Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Ba, 15 tháng 4, 2014

Dầu Khí Âu-Mỹ và Ống Dẫn Khí Nối Ruột Nga-Hoa

Nguyễn-Xuân Ng


Chuyện Dầu Khí - Thổi Từ Ukraine Qua Đông Hải


 * Ống dẫn Nga Hoa, dự án trên mạn Bắc * 


Việc Vladimir Putin thôn tính bán đảo Crimea của Ukraine xảy ra khi kinh tế Liên bang Nga tăng trưởng chậm hơn – bị suy trầm – và có thễ dẫn tới suy thoái, là không tăng trưởng dù chậm mà còn tụt xuống số âm. Nhìn trong một viễn cảnh dài, vụ khủng hoảng Ukraine còn đánh dấu một chuyện động lớn lao hơn vậy, đó là vai trò mới của năng lượng, khi cuộc cách mạng về dầu thô và khí đốt tại Hoa Kỳ sẽ làm thay đổi tương quan kinh tế giữc các khu vực của toàn cầu.

Chúng ta hãy cùng nhìn lại....

Bài học thường thức về địa dư chính trị và an ninh kinh tế cứ hay được tóm lược như sau, đôi khi để giải thích sự tranh chấp hay chinh chiến từ hơn nửa thế kỷ vừa qua:

Thế giới có hai nhu vực sản xuất nhiều năng lượng dầu khí nhất, đó là Trung Đông và nước Nga. Và có hai khu vực tiêu thụ mạnh nhất, ở quanh Ấn Độ dương và Đông Á. Nơi tiêu thụ bao trùm lên một xứ đông dân và mới ni63i là Ấn Độ, trải qua các nước đang phát triển tại Đông Nam Á, tới Trung Quốc vừa cải cách và lên vùng Đông Bắc Á của các nước đã công nghiệp hoá mà không có dầu khí: Nhật Bản, Nam Hàn và cũng nên kể thêm Đài Loan.

Vì dầu khí, xin gọi chung là năng lượng không tái tạo, là nhiên liệu cần thiết cho công nghiệp cho nên chuyện cung cầu đã trở thành định luật chi phối quan hệ giữa các khu vực và các nước, giữa nguồn sản xuất và nơi tiêu thụ. Các nước liên kết hoặc cạnh tranh với nhau không chỉ vì y thức hệ hay tư tưởng mà còn vì nguyên liệu tối cần thiết cho kinh tế.

Trong khung ảnh đó, thế giới có "Lục địa già" là Âu Châu và siêu cường mới nổi từ trăm năm thì nghe nói là đã bắt đầu lụn bại, là Hoa Kỳ. Cả Âu Châu lẫn Hoa Kỳ đều cần năng lượng và từ bốn chục năm trước, người ta đã báo động cái ngày cạn dầu khí, peak oil khiến các nước bán dầu có thể chi phối được thế giới.

Nói về "Thế giới già", the Old World, sau nhiều thế kỷ tung hoành tứ phương để tìm nguyên nhiên vật liệu rồi giết nhau bao lần, ngày nay Âu Châu đã an phận thủ thường. Các nước trong khu vực tìm cách dung hòa với Trung Đông cùng nước Nga, để có nhiên liệu sưởi ấm tuổi già.

Còn Hoa Kỳ thì vì sợ cạn dầu và mất an toàn về năng lượng nên đòi gây chiến khắp nơi để xài dầu của xứ khác. Gần đây nhất là vụ tấn công Iraq năm 2003 "chỉ để tìm dầu", như nhiều nơi kết án! Vì đi trước, Hoa Kỳ còn sợ ô nhiễm môi sinh nên muốn làm cuộc cách mạng năng lượng xanh. Hạn chế khí thải rồi bắt gió hay nhốt ánh sáng mặt trời để có năng lượng sạch và tái tạo là chủ trương của Chính quyền Barack Obama với sự cổ võ của đảng Dân Chủ và các nhóm áp lực.

Thế rồi giữa cơn nguy nàn ấy, một cuộc cách mạng năng lượng khác đã bất ngờ xảy ra!

Chuyện quang phong năng vẫn còn hão huyền. Vụ công ty Solyndra phá sản sau khi lãnh trợ cấp của Chính quyền Obama là cái ngoặc đơn được báo chí thiên tả khép lại cho kín. Cách mạng bất ngờ là người ta tìm ra kỹ thuật giải phóng dầu thô và khí đốt bị nhốt trong các phiến đá trầm tích. Đó là kỹ thuật fracking.

Khởi đi từ năm 2006 tại Hoa Kỳ, kỹ thuật gạn cát ra dầu khí, hoặc đánh bung những túi dầu bị nhốt - dầu chặt hay tight oil - đem lại triển vọng mới cho các nước có loại trầm tích này.

Trước tiên là triển vọng cho nước Mỹ, với nhiều "túi đá" rộng lớn tại các tiểu bang Texas, Louisiana, North Dakota, Pennsylvania, Ohio, New York và nơi khác. Trong vòng mươi năm tới, Hoa Kỳ có tiềm năng vượt qua Liên bang Nga và Saudi Arabia thành quốc gia có sản lượng dẫn đầu thế giới, lại còn dư để xuất cảng qua xứ khác. Tiềm năng đó sẽ làm thay đổi vị trí địa dư kinh tế của vùng Vịnh Mễ Tây Cơ qua tới khu vực Trung Mỹ, bao trùm lên vùng biển Caribbean và có thể xuống tới xứ Brazil.

Nhưng không chỉ có Hoa Kỳ. Canada và Mexico cũng tìm ra nhiều khu vực có thể khai thác và đưa cả lục địa Bắc Mỹ thành một trung tâm năng lượng của thế giới. Chúng ta sẽ chứng kiến việc thay bậc đổi ngôi, với Trung Đông và nước Nga mất dần vị trí trọng yếu. Sự chuyển dịch trọng tâm năng lượng còn bao gồm nhiều quốc gia Âu Châu, nay cũng đã tìm ra những khối trầm tích có khí đốt. Lục địa già có thể trỗi dậy và nhìn năng lượng Nga hay Trung Đông theo cách khác....

Khi vụ khủng hoảng Ukraine bùng nổ, cả thế giới nói đến cái thế rất mạnh của Putin nhờ năng lượng của Nga đang bắt bí các nước Âu Châu. Sự quờ quạng bất nhất của Chính quyền Obama có thể kéo dài cái thế của Putin được vài năm, nhưng Hoa Kỳ cũng sẽ chuyển hướng theo thực tế mới của năng lượng và địa dư kinh tế. Các nước Âu Châu cũng vậy, sẽ phải thay đổi để thoát vòng kiềm tỏa năng lượng của Liên bang Nga.

Manh nha từ vài năm nay, chiều hướng đa diện hóa nguồn cung cấp dầu khí cho Âu Châu đã là bài toán sinh tử cho Putin. Nhìn về dài thì vụ Ukraine là đỉnh cao, hay điểm lật, của ông ta.

Từ nhiều năm nay, Nga đã thấy ra hai chuyển động nặng, hai xu hướng khó cưỡng.

Trước hết, Âu Châu sẽ ít lệ thuộc hơn vào năng lượng của Nga và tìm nguồn cung cấp điền thế. Và càng sớm đạt kết quả đó nhờ sức đẩy của Mỹ qua xuất cảng dầu khí và nhờ đầu tư vào hệ thống tái chế khí lỏng thành khí đốt để phân phối cho các nước. Hoa Kỳ cũng sẽ phổ biến kỹ thuật khai thác khí đốt cho các nước có đá trầm tích nếu được đầu tư dễ dàng để cùng chia mối lợi về năng lượng.

Chuyển động thứ hai và ngược lại, Á Châu vẫn là nơi cần năng lượng hơn cả.

Trong vòng 20 năm tới, khu vực kéo dài từ Ấn Độ dương qua Thái Bình dương sẽ tiêu thụ đến 85% số năng lượng toàn cầu. Đứng đầu là Trung Quốc, sau đó tới Ấn Độ, và thường xuyên là Nhật Bản và Nam Hàn, ở mức độ thấp hơn hai xứ đông dân kể trên. Cho nên, trong khi Hoa Kỳ có thể nhìn vào Trung Đông với con mắt khác, Á Châu vẫn cần tới dầu khí Hồi giáo tại Trung Đông.

Nhìn từ nước Nga, với khu vực dầu khí xa xôi mãi ở Tây Bá Lợi Á Siberia, thì sức hút về khí đốt của Châu Á mới có triển vọng. Liên bang Nga của Putin thấy gần gũi hơn với Trung Quốc của Tập Cận Bình và đôi bên đang nối kết sự hợp tác qua mạng lưới các ống dẫn khí xuyên lục địa.

Xuyên lục địa cũng có nghĩa là qua nhiều nước Hồi giáo Trung Á như Kazakhstan, Kyrgyzstan, Tajikistan, Turkemenistan và Uzbekistan...

Ở bên này, xuyên qua Đại Tây dương, là hệ thống hàng hải có thể đưa khí lỏng từ Bắc Mỹ qua Tây Âu, dưới sự hộ tống và bảo vệ của các hạm đội Tây phương. Và vì trái đất hình tròn, dầu khí từ Bắc Mỹ cũng có thể vượt Thái Bình dương để tiếp vận cho Nhật Bản, Nam Hàn.

Cho nên, âm thầm mà mãnh liệt, cuộc cách mạng năng lượng đang dẫn tới những xoay chuyển có ảnh hưởng lâu dài.

Kết luận tạm ở đây là hai nước đồng chí, rồi cừu thù, rồi lại đồng minh, là Trung Quốc và Liên bang Nga, thấy gắn bó với nhau nhờ sợi dây nối ruột là khí đốt. Nhưng cả hai đều chỉ là cường quốc đại lục và có cảm giác như bị bao vây phong tỏa bởi các nước Tây phương, từ Bắc Mỹ qua Âu Châu tới Nhật Bản. Chưa nói gì đến Ấn Độ ở bên kia Hy Mã Lạp Sơn, bên cạnh Ấn Độ dương. Ngoài khía cạnh hợp tác và cạnh tranh Nga-Hoa, việc Trung Quốc quậy sóng Đông hải và khống chế vùng biển Đông Nam Á dĩ nhiên là có lý do an ninh và kinh tế.

Nhưng đã gây phản ứng ngược, chạy dài từ Nhật Bản qua Ấn Độ.

Nhiều người trong chúng ta đã thấy sự tương đồng giữa những gì xảy ra tại Ukraine dưới sức ép của Putin, và những gì xảy ra tại Việt Nam, dưới áp lực của Bắc Kinh. Ngoài sự phấn đấu đầy gian nan của lãnh đạo Ukraine tại Kyiv, chúng ta cũng nên để ý tới vai trò của năng lượng và những chuyển động lớn trong thập niên trước mặt....

Ngẫm lại thì 40 năm về trước, trong cơn hấp hối của Việt Nam Cộng Hoà, lãnh đạo.. chưa biết sợ khi quần đảo Hoàng Sa bị Trung Quốc cưỡng đoạt. Ngày nay, quần đảo Trường Sa và cả khu vực Đông Nam Á còn bị hải quân Trung Quốc uy hiếp. Một trong nhiều động lực của sự bành trướng cũng là dầu khí, hay an ninh về năng lượng cho một xứ đói ăn khát dầu.

Chuyện ý thức hệ - xã hội chủ nghĩa với màu sắc linh linh hay kinh tế thị trường theo định hướng lăng nhăng - nằm ở đâu trong bài toán chiến lược đó?

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Google vừa phát hành phiên bản chính thức của Chrome 34 cho người dùng Windows, Mac, và Linux.

Google mới đây vừa phát hành phiên bản chính thức của Chrome 34 dành cho người dùng Windows, Mac, và Linux. Phiên bản Chrome mới này được bổ sung khả năng hỗ trợ hình ảnh đáp ứng (responsive image), phiên bản không tiền tố (unprefixed) của API Web Audio, import tài khoản được kiểm soát vào máy tính mới. Bạn có thể update Chrome của mình lên phiên bản 34 này thông qua ứng dụng update tự động (truy cập vào menu>About Google Chrome, hoặc tải về trực tiếp tại google.com/chrome.

Google ra mắt Chrome 34: Hỗ trợ hình ảnh đáp ứng, đăng nhập tài khoản kiểu mới

Nói về các tính năng mới trên Chrome 34, đầu tiên đó là việc hỗ trợ hình ảnh đáp ứng. Google đã cung cấp cho các lập trình viên web các công cụ để tạo ra các phiên bản độ phân giải khác nhau của cùng 1 hình ảnh. Bằng cách này, khi sử dụng Chrome, trình duyệt sẽ chọn ra phiên bản độ phân giải phù hợp nhất với cấu hình phần cứng của người dùng, giúp tối ưu thời gian tải trang, giảm băng thông cho từng thiết bị (laptop, PC, máy tính bảng, smartphone...).
Ngoài ra, Chrome 34 cũng đi kèm phiên bản không tiền tố của API Web Audio như 1 việc thực hiện cam kết với tổ chức về web W3C (World Wide Web Consortium). Google yêu cầu các lập trình viên chuyển sang sử dụng phiên bản không tiền tố, và công bố rằng bản có tiền tố sẽ bị loại bỏ trong tương lai. Một tính năng mới khác đó là Chrome 34 sẽ có diện mạo khác trong chế độ Metro của Windows 8.
Tính năng đáng chú ý nhất trên Chrome 34 có lẽ là việc cho phép import tài khoản đã được kiểm soát. Nói nôm na, khi bạn import tài khoản đã được "kiểm định" trước này, thì tất cả các thiết lập của bạn với tài khoản đó sẽ được đồng bộ trên mọi thiết bị.
Google ra mắt Chrome 34: Hỗ trợ hình ảnh đáp ứng, đăng nhập tài khoản kiểu mới

Để import, bạn click vào menu Chrome trên thanh công cụ của trình duyệt, chọn Settings, click“Add new user” trong mục Users, click “Import an existing supervised user”, chọn tên tài khoản rồi click “Import supervised user”.
Nguồn Genk.vn

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Vấn đề hôm nay?????

3,000 người Trung Quốc làm 'chui' ở Vùng Áng, Hà Tĩnh

HÀ TĨNH (NV) - Hàng ngàn người lao động “khó nhận dạng” tụ họp tại khu kinh tế Vũng Áng đã khiến khu vực này trở nên bất ổn. Một phúc trình của Sở Lao Ðộng-Xã Hội tỉnh Hà Tĩnh nói rằng, các băng nhóm “xã hội đen” hoành hành không ngớt tại khu kinh tế này. Nạn trộm cắp, đánh lộn, hút chích, cờ bạc... diễn ra ngày càng nhiều, nằm ngoài tầm kiểm soát của chính quyền địa phương.

Theo báo Tiền Phong, vụ ông kế toán trưởng của dự án Formosa, quốc tịch Ðài Loan vừa bị đâm cách nay khoảng hai tuần lễ cho thấy tình trạng an ninh bất ổn tại khu kinh tế Vũng Áng. Phúc trình này nói rằng tính đến cuối Tháng Ba, khu kinh tế Vũng Áng tập họp đến hơn 3,200 lao động, phần lớn làm việc cho dự án Formosa. 

Cũng theo phúc trình trên, 95% lao động đang làm việc tại Vũng Áng là người Trung Quốc, và có đến 2,000 người là lao động “chui.”

Báo Tiền Phong còn cho biết, đa số thợ Trung Quốc sang Việt Nam qua đường du lịch, vào công trường tìm kiếm việc làm, rồi trốn ở lại luôn, bất chấp pháp luật. 

Chỉ có một số được phép ở lại khu nội trú của Formosa dành cho công nhân hợp lệ. Ða số tràn ra ngoài kiếm nhà trọ, sống lẫn lộn trong các khu dân cư thuộc 4 xã của huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh. Tại xã Kỳ Liên, một trong 4 xã trên, chỉ riêng người Trung Quốc lao động “chui” đã lên tới hơn 1,000 người.

Báo Tiền Phong cũng cho hay, nạn người Trung Quốc ăn cắp diễn ra hầu như thường xuyên. Ðầu Tháng Tư, công an đồn Biên Phòng Ðèo Ngang, Hà Tĩnh bắt quả tang ông Jiang Su, quốc tịch Trung Quốc trộm thép của công trường Formosa. 

Trước đó nữa, một nhóm công nhân Trung Quốc đánh nhau với người dân địa phương tại xã Kỳ Liên, gây rối loạn trật tự xã hội. Vụ án hình sự mới nhất cho thấy tình hình an ninh trật tự trở nên bất ổn rõ ràng, với vụ ông Tiết Minh Hồng, kế toán viên dự án Formosa bị đâm trọng thương ngay tại khu nội trú.

Theo Sở Lao Ðộng-Xã Hội Hà Tĩnh, người Trung Quốc ở tràn lan khắp nơi nên “rất khó kiểm tra và xử lý.” 

Ông Lê Tiến Dũng, phó giám đốc Sở Lao Ðộng-Xã Hội Hà Tĩnh cho biết, người Trung Quốc không chỉ đánh lộn, ăn cắp, mà còn ăn nhậu bừa bãi tại các khách sạn, nhà hàng, các quán karaoke mọc như nấm dọc quốc lộ 1A.

Bên ngoài khuôn viên khu kinh tế Vũng Áng, trước tổng hành dinh dự án Formosa còn hình thành một khu giải trí mang tên “Hồng Thiên Hy” hình như chỉ dành riêng cho người Trung Quốc. 

Ở đây, tất cả các quán nhậu, nhà hàng đều có “tiếp viên chân dài” sẵn sàng phục vụ người Trung Quốc “trọn gói từ A đến Z.” 

Cũng bắt đầu từ đây, một số băng nhóm bảo kê các nhà hàng, quán nhậu cũng hình thành, quy tụ người từ Quảng Bình, Nghệ An, Hải Phòng.

Theo báo Tiền Phong, không có một hoạt động kinh doanh nào ở Vũng Áng mà không có bóng dáng của lực lượng “xã hội đen.” (PL)


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Tự dưng hóng hớt com bên bác Cựu:

Đường xưa lối cũ xa mờ- 
Ba năm cáo chết..bây giờ còn ai? 
Cây đa, vườn chuối còn đây- 
Những câu chuyện kể, gió bay lên trời- 
Quê hương nắng xém mặt người- 
Vu vơ trong khói ru hời đẩy đưa- 
Tình người đẫm ướt trong mưa- 
Khát khao một thủa, nhạt trưa nắng về- 
Anh có nghe? Chị có nghe? 
Rưng rưng trong đất ngày hè nổi nênh? 
Vì sao bỗng chốc buồn tênh? 
Mơ xa, chân hẫng, lênh đênh phận người?

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Chuyện từ năm cũ, bây giờ chưa qua, đọc lại để biết vì sao nó dằng dai đến vậy:

CHU MỘNG LONG: “CHU GIANG NGUYỄN VĂN LƯU NÓI GÌ?”

Chu Mộng Long – Trên bề mặt ngôn từ, Chu Giang Nguyễn Văn Lưu tuyên bố, thực chất là cầm cờ chỉ đạo, đấu tranh chống hữu khuynh để bảo vệ đến cùng thành trì của chế độ. Điều đó rất đáng hoan nghênh cho những chiến sĩ cộng sản chân chính. Nhưng càng đọc, càng thấy đằng sau lớp vỏ ngôn từ ấy, một giọng điệu thù hằn, đố kị với tư tưởng 3 chống: chống đổi mới, chống phương Tây, và chống tất cả những ai mang tư tưởng khác với mình.
Chiếc ghế cá nhân được đồng nhất với cả chế độ mà nhân dân đã đổ xương máu để dựng lên. Đấu tranh như thế thì ngang bằng tự phá hủy!
Những bài viết trước của ông Lưu cũng như đồng đảng bị bọc kín trong lớp nhung của chính trị, đạo đức, văn hóa nên miễn bàn. Còn tranh luận về học thuật với họ khác nào đàn gảy tai trâu?
Nhưng đến bài viết cuối cùng: Văn – Sử bất yên, chiếc đuôi (cầy) cáo ẩn sau mọi sự nhân danh đã lộ rõ, cho nên không thể không giúp họ phơi ra cho mọi người nhận diện.
Giải mã bài này phải dùng phân tâm học cấu trúc để lôi chiếc đuôi ấy ra một cách đầy đủ. Lacan nói, ngôn ngữ là sản phẩm của dục vọng, nó bị trượt đi liên tục trên chuỗi biểu đạt để che đậy sự thực nhưng lại tự phơi bày những mặc cảm, những kìm nén  cứ trồi lên không thể che đậy được. Derrida gọi đó là phần ngầm của văn bản, dù phẩn hiển thị cố tình xóa mờ bằng đủ thứ nhân danh, vẫn lộ rõ những dấu vết (trace) không thể xóa được để văn bản ngầm ấy trở thành văn bản của văn bản.
1. Phần khai đề, chiếc đuôi ấy lộ diện bằng lí thuyết chống âm mưu “cốc mò cò xơi”. Ông ta bị ám thị bởi câu chuyện Thánh Gióng đánh giặc xong bay về trời mà những người “tiên phong đổi mới” đề nghị thế hệ lãnh đạo cách mạng cũ nên học tập và làm theo, nhường quyền lãnh đạo cho thế hệ trẻ. Ông hoảng hốt, bực bội, rồi viết bằng giọng cằn nhằn như ăn phải ớt: những người “tiên phong đổi mới”… “thế là khôn lắm”! Thế hệ của ông làm thân “cốc” một đời “mò” đủ thứ (chứ ông thì đánh giặc bao giờ?), bây giờ có kẻ đòi “biến đi” cho “cò” các người xơi ư? Nhân danh tư tưởng Hồ Chí Minh, nhân danh sự nghiệp dân tộc, quyết không bay đi đâu hết. Rằng thì là học tập và làm theo gương Gióng có mà ngu, xưa chiến tranh cực chẳng đã phải ăn cơm cà, uống nước sông, nay hòa bình phải để cho ông hưởng thụ các món cao lương mỹ vị và bia heineken với chứ!!!
2. Phần thừa đề, ông chủ trương: không có Thánh Gióng nào ở đây, một lần nữa đề nghị dẹp cái trò đòi các ông như ông bay về trời sang một phía. Chủ tịch Triết đòi học tập và làm theo gương Thánh Gióng về vui thú điền viên là hỏng. Có mà tiếp tục ăn cơm cà với uống nước sông à? Ông nhấn mạnh kiên quyết bảo vệ tư tưởng Hồ Chí Minh: “Nếu cùng hành động vì dân giầu nước mạnh xã hội dân chủ công bằng văn minh thì việc gì phải chia ra bảo thủ và đổi mới”. Không biết tư tưởng này ông lấy ở đâu ra, Hồ Chí Minh nói bao giờ, nhưng rõ là ông bị mặc cảm vì có sự chia rẽ giữa “bảo thủ và đổi mới”. Đổi mới thì hiển nhiên phải chống bảo thủ để tiến bộ, như vậy là cố tình chống thế hệ lãnh đạo như ông. Thì ra là thế này: Các người hô đổi mới, bọn trẻ khỏe thì chạy nhanh, ông già lú lẫn thì cầm gậy chạy theo sao kịp? Các người kính lão đắc thọ nên không nói ra nhưng chắc chắn là chê ông bảo thủ.  Vòng vo tam quốc một hồi đủ loại nhân danh đạo đức, văn hóa, lịch sử, chính trị, rốt cuộc ông lại quay sang chuyện văn nghệ mà bọn “tiên phong đổi mới” này bày trò đòi “đổi gác”. Thế là các người định gạt ông ra rìa, nhảy lên ngồi chiếu trên một cách hỗn láo rồi đẩy ông xuống chiếu dưới ư?
Chao ôi, cái mặc cảm của người già, cái tuổi rụng răng, cứ lo bọn trẻ ăn hết phần của mình!
3. Phần luận, ông suy đến tận cùng mọi nhẽ, rằng tất cả mọi hậu quả đều là do đổi mới mà ra. Mà ai chủ trương đổi mới hè? Hiển nhiên là ông trách Đảng, Nhà nước chủ trương đổi mới, tiếp thu tinh hoa của nhân loại, mở cửa thị trường để phát triển nên mới ra cơ sự này! Ông nói thẳng, chính cái sự đổi mới và mở cửa đã sinh ra “chao đảo”, “bấn loạn”. “Sự xâm lăng về văn hóa” – mượn lời Vũ Hạnh, ông đang nói đến thứ tri thức Tây học – đã làm cho giáo dục, văn hóa, khoa học ta bị lũng đoạn toàn diện, phá hoại nghiêm trọng “đời sống tinh thần, tư tưởng, tình cảm của toàn xã hội”.
Rõ ràng, theo ông, “không chỉ bên ngoài mà còn có tay trong”, bên ngoài đó chính là bọn thù địch, bên trong chính là nội bộ của Đảng và Nhà nước. Không chỉ cái tội chủ trương đối mới mà còn “quan liêu”, “hữu khuynh”. Thế này thì ông phải dạy cho Đảng và Nhà nước một bài học mà ông rút ra từ kinh nghiệm xương máu của ông: “Chớ nghĩ rằng ngươi không đụng đến ta thì ta không đụng đến ngươi. Nó đụng đến cái Tất cả mà xong thì anh phải theo nó hoặc nó sẽ cho anh biết thế nào là lễ độ, nhé!” Ông nghiến răng mà nói.
Phần ngầm trong ngôn ngữ của ông cứ hiện ra lồ lộ: Không đổi mới và mở cửa gì nữa. Quay về điểm xuất phát và đóng hẳn cửa lại cho yên. Không kinh tế thị trường, không khoa học công nghệ, không internet, đóng cửa luôn trường đại học. Tức phải làm Cách mạng văn hóa thôi. Diệt hết, chứ “chỉ kiểm điểm rút kinh nghiệm rồi đâu lại vào đấy.”
4. Phần thực (xin lỗi vì cái bố cục lộn tùng phèo trong lối viết của ông, nhưng lại là phần nội dung chính) ông chứng minh cụ thể hậu quả nguy hiểm của chủ trương đổi mới là đây.
Về khoa học, không biết những khoa học khác thế nào, chứ khoa học xã hội thì ông biết tuốt. Rõ nhất là sử học, những sử gia nổi tiếng nhân đổi mới mà đánh giá lại những tên bán nước như Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh, lại còn đề cao cả triều đại nhà Nguyễn nữa. Ông chủ trương bài Tây, nên mượn Tú Xương: “Ông Nghè ông cống cũng năm co/ chi bằng đi học làm thầy phán/ Tối rượu sâm banh sáng sữa bò” để đề nghị nên quay về nền văn hóa, giáo dục Hán học. Vậy là cái dấu vết cố che mờ đi trên văn bản lại tự nhiên sáng ra: Giữa Tây và Tàu, theo ông nên chọn Tàu. Cả ngàn năm Bắc thuộc, dù phải quỵ lụy dưới sân rồng của Thiên triều, ta vẫn tồn tại có sao đâu. Chẳng phải cái chữ quốc ngữ mà hôm nay có được là do bọn Tây nó “Pháp hoá văn hoá Việt, muốn người Việt Nam tóc đen, da vàng, mũi tẹt nhưng có văn hoá, có tâm hồn và tính cách Gô-loa”?
Cho nên, về giáo dục, ông chủ trương quay về truyền thống “thuật nhi bất tác” của giáo dục Nho giáo. Cứ theo gương xưa mà làm, như ông ấy, tổ tiên người Hán bảo làm gì thì cứ làm theo họ, xưa theo Nghiêu – Thuấn, Khổng Tử, Mạnh Tử, Tần Thủy Hoàng, nay theo Mao. May thay ông chẳng dẫn Marx câu nào, nếu không lại oan cho ông Marx, vì dẫu sao Marx vẫn là ông Tây. Xem ra cái lối giáo dục phát huy tính tích cực của người học mà Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trương cũng là vì ăn phải bã của bọn phương Tây nốt. Ông không ngại ngần mà cổ vũ lối học nhồi sọ và khuyến khích trò làm Hồng Vệ binh tố thầy: “Cần khuyến khích, chăm sóc, bồi dưỡng những sinh viên như thế” để những tư tưởng đổi mới không có đất mà sống!
Về chính trị, ông chỉ ra, vì đổi mới mà Liên xô và Đông Âu sụp đổ. Nhưng “thảm thương” nhất vẫn là trường hợp Ceauşescu. Ông xót xa và trách người đồng chí của mình vì “thiếu bản lĩnh” và “tham bát bỏ mâm” mà mất tất cả. Lẽ ra “Bản lĩnh, bình tĩnh mà làm, đâu đến nỗi. Dục tốc bất đạt là thế. Tham vặt, tham bát bỏ mâm là thế. Thiếu thốn nỗi gì mà phải giành cho con cái Hợp đồng thiết kế. Để rồi chỉ xin được chôn chung với vợ. Con cái thất tán!”
Than ôi, cái “sự nghiệp chung” mà ông Lưu nhân danh là đây. Tưởng “bản lĩnh, bình tĩnh” đối phó với tình huống, hoàn cảnh để lái con thuyền cách mạng đi theo kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, ông lại chủ trương bản lĩnh, bình tĩnh mà “ăn cả mâm”, giữ chiếc ghế cho mình và quyền lợi cho con cái mình!
5. Rải rác trong toàn bài, ông kéo vài bậc trưởng lão của đao phái như Phong Lê, Mai Quốc Liên ra làm đồng minh. Ông tỏ ra tâm đắc với Phong Lê: “Ở Việt Nam Nguyễn Trãi Nguyễn Du Hồ Chí Minh là thiêng liêng, là bất khả xâm phạm là không thể giải thiêng được”. Bất khả xâm phạm thì đúng rồi, ai xúc phạm, tôi cũng có thể cho một đao, nhưng không thể giải thiêng theo các ông này là phải tôn giáo hóa thành Chúa Kito, Thánh Ala, Phật Thích Ca… chắc, còn ông thì đang làm giáo chủ để đến khi ông chết đi cũng phải được phong thần, phong thánh hay bồ tát. Mà muốn bảo vệ giáo/chính phái của mình thì theo ông, phải cùng nhau chửi những ai khác với mình đều là “tà giáo/phái”. Ông kéo con cái họ Phạm ra khen họ “trung với nước hiếu với dân” nhưng phải đồng tình với ông mà chửi cha của họ, rồi thỉnh luôn cụ Đào Duy Anh, lôi Vũ Hạnh, Mai Quốc Liên vào cuộc mạt sát bọn chủ trương đổi mới như Nguyễn Đăng Mạnh, Nguyễn Đình Chú, Đinh Xuân Lâm, Phan Huy Lê, kể cả những ai cao hơn đã đầu têu ra sự đổi mới đầy thảm họa này!
6. Phần kết luận của ông là mệnh lệnh nhưng chen lẫn khúc bi ai của một giáo chủ hết thời:
Kết luận về giáo dục, ông tỏ ra cởi mở: “Vấn đề giáo dục nói chung và Đại học nói riêng, phải bàn rộng rãi hơn, thấu đáo hơn. Về sử học cũng phải trao đổi cho rõ ràng. Về văn học, càng phải tình tĩnh, thân ái, thẳng thắn trao đổi, thuyết phục mà không áp đặt.” Nhưng ông lại nhấn vào sự áp đặt, và ai áp đặt ai, ông không nói rõ. Hay là vì ám thị bị áp đặt nên ông quy bọn đổi mới đã áp đặt lên tinh thần của ông làm cho ông căng thẳng, bức xúc?
Kết về lòng yêu nước và tội phản quốc ông nói: “Vùng đất chúng tôi có hai người anh hùng làm rạng rỡ cho quê hương đất nước là Lê Hoàn (Lê Đại Hành) và Lê Lợi. Nhưng cũng có hai người làm ô nhục cho quê hương đất nước là Lê Ngoạ Triều và Lê Chiêu Thống.
Ông cha như thế, con cháu như thế, buồn xiết bao.
Đời trước không lo cho đời sau thì như thế.
Đời sau quên đời trước thì như thế. Huống chi chống lại”.
May mà ông không dẫn thêm trường hợp Hoàng Văn Hoan để làm gương, trước kia từng khét tiếng chống Nhân văn như ông bây giờ rồi bất ngờ bỏ chạy sang Tàu để cầu vinh.
Cái sự ám chỉ của ông: ai Lê Đại Hành, Lê Lợi, ai Lê Ngọa Triều, Lê Chiêu Thống lộn tùng phèo không thể giải mã được. Chỉ có thể nói, cái ông lo nhất là “đời sau quên đời trước”, tức ông luôn ám thị mọi người rồi sẽ quên ông! Buồn xiết bao!
Việc giải mã từ cấu trúc văn bản của ông Lưu, phơi ra phần mạch ngầm như thế, không biết có đúng hay không, mong ông chỉ giáo. Mà nói trước, mạch ngầm thuộc phần vô thức, chính ông cũng không hiểu ông đang nói gì đâu!
Mở đầu bài viết ông bàn về cái ăn: “cốc mò cò xơi”, chửi bọn trẻ ranh khôn đểu, tham ăn, kết thúc bài viết cũng là cái ăn, tự khen người già như mình đạo mạo như Ôn Như Hầu: “Miếng cao lương phong lưu nhưng lợm, mùi hoắc lê thanh đạm mà ngon”. Không biết cái ăn nó quan trọng với ông cỡ nào mà nói tới nói lui vẫn không thoát ra khỏi cái đôi đũa mà ông quyết khư khư giữ lấy để mà vơ tất cả những thứ còn lại trên mâm tiệc tàn!
Nói thật, tôi cũng là người quyết tâm bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa đây, nhưng càng đọc ông Lưu càng thấy hiển hiện hình ảnh bọn đầu trọc (mặc dù ông râu tóc có thừa) ở Đức xăm hình chữ thập đòi khôi phục và bảo vệ Hitler hơn là tư cách của người chiến sĩ cộng sản chân chính, ông Lưu ạ!
Đất Quảng 06.8.2013
—————————-
P/S: Mấy hôm nay bận bịu, máy lại trục trặc, nay mở mạng ra xem thì gặp phải bom sinh học phát ra từ Đông La, Đông Hét, Đông Chửi Đổng nào đó. Hồng Vệ đao phái cùng quẫn đã sử dụng thứ bom này để tấn công. Phạm Xuân Nguyên nói đúng quá nên chúng giãy như đỉa phải vôi, dùng hết tàn lực để phóng bom bẩn. Bản chất hung hăng của đao phái này ngày càng lộ liễu. Đến lúc chúng không cần nhân danh gì nữa. Hết chỉ điểm, chuyển sang cảnh sát, kể cả làm quan tòa phán xử và đao phủ khai đao luôn tại chỗ.
Định lôi sang bên này, nhưng e gây ô nhiễm nên chỉ dẫn đường cho những ai tò mò muốn tìm hiểu các chiêu thức của đao phái hiện đại này! (Bấm vào đây để xem)
Nguồn: Blog Chu Mộng Long

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Chuyện từ năm ngoái bây giờ còn hay, cái nhà ông Tạo này tài:

NHÀ THƠ NGUYỄN TRỌNG TẠO BÀN VỀ “LƯU MANH KẺ CHỢ”


Chợ. Người kẻ chợ. Nói chợ và người kẻ chợ như một văn minh của vùng, của xứ. Chợ là trung tâm giao lưu buôn bán. Chợ văn minh. Chợ buôn gian bán lận. Và cứ thế phát triển thành trung tâm “buôn gian bán lận”… văn minh.
Khi nhỏ tôi ở làng, đi chợ chỉ thấy vui. Vui với sản vật lạ, sản vật quen. Vui với người lạ, người quen. Và mặc cả để khỏi bị lừa. Nhưng dù mặc cả vẫn bị lừa. Vì người quê dù có khôn mấy cũng thua cái khôn của người kẻ chợ. 
Thực ra, chợ không phải là nơi làm chính trị. Nhưng khi nó phát triển, kẻ chợ lại chính là trung tâm kinh tế-chính trị-văn hóa.
Nguyễn Tuân đi thực tế thường lấy chợ làm tâm điểm. Nhưng ông cũng bị chính trị chốn kẻ chợ làm cho hoảng loạn, đến mức phải bức tử tác phẩm của mình, viết bài tự kiểm thảo tựa đề “Nhìn rõ sai lầm”, để “nhận tội” và chối bỏ Vang bóng một thời, ông “thú tội” bị ma dẫn lối, quỷ đưa đường, nên đã viết phần giữa, Chùa đàn, tức tâm sự của nước độc, trước 1945 theo mạch yêu (ma) ngôn… (TK).
Văn Cao về thủ đô làm cách mạng, viết ra Tiến quân ca (sau thành Quốc ca) cũng bị chính trị “giam lỏng” 30 năm, cho đến lúc Đổi mới, mới in ra tập thơ .
Ai đã làm nên những việc ấy chốn kẻ chợ? Đó chính là lực lượng “lưu manh chính trị”.
Bọn lưu manh chính trị không cần biết anh là thù hay là bạn, anh là ngu hay là thông… miễn là “chính” tao “trị” mày nếu mày không giống tao. Đó là bọn ăn cắp tài năng, ăn cắp nhân cách, ăn cắp cái gì mày làm ra mà tao có thể ăn được, cho mày trắng tay, mày èo uột, mày chết đi thì tao mới tồn tại.
Hôm kia, ngồi với một vị cố vấn, anh bảo tôi nên ủng hộ cho ông z. Tôi bảo ông z. cũng hay, cũng gian hùng như Tào Tháo. Tôi hỏi lại anh bạn, hay là nước ta đang cần một Tào Tháo? Anh bạn cười, bảo cần người hơn cả Tào Tháo. Ôi, gian hùng hơn cả Tào Tháo thì nước mình làm gì có?
Lại thấy một lũ súc sinh mấy tuần nay dạng mồm thành loa tố cáo đồng nghiệp với bọn lưu manh. Bọn này mong bọn lưu manh lưu ý đến để có thể kết nạp vào hội lưu manh, nhưng anh cố vấn nói với tôi, cái bọn súc sinh ấy quá giàu trí tửơng bở. Vì bọn súc sinh chưa biết chính trị là gì.
Chính trị phải biết nói năng lịch sự, cao siêu, nói 1 hiểu 10, nói mười lấy 1. Cái bọn súc sinh thì nói nghìn cũng chỉ mong có xíu, một xíu xíu xoa đầu: Chú được đấy. Nhưng sau “được đấy” là gì? Là cứ bật loa cho nó sủa.
Tự dưng quay ngả nào cũng thấy chó sủa. Cổng ngõ nào của nhà người tử tế cũng khóa cả, sao chó cứ sủa. Thì ra không phải chó nhà sủa, mà, chó ngoài cổng sủa.
Cả cái chợ đầy tiếng chó sủa. Mà không phải sủa trăng. Đêm nay tối mịt.
Thì ra chốn kẻ chợ quá nhiều bọn lưu manh tự sủa mình.
Chiều buồn buồn, 6.8.2013
NGUYỄN TRỌNG TẠO blog
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Tản mạn đôi dòng ..

Đăng bởi nguyentrongtao on 21.04.2010
Nguyễn Chính

Có lần tôi được nghe ông K, một người rất mê đọc sách nói thế này  : “Từ hơn ngàn năm trước, Khổng Tử đã dạy học trò của mình rằng, đã là trí giả thì không thể bị u mê, càng không thể vì mấy đấu gạo mà viết cho kẻ bất nhân …”. Tôi bảo : “  Chỉ vì được mấy đấu gạo mà viết cho bọn thất đức, thì là bồi bút rồi còn gì”. Ông K bảo ” Đúng vậy ! nhưng lũ bồi bút lại được sinh ra từ cái sự văn nô”. Tôi hỏi lại ” Văn nô là sao ?”.  Ông K bảo ” Là sao, thì chú phải tìm hiểu. Chỉ biết cái sự ấy nó làm hỏng cả một nền văn học. Nó biến không ít kẻ cầm bút thành thứ mạt hạng. Nó …”. Tôi vội xua tay ” Thôi, thôi  xin bác, xin bác, em sẽ tìm hiểu, sẽ tìm hiểu…”. Ông K liền nhìn tôi như kẻ xa lạ, nhìn từ đầu xuống chân, lại từ chân lên đầu, rồi chỉ  vào tôi mà rằng : ” Nhìn chú kìa, mới nghe thế mà  đã, trên thì mặt xanh như đít nhái, dưới thì vãi cả ra  thế kia rồi, thì cầm bút thế đéo nào được”.
Hơn 20 năm đã qua, ông K  bây giờ đã thành người  thiên cổ. Còn tôi cũng dần  ngộ ra rằng, thì ra cái sự “nô” ấy nó kinh khủng lắm. Cả một dân tộc, một đất nước đã từng là nô lệ. Bị nhốt chung trong  cái cũi khổng lồ ấy nào  là những  nông nô, công nô, binh nô, trí nô và vân vân nô… Bằng núi xương, sông máu, lật đổ được cái kiếp  nô lệ ấy rồi, thì không ai lại ngu muội chui đầu vào cãi cũi ấy nữa, trừ phi là bị phỉnh, bị lừa.
Còn cái sự văn “nô” ? Thấy tôi cứ lúng túng dây nhợ như gà mắc tóc mãi, một đồng nghiệp đã “đóng” vào tai tôi những lời như búa bổ : ” Nô, tức là cúc cung tận tụy, phụng sự cho bề trên, cho ông chủ. Như kiếp chó ấy. Bề trên bảo sủa to thì sủa to, bảo sủa nhỏ thì sủa nhỏ, bảo cắn thì cắn, thế thôi”. Nghe đồng nghiệp nói vậy thì biết vậy, nghĩ mình phận ếch ngồi đáy giếng, đọc chưa được bao nhiêu, viết cũng chẳng được bao nhiêu, lại toàn thứ vô bổ, chỉ đáng vứt sọt rác, nên nghe lời ông K, tôi phải tự lần mò tìm hiểu …
Khi cụ Đồ Chiểu vung bút  với những câu âm vang như sấm ” Dù đui mà giữ đạo nhà …”, rồi ” Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm, đâm mấy thằng gian bút chẳng tà” và khi cụ Tản Đà đầy khí phách  “Xuống ngọn bút mưa sa, bão táp, vạch câu thơ quỷ thảm, thần kinh. Lũ mọt dân trừng trị bằng câu văn, người hiền sỹ  tinh biểu bằng ngòi bút…” v.v…,  thì cái sự “nô” ấy đã phải bạt xa rồi. Chưa hết, khi ở phương trời Âu đang ồn ào lý luận Mac-xít đưa quần chúng bần hàn lên tận mây xanh, bằng việc tấn phong họ là ” những người chân chính sáng tạo ra lịch sử”, thì cụ Tản Đà  đã không ngần ngại chỉ thẳng ra cái sự thật  bi thảm và “giáng” một búa nẩy lửa vào cái đầu còn tăm tối và  cả tin của đồng bào mình, rằng ” Cũng bởi thằng dân ngu quá lợn, Cho nên quân nó dễ làm quan”.  Thiển nghĩ, với thiên chức góp phần hướng thiện con người, tôn vinh cái đẹp, thì người cầm bút phải tôn trọng sự thật, bảo vệ sự thật, vạch mặt giả dối, mị dân, bịp bợm. Mọi sự tô hồng, bôi đen, bóp méo sự thật nhằm phục vụ lợi ích  của thiểu số kẻ cầm quyền, đều là kẻ thù của văn chương.  Sự chân thực là phẩm giá của ngòi bút nên rất cao quý và  thiêng liêng. Khi Liên Xô, thành trì của chủ nghĩa CS dưới thời Stalin  mặc dù có cả một  bộ máy KGB khổng lồ, nhưng một học giả người Nga vẫn lớn tiếng khẳng định ” Sự thật cao hơn tất cả, cao hơn nước Nga và cao hơn cả Lê-nin “. Được biết, lý luận văn học Xô-viết  còn đẻ ra cái gọi là “hiện thực xã hội chũ nghĩa”, từng được các học giả Đông, Tây mổ xẻ xem nó là cái giống gì ? Đã “hiện thực” lại còn hiện thực nọ, hiện thực kia nữa. Cái ấm sứt  vòi, nhìn từ mọi phía cũng không thể nào là cái bình pha lê được. Đúng là rặt một thứ “ný nuận nồn”, như cách nói  ngọng của một bà bán mắm tôm nơi chợ quê. Cũng vậy, ở ta lâu nay  còn có câu ” nền kinh tế thị trường định hướng XHCN”, một khái niệm không  thể tìm thấy trong bất cứ học thuyết Đông, Tây, kim cổ nào. Ngay cả cụ tổ của CNCS  là  Kar.Max có tái thế  chắc chắn cũng phải chào thua, không thể nào định nghĩa nổi.  Nên nhà thơ Trần Mạnh Hảo mới có câu  thơ thật mỉa mai ” khái niệm đưa ra không biết lối thu về”, là vì vậy.
Liên quan đến cái sự văn “nô”, có một vấn đề từng được nêu ra từ mấy chục năm qua, nhưng bị cho là “nhạy cảm” nên chỉ được “nhá xèng” lên tý rồi tịt luôn như pháo tịt ngòi. Đó là quan hệ giữa văn học và chính trị. Còn nhớ khoảng cuối 1990, một người bạn gặp tôi, hỏi : ” Này ! có một nhà thơ vừa đưa ra nhận xét là, văn học nghệ thuật cao hơn chính trị và xa hơn chính trị. Ông thấy sao ?”.  Tôi liền khẳng định ngay : “Đúng ! đúng là như thế”. Không ngờ anh ta lồng lên ” Đúng, đúng cái con khỉ. Ông lúc nào cũng  nằm mơ. Xa hơn, cao hơn cái nỗi gì. Chính trị là bố , là ông cố nội của văn học, thì có…”. Rồi anh dẫn ra nào Tần Thủy Hoàng; Hítler ; Mao v.v… Tôi liền hỏi lại : ” Vậy mấy bạo chúa ấy sống được 100 tuổi không ? Chết ngóm sau mấy chục năm cường quyền chứ gì ? Còn các tác phẩm văn học, nghệ thuật  đích thực, thứ thiệt, thì sống muôn đời”. Và, để anh ta tâm phục, khẩu phục tôi đã lý giải nôm na thế này : Chính trị là phạm trù lịch sử, có nay không có mai. Lịch sử phát triển xã hội loài người hết chế độ này, thì đến chế độ khác. Triều đại nào thối nát, phản dân hại nước ắt sẽ sụp đổ và bị triều đại khác thay thế. Còn văn học nghệ thuật thuộc phạm trù vĩnh viễn. Các tác phẩm đích thực sẽ  “bước” từ thời đại này  qua thời đại khác, trở thành tài sản vô giá của nhân loại và bất tử. Các tác phẩm cổ điển,  trung đại, cận đại v.v… là những minh chứng hùng hồn. Văn học nghệ thuật chân chính  phản ánh chân thực ước mơ và  khát vọng của nhân dân mình. Văn học, nghệ thuật  chân chính (không phải thứ văn nô, bồi bút) luôn chỉ ra cho chính trị biết phải làm gì, làm thế nào để an dân, để được lòng dân. Bởi chính trị muốn tồn tại, thì phải được lòng dân. Nên văn học nghệ thuật cao hơn chính trị là ở cái lẽ ấy, vân vân và vân vân …
Cái sự văn “nô” còn liên quan đến bản lĩnh, khi phách người cầm bút. Phùng Quán , một nhà thơ “Nhân văn giai phẩm” rất đáng kính từng có tuyên ngôn rằng ” Dù ai ngon ngọt nuông chiều cũng không nói yêu thành ghét. Dù ai cầm dao dọa giết, cũng không nói ghét thành yêu…”.  Ông Trường Chinh (Sóng Hồng), nếu tôi nhớ không nhầm cũng  từng có câu : ” Lấy  cán bút làm đòn xoay chế độ. Mỗi vần thơ bom đạn phá cường quyền”. Theo tôi, Những câu thơ này của Phùng Quán và Trường Chinh có giá trị thời đại rất cao, vì nói lên được bản lĩnh và tâm huyết người cầm bút. Không biết, Hội Nhà Văn VN có cho dịch ra nhiều thứ tiếng để gửi đến các  văn nghệ sỹ đang phải sống trong những chế độ độc tài, phản dân chủ  tại Hội nghị giới thiệu văn học VN ra nước ngoài vừa qua, hay in ra hàng ngàn bản cho bóng bay gửi lên kính cáo với trời đất, sông núi nước mình trong Ngày “Đại lễ thơ VN” hoành tráng rằm tháng Giêng Canh Dần vừa rồi ? Nhân đây xin nhắc lại một chuyện nhỏ. Trong một hội thảo ở Nha Trang về phát triển nông nghiệp của một tỉnh miền Trung hồi cuối thập niên 1980. Giờ giải lao, cánh nhà báo tụ tập ở hành lang, to nhỏ bàn chuyện trên giời, dưới đất, chuyện dân dã, chuyện triều đình … Anh Bốn T, tuy là một cán bộ chủ chốt của tỉnh PY, nhưng  tỏ ra rất bình dân với cánh phóng viên, cũng đến góp chuyện. Chuyện trò một hồi, bỗng anh trầm ngâm giây lát rồi phán một câu xanh rờn : ” Đúng là cánh nhà văn, báo chí, văn nghệ sỹ chúng mày, thời nào cũng chống chính quyền …”. Lập tức một đồng nghiệp trong chúng tôi trả lời ngay : ” Anh Bốn nhầm rồi ! Không phải chống chính quyền mà là chống cường quyền. Thời nào những người cầm bút cũng chống lại cường quyền …”. Tất cả chúng tôi  cùng cười vang tán thưởng.
Lẽ thường người cầm bút (nhà thơ, nhà văn v.v…) không thể làm điều ác, điều thất đức và càng không thể dùng ngòi bút để bảo vệ cái ác. Những nhà văn, nhà thơ nào còn coi CNCS là lý tưởng của đời mình , chắc càng  không thể quên lời giáo huấn của cụ Kar.Max, rằng  ” Chỉ có loài súc vật mới quay lưng lại với số phận người khác …”. Đến nay, ai cũng biết, “cải cách ruộng đất” từng được coi là ” cuộc cách mạng long trời lở đất”, là một đại họa đối với nông dân và nông thôn nước ta hồi giữa thập niên 1950. Vì thế, tôi không thể tin câu thơ đầy máu lạnh sau đây lại phát ra từ con tim của  Xuân Diệu – một nhà thơ tình :
“Thắp đuốc cho sáng khắp đường
Thắp đuốc cho sáng đình làng đêm nay
Lôi cổ chúng nó ra đây
Bắt quỳ gục xuống đọa đầy chết thôi”
Các nhà lý luận đã chia nền văn học nước ta theo từng giai đoạn, hoặc theo dòng này, dòng kia.  Với riêng tôi, “Dòng hiện thực” (trước 1945) với những tên tuổi lớn như Ngô Tất Tố; Nguyễn Công Hoan;  Vũ Trọng Phụng ; Nam Cao v.v…là sáng giá nhất. Tác  phẩm của các ông, chứng tích bằng văn học của một thời khốn nạn sẽ còn mãi với thời gian và  những vấn đề đặt ra trong tác phẩm của các ông, cho đến nay hình như vẫn còn đó :
“Đã rằng Bá Kiến hết rồi
Mà sao anh Chí ba đời còn đây ?” (*)
Rõ ràng, trong đêm đen của “Tắt đèn”, trong hũ nút của “Bước đường cùng”, trong nhốn nháo, tha hóa, giả dối, đĩ điếm, lừa phỉnh, bịp bợp, mị dân, đạo đức giả … của “Số đỏ”, thời kỳ văn học này vẫn sản sinh được cho hậu thế những tên tuổi gắn liền với NHÂN CÁCH LỚN CỦA NGƯỜI CẦM BÚT.
Từng có người nói rất đúng rằng, nhà văn, nhà thơ  là do “Tổ chức Trời” phân công. Thực ra là trời  bắt “tội”, trời hành xác họ. Còn họ thì tự nguyện cho cái sự bắt tội và hành xác đó. Thế thì  thì khuynh hướng sáng tác, quyền sáng tác phải thuộc về chủ thể sáng tạo là họ.  Vậy tại sao cuối thập niên 1980 của thế kỷ trước, Nguyễn Minh Châu phải viết “lời ai điếu” cho một thời kỳ văn học? Có lẽ theo ông đó là thời “tụng ca,minh họa”. Nếu đúng vậy, thì  thành tựu của thời kỳ này giá trị thế nào, hoành tráng đến đâu, có lợi cho ai, gây hại cho cái gì, đã được thời gian sàng lọc, trả lời rồi. Mọi người đều biết cả.  Thiển nghĩ, dù Nguyễn Minh Châu không viết lời “ai điếu” thì những sản phẩm tụng ca, minh họa rẻ tiền một thời kiểu như … kiểu như … cũng sẽ lần lượt chết ngóm. Có những tên tuổi từng là trụ cột của nền văn học, nghệ thuật một thời  như  ông nhà văn  Nguyễn Khải, đến cuối đời mới giật mình “Đi tìm cái tôi đã mất”, như ông nhạc sỹ Tô Hải mới cay đắng nhận ra mình là “một thằng hèn” (cho dù là trường hợp “thằng hèn” của ông Tô Hải đang và sẽ được lớp hậu sinh kính trọng), thì  cũng  là quá muộn. Lấy ngay ví dụ về tác phẩm “Tầm nhìn xa” minh họa, tụng ca cho phong trào hợp tác hóa nông nghiệp của Nguyễn Khải. Không biết ông nhà văn này có “tầm nhìn” xa cỡ nào, được mấy tấc, mấy thước, mà ngay hồi ấy trong dân gian đã có vè chửi cái mô hình  hợp tác xã nông nghiệp “thằng còng làm, thằng ngay ăn” này rồi. Thôi thì “gặp thời thế, thế thời phải thế”, vì niêu cơm, vì mấy đấu gạo mà phải tụng ca, minh họa, còn cho là tạm  thông cảm được. Nhưng đến cái sự  văn “nô” hướng thượng, sun xoe, tới mức có cả một câu cửa miệng của người đời  ” thằng đéo lào mà lịnh thế ?”, thì không biết  còn có nền văn học thời hiện đại nào của nhân loại trên hành tinh này, nảy nòi ra được những văn sỹ như thế ? Vâng ! trăm năm bia đá cũng phải mòn . Nhưng những câu thơ “lịnh” mà tôi dẫn ra dưới đây của ông Tố Hữu, thì không biết đến kiếp nào “bia miệng”  thế gian mới hết nói lời xấu hổ ? Quả thật, bất cứ người Việt Nam nào có lòng tự trọng với  nguồn cội con Rồng cháu Tiên của mình, đều cảm thấy bị xúc phạm, khi  phải lướt mắt thôi ( đọc lên là nhục lắm, xấu hổ lắm).
Lúc Stalin chưa chết và rất có thể ông ta vừa ký chưa ráo mực những sắc lệnh khủng khiếp, khiến hàng chục ngàn người vô tội bị khủng bố, bị sát hại, hoặc bị đưa đi lưu đày ở Xibêri ( trong đó có cả những  văn nghệ sỹ nổi tiếng, sau này được nhận giải Nô ben). Chính Tổng thống Nga Putin cũng phải thừa nhận, rằng ” Những người bị thảm sát, khủng bố là những con người ưu tú nhất, có trí tuệ nhất và là những người can đảm nhất của nước Nga và Liên Xô thời đó”.  Vậy mà, không biết xuất phát từ tình cảm gì Tố Hữu, một nhà thơ của cách mạng lại có mấy câu thơ  hướng thượng, nghe vong bản đến buồn nôn  là : ” yêu biết mấy nghe con tập nói, tiếng đầu đời con gọi Stalin”. Còn khi Stalin chết, không biết có họ hàng hang hốc gì với ông ta không mà Tố Hữu, một người Việt Nam (chắc chắn là chưa hề được gặp Stalin) đã có thơ khóc với theo quan tài cách cả  hàng ngàn cây số đường chim bay, bằng những lời đại bất hiếu với người ruột thịt trực hệ của mình, thế này: ” Thương cha, thương mẹ, thương chồng. Thương mình thương một, thương ông thương mười”. Ôi! Lời thơ khóc mới thê lương, thảm thiết làm sao, nếu  át được tiếng phèng la, tiếng nhạc chói tai, nhức óc của đội  kèn đồng đưa đám, để Stalin nghe thấy, chắc “ngài” cũng thấy nhột, phải lập tức bật nắp quan tài ngồi dậy, mà rằng ” thằng đéo nào ở  đâu mà lịnh thế !”.
Khoảng thời gian 1985 – 1990, bắt đầu xuất hiện và sau đó người ta nói nhiều đến hai từ “cởi trói”. Nào là, cởi trói cho nền kinh tế; cởi trói cho nông dân, cởi trói cho … v.v. Và, văn nghệ  đã mừng húm vì cũng được “ban” cho hai từ “cở trói” này. Câu hỏi đặt ra là, ai đã “trói” văn nghệ ? “Trói” bằng cái gì ? Trả lời ư ! Ai cũng trả lời được, nhưng  không ai trả lời. Lại cũng không ai muốn/dám trả lời cái mà mình có thể trả lời. Bi kịch thế đấy. Nhưng cũng có người phán tỉnh queo,  rằng “có ai trói các anh đâu ! Tự các anh trói mình, rồi còn “trói” lẫn nhau đấy chứ ?”. Thế là thành bi, hài kịch. Than ôi! Có lẽ, chung quy  cũng tại bởi cái tư duy văn “nô” của cái sự văn “nô”.
Tôi đã mang tất cả  những “tản mạn” nói trên trao đổi với một bạn viết. Sau giây phút trầm ngâm, ông bảo ” Ừ ! kể cũng phải. Tiên trách kỷ hậu trách nhân, cái mình nghĩ trong đầu thì cường quyền, thời thế đéo nào “trói” được…. Chẳng qua là mình cứ tự huyễn hoặc mình, tự lừa mình, rồi lại mang cái sự lừa ấy để lừa nhân dân mình. Thế là giả dối, là khốn nạn, là lưu manh đấy ! “. Nghe ông nói, tôi giật mình nhớ đến bài thơ “Bi kịch hót” của anh Bùi Minh Quốc :
Tưởng bay ngàn dặm thơ
Hóa vòng vo nhảy nhót
Giữa cái  lồng rất to
Tự đan bằng tiếng hót.
Bài thơ chỉ có mấy dòng mà cứa vào ta  bao nỗi xót sa, cười ra nước mắt, thương cho con chim  không tự biết rằng, nó đang  “hót” theo, nhảy nhót theo, nhại theo lời ca và cái vũ điệu lăng nhăng, bát nháo, vô cảm của một thằng hề./.
(*) Thơ – Nguyễn Chính

http://hoingovanchuong.wordpress.com/2010/04/21/t%E1%BA%A3n-m%E1%BA%A1n-doi-dong-v%E1%BB%81-cai-s%E1%BB%B1-van-no/ 
Phần nhận xét hiển thị trên trang