Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Hai, 14 tháng 4, 2014

HỮU LOAN


(NCTG) “Thế nhưng, với tôi, Hữu Loan lại đọng lại qua một câu thơ thê lương, đầy ám ảnh và có cái gì ma mị: “Chiếc bình hoa ngày cưới - thành bình hương - tàn lạnh vây quanh...”.

“Chiếc bình hoa ngày cưới - thành bình hương - tàn lạnh vây quanh...” - Ảnh: Văn Khoa
 

1. “Chúng tôi biết có nhiều doanh nghiệp trong và ngoài nước đầu tư những khoản tiền lớn cho người mẫu, hoa hậu hay các cầu thủ siêu sao. Là doanh nghiệp 100% Việt Nam, Vitek có những cảm nhận về văn hóa Việt Nam mà các đồng nghiệp người nước ngoài (và cũng là đối thủ cạnh tranh) không dễ dàng có được.

Vitek muốn chọn một tác phẩm nghệ thuật Việt Nam với niềm tin là sự vĩnh cửu của văn hóa sẽ bền vững hơn sự mong manh của nhan sắc mỹ nhân. Sự khéo léo và tài hoa của đôi chân một cầu thủ siêu sao sẽ rất nhỏ bé nếu đem so sánh với sự kỳ vĩ của một thi phẩm vượt thời gian!
”.

Đấy là lời anh Văn Khoa - Lê Văn Chính cách đây gần sáu năm, khi Vitek VTB của anh làm nên một điều thần kỳ nho nhỏ ở Việt Nam: mua bản quyền “Màu tím hoa sim” với “giá khủng” 100 triệu VND.

Bữa ấy, anh Chính nhắn tôi, anh sẽ dành cho tôi một bất ngờ thú vị, trước cuộc họp báo về một sự kiện ở Việt Nam. Cho đến lúc đó, tôi vẫn biết đến anh như một doanh nhân giàu tính nghệ sĩ, có lòng nhân hậu và lãng mạn hiếm có, nhưng tôi hoàn toàn không đoán nổi điều bất ngờ của anh...

Cho đến khi, đúng giờ anh hẹn, tôi online và nhận được tấm ảnh anh gửi, khiến tôi ngạc nhiên vô cùng: Hữu Loan và “chiếc bình hoa ngày cưới”...

Nhờ sự ưu ái của anh, trong vòng một giờ, NCTG đã có được bản tin rất sớm - có lẽ sớm nhất trong các báo Việt ngữ - về câu chuyện “PR bằng văn hóa phẩm” của Văn Khoa, như sau này anh có thuật lại chi tiết trongmột bài viết.

2. Một tuần sau đó, tôi nhận được “đơn đặt hàng” của cộng đồng: viết một bài gì đó nhân kỷ niệm 60 năm thành lập QĐND Việt Nam.

Vốn rất tệ trong khoản viết “nhân dịp”, nhất là trong một đề tài có vẻ cứng nhắc, mang tính “chính thống” và không khỏi phải “hô hoán” thế này, tôi hoảng. Nhưng rồi, chợt nhớ vụ mua bản quyền của anh Văn Khoa, tôi chợt nghĩ, và cố lái câu chuyện Hữu Loan và “Máu tím hoa sim” theo hướng đó.

Và, biết là bài viết sẽ được/bị “soi” kỹ và có thể bị quy chụp, tôi vẫn không thể không nhắc tới một câu về Hữu Loan thời sau 1954, dù chỉ rất “tế nhị”: “Sau khi hòa bình lập lại, Hữu Loan bỏ thị thành về quê làm ruộng và không sáng tác nhiều. Trả lời báo chí, ông thẳng thắn: “Tôi là người hay cãi, thích chống đối, không thể làm những gì trái với suy nghĩ của tôi”.

Bài viết khi in ra, có người dí dỏm nhận xét: “Đểu! Đọc thế này, ai không biết dễ tò mò xem lý do Hữu Loan bỏ về quê làm ruộng lắm!”.

3. Trong hồi ký “Thời cách mạng - kháng chiến”, Phạm Duy có kể về quãng thời gian khi ông cùng Hữu Loan tham gia đoàn văn nghệ kháng chiến, dưới trướng “Lưỡng quốc tướng quân” Nguyễn Sơn:

Trong năm 1948, tôi đang ở Thanh Hóa, nằm trong Chiến khu Bốn của tướng Nguyễn Sơn. Nhờ ông tướng rất yêu văn nghệ này khuyến khích, tôi xung phong đi bộ vào Bình Trị Thiên...

... Sau nhiều ngày gian nan, vất vả và nguy hiểm, tôi tới địa phận Quảng Bình. Trước cảnh đau thương của chiến tranh và “nghe” được tiếng lòng của nhân dân, tôi soạn ngay tại đây một bài hát nhan đề “Bao giờ anh lấy được đồn Tây”:
Chiều qua, tôi đi qua vùng chiếm đóng 
Không bóng trâu cầy bên đồng 
Vắng tiếng heo gà trên sân. 
Chiều qua gánh nước cho Vệ quốc quân 
Nghe tiếng o nghèo kể rằng: 
Quân thù về đây đốt làng... 

Tuy đã đi kháng chiến từ 1945, đây là lần đầu tiên tôi thấy được sự thống khổ của người dân trong vùng bị Pháp chiếm. Tôi biết được rằng phụ nữ ở đây bị hãm hiếp 200 phần trăm, nghĩa là gia đình nào cũng có mẹ, có chị, có em gái bị làm nhục, mỗi người tối thiểu cũng bị hiếp hai lần. Do đó, người dân ở đây ai cũng mong chờ Vệ quốc quân về đánh đồn:
Bao giờ anh lấy được đồn Tây, hỡi anh? 
Để cho cô con gái không buồn vì chiến tranh. 

Sau này, khi tôi trở về Thanh Hóa và lên Việt Bắc, qua bài hát này, có nhiều người có nhiệm vụ lãnh đạo văn nghệ phê bình tôi là tiêu cực. Họ nói: “Dân chúng phải tự động đứng lên đánh đồn, đừng chờ Vệ quốc quân...”

Tôi buồn và nghĩ rằng có lẽ những người này chưa bao giờ nhìn thấy cảnh quê nghèo ở miền Trung trong chiến tranh, chưa có dịp nhìn thấy những ruộng khô có những ông già rách vai, cuốc đất bên đàn trẻ gầy và chỉ có người bừa thay trâu cầy... như tôi nhìn thấy vào năm 1948 này.

Hay là đã chưa có dịp nghe được tiếng o nghèo, miệng thì thở dài, đôi bàn tay khẳng khiu thì vỗ về trẻ thơ bùi ngùi trong những nửa đêm thanh vắng không một bóng trai...

Không một bóng trai, bởi vì bao nhiêu người trai ở trong làng đều đã bị giết chết cả rồi. Lấy đâu ra trai làng để đi đánh đồn Tây? Hở những người sẽ trở thành nhất tướng công thành vạn cốt khô? Nhờ ở chuyến đi công tác tại đây mà tôi thấy được bộ mặt khác của kháng chiến.

Trong vinh quang của chiến đấu có thống khổ của chiến tranh. Con người không phải lúc nào cũng chỉ ở trong hoàn cảnh hùng dũng mà nhiều khi còn bị đẩy vào những cảnh bi thương. Và không chỉ có tôi mới nhìn thấy sự kiện đó.

Ở ngay trong Khu IV lúc này, một cán bộ chính trị kiêm thi sĩ, với bút hiệu Hữu Loan, cũng nói tới nỗi bi thương của những đôi vợ chồng trẻ trong chiến tranh:
Nhà em ở dưới mái chè 
Chồng em chết trận em về quay tơ... 

Hữu Loan trông bề ngoài rất là oai, nhất là khi anh cưỡi ngựa đi công tác trong khu IV này. Đầu húi cua, tiếng nói lớn, và khi ngủ thì ngáy như sấm, vậy mà khi làm thơ thì toàn là thơ buồn. Anh còn có một bài thơ rất nổi danh sau này là bài “Màu tím hoa sim” mà nhiều người đã phổ nhạc, trong đó có tôi:
Nhưng không chết người trai khói lửa 
Mà chết người gái nhỏ hậu phương... 
... 
Áo anh sứt chỉ đường tà 
Vợ anh chết sớm, mẹ già chưa khâu... 

Tôi không nghĩ rằng văn nghệ sĩ đi theo kháng chiến là phải viết ra những bài uống máu quân thù, ăn thịt giặc không tanh... hay là phải xây dựng những con người Việt Nam bằng sắt bằng đá. Người nghệ sĩ còn phải nói lên tiếng nói con tim của những người đang hy sinh hạnh phúc cá nhân và hạnh phúc gia đình để đi chiến đấu
”.

Có lẽ vì suy nghĩ ấy mà bản phổ nhạc của Phạm Duy “Áo anh sứt chỉ đường tà” - khai thác khía cạnh bi hùng của câu chuyện - để lại cảm xúc rất mạnh trong tôi, hơn hẳn những “Chuyện hoa sim” (Anh Bằng) hay “Những đồi hoa sim” (Dzũng Chinh), đơn thuần là “nhạc vàng”.

Cho dù, dường như trong một bài báo, chính Hữu Loan lại cho rằng bản của Dzũng Chinh mới là hợp với tâm trạng ông hơn cả.

4. Dăm năm nay, có khá nhiều tư liệu về Hữu Loan đã được công bố và đăng tải. Phóng viên Hồng Nga (BBC) và một số đài khác cũng làm được những cuộc phỏng vấn rất cảm động và giá trị với ông. Nhưng để hiểu cái ngang tàng và cuộc đời đầy bất trắc của Hữu Loan, có lẽ chỉ cần đọc một bài: “Tự phỏng vấn”, do ông viết từ thời “cởi trói” năm 1988.

Trong “Tự phỏng vấn”, Hữu Loan có nhắc đến Nguyễn Hữu Đang, con người “Thê tử không màng, dựng một Kỳ đài cho thế kỷ! - Nhân văn là thế, khơi ngàn Ước vọng để mai sau!” (Hà Sỹ Phu). Không phải ngẫu nhiên: phong trào Nhân văn Giai phẩm có nhiều “kiện tướng”, “đá hay mọi nhẽ”, nhưng có lẽ về tư cách và khí phách, không ai hơn nổi hai ông...

Thế nhưng, với tôi, Hữu Loan lại đọng lại qua một câu thơ thê lương, đầy ám ảnh và có cái gì ma mị: “Chiếc bình hoa ngày cưới - thành bình hương - tàn lạnh vây quanh...”.

Tôi đã nhớ đến câu thơ ấy, chiều nay, khoảng 5 giờ bên này, khi nhận được tin anh Văn Khoa báo về sự ra đi của Hữu Loan...

(*) Tham khảo phỏng vấn nhanh Phạm Duy ở đây. 
Nguyễn Hoàng Linh



Phần nhận xét hiển thị trên trang

Vladimir Putin: STALIN KHÔNG TỆ HƠN CROMWELL

 Nhịp Cầu Thế Giới Online]
(NCTG) Trong một phát biểu vào hạ tuần tháng 12 năm ngoái, Tổng thống Nga Vladimir Putin đã tìm cách “gỡ tội” cho nhà “độc tài đỏ” Stalin bằng cách cho rằng ông ta cũng chẳng khác gì một chính khách lớn của nước Anh thế kỷ 17, nhà quân sự Oliver Cromwell.
  

Từng là một “đứa con cưng” giữ cương vị không nhỏ của thể chế Xô-viết, Puitn đã không ít lần khiến công luận ngạc nhiên vì những phát biểu bất ngờ, ít nhiều vẫn theo hướng “hoài cổ”. Chẳng hạn, ông coi sự tan rã của Liên Xô năm 1991 là “thảm họa địa chính trị lớn nhất của thế kỷ 20”, và cho dù trước công chúng ông thường tránh phê phán hay khen ngợi Stalin, Putin đã “tái nhập” nhiều biểu tượng quen thuộc của “kỷ nguyên Xô-viết”. Nói về quá khứ, ông thường nhắc tới những thành tựu thời cộng sản, chứ không đặt trọng tâm và những tội ác của thể chế Stalinist.

Điều này cũng diễn ra trong một cuộc họp báo cuối tháng 12-2013, khi Tổng thống Liên bang Nga cho hay ông muốn tượng đài Stalin và các lãnh tụ cộng sản khác được khôi phục trở lại, hơn hai thập niên sau ngày bị phá bỏ. Trả lời câu hỏi của giới ký giả “ông muốn dựng tượng cho chính khách Xô-viết nào?”, Putin bất ngờ nói lảng sang một đề tài khác, và đưa ra một so sánh: Stalin cũng chả tệ gì Cromwell: “Các vị có thể nói được là Cromwell và Stalin thì khác gì nhau không? Chả khác gì! Trong con mắt những người theo chủ nghĩa tự do thì cả hai đều là những nhà độc tài khát máu”.

Sau đó, Tổng thống Nga lý luận: “Cromwell là kẻ rất tàn ác và có vai trò rất mập mờ trong lịch sử Anh. Nhưng tượng đài của hắn ta vẫn tại vị trước Nhà Quốc hội Anh và không ai có ý lật đổ cả...”.  (Nói thêm là pho tượng Cromwell được dựng năm 1899 và từ đó, nó luôn gây tranh cãi trong công luận và xã hội Anh). Rồi ông Putin khẳng định: điểm căn bản không phải là ở những biểu tượng, mà là việc phải tôn trọng mọi giai đoạn, thời kỳ lịch sử.

Nhìn lại lịch sử, Oliver Cromwell (1599-1658) là nhà lãnh đạo chính trị và quân sự, người đóng vai trò quan trọng trong việc thành lập nền cộng hòa (Commonwealth) ở Anh. Tuy nhiên, ông cũng là nhân vật gây rất nhiều tranh cãi trong lịch sử Anh: mặc dù được đưa vào Top 10 những người vĩ đại nhất nước Anh của mọi thời đại trong một bình chọn do BBC thực hiện năm 2002, ông vẫn bị coi như một kẻ độc tài, một người giết vua. Trong thời gian ông chấp chính, Cromwell bị coi là phải chịu trách nhiệm về cái chết của 22 ngàn người Thiên chúa giáo ở Ireland, 50.700 người theo chủ nghĩa bảo hoàng và 34.100 người theo phe nghị viện ở Anh.

Về Stalin, các nhà sử học cho rằng có lẽ sẽ không bao giờ chúng ta được biết con số chính xác các nạn nhân của ông ta, mà theo theo những ước tính thận trọng cũng phải lên tới tối thiểu là 15 triệu. Nhà sử học nổi tiếng người Anh Robert Conquest đưa ra con số 20 triệu, nhưng một số nhà nghiên cứu khác cho rằng phải 40 triệu. 
Trần Lê, theo mult-kor.hu

Phần nhận xét hiển thị trên trang

'Cảnh quan hùng vỹ nhất Việt Nam' đang được bê tông hóa


Nằm trong vùng lõi của Công viên địa chất toàn cầu cao nguyên đá Đồng Văn, hẻm Tu Sản quan sát từ đèo Mã Pì Lèng, là một trong những kỳ quan kỳ vỹ bậc nhất của Việt Nam.

Những ngày gần đây, giới đam mê du lịch ở Việt Nam tranh cãi khá nhiều về việc mỏm đá huyền thoại trên đèo Mã Pí Lèng ở Đồng Văn bị quây lại để xây "khán đài" bằng bê tông. Đây là điểm dừng chân ưa thích của dân phượt, nơi người ta có thể nhìn thấy khu vực hẻm Tu Sản với những bản làng thấp thoáng dưới chân núi đá. 


Với những dãy núi đá vôi cao ngất bao quanh những bản làng nơi đây, con đường Hạnh Phúc như một sợi chỉ xuyên qua cao nguyên đá.


Phía xa là những dãy núi đá trập trùng ngút tầm mắt...


Những con đường đèo dốc quanh co quanh mà chỉ ở hẻm Tu Sản mới có thể nhìn thấy.


Dòng sông Nho Quế chảy qua hẻm Tu Sản.


Hẻm sâu thẳm dưới núi đá tai mèo của cao nguyên.


Với những gì mà thiên nhiên tạo nên, hẻm Tu Sản đang trong quá trình nghiên cứu, đề nghị UNESCO công nhận là di sản thiên nhiên thế giới trong vài năm tới.


Khi hẻm núi được công nhận, nhiều người sẽ biết đến nơi này hơn là một công viên địa chất, khi ấy cuộc sống của bà con nơi đây sẽ bớt khó khăn hơn nhờ vào du lịch.


Hẻm Tu Sản còn là nơi thu hút khách du lịch trong và ngoài nước đến thưởng ngoạn và ghi lại cho mình những khoảnh khắc đẹp nhất mà hiếm nơi nào có được.


Tuy nhiên, những năm gần đây việc khai thác đá trái phép đang làm mất đi vẻ đẹp thiên tạo nơi đây.

Phóng to
Tác động của con người nếu ứng xử với thiên nhiên không phù hợp sẽ phá vỡ cảnh quan hẻm Tu Sản.
Theo Lao Động


Phần nhận xét hiển thị trên trang

9 điều quái lạ từ thời đại của smartphone




1. Thời đại gì mà bạn bè ngã thì người ta cười mà còn điện thoại rơi thì người ta khóc!?

2. Thời đại gì mà sóng có mặt ở khắp mọi nơi nhưng luôn luôn có câu thanh minh: Điện thoại mất sóng, anh gửi rồi mà tin nhắn không đi!?

3. Thời đại gì mà thay vì bốc phét về kích thước "cậu nhỏ" và thời gian chiến đấu, anh em bốc phét về kích thước màn hình và thời gian của pin!?

4. Thời đại gì mà người ta có thể tự tin làm đủ trò trên màn hình điện thoại trừ việc nhìn thẳng vào mắt người khác!?

5. Thời đại gì mà chụp ảnh trong nhà xí trở thành trào lưu không thể chống lại và được đẩy lên thành một môn nghệ thuật-thể thao-văn hóa!?

6. Thời đại gì mà hẹn hò lần đầu bạn muốn sờ vào đâu cũng được, miễn là không sờ vào điện thoại của nhau!?

7. Thời đại gì mà ai nấy đều cô đơn và khát khao tìm nửa kia hấp dẫn hay ho ngực to bụng sáu múi của mình, nhưng rồi họ lại lỡ bước qua nhau như phim Hàn Quốc chỉ vì mải nhìn chằm chằm vào màn hình điện thoại!?

8. Thời đại gì mà lũ trẻ quan hệ tình dục thì không cần bảo vệ nhưng điện thoại lại nhất định phải có lớp chống trầy!?

9. Thời đại gì mà khi điện thoại bị đánh mất, đánh vỡ, chúng ta lo lắng dằn vặt, còn khi những thứ bé nhỏ vớ vẩn hơn bị mất, bị vỡ, chúng ta quá lười để cúi xuống nhặt lên, ví dụ một cục tẩy, một cái bút và nhiều lúc là một mối quan hệ, hay thậm chí một ước mơ!?

/Sống News sưu tầm/

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Ngồi tựa song đào - Ca nương Kiều Anh

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Khi Phẹt phọt thơ: ( cà lơ đek chịu được è he! )

HỘI LÀNG




Đầu xuân đá tý thơ cho đỡ nhọ mõm. Thực chất là văn xuôi xuống dòng. Hehe...

Thêm tí mú - díc nài : http://www.youtube.com/watch?v=cLDr0Xzm6ys. http://www.nhaccuatui.com/bai-hat/dao-lieu-the-young-lady-quoc-trung.tep1sfBGbt.html

Làng tôi lâu rồi không có hội
Trai đinh tứ tán tám phương
Gái gian díu theo phường đi mất nết
Đình chùa thánh phật liêu xiêu.

Làng tôi lâu rồi không có hội
Điệu hò đi cấy buông xuôi
Giăng vẫn sáng nhưng sen thì chết hết
Gầu sòng tát cạn cả tình nhân.

Làng tôi lâu rồi không có hội
Yếm đào tơi tả giậu thưa
Mắt lúng liếng nhìn tơ hồng vương vãi
Trông ngóng người về xa xăm.

Làng tôi lâu rồi không có hội
Trống đình bục cả đai hường
Bô lão đêm về hay dạ cổ
Vàng son khóc nỗi hoài lang.

Làng tôi lâu rồi không có hội
Chuông chùa đánh tiếng than van
Người ở đâu kéo về như kiến cỏ
Phật buồn đời đổ bóng xuống lòng sông.

Làng tôi lâu rồi không có hội
Để tôi về tìm tôi
Tìm lại bà răng hạt na bỏm bẻm
Tìm em mũi dãi sụt sùi?

Làng tôi lâu rồi không có hội
Tôi đi hoang suốt cả tháng năm dài
Nụ hồng biếc tay không thèm hái
Biết để tặng ai?

Làng tôi lâu rồi không có hội
Tôi cũng không còn là tôi
Còn mỗi chút tình nhung nhớ
Nhưng làng tôi không có hội đã lâu rồi.

Làng tôi lâu rồi không có hội!


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Qua sông trong một ngày có hoa gạo nở

 ( bài của anh Cựu ) facebok
Hết mưa lại qua sông, mấy nay hết rét rồi, chỉ mặc một áo cộc, đã có nắng, trên những cây gạo hoa vẫn còn đỏ cành chưa rụng hết. Đứng chờ đò từ Năm Mẫu sang An Cảnh gặp những người bên kia sông sang bên này bán mít, lạ lùng mà nghĩ rằng:
- Đi mãi đò này, mọi hôm toàn thấy những người buôn ngan,gà vịt,nay mới gặp những người bán mít rong sang sông?
kinh tế ảm đạm, sông vắng người vắng.
Sang Tứ Dân rồi chạy xuống Nhuế Dương lúc về qua sông ở bến đò Vườn Chuối
Bến đò Vườn Chuối dời xuống phía hạ lưu mấy trăm m từ trước tết. Lên đò nhìn về phía bến cũ nơi có cái đình cũ với bức bình phong, ở đó có hai cây gạo đang đỏ hoa,gần đấy có một con tàu hút cát dạt vào bờ kè mới xây đá, nhìn xuống phía hạ lưu cũng thấy mấy con tàu hút cát nằm im lìm ( Báo họ đăng giờ người ta cấm hút cát thổ phỉ)
Lên đò sang bên kia, đi trên con đường đê vắng người, nhớ lại những gương mặt người bán mít rong trên con đò vắng.
Sáng nay đài bảo:
- Hiện tại có trên bẩy vạn cử nhân ra trường không có việc làm, đài họ bảo bây giờ thừa thầy thiếu thợ.
Nghĩ cũng buồn:
- Chẳng nhẽ bây giờ? Những đứa cử nhân mới tốt nghiệp, để tự sống, cũng bắt đầu lập nghiệp bằng một cái xe máy chở mấy quả mít sang bên kia sông,đứng ven đường bán, như những người đã gặp trên đò lúc ban sáng chăng?

Vậy có thơ rằng:
Bây giờ đã đến tháng ba
Hoa gạo rụng xuống
không tra hạt vừng
Cử nhân hết gạo chạy rông
lặc lè xe mít qua sông.. vắng đò
Sa tặc cấm, bãi nằm co
Bác Cựu tức khí chộp pô ảnh này..
Cảnh thì đẹp
người chẳng vui
lặng lờ nước chảy
ngậm ngùi khúc sông..

Phần nhận xét hiển thị trên trang