Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Ba, 15 tháng 4, 2014

(Mấy nét về lớp nhà thơ xuất hiện ở miền Bắc Việt Nam những năm 1960-1970)

Tham luận gửi hội thảo do Hội Nhà văn Việt Nam  dự định tổ chức trong năm 2014.

Lại Nguyên Ân

Lai Nguyen An
Nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân
Trên thực tế, nếu muốn làm rõ những đặc điểm của một lực lượng sáng tác văn học – dù hạn định trong một phạm vi thời gian không gian rất cụ thể nào đấy – người ta cần vận dụng nhiều tiếp cận, không chỉ những tiếp cận văn hóa nghệ thuật, mà còn cần cả những tiếp cận xã hội, lịch sử.
Đối với lớp nhà thơ xuất hiện chủ yếu ở miền Bắc Việt Nam vào những năm từ đầu hoặc giữa thập niên 1960 đến giữa thập niên 1970, – lớp nhà thơ mà khá nhiều đại diện đã và đang giữ những vị trí trọng trách trong bộ máy quản lý nhà nước về văn hóa, văn nghệ và các hội đoàn ở lĩnh vực này, – hẳn là về sau này sẽ có những nghiên cứu phân tích có nhiều sức nặng hơn. Còn ở thời điểm hiện tại, có lẽ ta sẽ được nghe nhiều hơn, – ngoài rất nhiều lời khen tặng, như vốn dĩ phải thế, – những loại hồi ức khác nhau, hoặc của người trong cuộc, hoặc của những đàn em của họ, thường là rất mực kính phục, ít ra thì cũng rất mực biết điều.
Tôi là người cùng lứa tuổi với lớp nhà thơ ấy. Những lời khen tặng họ, đối với tôi, đã là việc của ngày xưa, khi họ mới xuất hiện, cần sự cổ vũ, hơn nữa, cả sự bênh vực, sự cảm thông. Còn bây giờ, những đại diện của lớp nhà thơ ấy đã ít nhiều họp thành một thứ “nhóm lợi ích”, mà rất có thể một số “lợi ích” họ cần bảo trì lại có cơ phương hại đến “lợi ích” của lớp nhà thơ đến sau, cũng tức là đến lợi ích của sự phát triển văn học.
Vậy thì, thay vì lối viết phê bình nghiên cứu, tôi sẽ chọn lối viết tùy bút, pha lẫn hồi ức.
Nói lớp nhà thơ kể trên “xuất hiện” vào khoảng thời gian kể trên (những năm 1960 đến giữa 1970), là căn cứ vào thời điểm họ công bố, đăng tải những tác phẩm đầu tiên.
Về sinh trưởng, họ đều sinh ra vào những năm 1940, đều đi học chủ yếu trong hệ thống nhà trường phổ thông của thể chế Việt Nam Dân chủ Cộng hòa; chỉ có một số rất ít trong số họ có học vài năm ở nhà trường thuộc thể chế Quốc gia Việt Nam (ở Hà Nội trước tháng 10/1954, ở Hải Phòng trước tháng 5/1955). Người ta biết, để thích ứng với hoàn cảnh chiến tranh, chỉ có rất ít trường phổ thông thời ấy còn dạy môn ngoại ngữ (1 trong 3 ngữ: Hán, Nga, Pháp), và ngoại ngữ chỉ là môn tùy chọn, không bắt buộc, tại các kỳ thi tuyển (thi vào đại học, tính đến 1964).  
Cùng với một loạt đặc điểm về hoàn cảnh sống khác, đặc điểm chung về học vấn của lớp nhà thơ nhà văn này cho thấy một hệ quả. Đó là, ngoài việc dùng tiếng Việt và chữ Quốc ngữ làm văn tự chính, hầu hết các tác gia thuộc thế hệ này không sử dụng được ngoại ngữ nào. Tất nhiên trong số họ có những người dùng được tiếng Nga, tiếng Pháp, tiếng Hoa, nhưng số đó quá ít, hầu như là cá biệt, chỉ gồm một số người học qua đại học rồi mới bước vào sáng tác (ở bậc đại học trong nước khi ấy, về nguyên tắc sinh viên phải học một ngoại ngữ), hoặc một số người được chọn đi du học Nga Sô-viết hoặc Đông Âu, do vậy dùng được ngoại ngữ; song nhìn chung, số đó rất ít. Số đông còn lại, thường là học hết (hoặc đang học dở dang) trung học phổ thông rồi vào quân đội, hoặc đi làm công nhân, làm các loại công việc tại các cơ quan, công trường, nhà máy… trên khắp miền Bắc, rồi từ vị trí người viên chức, công chức (đương thời đều gọi chung là cán bộ công nhân viên nhà nước) mà bước vào sáng tác văn thơ.
Học vấn phổ thông trung học ở miền Bắc những năm 1960 là điển hình về tầm mức học vấn của lớp nhà thơ này. Về sau, khi đã vào nghề văn, bản thân từng người, bằng tự học, đến một lúc nhất định, bắt đầu ít nhiều sử dụng được một ngoại ngữ nào đó, hoặc tiếng Nga, hoặc tiếng Anh, đọc được ít nhiều sách báo nước ngoài. Tuy nhiên, sự bổ sung muộn về học vấn ấy hầu như không làm thay đổi diện mạo chung thời đầu của lớp nhà thơ này mà nét tiêu biểu là hầu như chỉ biết tới những gì được nói và viết bằng tiếng Việt chữ Việt ở bên trong lãnh thổ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.  
Văn học Việt Nam từng trải qua thời trung đại mà lực lượng tác gia chủ yếu chỉ viết bằng chữ Hán, rồi ghi tiếng Việt bằng các khuôn Hán tự, tạo ra chữ Nôm, sáng tác văn học tiếng Việt dưới dạng chữ Nôm, bên cạnh văn học chữ Hán. Đến đầu thế kỷ XX, dưới thời cai trị của thực dân Pháp (1865-1945), chữ Quốc ngữ (tức là tiếng Việt viết bằng hệ chữ Latin) dần dần trở nên thông dụng. Lớp tác gia đi vào văn học đầu những năm 1930, là lớp tác gia sáng tạo ra nền văn học hiện đại bằng tiếng Việt. Do hầu hết các tác gia ấy đều bước vào văn chương và báo chí từ các bậc học của hệ thống nhà trường Pháp-Việt (vừa học tiếng Pháp vừa học tiếng Việt, dùng chữ Quốc ngữ và chữ Pháp), cho nên không nhiều thì ít, họ đều dùng được tiếng Pháp; có người ở thế hệ tác gia này còn dùng được cả chữ Hán, do từng được học trong gia đình hoặc nhà trường; vả lại, môi trường ngôn ngữ mà lớp nhà văn ấy hoạt động, tính đến trước 1945, là môi trường đa ngữ (tiếng và chữ Pháp, tiếng và chữ Việt, cùng chữ Hán).
Ngược với thời thuộc Pháp, môi trường ngôn ngữ chính thống ở Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, từ sau 1945, dần dần trở về dạng môi trường đơn ngữ, với tiếng Việt, chữ Quốc ngữ là độc tôn. Không gian văn học miền Bắc những năm 1950-70 có thể là điển hình cho không gian đơn ngữ, độc ngữ; toàn xã hội chỉ nói chỉ đọc tiếng Việt chữ Việt (họa báo Liên Xô, sách ngữ lục Trung Quốc cũng đến miền Bắc VN dưới dạng chữ Việt) và chỉ được biết mọi loại thông tin qua tiếng Việt chữ Việt. Số kênh thông tin đương thời rất ít, chỉ có một đài phát thanh, một số ít báo chí, lượng sách xuất bản hàng năm cũng rất ít.
Trong môi trường độc tôn một ý thức hệ, do đặc điểm của thời đại đối đầu giữa hai hệ thống thế giới, cũng gọi là thời đại “chiến tranh lạnh”, do nỗ lực của hệ thống tuyên huấn các cấp, thông tin từ thế giới bên ngoài vào đây bị giảm thiểu đến tối đa. Môi trường thông tin tại chỗ được duy trì ở trạng thái luôn luôn có một độ rỗng rất đáng kể.
Tôi nghĩ, lực lượng tác giả thơ xuất hiện những năm 1960-1970 ở miền Bắc, ở mức đáng kể, nếu đã bị thiệt thòi, bị thiểu năng về ngoại ngữ, như nói trên, thì lại được hưởng lợi nhất thời từ chính cái độ rỗng về thông tin của môi trường văn hóa xã hội miền Bắc khi đó, nó khiến họ được cộng đồng văn học tại chỗ biết tới rất nhanh chóng, tức là giúp họ nổi tiếng rất mau chóng. Nhưng, nói rộng ra, thế hệ nhà thơ nhà văn này đã và sẽ còn phải chịu nhiều hệ lụy từ chính việc cá tính sáng tác của họ đã hình thành trong điều kiện thiếu thông tin rất đáng kể của thế giới bên ngoài và về thế giới bên ngoài. 
Thật ra thì hầu như bất cứ tháng nào năm nào cũng có những tác giả lần đầu tiên công bố tác phẩm, lần đầu tiên bước vào báo chí văn chương, bởi đó là nhịp sống thông thường. Vậy mà sự xuất hiện lớp nhà thơ này lại làm thành hầu như một sự kiện đáng kể trong đời sống văn hóa ở miền Bắc hồi những năm 1964-66. Nó làm nên tính hiện tượng rõ rệt hơn hẳn, chẳng hạn, so với sự xuất hiện của lực lượng tác giả viết văn xuôi cùng lứa tuổi, cùng thời điểm với họ. (Nếu nhớ lại phong trào thơ mới 1932-45 cũng rầm rộ trong khi mùa màng tiểu thuyết 1930-45 tuy trù mật nhưng diễn ra hầu như rất lặng lẽ; phải chăng nét tiêu biểu của đời sống văn học Việt Nam là thơ rất dễ thành hội chợ, trong khi văn thường yên lặng như trong xưởng thủ công?)  
Tính theo dấu hiệu ngày tháng đăng tải tác phẩm đầu tiên, thì các tác giả thuộc lớp nhà thơ này, có người đăng thơ từ năm 1960 (ví dụ Xuân Quỳnh), hoặc 1961 (ví dụ Ca Lê Hiến), hoặc 1962 (ví dụ Vũ Quần Phương), hoặc 1963 (ví dụ Bằng Việt), 1964 (ví dụ Nguyễn Mỹ, Phạm Tiến Duật), 1966 (ví dụ Lưu Quang Vũ), v.v. nhưng cũng có người đến tận đầu những năm 1970 mới lần đầu đăng thơ (ví dụ tạp chí “Tác Phẩm Mới” s. 36, tháng 4/1974, với lời giới thiệu của bậc đàn anh Chế Lan Viên, đăng chùm thơ Thanh Thảo ở chiến trường Nam Bộ gửi ra, và đây cũng là lần ra mắt làng thơ của tác giả trẻ này).
Cũng có thể kể theo các cuộc thi thơ do tạp chí “Văn nghệ” (về sau là tuần báo “Văn nghệ”) tổ chức.
Trong danh sách trúng các giải cao, bên cạnh các tác gia lớn tuổi, số tác giả lứa tuổi 4X mỗi năm mỗi tăng:
1960-61: Ca Lê Hiến, Triều Ân (giải nhì);
1965: Hoàng Hưng, Nguyễn Thái Sơn (giải ba);
1969-70: Phạm Tiến Duật (giải nhất), Vương Anh, Bế Kiến Quốc, Phan Thị Thanh Nhàn (giải nhì), Vương Trọng, Mã Giang Lân, Vũ Duy Thông, Trần Nhật Thu, Vũ Châu Phối, Nguyễn Hữu Phách (giải ba);
1972-73: Nguyễn Duy, Hoàng Nhuận Cầm, Lâm Thị Mỹ Dạ, Nguyễn Đức Mậu (giải nhất), Anh Ngọc, Lâm Huy Nhuận, Cảnh Trà (giải nhì);
1975-76: Hữu Thỉnh, Văn Lê, Anh Ngọc (giải A), Lê Đình Cánh, Huyền Sâm, Đoàn Việt Bắc (giải B)…
Có thể thấy, các cuộc thi thơ từ năm 1970 trở đi, số người trúng mọi loại giải đều thuộc lứa tuổi 4x.
Cũng có thể lưu ý tới thời điểm xuất hiện những bài viết với hàm ý biểu dương, khen tặng một vài tác giả mới này của một số bậc đàn anh. Chẳng hạn, Chế Lan Viên viết lời tựa cho tập thơ chung của lớp tác giả này, nhan đề “Sức mới” (1965), hoặc Hoài Thanh viết về Lưu Quang Vũ (1966), v.v.
Tóm lại, có khá nhiều cứ liệu để cho rằng, thời kỳ từ giữa những năm 1960 trở đi, có thể xem là thời kỳ hình thành của lớp nhà thơ này.
Còn thời điểm định hình của lớp nhà thơ này thì nên lấy mốc nào?
Tôi nghĩ đến thời điểm mà hầu như là lần đầu tiên họ bị phê phán với tư cách một liên danh: một lứa tác giả.
Ấy là thời điểm xuất hiện bài tiểu luận của Hoàng Trung Thông “Một vài suy nghĩ về dòng thơ trẻ trên miền Bắc hiện nay” (“Văn nghệ” s. 374, ngày 11/12/1970). Còn nhớ, khi ấy tác giả bài tiểu luận (Hoàng Trung Thông khi ấy là Vụ trưởng Vụ Văn nghệ thuộc Ban Tuyên giáo trung ương) đã đăng đàn ở khá nhiều nơi về nội dung này, và đó không hề chỉ là ý kiến riêng của một nhà thơ đàn anh.
Điều ấy giúp ta suy đoán, đó là thời điểm mà sáng tác của lứa tác giả này đã định hình, có một số nội hàm “độc lập, khách quan” thế nào đó, khiến các bậc đàn anh, – tất nhiên đó chính là ý kiến giới lãnh đạo văn nghệ, – nhận thấy cần có tiếng nói uốn nắn, nhắc nhở tương đối mạnh mẽ, về những gì được xem là thiếu sót, trước hết là trong khuynh hướng tư tưởng, ở sáng tác thơ của họ.
Thêm một điểm cũng đáng lưu ý nữa là, sự phê bình của giới lãnh đạo tư tưởng và văn nghệ, nếu hồi cuối năm 1970 hầu như chỉ nhằm uốn nắn xu hướng phát triển của thơ trẻ, thì ngay vài năm tiếp theo đấy, những năm 1972-73, sự phê phán lại mở rộng sang một số hiện tượng khác của toàn bộ văn học miền Bắc, đụng chạm đến những tác phẩm của cả tác giả trẻ lẫn tác giả lớn tuổi, cả thơ lẫn văn xuôi. Khỏi nhắc lại những địa chỉ phê phán (tác giả tác phẩm cụ thể); chỉ nhân đấy có thêm một nhận xét: giới trẻ lúc này đã hòa chung tâm trạng, xu hướng sáng tác với các thành phần khác trong toàn bộ lực lượng văn học.
Sau thời điểm kết thúc chiến tranh (30/4/1975), trong những năm 1975-85, lực lượng thơ trẻ xuất hiện từ hồi giữa 1960, giờ đây trở thành lực lượng chính của sản xuất văn học. Một loạt cây bút trong lứa tuổi ấy khẳng định được phong cách riêng, khẳng định vị trí của mỗi người như những tác gia văn học.
Có thể kê ra khá nhiều tên tuổi nổi bật: Phạm Tiến Duật với “Vầng trăng quần lửa” (1970) và “Ở hai đầu núi” (1981), Xuân Quỳnh với “Gió lào cát trắng” (1974), “Lời ru trên mặt đất” (1978), “Tự hát” (1984), Nguyễn Khoa Điềm với “Đất ngoại ô” (1973) và “Mặt đường khát vọng” (1974), Bằng Việt với “Những gương mặt, những khoảng trời” (1973), “Khoảng cách giữa lời” (1984), Nguyễn Duy với “Cát trắng” (1973), “Ánh trăng” (1984), Thanh Thảo với “Những người đi tới biển” (1977) và “Dấu chân qua trảng cỏ” (1978), Hữu Thỉnh với “Đường tới thành phố” (1979), Lâm Thị Mỹ Dạ với “Bài thơ không năm tháng” (1983), Ý Nhi với “Người đàn bà ngồi đan” (1985), v.v. và v.v. Có tác giả như Lưu Quang Vũ, bước sang những năm 1980 lại nổi bật lên ở lĩnh vực sân khấu, làm nên tên tuổi tại một thời điểm vàng trong sự phát triển thể loại này ở nước ta.
Cũng trong vòng 10 năm hậu chiến đầu tiên (1975-85), từ lớp nhà thơ này xuất hiện những người góp mặt vào hàng ngũ những chức danh quản lý văn hóa văn nghệ, hàng ngũ quan chức các cấp. Dấu hiệu đầu tiên là trong thành phần Ban chấp hành Hội nhà văn khóa III (do Đại hội nhà văn lần III, 26 – 28/9/1983 bầu ra) có 9 ủy viên thuộc thế hệ 4X: Vương Anh, Lê Chí, Lâm Thị Mỹ Dạ, Nguyễn Khoa Điềm, Tô Ngọc Hiến, Xuân Quỳnh, Hữu Thỉnh, Nguyễn Thị Ngọc Tú, Bằng Việt.
Bước vào những năm cao trào Đổi mới (1986-89), bên trong lực lượng “thơ trẻ” của những năm 1960 giờ đây diễn ra sự phân hóa, bởi bên trong các lực lượng văn học, văn nghệ nói chung cũng diễn ra sự phân hóa. Một số khá đông hưởng ứng nhiệt liệt chủ trương đổi mới toàn diện đời sống kinh tế xã hội đất nước, góp những tiếng nói mạnh mẽ cổ vũ công cuộc đổi mới, bằng chính luận, bằng sáng tác văn xuôi và bằng thơ. Một số khác, cũng khá đông, ban đầu im lặng quan sát gần như trung lập, về sau chuyển dần sang lập trường phản đối xu hướng đổi mới, lên tiếng kết luận phía những người ủng hộ đổi mới là “phủ định thành tựu cách mạng”. Sự đấu tranh giữa hai nhóm chính này in dấu vào các kỳ đại hội nhà văn, nhất là đại hội thứ tư (1989) và tạo nên sự phân hóa bên trong lực lượng nhà văn suốt từ đó tới nay.
Ở trên tôi có lưu ý một đặc điểm là lực lượng bước vào sáng tác thơ, bước vào đời sống văn học hồi những năm 1960-70 đã hình thành cá tính sáng tác của mình trong môi trường đóng kín, trong tình trạng độc tôn ý thức hệ; thế giới quan của họ được kiến tạo phiến diện do hầu hết các thông tin tri thức được cung cấp một chiều, nhiều loại thái độ tình cảm cũng ở tình trạng bị quy phạm, phiến diện; tình trạng gần như đồng nhất giữa họ là khá rõ, nhất là về mặt đề tài văn học, ngay khi từng người trong số họ đã mang những nét riêng về cá tính sáng tác.
Từ những năm 1980, những thay đổi trong bức tranh nền chính trị toàn cầu, những tiến bộ vượt bậc về công nghệ thông tin, rốt cuộc cũng đã tác động vào đất nước ta. Những người làm các công việc liên quan đến văn hóa, đến tri thức, trong đó có những nhà thơ thuộc thế hệ nói trên, tới lúc này, đều buộc phải tự bổ sung những khoảng trống về nhận thức lý thuyết, về các biến cố lịch sử, do vậy, đều bị đặt trước những vấn đề nhận thức, những vấn đề của lịch sử, buộc phải tự xem xét, thức nhận để có một hiểu biết thích đáng, xác định một thái độ phù hợp của mình.
Kết quả là sự đồng nhất khi xưa giữa họ dần dần biến mất; họ trở nên khác biệt nhau trên hàng loạt vấn đề xã hội, chính trị, lịch sử, văn hóa. Và nhận thức sẽ chuyển tới hành động. Có người chọn cách sống này, có người chọn cách khác; có người đứng phía này, có người đứng phía khác. Có những người, sau những sự cố, những tai nạn, những thức nhận, đã giữ một sự cách biệt đáng kể so với lập trường chính thống, ví dụ Hoàng Hưng; có người chọn hướng ly khai, ví dụ Dương Thu Hương. Khuynh hướng sáng tác giữa những tác giả như vậy, so với số còn lại, cho đến đầu thế kỷ XXI này, đã khác nhau rất xa. Nếu còn gì chung thì chỉ là vẫn còn dùng tiếng Việt và vẫn tìm cách tác động đến công chúng Việt.
Như vậy, thế hệ nhà thơ xuất hiện thời chống Mỹ, những năm 1960-70 ở miền Bắc, đều có sự khởi đầu khá giống nhau, nhưng đã và sẽ đi tới những đoạn kết  khác nhau. Cái khởi đầu thì người ta đã biết, còn cái kết thúc, thì hãy còn để ngỏ.
Nếu hỏi: lớp nhà thơ này có đóng góp gì không cho tiến trình thơ ca Việt, tiến trình văn học Việt Nam?
Câu trả lời theo tôi là có.
Ít nhất, sự hiện diện của họ trong thơ cũng tiếp nối, gìn giữ, duy trì mạch thơ ca bằng tiếng Việt ở một nửa lãnh thổ người Việt trong vòng trên dưới mười năm, trước khi lại xuất hiện tại đây một lớp người làm thơ tiếp theo, nối sau họ.
Ta biết rằng các ngôn ngữ sống luôn luôn cần được khoác bộ áo thi ca của thời đại mình chứ không chịu chỉ làm công cụ giao tiếp thông thường.
Chính ở bình diện này, những giọng thơ trẻ trung trên đất Bắc những năm 1960-1970 của những Xuân Quỳnh, Lưu Quang Vũ, Bằng Việt, Phạm Tiến Duật, Nguyễn Khoa Điềm, Thanh Thảo, v.v. là không thể thay thế được bằng bất cứ gì khác, trong thời đại ấy, tại thời điểm ấy. Dẫu nếu chỉ có phần đóng góp ít ỏi thế thôi, cũng đã là vinh dự, vì đã đại diện cho tiếng Việt thi ca tại một thời đoạn của lịch sử người Việt.
Song, có lẽ sự đóng góp của lớp nhà thơ này không chỉ ở mức khiêm nhường như thế thôi đâu.
Những sáng tạo mới ở mỗi nhà thơ trong số này đã ít nhiều được nêu trong dư luận phê bình đương thời, và sẽ còn được tiếp tục làm rõ hơn, trong những nghiên cứu chuyên sâu sau này. Những sáng tạo ấy sẽ còn cần được đối chiếu với di sản thơ mới 1930-1945, sẽ còn cần được đối chiếu với bộ phận thơ ca tiếng Việt của những tác giả cùng lớp tuổi với họ sống và viết cùng thời với họ ở các đô thị miền Nam. Những đối chiếu sẽ làm rõ nét riêng trong tâm tình những bộ phận người Việt khác nhau, những nét riêng của chính tiếng Việt thi ca trên các vùng đất ở một thời đại mà đất nước bị chia ra thành những chiến tuyến khác nhau, dù thời đại ấy đã lùi vào lịch sử.

Hà Nội, 20/01/2014

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Tòa án tỉnh Cà Mau sắp xử chính mình


Ngày 15.4, TAND TP Cà Mau (Cà Mau) cho biết đã nhận đơn kháng cáo của bà Nguyễn Ánh Minh (50 tuổi, ngụ huyện Thới Bình) về việc không chấp nhận nội dung bản án sơ thẩm của TAND TP Cà Mau, xử ngày 28.3.
Nguyên đơn này đề nghị TAND tỉnh Cà Mau xét xử phúc thẩm, buộc bị đơn - là TAND tỉnh Cà Mau - bồi thường trên 1,2 tỉ đồng do đã tuyên phạt bà Minh 15 năm tù oan về tội “lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
Theo nội dung vụ án, bà Minh là cán bộ tín dụng Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Thới Bình. Từ năm 1999-2002, nhiều hộ địa bàn do bà Minh phụ trách vay vốn ngân hàng nhưng đến hạn không có khả năng thanh toán.
Lúc này, bà Minh nảy sinh ý thức vay vốn bên ngoài với lãi suất 3%, cho các hộ dân vay lại 4% để hưởng chênh lệch.
Do bà Minh thực hiện đầy đủ việc trả vốn với lãi nên rất có uy tín và được nhiều người đề nghị hợp tác làm ăn. Nhiều người sau đó đưa tiền cho bà mà không cần biên nhận.
Theo lời bà trình bày với nhà chức trách, đầu năm 2003 vay tiền của các hộ dân với lãi suất 3% rồi đưa lại cho một đồng nghiệp, lấy lãi 4%. Việc đưa tiền cho đồng nghiệp này cũng không làm biên nhận vì sợ cơ quan hay biết sẽ kỷ luật. Cuối năm 2003, bị giật nợ, bà phải vay tiền nhiều người với lãi cao từ 3-15% mỗt tháng để lấy của người này trả nợ cho người kia.
Bà Nguyễn Ánh Minh từng bị TAND tỉnh Cà Mau phạt 15 năm tù.
Đến tháng 3.2005, bà Minh không còn khả năng đóng lãi nữa thì tổng tiền vay của 22 người lên đến trên 8,6 tỉ đồng và 7 lượng vàng 24K. Quá trình vay bà Minh khai đã đóng lãi trên 4,7 tỉ đồng và gốc trên 2,4 tỉ đồng. Tuy nhiên, quá trình điều tra chỉ chứng minh được bà đóng lãi trên 2,2 tỉ đồng và vốn trên 2,1 tỉ đồng; vốn còn lại phải trả trên 6,6 tỉ đồng và 7 lượng vàng.
Từ những số liệu điều tra ban đầu, ngày 12.8.2005, Công an huyện Thới Bình khởi tố bà Minh về tội “lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và gần một tuần sau nữ cán bộ tín dụng này bị bắt. Ngày 2.11.2006, Công an tỉnh Cà Mau thay đổi tội danh đối với bà sang tội “lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
Ngày 19.10.2007, TAND tỉnh Cà Mau đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm tuyên bà Minh phạm tội này và tuyên phạt 15 năm tù. Bản án bị kháng cáo và ngày 25.2.2008, Tòa phúc thẩm TAND Tối cao tại TP.HCM tuyên hủy án vì trong quá trình xét xử, cấp sơ thẩm đã vi phạm nghiêm trọng về tố tụng.
Đúng 2 năm điều tra lại, ngày 24.2.2010, VKSND tỉnh Cà Mau xét thấy trước khi vay tiền bà Minh không có ý thức gian dối. Sau khi vay tiền, bà sử dụng không đúng mục đích nhưng không sử dụng tiền vay vào việc trái pháp luật hay bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản. Khi mất khả năng thanh toán, bà thừa nhận nợ và không khước từ nghĩa vụ trả nợ.
“Việc bà Minh vay tiền của 22 người là giao dịch kinh tế dân sự, do vậy, hành vi của bà Minh không cấu thành tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, kết luận của VKSND tỉnh Cà Mau nêu và sau đó là quyết định đình chỉ điều tra bị can đối với bà.
Ba năm sau đó, ngày 5.4.2013, TAND tỉnh Cà Mau ra thông báo thụ lý đơn giải quyết bồi thường thiệt hại của bà Minh và ngày 4.7.2013 có quyết định bồi thường gần 365 triệu đồng.
Không đồng tình, bà Minh khởi kiện, yêu cầu bồi thường trên 1,6 tỉ đồng. Tại phiên xử sơ thẩm ngày 28.3 vừa qua, bà Minh giảm yêu cầu bồi thường xuống còn hơn 1,2 tỉ đồng. TAND TP Cà Mau sau đó buộc TAND tỉnh Cà Mau bồi thường hơn 386 triệu đồng, xin lỗi công khai bà Minh tại nơi cư trú.
Tiếp tục không đồng tình với mức bồi thường này, bà Minh kháng cáo và TAND tỉnh Cà Mau đang phải sắp xét xử chính mình.
Quyết định đình chỉ vụ án đối với bị can Nguyễn Ánh Minh của VKSND Cà Mau
Hàm Yên
Ảnh minh họa (nguồn: Internet)




































































































Phần nhận xét hiển thị trên trang

“Chuyện-Tử-Tế”, hãy đánh thức nó, đặt lên bàn thờ tổ tiên

Bài của Hồng Chuyên

Người 50 năm bán xôi: "Lấy rẻ âu cũng làm được một việc thiện"

Người 50 năm bán xôi: "Lấy rẻ âu cũng làm được một việc thiện"

“Hãy bền bỉ đánh thức nó (Chuyện tử tế - PV) đặt lên bàn thờ tổ tiên, hay lễ đài quốc gia. Bởi thiếu nó, một cộng đồng dù có những nỗ lực tột bậc, có chí hướng cao xa đến mấy thì cũng chỉ là những điều vớ vẩn”
LTS: "Tử tế có trong mỗi con người, mỗi nhà, mỗi dòng họ, mỗi dân tộc. Hãy bền bỉ đánh thức nó" - xin mượn lời của đạo diễn "Chuyện tử tế" Trần Văn Thủy để mở đầu cho chuyên đề của chúng tôi.
Gặp đạo diễn “Chuyện Tử Tế"
Sau nhiều cuộc hẹn, vì lý do riêng, tôi được gặp Đạo diễn Trần Văn Thủy, đạo diễn phim Chuyện Tử Tế nổi tiếng của điện ảnh Việt Nam. Căn nhà rộng rãi nằm trên con ngõ nhỏ Làng Vĩnh Phúc (nay là phường Vĩnh Phúc, quận Ba Đình, Hà Nội) vẫn giữ nguyên không gian truyền thống xưa.
Cuộc nói chuyện vừa bắt đầu thì cũng là lúc vợ ông đi có việc trở về. Từ trong nhà, đạo diễn Trần Văn Thủy reo lên: “Hằng ơi! Em chờ anh một chút anh ra đây”. Bên ngoài, tiếng vợ ông đáp lại: “Dạ vâng, anh mở cửa cho em”. Ông nhẹ nhàng dặn tôi ngồi đợi, rồi cầm chìa khóa ra mở cửa. Với cử chỉ ân cần, ông vừa dắt xe cho vợ vừa dặn dò: “Lần sau, dừng xe lại em phải về hết số, mình già lập cập, như thế mới an toàn”. Rồi vẫn sự ân cần ấy, ông lấy dép để bà thay khi bước vào nhà. Tôi thực sự xúc động được chứng kiến cuộc đối thoại “vợ chồng kính nhau như khách” của vị đạo diễn già đã vượt qua tuổi xưa nay hiếm (74 tuổi).
Để hiểu được con người ấy, cũng nên xem lại những bộ phim do đạo diễn Trần Văn Thủy làm, đọc lại những gì ông viết và bắt đầu từ câu chuyện về bộ phim “Chuyện tử tế”.
Cách đây 30 năm, trong hoàn cảnh rất khó khăn (mức sống người dân rất thấp, đất nước ta trong thời kỳ bao cấp, đời sống xã hội, đời sống vật chất, đặc biệt phim ảnh đầy thiếu thốn...), đạo diễn Trần Văn Thủy đã làm một bộ phim nhan đề “Chuyện tử tế”. Hành trình để “Chuyện Tử Tế” được hoàn thành, đến với công chúng không hề đơn giản, đã khiến báo chí trong và ngoài nước tốn không ít giấy mực để nói về nó.
Tuy nhiên, sau đó, ở  Liên hoan phim Quốc tế Leipzig (Cộng hòa Dân chủ Đức), bộ phim đã gây tiếng vang lớn, được trao giải Bồ câu bạc. Báo chí nước ngoài mệnh danh: “Quả bom đến từ Việt Nam nổ tung ở thành phố Leipzig". Bộ phim này đã được nhiều đài truyền hình nước ngoài mua bản quyền trình chiếu. Có thể nói đây là bộ phim được bán ra nước ngoài nhiều nhất
Đạo diễn nổi tiếng người Mỹ John Giavito đã tiến cử bộ phim này là 1 trong 10 bộ phim tài liệu hay nhất của mọi thời đại. Tính cho đến tận bây giờ, nền điện ảnh Việt Nam cũng hiếm có bộ phim nào được sự đánh giá cao của công chúng, cộng đồng quốc tế như vậy.
“Chuyện tử tế” là một ngoại lệ khi mà sau 30 năm xem lại mà vẫn còn nguyên vẹn tính thời sự.
Mở đầu bộ phim, đạo diễn Trần Văn Thủy viết: “Tử tế có trong mỗi con người, mỗi nhà, mỗi dòng họ, mỗi dân tộc. Hãy bền bỉ đánh thức nó đặt lên bàn thờ tổ tiên, hay lễ đài quốc gia. Bởi thiếu nó, một cộng đồng dù có những nỗ lực tột bậc, có chí hướng cao xa đến mấy thì cũng chỉ là những điều vớ vẩn...”.
Bộ phim là chuỗi dài những câu hỏi để truy đến cùng sự tử tế mà đôi khi những câu hỏi, những sự kiện có phần đụng chạm đến nhiều người, trong bối cảnh thời gian đó.
Đạo diễn Trần Văn Thủy tâm sự, sau khi bộ phim “Chuyện Tử Tế” được nhiều người biết đến, nhiều hãng phim nước ngoài đặt ông làm phim. Năm 1992 đài truyền hình NHK Nhật Bản cũng đã tìm đến đặt hàng ông để làm bộ phim về điều mà người Nhật quan tâm. Ông nhận lời đề xuất làm bộ phim về làng quê Việt Nam - Làng nghề Phù Lãng (Hà Bắc - nay là Bắc Giang).
Ngày ấy, làng nghề Phù Lãng cực nghèo nhưng sống với nhau cực kỳ tử tế. Một làng nghề sống bằng nghề đất nung. Con người nghèo cực nghèo, nghề hàng nghìn năm vẫn làm như vậy. Nhưng họ sống yêu thương nhau, cha thương con, vợ thương chồng. Mẹ ghẻ thương con chồng, xây nhà dựng vợ,  gả chồng cho con chồng. Anh đùm bọc em, xóm giềng tối lửa tắt đèn có nhau...
Ông chia sẻ thêm: “Bản thân tôi lúc đó cũng không hiểu phim này có ý nghĩa như thế nào. Nhưng khi tôi sang Nhật làm hậu kỳ, họ có đề nghị xin dùng tên “Chuyện cổ tích đời nay” cho phim hoặc sẽ dùng tên này trên báo”.
Phía Nhật giải thích: “Ngày xưa người Nhật cũng nghèo như thế và cũng ăn ở với nhau tử tế như thế. Còn ngày nay, cuộc sống giàu có văn minh gấp bội, con người xa cách hơn, cha muốn thăm nhà con phải gọi điện thoại trước cả tuần. Hàng xóm cách vách 20cm không biết nhau”. Như vậy tình người đã bị chia cắt. Có một quy luật bất ngờ, những nước phát triển họ rút ra rằng: “Đời sống vật chất khá lên tình cảm con người bị chia cắt, đi xuống”. Đó là điều người Việt mình chưa trải nghiệm thấu đáo.
Con người sống với nhau tử tế, cần lắm, bức thiết lắm!
Trước những câu hỏi của chúng tôi về Chuyện - Tử - Tế ngày nay, như có một sự thôi thúc nào đó, ông đã trút bầu tâm sự. Dưới đây cuộc đối thoại giữa Đạo diễn Trần Văn Thủy và PV Infonet.
 Thưa ông, mong muốn được chia sẻ nhiều hơn nữa Chuyện tử tê, có nhiều hơn nữa những hành động tử tế trong cuộc sống, Infonet dự kiến mở chuyên đề về những câu chuyện như vậy. Là đạo diễn đã trăn trở với Chuyện - Tử - Tế từ nhiều năm trước, xin ông cho biết quan điểm của mình?
Điều đầu tiên, tôi tán thành với việc làm của các bạn. Theo tôi đây là việc làm cần thiết quý giá. Có lẽ không phải là những việc làm vì ý thích chủ quan của chúng ta mà đó là việc làm ích lợi cho xã hội, cho đồng bào và đất nước của chúng ta.
Điều này hết sức cần. Do điều kiện công việc, hoàn cảnh sống, tôi cũng tới lui nhiều nơi, tôi hiểu ra rằng vật chất thuần túy không cứu rỗi được con người mà nó phải có văn hóa, đạo đức, tôn giáo, truyền thống ngàn xưa để lại. Những điều bức thiết, những điều cần thiết cho cuộc sống là “đường ăn nhẽ ở” của con người. Nói thì dài, nhưng từ xưa các cụ thường dạy thế này: “Ở đời này, khôn dại giỏi dốt không biết, nhưng con phải chú ý đường ăn nhẽ ở”. Xét cho cùng “đường ăn nhẽ ở” là cái hồn vía, cái cốt cách của cuộc sống.
Nếu nói về chỉ số hạnh phúc người ta nói đến phương tiện đi lại, ăn ở, mức sống, môi trường... đều đúng cả. Nhưng, giàu có quá, tiện nghi quá, văn minh quá mà quan hệ giữa người với người nó xấu thì không thể tìm thấy hạnh phúc, tuyệt đối không có hạnh phúc.
Tôi cũng từng đến nhiều nước, tôi không thấy người Mỹ, người Nhật, người Úc, người Anh, người Pháp... tự nhận mình rất hạnh phúc. Nó phải do hoàn cảnh cụ thể con người đó trong mối quan hệ với các cá nhân khác, trong cộng đồng như thế nào. Do đó, con người sống với nhau tử tế, cần lắm, bức thiết lắm. Và đó là yếu tố quyết định quan trọng cho một cuộc sống hạnh phúc.
Theo ông, phải chăng chúng ta đã có thời nhầm lẫn về “Chuyện - Tử - Tế”?
Trong những thập kỷ qua, chúng ta đã quên đi một điều rất quan trọng: Trước khi trở thành “ông” thành “bà”, trước khi chúng ta làm những việc to lớn, chúng ta phải là con người đã, con người tử tế đã. Vì thế cho nên có lúc (giữa thế kỷ 20) giá trị đạo đức, gia phong, nền nếp một thời bị coi là tàn dư của xã hội phong kiến, không được coi trọng.
Có lẽ nhiều lĩnh vực, chúng ta phải nhìn nhận lại những gì trong quá vãng để thấy những điều tốt của xã hội của Việt Nam đã mất đi rất nhiều.
Nhân đây, cho phép tôi nhắc lại 1 đoạn lời bình ở phần đầu bộ phim Chuyện- Tử- Tế mà tôi cho rằng rất cần thiết: “...Hãy hướng con trẻ và cả người lớn đầu tiên vào việc học làm ngườingười tử tế, trước khi mong muốn chăn dắt họ trở thành người có quyền hành, giỏi giang siêu phàm...’
Các thế hệ trước đã để lại cho chúng ta nhiều lời răn dạy đạo đức và sự tử tế. Không cần mất nhiều thời gian, chúng ta sẽ thấy kho tàng đạo đức tiền nhân để lại cho chúng ta rất lớn qua ca dao tục ngữ, cách ngôn.... Bấy lâu nay, chúng ta đã hướng con người đi theo giá trị ảo. Chúng ta phải nhìn nhận một cách nghiêm túc về những giá trị đích thực, cốt lõi của đời sống. Đứng về phương diện lịch sử thì chúng ta phải nghiêm túc nhìn nhận một cách đầy đủ, đi tới cùng vấn đề. Ngay chuyên mục của các bạn, nếu làm những bài báo hay một chuyên mục chỉ để vừa lòng ông A bà B, có lẽ sẽ không cần thiết.
Vậy nói về Chuyện - Tử - Tế phải nói bằng cái tâm của mình đúng không, thưa ông?
Tất cả sẽ trở về cát bụi, không ai có thể sống mãi để răn đe người khác phải thực hiện ý nghĩ cá nhân của mình. Nếu chúng ta không đặt Tổ quốc, Dân tộc lên bàn thờ của mình, thì “mọi sự cố gắng đều là vớ vẩn”.
Cốt lõi của “Chuyện - Tử - Tế” “hành động tử tế” là gì thưa ông?
Muốn xã hội tốt lên, không thể không xem xét lại giá trị tinh thần, văn minh tiền nhân đã để lại. Đây là vấn đề khoa học, triết học chứ không phải là lập trường quan điểm, tư tưởng. Đó cũng là giá trị cốt lõi, là khởi nguồn của Chuyện - Tử - Tế, hành động tử tế.
Đầu thế kỷ 20 các cụ chỉ mong có độc lập, mặc dù dưới chế độ kìm kẹp của thực dân nhưng các cụ đã không khuất phục. Các cụ trăn trở lắm. Khẩu hiệu của cụ Phan Chu Chinh, “khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh”. Sau này chúng ta đã thấy nó rất đúng, cần ở bất cứ thời đại nào. Và có nó, đạo đức xã hội mới tốt lên. Ngày nay, vì đạo đức xã hội đi xuống nên bây giờ chúng ta thấy những chuyện không tử tế như:  bác sĩ ném xác bệnh nhân xuống sông, hôi của người gặp nạn trên đường… Có nơi nào như thế không?
Tệ hại hơn, bệnh nói dối, bệnh thành tích, tham nhũng, mua quan chức... đã ăn sâu trở thành ung nhọt. Từ đó nảy sinh ra bao nhiêu hệ lụy cho xã hội.
Trong thời buổi hiện nay, làm thế nào để có một xã hội tử tế, thưa ông?
Người ta thường nói: “Muốn xã hội trật tự, tử tế phải dựa vào 3 chân kiềng. Đó là Đạo đức, Pháp luật và đức tin tôn giáo. Những chuyện tử tế nó cần lắm, xảy vụ ném xác bệnh nhân, xảy ra vụ chui túi nilon qua suối, tình trạng cướp hoành hành ở đâu đó... bản thân những người điều hành phải thấy xấu hổ. Bản thân những người quản lý, điều hành phải chuẩn chỉ, không có chuyện người quản lý, người đứng đầu tham nhũng, bè phái mà những người dưới có thể răm rắp tuân theo. 
Để có được xã hội tử tế là trách nhiệm của tất cả chúng ta, trong đó có trách nhiệm của thông tin, truyền thông, các cơ quan nghiên cứu. Trách nhiệm đầu tiên phải nói đến người quản lý, điều hành xã hội. Có bao giờ, có khi nào, có sự việc nào mà người điều hành quản lý trực tiếp lên tiếng và chịu trách nhiệm về những sự việc bê bối của xã hội không? Ở một số quốc gia, người ta lập tức lên tiếng nhận trách nhiệm, bày tỏ thái độ hoặc từ chức. Không có sự nhận trách nhiệm như vậy làm sao có được sự tử tế? Xã hội tử tế cần có những tấm gương, tấm gương của những người điều hành, quản lý xã hội.
Vì vậy, tôi thực lòng mong muốn các bạn thành công trong đề tài này, để những phương tiện thông tin đại chúng khác cũng tham gia tích cực, những người có lương tri, những người có trách nhiệm sẽ ủng hộ các bạn hết lòng, để xã hội chúng ta, đất nước chúng ta có nhiều hơn những câu Chuyện - Tử - Tế.
Xin cảm ơn ông!
Nguồn: http://infonet.vn/chuyentute-hay-danh-thuc-no-dat-len-ban-tho-to-tien-post125117.info 

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Giải mã sự lập trình của tạo hóa


Trần Xuân Hoài 

Mohamet
Đã từng có khẳng định rằng, ở đâu mà khoa học còn vắng bóng ở đó có đức tin (tín ngưỡng). Cũng chưa hẳn thế, ngay ở những  nơi, những lúc mà khoa học là chủ đạo thì ở đó vẫn có đức tin, có bí ẩn tâm linh song song tồn tại. Mở đầu thử luận bàn về khoa học và sự huyền bí tâm linh.

Đức Tin

Với gần một nửa nhân loại đức tin được dành cho một đấng duy nhất, Chúa Trời (God, Alla), đó gọi là tín ngưỡng Đơn Thần. Những nhà tiên tri, đều là người trần, được tôn thờ như là sứ giả của Chúa Trời, mang thông điệp và lời răn của Chúa Trời đến cho con dân của chúa. Từ thuở hồng hoang đến nay, tổng cộng có 25 nhà tiên tri và sứ giả, trong đó 23 của đạo Do Thái, từ Adam là người đầu tiên  đến Yahva (John) là thứ 23, sứ giả thứ 24 là Jesu của Kito giáo và sứ giả thứ 25 là Mohamet của đạo Islam (Hồi) và theo khẳng định của đạo Islam, thì Mohamet cũng là người cuối cùng, từ nay Chúa Trời không gửi sứ giả nào đến nữa. Những lời của Chúa giao cho họ mang đến được  ghi lại trong các Sách mặc khải (revealation Book), ví như Cựu ước của Do Thái, Phúc âm (Gospel) của Jesu hay Q’uran của Mohamet. Với một phần nhân loại còn lại thì đức tin dành cho nhiều thần linh –Đa thần giáo, như Đạo Hindu, Bàlamôn, Bái vật giáo... hoặc dành cho một triết thuyết với người đứng đầu mà họ tôn sùng - Nhân thánh giáo, như Phật giáo, Khổng giáo, Đạo giáo, Thần giáo v.v. Và nhóm cuối cùng, không dành đức tin cho Chúa, Thần hay Thánh nào cả, chỉ tin vào nhân loại và vũ trụ, họ tự nhận là người Vô thần. Vì là đức tin, đơn giản “tôi tin như vậy” cho nên dù bài xích lẫn nhau, thậm chí đánh giết nhau, nhưng vẫn song song tồn tại. Tất nhiên lại càng không thể bàn đến chuyện luận cứ khoa học của Đức tin. Tuy đã có đầy đủ các hình thức của Đức tin, được giáo huấn đầy đủ về con người và cuộc đời rồi, nhưng con người vẫn liên tục tìm cách khám phá bí mật của đời người. Dù thuộc nhóm đức tin nào, dù muốn hay không, thì với nhân loại, việc tìm cách tiên tri hay tiên đoán mà dân gian gọi là Bói toán, là hoạt động đã tồn tại hàng ngàn năm qua cho mãi đến nay, và có lẽ là một trong những môn cổ nhất lịch sử văn minh nhân loại. Nói theo ngôn ngữ khoa học, đó là việc cố mò mẫm để giải đoán lập trình của tạo hóa.

Chiêm tinh học

Ba ngàn năm trước Công nguyên (CN), người Lưỡng Hà (Vùng Irac-Syria ngày nay) bắt đầu mày mò nhìn đoán sao trên trời-Chiêm tinh (Astrology). Họ đã quan sát bầu trời và phát hiện ra chuyển động biểu kiến của  Mặt trời tương ứng với vị trí các chòm sao nhất định, có tính chu kỳ hằng năm. Và sau đó người Babylon tạo ra 12 ký hiệu Hoàng đạo. Người Ai Cập cải tiến nó và đến lượt người Hy Lạp thì hệ Hoàng đạo (Zodiac) đã hoàn chỉnh. Họ đã chia một chu kỳ Mặt trời ra được 12 cung (độ dài khoảng 30 ngày) định vị với các chòm sao tương ứng trong một năm. Họ cho rằng một người sinh ra trong cung nào thì mang đặc tính của cung đó. Đến đây thì người xưa có lý và có thể coi đó là một phát kiến có luận cứ khoa học. Vấn đề trở nên phi khoa học là việc gán cho mỗi cung Hoàng đạo những thuộc tính của con người cùng với những tương tác của các cung Hoàng đạo với nhau, là hoàn toàn nhân tạo. Và khi lấy đó làm cơ sở tiên đoán thời mệnh của con người thì đó là việc hoàn toàn tùy tiện, không thể lý giải. Nhưng đó lại chính là mảnh đất làm ăn của các nhà Chiêm tinh học cổ đại và hiện đại. Dù biết là vô lý như vậy nhưng loài người ngày nay, nhất là giới trẻ vẫn gửi niềm tin vô vọng vào đó. Người ta còn kể rằng phu nhân Tổng thống Mỹ thứ 40 Ronald Reagan từng tham khảo thường xuyên ý kiến của một nhà chiêm tinh về những vấn đề quan trọng liên quan đến chồng bà. Trong thị trường chứng khoán Wall Street, nhà tài chính J.P. Morgan lúc nào cũng thuê một chiêm tinh gia trong ban bệ mình. Một chiêm tinh gia chuyên làm ăn ở Wall Street có lần khoe rằng ông có đến 15.000 khách hàng!.

Tử vi


Ở Phương Đông thì cũng thịnh hành một kiểu gần giống thuật chiêm tinh nói trên, gọi là Tử vi. Khởi nguồn muộn hơn, có thể là thế kỷ 10 sau CN, và được quy cho Trần Đoàn, hiệu là Hi Di, đời Tống sáng tạo ra. Cũng giống như thuật Chiêm tinh Tây phương, Tử vi cũng coi số mệnh con người được an bài từ lúc chào đời. Lấy ngôi sao ứng với thời điểm chào đời làm sao chiếu mệnh. Thời điểm chào đời tính theo lịch Mặt trăng, mà tên gọi của năm là tổ hợp của 10 can và 12 chi –tức 12 con giáp. Từ các thông số đó và giới tính, theo một quy trình do con người không dựa trên bất kỳ cơ sở nào để xếp các sao thành một lá số. Đó là điều thứ nhất mang tính áp đặt buộc phải thừa nhận mà không lý giải được vì sao. Cái thứ hai không thể lý giải được là hệ thống sao của Tử vi đã không theo một quan sát thiên văn nào cả mà hoàn toàn do con người tự đặt ra (Ban đầu theo Hi Di thì có 93 sao, hậu thế thì lại an đến 118 sao). Điều vô lý thứ ba, Tử vi cũng gán cho mỗi sao mỗi thuộc tính và quy luật tương tác không dựa trên một cơ sở nào cả. Điều này cũng hoàn toàn giống như điều phi lý của Chiêm tinh học khi quy cho mỗi cung Hoàng đạo một thuộc tính. Thực tế là do người xưa truyền thế nào thì theo, hoặc nếu không theo người xưa mà theo ngày nay cũng được! Vô lý chưa, vậy nhưng tin thì cứ tin, và sự thực thì bói Tử vi vẫn tồn tại mãi mãi. Con người mà!
  
Kinh dịch

Phương Đông từ rất sớm, quan niệm vạn vật từ vũ trụ đến con người là sự kết hợp của âm dương và từ hơn năm ngàn năm trước CN đã xây dựng được một hệ thống biểu diễn toán học của quan niệm tổng quát đó bằng các quẻ của Kinh Dịch. Cổ nhân dùng một nét gạch liền gọi là Dương và một nét đứt đoạn gọi là Âm. Đó chính là Lưỡng nghi, theo toán học ngày nay đó là cơ số 2. Khi chồng hai gạch đó lên nhau, thì thu được 4 tổ hợp, gọi là Tứ tượng, tương ứng 22.Chồng thêm một gạch (liền hoặc đứt) nữa thì thu được tám tổ hợp, gọi là bát quái, tương ứng 23. Chồng hai tổ hợp của bát quái lên nhau, thu được tất cả 64 tổ hợp, gọi là Trùng quái, tương ứng 26. Cái vĩ đại của Dịch là ở chỗ đã sơ khởi cho Số học nhị phân (Binary Arithmetic) hiện đại. Cha đẻ của số học nhị phân hiện đại là nhà Toán học thiên tài người Đức, Gottfried Leibnitz (1646-1716). Nhà truyền giáo người Pháp, đã từng ở Trung Hoa vào năm 1685, Joachim Bouvet, đã hướng dẫn cho Leibnitz tìm hiểu về đồ họa 64 quẻ Kinh Dịch. Người ta cho rằng những học hỏi về Quẻ Dịch đã có ảnh hưởng không nhỏ đến phát kiến về Số học Nhị phân công bố năm 1703 trong công trình Explication de l’Arithmétique Binaire (Giải thích về số học nhị phân). Trên cơ sở số học nhị phân đó, nhà toán học người Anh George Boole năm 1854 đã dựng nên môn Đại số Logic hay còn gọi là Đại số Boole (Boolian Algebra), làm nền tảng cho kỹ thuật Số (Digital) và kỷ nguyên Máy tính và công nghệ tin học, Internet ngày nay. Đáng tiếc là cổ nhân Trung Hoa (hay Việt, vì có người cho rằng Kinh Dịch có gốc từ tộc Việt!) hơn 4000 năm trước chỉ dừng lại ở 64 quẻ Dịch, coi chúng như biểu trưng cho sự bí ẩn huyền diệu. Tương truyền rằng do hiểu được thâm ý của Phục Hy (năm ngàn năm trước CN) khi chế ra 64 quẻ Dịch, các bậc thánh hiền hậu sinh, mỗi người mỗi cách gửi gắm minh triết của mình vào mỗi quẻ Dịch một bài thuyết giảng, bắt đầu từ Chu Văn Vương viết lời Soán, con là Chu Công viết Hào từ, rồi Khổng Tử giải nghĩa thêm gọi là Thập Dực, thế là bộ Kinh Dịch hoàn thành, người đời sau cứ thế mà suy luận thoải mái, gọi là giải Dịch.

Vì dựa trên hệ nhị phân, giống như đồng tiền có hai mặt quy ước Âm-Dương, nên khi gán một quẻ Dịch cho đối tượng nào thì làm thủ thuật xin quẻ, đơn giản nhất là tung đồng tiền, theo sáu mặt ngửa (Âm hoặc Dương) của đồng tiền thu được sau sáu lần gieo, ta được một quẻ Dịch cho đối tượng đó. Thế là các nhà bói dịch dựa vào các lời thánh hiền viết cho mỗi quẻ mà giải thuyết, không khác gì dân Việt ta bói Kiều, đối tượng tin sái cổ!

Theo nhiều người, các lời viết trong Kinh Dịch là minh triết kỳ diệu của Đông phương, chứa đựng nhân sinh quan và vũ trụ quan sâu sắc. Điều này thì không dám lạm bàn ở đây, chỉ có thể bàn rằng việc gán cho mỗi quẻ dịch chứa một phần triết thuyết nào đó là không có cơ sở và việc giải đoán nó lại càng mơ hồ. Sau nữa, thủ thuật  xin quẻ cho đối tượng dưa trên sự xin quẻ ngẫu nhiên, rõ ràng là thua xa việc dựa trên thời điểm ra đời của đối tượng như thủ thuật Chiêm tinh học hoặc Tử vi sử dụng. Tuy nhiên, con người mà, cứ tin được là tin, càng mơ hồ, bí hiểm, đa dạng, đa nghĩa càng dễ tin...

Khám phá sự lập trình của Tạo hóa

Gần đây, nhiều nhà khoa học các ngành khác nhau ở cả Đông lẫn Tây đưa ra giả thuyết rằng giữa các quẻ Dịch, các sự sắp xếp đồ hình trong Kinh Dịch với Mã Di truyền học DNA có một sự trùng hợp kỳ lạ. Xu hướng này khởi xướng năm 1973 bởi M. Schönberger: The I Ching & The Genetic Code– The Hidden Key to Life.( Kinh dịch và mật mã di truyền ), và hiện nay nhiều nhà khoa học vẫn còn đang tiếp tục nghiên cứu phát triển. Tuy rất hấp dẫn, nhưng hiện tại kết quả còn đơn sơ.

Vào đầu thế kỷ 21, nhà Vật lý lừng danh Stephen Wolfram (Mỹ), người tạo ra bộ công cụ MATHEMATICA nổi tiếng mà các nhà KHCN ngày nay đều sử dụng, đã viết một quyển sách dày nghìn trang, A New Kind Of Science- Một Loại Hình Khoa Học Mới, làm chấn động giới khoa học. Stephen Wolfram muốn phát hiện những viên gạch đầu tiên mà Chúa đã đặt xuống để xây dựng vũ trụ (bằng) Tế bào automat cơ bản (CA-Cellular Automaton) 

Tế bào automat là đơn vị nằm trong một ô mạng gián đoạn sử dụng cho tính toán. CA cơ bản có một chiều (dimension), mỗi tế bào có 2 trạng thái: 1 và 0 hay đen và trắng, mỗi tế bào có 2 tế bào lân cận nằm hai bên. Như vậy với các CA cơ bản ta có một tập gồm 3 tế bào vậy có 23 = 8 cấu hình cho một tập như thế. Không khó để nhận ra rằng Tập tế bào Automat này mang hơi hướng của Bát Quái trong Kinh dịch (so sánh hai hàng trên cùng của  hình 1). Nên nhớ rằng nội dung cốt lõi của Dịch là sự biến hóa. Điều này cũng là ý tưởng chính của Wolfram. Sở dĩ các tế bào này được gọi là automat vì chúng tự động phát triển trong thời gian theo những quy tắc nhất định. Các quy tắc này rất đơn giản, logic và chứng minh được. Dễ dàng để xác định rằng, tổng cộng chỉ có 256 quy tắc biến thiên. Bằng những chương trình tính toán đồ sộ, Wolfram đã cho thấy sự ứng dụng CA bao trùm nhiều lĩnh vực: phép tính song song, sự sống nhân tạo (artificial life), xử lý và tạo hình ảnh, mô hình các hệ sinh học, mô phỏng trong hóa học, trong vật lý, chảy cuộn xoáy (turbulence), đồ họa và nghệ thuật… Đó cũng là cơ sở để hy vọng  rằng  sử dụng 256 quy tắc cho sự phát triển của CA, chúng ta có thể tái tạo mọi  sự phức hợp (complexity) trong vạn vật (Hình 1).  


Hình 1

Từ những năm 80, Robin Gandy một nhà toán học và logic học Anh đã đề xuất ý tưởng rằng Vũ trụ có thể mô hình hóa bằng một máy tính cổ điển với bộ nhớ lớn vô cùng. Điều này là  dễ lý giải, vì nếu phân không gian thành những khối lập phương nhỏ thì trạng thái của mỗi hình lập phương ở thời điểm  t+1 sẽ là hàm số của trạng thái các hình lập phương lân cận ở thời điểm t. Các nhà lý thuyết thông tin gọi đây là quy tắc định xứ (local rule). Và như thế trạng thái của vũ trụ ở thời điểm t+1 có thể tính được từ trạng thái của vũ trụ ở thời điểm t bằng cách sử dụng quy tắc định xứ. Tiến hành như vậy Gandy đi đến kết luận Vũ trụ là một máy tính khổng lồ song song hay nói cách khác là tập lớn tế bào automat (CA).

Thể xác và Linh hồn

Đơn vị thông tin cổ điển là bit có khả năng lấy hai trị số 0 và 1. Để mô tả vật chất ở mức tận cùng vi mô, thì phải dùng đến thuyết lượng tử. Bởi vì thế giới khách quan vốn phải tuân theo lý thuyết lượng tử , cho nên vấn đề là cần phải lượng tử hóa CA thành Tế bào Automat lượng tử (QCA-Quantum Cellular Automaton). Trong lý thuyết lượng tử đơn vị thông tin là Qubit (Quantum bit-bit lượng tử). Về mặt vật lý một Qubit được biểu diễn bởi một hệ lượng tử có hai trạng thái. Ví dụ photon (với phân cực thẳng đứng và nằm ngang), electron hoặc các hạt spin ½ (với spin ngược-up và xuôi-down) hoặc một hệ lượng tử như nguyên tử hoặc ion với hai mức năng lượng. Các nhà Vật lý đã phát hiện ra rằng, nếu ta có hai Qubit tương tác thì xuất hiện hiện tượng gọi là liên đới lượng tử (quantum entanglement). Khi hai hạt liên đới lượng tử thì chúng tiếp tục tương tác với nhau mặc dầu khoảng cách giữa chúng trở nên vô cùng. Những ai giàu trí tưởng tượng mà nghe qua điều nay thì sẽ liên tưởng ngay đến vẻ huyền bí như linh hồn có thần giao cách cảm (teleparty) vậy.

Trên cơ sở Qubit có thể xây dựng nên những máy tính lượng tử bao gồm các QCA và  Cổng lượng tử QuG (Quantum Gate). Ý tưởng về một máy tính lượng tử như vậy đã được đề xuất bởi nhà Vật lý R.Feynman (Nobel 1965) từ những năm 1982, đến nay đã tìm được nhiều hướng giải quyết và đã có nhiều kết quả. Các nhà Vật lý trên khắp thế giới đang hợp tác với các nhà Toán-Tin học để thực hiện ý tưởng khoa học lớn này với giấc mơ hiểu được sự lập trình của tạo hóa. Lúc đó, hy vọng sẽ có câu trả lời cho nhiều câu hỏi không thể có đáp án, ví dụ như:

Bạn có tin rằng Con người và Vạn vật chỉ là tập hợp của hơn 130 nguyên tố trong bảng tuần hoàn không? Nếu bạn trả lời là có tin, vậy thì bạn có tin có linh hồn không? Nếu bạn lại cũng tin là có linh hồn thì phải chăng Linh hồn cũng là vật chất, và được tạo bởi hơn 130 nguyên tố trong bảng tuần hoàn Mendeleev? Xem ra có vẻ vô lý quá!.

Coi vũ trụ là một hệ máy tính lượng tử song song  khổng lồ như nói ở trên là một quan điểm nhằm tiến đến một lý thuyết thống nhất tối hậu của vật lý. Quan điểm này dẫn đến một hình hệ (paradigm) mới dựa trên thực thể cơ bản rằng không phải chỉ có  vật chất là cấu thành các thực thể của vũ trụ mà thông tin lượng tử cũng là một cấu phần của chính các thực thể đó. Như vậy là vạn vật được cấu thành bởi hai phần: Vật chất và Thông tin lượng tử. Vậy thì câu hỏi về linh hồn có vẻ cũng có hướng giải quyết rồi!

Chúng ta hãy chờ xem bao giờ loài người xây dựng được máy tính lượng tử khổng lồ để giải mã sự lập trình của tạo hóa. Nhưng chờ đến lúc đó thì lâu quá, còn bây giờ thì nhiều người đang lo lắng hỏi nhau những điều cụ thể, gần hơn, ví dụ như:

Tại sao 53 là hạn trung niên;  61, 69  là tuổi đáng ngại cho người cao niên ?

Để giải bài toán (câu hỏi) này chúng ta thống nhất dựa trên những luận cứ khoa học cổ, kim đã được công nhận là đúng đắn sau đây:

Chân lý chỉ có thể tiệm cận. Mọi lời giải chỉ là gần đúng. Chúng ta ở đây tạm thời chỉ sử dụng phép gần đúng bậc một là phép gần đúng kém nhất. (theo Triết học và Khoa học hiện đại).

Con người là một thực thể của vũ trụ. Sự hình thành và phát triển của con người là do trạng thái của vũ trụ quyết định. (Như quan điểm của Chiêm tinh và Tử vi).

Trạng thái của vũ trụ khi một con người sinh ra là khởi điểm cho sự hình thành và từ đó mà biến đổi và phát triển lên (quan điểm của Kinh Dịch , CA và QCA). Trong quá trình phát triển, nếu có các trạng thái vũ trụ như nhau hoặc gần như nhau thì dạng phát triển ở lần sau là đồng dạng hoặc gần đồng dạng về bản chất với lần trước.

Trong phép gần đúng bậc 1 thì đối với con người trạng thái của Vũ trụ là vị trí đối với nhau của tâm Mặt trời, Mặt trăng và Trái đất. Quỹ đạo là phẳng. Bài toán là 2D (hai chiều, hình 2). Những tác động của các thiên thể, ngân hà, thiên hà khác là có nhưng ở phép gần đúng này thì bỏ qua
Mặt trời là có ảnh hưởng lớn nhất, vì vậy đơn vị tính thời gian là lấy năm Mặt trời, tức một vòng quay biểu kiến của quả đất quanh Mặt trời. Mặt trăng tuy nhỏ hơn nhiều sao khác nhưng gần Trái đất nhất, nên quỹ đạo Mặt trăng (tháng Mặt trăng) cũng là thông số chính yếu.

Năm số không gần đúng là 9 tháng trong bụng mẹ cộng 3 tháng sau khi chào đời. Đó chính là tuổi tiên thiên trời định. Những trạng thái của vũ trụ lặp lại của tuổi tiên thiên tạo nên sự biến dịch của người đó (dù xấu hay tốt) được xem là bình thường như tạo hóa đã ban tặng. Nói đơn giản đó là tuổi những thay đổi đã theo một khuôn mẫu như khi tạo hóa sinh ra, không biến đổi đột xuất.

Ngày nay với khoa học kỹ thuật hiện đại và máy tính khổng lồ, con người có thể đo đạc và tính toán chính xác đến từng giây, từng mét từng radian tọa độ vũ trụ của của Mặt trời, Mặt trăng và Trái đất. Nhưng chưa cần phải sử dụng đến độ chính xác này ở phép gần đúng thứ nhất. Chỉ cần dùng đến các quy luật thiên văn chính xác đến ngày Mặt trời (Solar day) hoặc ngày thiên văn (sidereal day) là đủ. Vị trí của Trái đất so với Mặt trời được đặc trưng bởi quỹ đạo Trái đất quanh Mặt trời, là năm Mặt trời. Một năm Mặt trời có 365,2425 ngày. Vị trí của Trái đất và Mặt trăng quay quanh Trái đất so với Mặt trời được xác định bởi quỹ đạo của Mặt trăng quanh Trái đất (có tính đến sự dịch chuyển của Trái đất quanh mặt trời), tức là tháng Mặt trăng. Một tháng Mặt trăng có 29,53059 ngày. Trạng thái  vũ trụ của một thời điểm, ví dụ tại điểm bắt đầu của năm hình thành nên con người (tuổi số không) được xác định bởi 3 điểm: Tâm Mặt trời (S) , Tâm Trái đất trên Hoàng đạo (E) và Tâm Mặt trăng trên quỹ đạo tháng (L). Hết một năm Mặt trời, Trái đất trở về điểm E còn Mặt trăng trở lại điểm nào đó, L’ chẳng hạn (Xem hình 2).


Hình 2

Có hai khả năng xảy ra:

Điểm L’ khác L. Trạng thái vũ trụ của năm tiếp đó dĩ nhiên là khác với trạng thái năm số không, tất sẽ có những biến đổi và dịch chuyển mới, khác so với khi tạo hóa ban tặng cho ta lúc ra đời, cho nên  gọi là tuổi Biến dịch.

Cũng có thể sau một (hay nhiều năm) điểm L’ trùng hoặc gần trùng với L, năm tiếp đó có trạng thái lặp lại của năm số không. Con người phát triển là đồng dạng, tức cùng một khuôn mẫu, với năm số không, như là tạo hóa đã ban cho, ta gọi là năm tuổi Bình yên

Quan sát bầu trời, đo đạc ngày tháng, các nhà thiên văn đã khám phá ra:
Chu kỳ 19: 19 năm Mặt trời =235 tháng Mặt trăng, sai số chỉ 0.003. Nói một cách gần đúng dễ hiểu là trạng thái của bộ ba Mặt trăng-Trái đất-Mặt trời cứ 19 năm lặp lại như cũ. Chu kỳ này khá chính xác , hơn 4 trăm năm mới lệch một ngày, cho nên trong cõi trăm năm người đời có thể coi là trùng lặp tuyệt đối. (Vì lý do này mà trong lịch pháp , cứ 19 năm dương lịch thì trong 19 năm âm lịch phải có 7 năm gồm 13 tháng, tức là 7 năm nhuận). Chu kỳ này có tên là Chu kỳ Meton, đặt theo tên người Hy lạp đã khám phá ra (Meton of Athen ,năm 440 trước CN). Chu kỳ Meton  là do  hai tiểu chu kỳ (chu kỳ con) gần đúng cộng lại:

Tiểu Chu kỳ 8 (octaeteris):  8 năm Mặt trời = 99 tháng Mặt trăng, sai số 1,5 ngày, có nghĩa là cứ 5 năm thì lệch 1 ngày. Tiểu Chu kỳ này ta đặt tên là chu kỳ ÂM.

Tiểu chu kỳ 11: 11 năm Mặt trời =136 tháng Mặt trăng, sai số 1,5 ngày, tức là cứ 7,3 năm lêch 1 ngày. Ta đặt tên tiểu chu kỳ này là Chu kỳ DƯƠNG.

Vậy là con người sinh ra (năm số không) tiếp theo bảy năm biến dịch thì đến tuổi (hầu như)bình yên đầu tiên, 8 tuổi, cũng là hết một chu kỳ Âm. Hai năm Biến dịch nữa (9,10) sang năm 11 tuổi lại (hầu như) Bình yên, hết một chu kỳ Dương. Quan sát thống kê cho thấy rằng ở đứa trẻ gái, 8 tuổi là tuổi bắt đầu giới tính Nữ hình thành, cho nên tiểu chu kỳ 8 gọi là chu kỳ ÂM. Còn 11 tuổi là tuổi bé trai bắt đầu hình thành giới tính Nam, nên gọi là chu kỳ DƯƠNG. Giới tính của con người hoàn chỉnh ở chu kỳ thứ 2, Nữ là 16 tuổi (2x8) và Nam là 22 (2x11). Năm 19 tuổi là hoàn thành chu kỳ Meton = ÂM+DƯƠNG, là tuổi (tuyệt đối) Bình yên, âm dương hài hòa. Có thể  xác định Tuổi Bình yên (tính chất  chung cho các tuổi “hầu như” hoặc “tuyệt đối” Bình yên) của đời người theo công thức:

TUỔI BÌNH YÊN= A x 8 + D x 11, trong đó A và D là những số nguyên dương.

Những tuổi còn lại, không thể khai triển được như trên là tuổi Biến dịch (Hình 3)


Hình 3

Theo công thức đó mà tính, trong trăm năm đời người tuổi biến dịch tập trung nhiều ở tuổi trẻ và đến 69 là tuổi Biến dịch cuối cùng, còn Bình yên thì có đến 66 năm, đó là các tuổi: 8, 11, 16, 19, 22, 24, 27, 30, 32, 33, 35, 38, 40, 41, 43, 44, 46, 48, 49, 51, 52, 54, 55, 56, 57, 59, 60, 62, 63, 64, 65, 66, 67, 68, 70, 71, 72, 73,74, 75, 76,77, 78, 79, 80, 81, 82, 83, 84, 85, 86, 87, 88, 88, 89, 90, 91, 92,93, 94, 95, 96, 97, 98, 99, 100…

Tuổi Bình yên phân thành tuổi Âm thịnh, tuổi Dương thịnh và tuổi Hài hòa (Hình 4): D-A >0: tuổi Dương thịnh; D-A < 0: tuổi ÂM thịnh;  D-A=0: tuổi Hài hòa

Trong các tuổi Biến dịch cũng có thể định lượng được sự Biến dịch bằng một số đo gọi là mức biến dị. Theo quy luật Vật lý, với cùng một mức độ thay đổi, nếu chuỗi biến dịch liên tục càng dài thì độ biến dị càng thấp, nếu có xảy ra ở một điểm thì sự biến dịch sau có thể tự sửa chữa. Vậy độ dài của chuỗi tuổi biến dịch liền nhau đặc trưng cho mức biến dị. Chuỗi càng ngắn thì mức biên dị càng lớn. Để dễ phân biệt, ta quy ước sử dụng các mức biến dị tương ứng với chiều dài chuỗi năm biến dịch như sau: Mức 1 là liên kết chuỗi lớn hơn 3 năm, khó xảy ra đột biến. Mức 2 là ứng với chuỗi 3 năm; mức 3 là chuỗi 2 năm và mức 4 là năm biến dị đơn độc, không có liên kết. Năm đơn độc này (23, 31, 34, 39, 42, 45, 47, 50, 53, 58, 61, 69) nói chung là dễ có những đột xuất đáng ngại của đời người, vì một khi có biến dị xảy ra thì không có chu trình kế tiếp để điều chỉnh mà phải chờ đến năm biến dịch gần nhất mới có cơ hội điều chỉnh.


Hình 4

Rõ ràng là mức độ đáng ngại của năm đơn độc càng tăng lên khi mà khoảng cách tính đến năm biến dị gần nhất (gọi là khoảng cô đơn) càng dài. Mức biến dị quy ước sẽ tăng thêm 1 nếu khoảng cô đơn là 2, và tăng thêm 1 giá trị nữa khi khoảng cô đơn lớn hơn 3 (Hình 5).


Hình 5

Dễ dàng thấy rõ các tuổi 53, 61 và 69 là có Mức Biến dị lớn nhất, đó là lý do vì sao những tuổi này là rất đáng quan ngại. Do mức biến dị lớn nên 53 là năm Hạn vì là năm có thay đổi đột biến mạnh nhất ở tuổi trung niên. Tuổi 61 và đặc biệt 69 là nguy hiểm cho người già, vì là tuổi cuối cùng của đời người có đột biến. Từ sau tuổi 69 là chuỗi tuổi bình yên liên tục, mọi thứ mà tạo hóa đã ban tặng sẽ suy giảm (già đi) đều đều theo khuôn mẫu trời định lúc chào đời mà không đột biến. Đến mốc 88 tuổi là đạt điểm đặc biệt, đó là điểm thuận ÂM (tổ hợp 11 chu kỳ Âm) hoặc thuần Dương (tổ hợp 8 chu kỳ Dương), giống như khi mầm sống nảy sinh, người già trở thành như con trẻ. Các mốc 76 và 95 cũng đáng chú ý, đó là điểm Âm-Dương hài hòa. Ở ba mốc dị thường này có thể rất tốt cũng có thể rất xấu.

Luận thuyết trình bày trên đây là dựa trên cơ sở tính toán khoa học, không mang chút nào tâm linh, huyền bí cả. Ít nhất nó đã được kiểm chứng bởi thực tế với 3 tuổi trong khoảng 53, 61, 69 (có tính đến sai số)  thì người ta nhận thấy có nhiều người từ trần, ốm đau, bệnh tật nhất. Các tiên đoán ở các tuổi Biến dị, Cô đơn, hoặc Bình yên khác có lẽ cần được kiểm chứng bằng các số liệu thống kê khoa học, xem có đúng không. Đây chỉ là những kết quả ở cấp  gần đúng thấp nhất. Khi nâng cao cấp gần đúng và độ phân giải, lưu ý cả không thời gian sinh ra của từng người, ta có thể dự đoán đến chi tiết hằng tháng, hằng ngày... của từng cá thể riêng biệt. Nhiều điều bất ngờ dự đoán quy luật tương lai từng người trên cơ sở khoa học đang được chờ đợi.

Ai đó đã nói rằng, bí ẩn của tương lai chính là động lực huyền diệu của tình yêu cuộc sống. Nhưng nếu biết được hết tương lai rồi thì… còn gì hấp dẫn để sống tiếp nữa! Vậy mà tại sao con người cứ tìm cách giải đoán tương lai?
-------------
Tài liệu tham khảo
1-Der Koran (Kinh Qu’ran), Wilhelm Heyne Verlag GmbH, Munchen 1992
2- Phan Bội Châu: Chu Dịch, NXB Văn Hóa Thông tin 1996
3-Stephen Wolfram, A new kind of Science: NKS | ON LINE, 2007
4-http://tiasang.com.vn/Default. aspx?tabid=111&News=1039&CategoryID=32
5-http://scienceworld.wolfram.com/astronomy/
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Biệt đội cá heo Ukraina quay về chủ cũ


Cho đến nay, các căn cứ quân sự của Ukraina ở bán đảo Crimea đã hoàn toàn nằm trong sự kiểm soát của quân đội Nga. Trên 50 tàu chiến của Ukraina đóng trong quân cảng Sevastopol, kể cả chiếc tàu ngầm duy nhất, đều đã treo cờ Nga. Trong số các đơn vị được Hải quân Nga tiếp quản, có một đơn vị rất đặc biệt, đó là Biệt đội Cá heo hải quân. Theo Hãng tin RIA Novosti, việc tiếp quản đơn vị Biệt đội Cá heo diễn ra khá trơn tru, vì đàn cá heo đặc nhiệm đã được huấn luyện và “tình nguyện” ngả về phía quân đội Nga.
Cá heo đặc nhiệm Nga.
Các tư liệu cũ ghi nhận, Biệt đội Cá heo Ukraina vốn dĩ là đơn vị đặc nhiệm cá heo duy nhất của quân đội Liên Xô, được hình thành và bắt đầu huấn luyện, chiến đấu từ đầu những năm 60 thế kỷ trước, chỉ ít lâu sau khi Mỹ thành lập đơn vị biệt kích cá heo đầu tiên.

Chương trình huấn luyện cá heo của Liên Xô được giữ bí mật, một phần là để tránh bị tình báo đối phương do thám, mặt khác cũng là để bảo đảm hoạt động huấn luyện được duy trì ổn định, ngăn chặn tình trạng rò rỉ thông tin về kỹ thuật huấn luyện ra bên ngoài. Biệt đội cá heo được chính thức huấn luyện ở thành phố Sevastopol (Crimea, Ukraina bấy giờ thuộc Liên bang Xôviết).

Theo các tài liệu lưu trữ đã hết hạn bảo mật, lực lượng động vật biển của Liên Xô (ngoài cá heo còn có hải cẩu, sư tử biển, cá voi Beluga) được huấn luyện để đảm nhiệm một số công việc tình báo dưới nước mà việc sử dụng con người tỏ ra tốn kém và hiệu quả không cao. Các nhiệm vụ được huấn luyện bao gồm dò tìm bom mìn thất lạc dưới nước, xác định vật lạ dưới nước và đánh dấu bằng dây neo phao.

Ngày nay, việc xác định vị trí vật lạ dưới nước của cá heo không còn cần dùng dây neo phao nữa mà đã được các chuyên gia Nga đảm bảo bằng một thiết bị điện tử có thể tiếp nhận và phân tích sóng siêu âm đặc thù của cá heo, thể hiện lên màn hình máy vi tính để theo dõi.

Ngoài các nhiệm vụ trên, cá heo còn một nhiệm vụ quan trọng nữa là "bắt giữ" đặc nhiệm người nhái của đối phương mang lên khỏi mặt nước để xử lý, hoặc trong tình huống nguy hiểm, cận chiến có thể thủ tiêu luôn dưới nước. Để thực hiện nhiệm vụ sát thương này, cá heo được lắp vũ khí là dao găm hoặc dao sắc trên chiếc vây lưng hoặc ở mõm. Một số trường hợp cá heo còn được trang bị súng bắn dưới nước được gắn chặt vào mõm để tấn công mục tiêu khi bị đe dọa.

Ngoài ra, trong tình huống chiến tranh khẩn cấp, khi có nhu cầu sử dụng lực lượng đánh bom ngầm dưới nước để phá hủy hạm đội, tàu chiến của đối phương, mà việc sử dụng người nhái tỏ ra nguy hiểm và kém hiệu quả, thì cá heo sẽ là các "cảm tử quân" mang bom được kích nổ sẵn bơi với tốc độ cao lao vào tấn công tàu chiến, hạm đội của đối phương. Do ưu điểm cá heo là loài động vật dưới biển, có tốc độ di chuyển cực nhanh và thường ít bị các phương tiện dò tìm của đối phương chú ý nên rất dễ dàng thực hiện nhiệm vụ tấn công kamikaze kiểu này.

Tuy nhiên, việc sử dụng cá heo cho chiến thuật kamikaze rất hạn chế, và thực tế Liên Xô và Mỹ cũng chưa từng sử dụng bao giờ, vì đây là chiến thuật tiêu hao lực lượng "cảm tử quân" rất nhiều, gây khó khăn cho công tác huấn luyện, duy trì lực lượng cá heo.



Sau khi Liên Xô tan rã, Ukraina tiếp quản trung tâm huấn luyện cá heo ở Sevastopol, Crimea và có một phần hoạt động dành cho mục tiêu dân sự.

Sau khi Liên Xô sụp đổ, Ukraina tiếp nhận đội quân cá heo này và huấn luyện chúng phục vụ các mục tiêu dân sự như giúp trẻ khuyết tật phục hồi chức năng vận động.

Mục đích quân sự được tái thiết lập vào năm 2011. Tuy nhiên, do sử dụng mô hình, thiết bị huấn luyện đã lỗi thời và sau khi Hải quân Ukraina cắt giảm ngân sách, một số chương trình nâng cao phải thu hẹp rồi xóa sổ hoàn toàn. Trong suốt hơn 20 năm qua, các chuyên gia huấn luyện cá heo ở Sevastopol đã sử dụng công nghệ chuyển đổi sóng siêu âm có thể thấy rõ trên màn hình hệ thống điều khiển khi cá heo phát ra tiếng kêu.

Một nhân viên huấn luyện giấu tên cho biết: "Các nhân viên kỹ thuật thiết kế bể cá đang phát triển thiết bị mới dành cho các ứng dụng mới để đẩy mạnh hiệu quả hoạt động dưới nước của cá heo. Hiện đội quân cá heo được trang bị thiết bị cực kỳ lạc hậu. Vì vậy, mặc dù cá heo thể hiện "trí thông minh đặc biệt," nhưng đôi khi chúng không tuân lệnh chỉ huy Ukraina.

Hải quân Nga vẫn tiếp tục huấn luyện cá heo cho mục tiêu quân sự.

Tờ RIA Novosti (Nga) tin rằng, khi tiếp nhận biệt đội đặc biệt này, Hải quân Nga sẽ hỗ trợ chương trình huấn luyện dành cho mục đích quân sự bao gồm cả huấn luyện sư tử biển. Thực tế, vào tháng trước, Ukraina tuyên bố sẽ ngưng huấn luyện hải quân với cá heo và hải cẩu, "đội quân động vật có vú" dưới nước bị "thất nghiệp" .

Vì cá heo cũng chỉ là một loài động vật có vú, cho nên đôi khi cũng xảy ra những "sự cố" rất là tự nhiên. Chẳng hạn như một sự cố xảy ra hồi tháng 12-2013, với việc 3 "chiến sĩ" cá heo đực "đào ngũ" bơi ra biển khơi để… theo cái. Vụ việc được báo chí Nga đưa tin.

Yuri Plyachenko, một cựu chỉ huy huấn luyện cá heo thời Xôviết bật cười khi kể rằng những chuyện "đào ngũ" kiểu này vẫn hay xảy ra dưới thời Xôviết. Ông này giải thích, khi một con cá heo đực phát hiện "đối tượng" là một con cá heo cái ngoài thiên nhiên trong mùa giao phối, nó sẽ tự động bơi theo con cá heo cái đó để bắt cặp và giao phối. Và thường thì sau khi hưởng "tuần trăng mật" xong thì khoảng 2 - 3 ngày sau là chúng quay trở về.

Trong lịch sử quân sự thế giới chỉ có 2 quốc gia là Mỹ và Liên Xô (sau này là Nga) duy trì đơn vị đặc nhiệm cá heo. Ngoài cá heo, Mỹ và Liên Xô còn huấn luyện hải cẩu, sư tử biển. Tuy nhiên, giới chuyên gia quân sự tin rằng sang thế kỷ XXI, trên thế giới không chỉ có Nga, Mỹ sở hữu cá heo hải quân mà cho rằng các loài động vật tinh nhuệ này đã được xuất khẩu cho Iran.

Một nhân chứng quan trọng là ông Boris Zhurid, người từng tham gia chương trình huấn luyện cá heo ở căn cứ Sevastopol (Crimea) cho biết, đơn vị của ông (khi đó thuộc Ukraina quản lý) đã bán 27 "chiến sĩ" gồm cá heo, hải cẩu, sư tử biển và cá voi Beluga cho Iran vào năm 2000, lý do là vì quân đội Ukraina không có đủ nguồn kinh phí để nuôi dưỡng, huấn luyện chúng, thức ăn và thuốc men đều không được cung cấp đủ.

Cho đến nay, giới chuyên gia vẫn chưa thể xác định được Iran có còn duy trì biệt đội động vật biển được chuyển giao như ông Zhurid vừa nói hay không, vì người ta không tin việc duy trì một đơn vị đặc nhiệm động vật là việc khả thi đối với nước Cộng hòa Hồi giáo Iran

Quốc Vương - Khôi Nguyên (tổng hợp
http://antg.cand.com.vn/vi-vn/hosomat/2014/4/82902.cand


Phần nhận xét hiển thị trên trang