy ra. Chợt nhớ thái độ của anh T. ngày hôm trước , ông vội đảo qua kho dụng cụ, nhìn qua kẽ liếp tận mắt chứng kiến cảnh tượng và vội tri hô lên. Ông không ngờ chuyện này xẩy đến, ông tỏ vẻ ân hận nhưng cũng không quên trách anh T, ‘cần gì phải làm như vậy’.
Kể đến đậy, anh ngồi thừ ra có phần mệt mỏi. Phần tôi nghe xong cũng ngồi yên,  chẳng dám có ý kiến hay đóan xét gì về lối hành xử của anh, laị còn vụng về chẳng biết làm gì an ủi anh cho không khí bớt nặng nề, nhưng thâm tâm  có phần đồng tình với lời trách khéo của viên trại trưởng .
                                                               ***
Đúng một năm sau, mùa hè 77, rục rịch với tin đồn có động binh ở biên giơi sát Trung quốc, đám tù chúng tôi lại được thanh lọc để chuyển đi trại khác. Tôi được xếp loại ‘ác ôn’ (thuộc cụm tâm lý chiến, an ninh, tình báo, tuyên úy…) được giao ngay cho Công an Vĩnh Phú đợt đầu. Anh tuy hơn cấp nhưng thuộc diện tác chiến ở lại đi đợt sau. Anh em xa nhau từ đấy.
Trên đường chuyển trại tôi bị còng chung một cặp với anh bạn cùng diện. Biết tôi thân với anh T., anh bạn tâm sự là có chịu hàm ơn khi được anh lén cho mật mía để bồi dưỡng sau khi bị kiết lỵ thập tử nhất sinh. Tôi không biết anh có còn chia sẻ hay lén chia cho ai nữa không, nhưng thầm nghĩ nếu chỉ lo bồi dưỡng cho riêng anh, thì chưa chắc có chuyện viên trại trưởng bắt gặp để dẫn đến thái độ tự xử quá vội vàng cao trọng của anh.
Câu chuyện được giữ kín, ba mươi năm sau viết lại. Nếu anh còn sống ở phương trời nào thì cũng mong tha lỗi cho thằng em vì thất hứa.
(*)Viên trại trưởng sau đó phục viên diện thương binh vì ông ta bị thương ở chiến trường B được anh em chúng tôi có lòng tương kính vì lối đối xử nặng tình người với những người lính một thời bên kia chiến tuyến.
Ba mươi năm Tháng tư nhìn lại
(Tác giả gửi)

Phần nhận xét hiển thị trên trang