Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Chủ Nhật, 13 tháng 4, 2014

Tin tốt:

Tàu ngầm "made in Việt Nam": Sơn đen, gắn quốc kỳ sắp ra biển lớn
Chủ nhân của tàu ngầm tự chế Trường Sa 1 cho biết, ông cùng các kỹ sư mất 2 ngày để phủ lớp sơn đen bóng lên tàu ngầm Trường Sa. Nếu được cấp phép, ông sẽ cho tàu ngầm thử nghiệm ở vùng biển Tiền Hải, tỉnh Thái Bình.Trao đổi với phóng viên ngày 7/4, ông Nguyễn Quốc Hòa, chủ nhân của tàu ngầm tự chế Trường Sa 1 cho hay, sau lần chạy thử nghiệm tàu ngầm ở khu hồ rộng khoảng 3ha thành công ông đã nhận được nhiều lời khen ngợi từ người dân. Hiện tại ông đã hoàn tất hồ sơ và gửi lên UBND tỉnh xin cấp phép thử nghiệm tàu ngầm ở vùng biển.

“Nếu được sự đồng ý cơ quan chức năng tôi dự định sẽ đem tàu ngầm Trường Sa ra thử nghiệm ở vùng biển Tiền Hải, tỉnh Thái Bình. Vùng biển thử nghiệm có độ sâu khoảng 15 đến 20m”, ông Hòa chia sẻ.

Ông Hòa cho biết thêm, sau khi thử nghiệm trong hồ, ngày 5/4, tàu ngầm Trường Sa đã được “thay áo” bằng màu đen bóng, bên hông tàu có chữ Trường Sa 1 và ghi nơi sản xuất “chế tạo tại Thái Bình- Việt Nam”. Đế tàu ngầm được sơn màu đỏ. Đặc biệt, bên trên ca bin gần cửa ra vào còn có hình quốc kỳ được sơn màu đỏ thắm.

Tàu ngầm Trường Sa "made in Việt Nam" đã khoác thêm vỏ áo mới.

Trao đổi với phóng viên của báo Đất Việt. Doanh nhân Nguyễn Quốc Hòa phấn khởi chia sẻ về việc đã điều chỉnh lại tất cả những vấn đề kỹ thuật cần thiết cho con tàu, Đồng thời, lớp sơn chống rỉ màu nâu đỏ của tàu cũng đã được phủ lên bằng một lớp sơn đen bóng.

Chia sẻ về lớp sơn đen này, ông Hòa cho biết: “Lần thử nghiệm tới sẽ là lần ra khơi đầu tiên của con tàu, tôi muốn chuẩn bị những gì tươm tất nhất, đầy đủ nhất. Tàu phải được sơn vỏ, trang hoàng, phải có tên đầy đủ. Như vậy mới là một con tàu hoàn thiện.”

Vào những ngày thử nghiệm trước Tết Nguyên đán, ông Nguyễn Quốc Hòa đã từng chia sẻ về những dự định của mình về màu sơn của con tàu. Ông cho biết mong muốn tàu được sơn đen, dòng chữ tên tàu được ghi ở tháp điều khiển và nơi sản xuất được ghi ở mạn tàu. Đặc biệt, tàu sẽ phải có hình ảnh của lá quốc kỳ.“Tàu Trường Sa có thể gắn theo một lá cờ thật khi bơi nổi, nhưng khi lặn, lá cờ đó sẽ gây nhiều cản trở, vì thế để hình ảnh lá cờ được sơn trên thân tàu là đẹp nhất. Và điều này cũng chứng tỏ, tàu do người Việt Nam sáng tạo, con tàu là của Việt Nam.” – Ông Hòa chia sẻ.

Trước đó, trong ngày thử nghiệm ngoài hồ nước tại khu công nghiệp Sông Trà (Thái Bình), tàu Trường Sa 01 cũng được gắn một lá cờ Tổ quốc trên tháp tàu. Người công nhân của công ty treo lá cờ này đã hồ hởi chia sẻ: “Treo quốc kỳ để biết tàu Trường Sa do người Việt Nam sáng tạo, để biết Trường Sa là của Việt Nam.”

Lùi thời gian về sâu hơn nữa, tháng 9/2013, trong chuyến làm việc với ông Nguyễn Quốc Hòa tại nơi sản xuất con tàu, ông Hòa đã chia sẻ về ý nghĩa của cái tên Trường Sa 01.

“Ban đầu khi biết thông tin nước ta phải mua 6 tàu ngầm Kilo của Nga với cái giá rất đắt, lúc đó trong đầu tôi nảy ra một suy nghĩ, tàu ngầm có gì ghê gớm mà nó lại đắt thế. Từ đó tôi ấp ủ làm một chiếc tàu ngầm “made in Việt Nam”, dù chỉ là mini nhưng đủ để thỏa mãn sự tò mò và đam mê của tôi.” – Ông Hòa bày tỏ.

“Nhưng sau khi càng nghiên cứu, tôi càng cảm thấy tính hợp lý và khả năng ứng dụng cao của con tàu. Vì thế tôi đã nghĩ đến những mục đích xa hơn ngoài sự đam mê của riêng mình. Nếu tàu của tôi có thể bơi ra Trường Sa và bơi về thì sao? Nếu những người ngư dân có thể sử dụng tàu này để phục vụ mục đích dân sinh thì sao? Nếu những nhà khoa học có thể dùng tàu này để nghiên cứu đáy biển, thềm lục địa thì sao?... Những câu hỏi đó càng làm tôi quyết tâm hơn.”



Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thứ Bảy, 12 tháng 4, 2014

Phần 2: Cuộc "tầm long" của Cao Biền


ĐĂNG BỞI  
Nếu cơ nghiệp nhà Lý mở đầu bởi vị hoàng đế xuất thân từ vùng địa linh Cổ Pháp (Lý Công Uẩn) thì đất phát vương của nhà Trần lại nằm cách đó khá xa, về phía Đông của thượng nguồn sông Phổ Đà.

Phần 1: Chuyện những vùng đất long mạch của vua chúa Việt 'phát' như thế nào?
Một cuộc “tầm long”
Mãi đến đầu thế kỷ 18, sau gần 900 năm xảy ra sự kiện Cao Biền trấn yểm long mạch nước ta, một tài liệu của Trung Quốc với tựa đề Cao Biền di cảo (cùng một số cuốn khác trước kia như An Nam cửu long kinh chẳng hạn), nhắc việc Cao Biền sau khi đem 5.000 quân vượt biển tiến về hướng Nam năm 865 (được chi viện thêm 7.000 quân nữa vào năm sau 866) đã đánh  chiếm nước ta và lập bàn đồng giữa trời, dùng thuật phong thủy lẫn những phương pháp thần bí để “tầm long” ráo riết.
Vậy “tầm long” là gì? Tầm long là phép tìm kiếm long mạch ngoài đất trống, như cụ Tả Ao chỉ rõ: “Chẳng qua ra đến ngoài  đồng/ Tỏ mạch, tỏ nước, tỏ long mới tường” và được học giả Cao Trung qua hằng chục năm nghiên cứu sách địa lý của Tả Ao giải thích rõ đại ý dưới đây:
Long mạch là mạch đất bên trong có chứa khí mạch, giống như trong cành cây có chứa nhựa cây, nó có thể chạy qua  những dãy đồi núi cao, cũng có thể đi rất thấp, luồn qua sông qua suối, thậm chí qua biển, rồi đột ngột nhô lên với những thớ đất lắm khi uốn lượn sà sà trên mặt ruộng như hình con rồng đang cuộn mình vươn tới để ôm chầu vào một huyệt đất nào đó (gọi là long nhập thủ).
Nơi đó có thể hạ huyệt chôn cất, hoặc cải táng mồ mả cha ông để con cháu đời sau phát vương, phát tướng, phát trạng, phát tài lộc phú quý. Trước huyệt kết có đất  nổi  lên  cao  che  chắn (gọi là án), hoặc  có gò bao quanh kết hình ấn kiếm, ngựa voi, chiêng trống (gọi là sa).
 
“Tả Ao địa lý toàn thư” ghi rõ muốn tầm long cần phải biết: Thái tổ sơn của toàn thể các cuộc đất xuất phát từ dãy Himalaya, phải biết Minh đường là nơi nước tụ trước huyệt để nuôi khí lành, biết Thanh long là thớ đất bên trái huyệt và Bạch hổ là thớ đất bên phải huyệt, cả hai ôm chầu vào huyệt kết, biết về long sinh (mạch sống động như mãng xà vương đang phóng tới), long tử (mạch nằm ngay đơ như chiếc đũa tre), long cường (mạch nổi to như sóng lớn), long nhược (mạch lặng lờ như sóng nhỏ lăn tăn).
Những điều trên chắc hẳn Cao Biền đã ứng dụng trong cuộc “tầm long” trên toàn cõi nước ta để trấn yểm, nhưng đất phát vương của 12 đời vua Trần (chưa kể thêm đời hậu Trần) đã tồn tại vượt lên ý đồ của Cao Biền. Đó là vùng đất ở nguồn sông Phổ Đà, tức sông Luộc, nằm trên địa phận thôn Lưu Gia (thuộc huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình ngày nay).
Phát vương trên đất kết
Đến với vùng đất đó buổi sơ khai có 3 anh em nhà họ Lưu, gồm: Lưu Khánh Đàm, Lưu Ba, Lưu Lượng. Về sau, cả ba người đều làm quan, trong đó Lưu Khánh Đàm được vua Lý Nhân Tông trọng dụng (khi vua sắp mất vào tháng chạp năm Đinh Mùi 1127 đã cho gọi Đàm vào nhận di chiếu để cùng Lê Bá Ngọc đưa hoàng thái tử là Lý Thần Tông lên ngôi trước linh cữu). Tên tuổi của Lưu Khánh Đàm (và Lưu Ba) đều được Ngô Sĩ Liên nhắc đến trong “Đại Việt sử ký toàn thư”.
Đó là dòng họ thứ nhất tìm đến cư ngụ tại vùng đất phong thủy ở nguồn sông Luộc. Dòng họ thứ hai đến với đất phát vương là nhà họ Tô chuyên buôn tơ lụa, giàu có nhất nhì trong vùng. Nhưng cả hai họ Lưu và họ Tô cũng chỉ dừng lại ở mức quý tộc, cự phú, chứ không phát vương được. Mà phải đợi đến họ Trần xuất hiện thì “đất kết” mới ứng lên một dòng vương giả mới bắt đầu từ sự có mặt của một người đến từ hương Tức Mặc, xứ Hải Thanh, đó là Trần Hấp.
Trần Hấp sinh được 2 con trai là Trần Lý (lý là cá chép) và Trần Thiện. Trần Lý lớn lên kết hôn với Tô Thị Hiền 15 tuổi, thế là hai họ Trần và Tô kết sui gia và tạo thành thế lực mạnh nhất trong vùng. Trần Lý có người bạn họ Phùng rất giỏi về khoa địa lý, được dân chúng kính nể, thường gọi là “thầy Phùng”.
Ông là người biết rõ kiểu đất “hậu sinh phát đế” ở thôn Lưu Gia, mà tiến sĩ Đinh Công Vĩ đã ghi lại trong cuốn “Chuyện tình vua chúa hoàng tộc Việt Nam” khá thuyết phục như sau: “Ba mũi nhọn chồng lên nhau này là núi Tam Đảo với ba ngọn Phù Nghĩa, Thạch Bàn, Thiên Thị. Đấy là Tổ sơn, long mạch của nó chạy theo hướng Đông Bắc - Tây Nam, thấp dần rồi chìm qua sông Thiên Đức (tức sông Đuống), đến làng Hà Liễu của châu Đằng mới đột khởi nổi lên một ngọn núi khác.
Rồi từ đấy, long mạch lại chạy tiếp từ làng Nhật Cảo đến làng Thái Đường, kết lại ở gò Sao. Phía trước gò ấy có ba gò lớn là Tam thai, phía sau có bảy gò nhỏ là Thất tinh, xung quanh có đầm nước bao bọc, khi mặt trời soi tới thì mặt đầm sáng như gương phản chiếu, đối mặt với các cù lao nhỏ hình đẹp như những bông sen đang nở, đấy là một trong 27 kiểu đất hậu sinh phát đế”.
Khi phát hiện ra chỗ đất kết, thầy Phùng đã bàn với Trần Lý nên cải táng mộ ông bà của họ Trần về chôn ở đó. Vì sao thầy Phùng lại không thể dùng chỗ đất kết để chôn ông bà mình? Theo thầy và nhiều nhà phong thủy khác, người tìm ra long mạch và chỗ huyệt kết chưa hẳn là người có thể cải táng thân nhân của mình để con cháu phát vương được, vì cần phải ứng đúng mệnh số nữa.
Thầy Phùng biết họ Trần sắp phát và đã kể lại chi tiết bí mật liên quan đến câu chuyện phong thủy ở gò Sao cho con mình là Phùng Tá Chu (cũng là một nhân vật lịch sử) được biết: Vào ngày lập thu, mộ hiển thủy tổ khảo ở Tức Mặc và hiển thủy tổ tỷ ở Lưu Gia của dòng họ Trần đã dời chuyển đến gò Sao song táng, công việc hoàn tất đúng giờ chính Hợi.
Những người tham gia rà soát các vị trí và hình thể của long mạch lần cuối để đặt la bàn xác định nơi hạ huyệt cũng như hướng cải táng đều là người họ Trần. Chỉ duy nhất có thầy Phùng biết chuyện. Xong việc, bên trên mộ được san phẳng y như cũ để không lộ ra dấu vết.
Sau cuộc lễ chưa lâu, vào giữa một đêm rằm sáng trăng, thái tử Sảm (tức vua Lý Huệ Tông sau này) từ Thăng Long chạy loạn đến vùng Lưu Gia đã tình cờ trông thấy và nhanh chóng say mê cô con gái xinh đẹp của Trần Lý là Trần Thị Dung, lúc ấy mới 15 tuổi (là chị em chú bác ruột với Trần Thủ Độ), rồi cưới Dung. Đây là sự kiện mở đầu cho một loạt biến cố tiếp đó để vương quyền nhà Lý chuyển sang tay nhà Trần.
Theo Hôn Nhân & Pháp Luật

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Chuyện những vùng đất long mạch của vua chúa Việt 'phát' như thế nào? (P.1)


ĐĂNG BỞI  - 
Phép phong thủy phân biệt hình thế của đất làm năm loại: kim, mộc, thủy, hỏa, thổ. Tùy theo thế đất và hình dáng của cuộc đất (giống con vật gì) để theo đó đặt tên, tiên đoán lành dữ cho những ai sử dụng cuộc đất ấy, như: lục long tranh châu, phượng hoàng ẩm thủy, hổ trục quần dương, hoặc quần tiên hội ẩm (được xem là những cuộc đất quý).

>> Chuyện những vùng đất long mạch của vua chúa Việt 'phát' như thế nào? (P.2)
Thực hư Cao Biền trấn yểm thành Đại La
Theo tư liệu lịch sử và phong thủy, Cao Biền khi sang xâm lấn nước ta đã tiến chiếm thành Đại La và cho đắp lớn thành này cao đến 2 trượng 6 thước, chu vi hơn 1982 trượng, trên thành xây 55 vọng gác, với nhiều điểm phòng vệ quân sự. Để làm rào chắn cho thành Đại La, Cao Biền đã tập trung các hộ ở vây quanh với bốn vạn căn nhà. Là người giỏi về thuật phong thủy, xem địa lý, đoán cát hung, nên Cao Biền đã dò xét rất kỹ vị trí để xây thành Đại La (mà sau này vua Lý Thái Tổ khi dời đô về Thăng Long đã cho xây mới lại) và dò tìm đầu mối long mạch nước ta.
Nhắc đến vua Lý Thái Tổ (tức Lý Công Uẩn), nhắc đến thành Đại La và kinh đô Thăng Long, vì đều liên quan đến việc Cao Biền sử dụng những thuật lạ của phong thủy để trấn yểm và tiêu hủy khí tượng đế vương ở nước ta thời ấy theo lệnh của vua Đường Ý tông (860 – 873). Tài liệu ghi, khi Đường Ý tông quyết định cử Cao Biền sang nước ta, đã ngầm bảo: “Trẫm nghe An Nam có nhiều ngôi đất thiên tử, ngươi tinh thâm về địa lý, nên hết sức yểm đi và vẽ hình thế đất ấy đem về cho trẫm xem”.
Vâng lời vua Đường, Cao Biền đến nước ta bỏ công đi khắp nơi, xem xét núi non, rừng biển, sông hồ, chỗ nào địa thế tốt, có khí địa linh, thì đều yểm cả. Riêng núi Tản Viên là Cao Biền không dám đụng tới vì cho rằng đó là chỗ thiêng liêng của chư thần thường ngự, không thể yểm được.
Trong những nơi mà Biền nhắm đến có một điểm khá quan trọng, đó là làng Cổ Pháp – nơi sẽ sinh ra bậc đế vương của trời Nam. Vì thế, sau nhiều ngày chú tâm xem xét về cuộc đất toàn vùng, Cao Biền cùng các thầy pháp và thầy địa lý của Trung Quốc đã ra tay “cắt đứt long mạch” bằng cách đục đứt sông Điềm và 19 điểm ở Phù Chấn để yểm.
 
La Quý nối chỗ đứt long mạch
Nhưng mưu thâm độc của vua Đường và Cao Biền trong việc phá hủy thế phong thủy và làm tan khí tượng đế vương ở nước ta đã bị một thiền sư thời ấy là ngài La Quý phá tan.
Ngài La Quý là trưởng lão tu ở chùa Song Lâm, thuở nhỏ du phương tham vấn khắp nơi, sau đến gặp pháp hội của thiền sư Thông Thiện liền khai ngộ. Khi đắc pháp, ngài La Quý tùy phương diễn hóa, nói ra lời nào đều là lời sấm truyền. Ngài rất thông tuệ, nhìn xuyên sông núi, biết rõ nguồn gốc phong thủy, biết quá khứ và tiên đoán được tương lai.
 Trước khi mất, vào năm 85 tuổi (năm 936), ngài gọi đệ tử truyền pháp là Thiền Ông đến căn dặn: “Ngày trước, Cao Biền đã xây thành bên sông Tô Lịch, dùng phép phong thủy, biết vùng đất Cổ Pháp của ta có khí tượng đế vương, nên đã nhẫn tâm đào đứt sông Điềm và khuấy động 19 chỗ trấn yểm ở Phù Chẩn. Nay ta đã chủ trì lắp lại những chỗ bị đào đứt được lành lặn như xưa".
"Trước khi ta mất, ta có trồng tại chùa Châu Minh một cây bông gạo. Cây bông gạo này không phải là cây bông gạo bình thường, mà là vật để trấn an và nối liền những chỗ đứt trong long mạch, mục đích để đời sau sẽ có một vị hoàng đế ra đời và vị này sẽ phò dựng chính pháp của chư Phật”.
Vị hoàng đế mà ngài La Quý báo trước là Lý Công Uẩn. Lý Công Uẩn mồ côi từ nhỏ, được sư Khánh Vân đem về chùa nuôi, lớn lên Lý Công Uẩn được thiền sư Vạn Hạnh nuôi dạy và sau này lên ngôi tức vua Lý Thái Tổ, mở ra thời đại hộ pháp hưng thịnh trong lịch sử Việt Nam... Như vậy, thuật phong thủy với khí tượng đế vương của các vùng đất đã liên quan nhiều đến lịch sử Việt Nam từ xa xưa.
Đến đời Lê, có ngài Nguyễn Đức Huyên sinh tại làng Tả Ao, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tỉnh, là người lặn lội học khoa địa lý phong thủy tận nơi khai sáng của khoa này trên đất Trung Hoa và cũng là người Việt Nam đầu tiên viết sách địa lý lưu truyền đến nay. Ngài là danh nhân có tên gọi quen thuộc không những trong dân gian mà cả giới nghiên cứu nữa: Tả Ao.
Tả Ao đã phân tích, nêu rõ hình các cuộc đất kim, mộc, thủy, hỏa, thổ, cũng như việc tìm long mạch ra sao. Xin nêu ra đây đoạn nhỏ trong sách “Tả Ao địa lý toàn thư” do Cao Trung biên dịch, đại ý nêu hai mạch: Mạch dương cơ và Mạch âm phần. Mạch dương cơ nếu nhỏ thì dùng làm nhà, nếu lớn hơn làm doanh trại, hoặc rộng và tốt có thể dùng làm thị trấn, xây kinh đô. Còn Mạch âm phần dùng chôn cất.
 
Đại cương là vậy, về chi tiết còn có nhiều loại mạch khác, như Mạch mã tích tức mạch chạy như vết chân ngựa, lúc cạn lúc sâu; Mạch hạc tất tức mạch ở giữa nhỏ, hai đầu to ra dần, như gối của con hạc; Mạch phong yếu tức mạch nhỏ nhắn, phình ra to dần như lưng con ong; Mạch qua đằng tức mạch không chạy thẳng mà ngoằn ngoèo như các thân cây bí cây bầu, có khả năng kết được bên trái hoặc bên phải đường đi của mạch nên được xem là loại mạch quý. Đất kết có hai loại: một loại dùng chôn xương người chết và một loại để người sống ở đều tốt.
Riêng đất để người sống ở, sách Tả Ao địa lý toàn thư đã đề cập đến đất dương cơ liên quan tới lịch sử nước ta: Trừ nhà Hùng Vương được đất quá lớn ra, thì sau đó, nhà Đinh và tiền Lê trở về trước, những triều đại thịnh trị thật ngắn ngủi, không được tới ba đời, nên quốc sư Vạn Hạnh phải tìm một đại địa khác làm kinh đô. Đó là Thăng Long hay Hà Nội. Lý Công Uẩn nghe theo, dời kinh đô về Thăng Long nên nhà Lý làm vua được tám đời; và sau đó nhà Trần và hậu Lê (Lê Lợi) cũng nhờ có đại địa đó làm kinh đô, nên bền vững lâu dài hơn”.
Theo Đời sống & Pháp luật 

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Văn lạnh

Cao Hạnh KiệnNgân Xuyên dịch theo bản tiếng Pháp

unnamed
Nhà văn Cao Hạnh Kiện
Cao Hạnh Kiện (người Pháp gốc Trung Quốc) sinh năm 1940, nhà văn, nhà viết kịch, nhà phê bình. Ông đoạt giải Nobel văn chương năm 2000 với tiểu thuyết Linh Sơn.
Thời văn học huyên náo như cách mạng đã trôi qua, bởi vì cách mạng tự kết thúc ở chính nó, chỉ để lại vị đắng chát và nhạt nhẽo, nỗi buồn phiền và thậm chí là nôn mửa.
Tự bản chất, văn học không có gì chung với chính trị, đó là một công việc thuần túy cá nhân, một sự quan sát, một kiểu hồi tưởng kinh nghiệm, tư tưởng và tình cảm, sự thể hiện một trạng thái tinh thần và đồng thời là sự thỏa mãn suy tư.
Nếu văn học có tiếng tăm lớn thì đó hoàn toàn là không hay cho những nhu cầu của chính trị: nó hoặc sẽ bị công kích, hoặc sẽ được tán tụng, trở thành một thứ công cụ ngoài ý muốn, một thứ vũ khí, một tấm bia, cho kỳ đến khi đánh mất bản chất văn học của mình.
Người được gọi là nhà văn không gì khác là một cá nhân tự thể hiện mình, là người viết, còn những người khác có thể nghe hoặc không nghe hắn, đọc hoặc không đọc hắn, nhà văn không phải là anh hùng làm gương cho nhân dân, cũng không là thần tượng cho người ta tôn thờ, đó càng không phải là tên tội phạm hay kẻ thù của nhân dân, nếu đôi khi hắn có gây bực bội do tác phẩm của mình thì duy nhất là vì đòi hỏi đó đến từ kẻ khác: khi chính quyền cần tạo ra những kẻ thù để đánh lạc hướng nhân dân, nhà văn trở thành nạn nhân. Và càng bất hạnh hơn nữa, khi nhà văn phải chịu những đau đớn đó lại nghĩ trở thành nạn nhân là một vinh quang lớn.
Thực tế, quan hệ giữa nhà văn và độc giả không gì khác hơn là một kiểu liên hệ tinh thần được xác lập thông qua một công việc giữa hai hoặc nhiều cá nhân không cần phải gặp nhau hay có quan hệ với nhau. Tác giả không có trách nhiệm nào đối với độc giả, độc giả cũng không phải quá khó tính đối với tác giả, đọc hay không đọc hoàn toàn tùy thuộc vào sự lựa chọn của họ.
Văn học, với tư cách là hoạt động của con người, không thể sinh lợi từ hai hành động: đọc và viết là những việc hoàn toàn đồng thuận. Vì vậy văn học không có bổn phận nào đối với đám đông hay đối với xã hội. Những nhận xét liên quan đến sự đúng sai trên bình diện đạo đức và luân lý thực tế là do các nhà phê bình xới xáo lên, nó không hề liên quan đến tác giả.
Thứ văn học giành lại các giá trị thực chất của mình như vậy sao không gọi là “văn lạnh” để phân biệt nó với loại “văn dĩ tải đạo”, với loại văn công kích chính trị của đương thời, với loại văn can thiệp vào các công việc của xã hội và với loại văn tìm kiếm kỳ tích? Thứ văn học lạnh này không hề được các phương tiện truyền thông đại chúng quan tâm và cũng không thu hút được sự chú ý của đông đảo công chúng. Nó chỉ tồn tại ở chỗ loài người, ngoài sự thỏa mãn các nhu cầu vật chất, vẫn luôn tìm kiếm một kiểu hoạt động mang bản chất thuần túy tinh thần.
Lẽ tự nhiên, thứ văn học này không phải hiện nay mới có, nhưng nếu như trong quá khứ nó chủ yếu chống lại quyền lực chính trị và sức ép của các tập quán xã hội, thì ngày nay nó còn phải đấu tranh hơn nữa chống sự xâm lăng của các giá trị thị trường trong xã hội tiêu dùng, và để tìm cách tồn tại, nó trước hết phải chấp nhận sự cô đơn.
Chắc chắn loại nhà văn này sẽ gặp phải nhiều khó khăn hơn các tác phẩm của họ; khi dâng hiến cho thể loại sáng tạo này, hiển nhiên nhà văn sẽ rất khó sống được bằng nó và phải tìm kiếm một phương tiện tồn tại khác. Vì thế có thể nói rằng sáng tạo văn học là một thứ xa xỉ, một sự thỏa mãn tinh thần thuần túy. Tuy nhiên, nếu một xã hội thịnh vượng và tích cực mà không cho phép loại hoạt động tinh thần cá nhân này thì xã hội đó quả là đáng buồn.
Tuy nhiên lịch sử không hề bận tâm đến cái sự buồn đó: nó bằng lòng với việc ghi lại những hoạt động của con người mà không nói gì đến chủ đề này. Thứ văn học lạnh chỉ có cơ hội được công bố và lưu hành nhờ nỗ lực của nhà văn và bạn bè họ. Tào Tuyết Cần và Kafka là những thí dụ. Không chỉ tác phẩm của họ không thể xuất bản được khi họ còn sống, mà họ còn ít có cơ hội tạo ra được một trào lưu văn học hay trở thành những ngôi sao trong xã hội. Một nhà văn như thế sống ở bên lề và giữa những kẽ hở của xã hội. Hắn hoàn toàn hiến mình cho hoạt động tinh thần đó, không màng được báo đáp đền bù, hắn không tìm kiếm sự thừa nhận của xã hội mà chỉ đi tìm niềm vui thú riêng của mình.
Gần một thế kỷ qua, văn học Trung Quốc bị đè nặng bởi đủ loại chính trị và đạo đức; nó bị chìm đắm trong đủ loại chủ nghĩa và cái khó nhất của nó là làm sao thoát ra khỏi vũng bùn của những cuộc tranh cãi giữa hệ tư tưởng và các phương pháp sáng tác không giúp ích gì cho văn học. Nhà văn chỉ có thể tự cứu mình khi tránh càng xa càng tốt những cuộc tranh cãi bất tận và rối rắm đó. Sáng tạo văn học là một hoạt động đơn độc mà không một phong trào nào, một phe nhóm nào có thể giúp được, ngược lại nó rất dễ bị những thứ đó giết chết. Chỉ khi nhà văn là một cá nhân biệt lập, không thuộc về một phe nhóm, trào lưu chính trị nào thì hắn mới có được tự do hoàn toàn.
Điều này không có nghĩa là nhà văn không có lập trường chính trị và quan niệm đạo đức; một nhà văn chịu sức ép chính trị và xã hội thì lẽ dĩ nhiên là có những điều muốn nói, hắn có thể họp báo, phát biểu tuyên bố, nhưng tuyệt đối không được nhầm lẫn cái đó với sáng tạo văn học. Thậm chí nếu văn học động đến những vấn đề của chính trị và xã hội thì tôi nghĩ nói “xa lánh” đúng hơn là nói “can thiệp”; như vậy, nó đối chọi lại sức ép của xã hội lên nó và trở thành một kiểu giải thoát tinh thần. Chính vì vậy tôi vẫn nghĩ chỗ tốt nhất của nhà văn là ở bên lề xã hội để hắn có thể lặng lẽ quan sát và tiến hành được phép nội quan của mình. Chỉ trong hoàn cảnh ấy hắn mới nhúng được mình vào văn lạnh.
Vấn đề còn là những cuộc chiến tranh liên miên mà xã hội Trung Quốc biết đến trong hơn một trăm năm qua, cũng như các cuộc cách mạng, các phong trào đấu tranh chính trị, đã lôi kéo toàn thể giới trí thức của đất nước nhập cuộc, không để cho họ có sự lựa chọn nào khác, và đã tước mất của các nhà văn, nếu họ không phải là chiến sĩ, mọi cách kiếm sống: nếu không tham gia cứu nước cứu dân, các nhà văn thường là những người đầu tiên phải hy sinh cuộc sống riêng của họ. Thứ văn lạnh này chỉ có thể tồn tại được nếu nó tách khỏi sức ép chính trị và xã hội và điều kiện sống của nhà văn được bảo đảm. Chính đó là lý do văn học hiện đại và đương đại Trung Quốc đang có những khó khăn để “lạnh lại”.
Như vậy, văn lạnh là loại văn xa lánh, loại văn bảo vệ tinh thần; hơn thế, tôi nghĩ rằng nếu một dân tộc không thể thừa nhận loại văn học phi thực dụng này thì đó không chỉ là điều bất hạnh cho nhà văn, mà nó còn chứng tỏ sự nghèo nàn tinh thần của dân tộc đó. Chính vì vậy tôi thích loại văn học lạnh này.
 30/7/1990, tại Paris.
Phần nhận xét hiển thị trên trang

LỄ HỘI TƯỞNG NHỚ QUỐC TỔ ..




Nhảy, lắc "bốc lửa" trong khuôn viên khu di tích đền Hùng
Thứ Tư, 09/04/2014 - 06:46 

(Dân trí) - Ngay trong khuôn viên linh thiêng của khu di tích Đền Hùng, rất đông nam thanh nữ tú nhảy lắc "điên cuồng" trong tiếng nhạc sàn đinh tai nhức óc kéo dài nhiều giờ đồng hồ.




Dọc lối vào khu di tích Đền Hùng, các địa phương trong tỉnh Phú Thọ dựng những lán trại văn hoá giới thiệu truyền thống, bản sắc tới khách thập phương. Nhưng đi ngược lại mục đích đó, trại văn hoá của huyện Hạ Hoà lại biến thành một sàn nhảy. Rất động nam thanh nữ tú nhảy lắc "điên cuồng" trong tiếng nhạc sàn đinh tai nhức óc kéo dài nhiều giờ đồng hồ.

Trọng Trinh
LÀM ĐẾN THỨ TRƯỞNG BỘ NGOẠI GIAO - Chủ nhiệm Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài MÀ Nguyễn Thanh Sơn CHƠI QUẢ ÁO KẺ CA RÔ CỘC TAY, KHÔNG CÀI CÚC CỔ ĐI LỄ QUỐC TỔ. TAY CHẮP THÌ XÒE TÓE RA THẾ KIA ?
NGUYÊN VĂN CHÚ THÍCH ẢNH: "Ông Nguyễn Thanh Sơn, Thứ trưởng - Chủ nhiệm Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài (Bộ Ngoại giao, áo cộc xanh) dẫn đầu đoàn đại biểu kiều bào tham dự chương trình Lễ giỗ Tổ Hùng Vương." http://img.v3.news.zdn.vn/.../abh.../2014_04_08/TMK_5310.jpg
Xem tin bài tại đây:
Chiều 8/4, đoàn Việt kiều đại diện 70 nước và các vùng lãnh thổ trên toàn thế giới đã dâng hương Lễhội giỗ Tổ tại Việt Trì, Phú Thọ.

Vua Hùng mua bán gì ở đây?
CÙNG TRÊN BÁO CỦA BỘ TT&TT:
- Giỗ tổ Vua Hùng 2014: Trang trọng, thành kính và tiết kiệm
“Toàn bộ các hiện vật dâng tiến sẽ được thẩm định, xem xét một cách cẩn trọng, và sẽ không còn những sản phẩm "khủng" như mọi năm. (http://infonet.vn/gio-to-vua-hung-2014-trang-trong-thanh-kinh-va-tiet-kiem-post125048.info)
- Đền cổ nhất VN gói bánh chưng "khổng lồ" cúng Giỗ Tổ Hùng Vương
Chiếc bánh chưng có kích thước 2,5mx2,5mx80cm, khối lượng nặng 5,7 tấn gói tại đền Quốc Mẫu Âu Cơ, xã Hùng Cường, Kim Động, Hưng Yên đã được tổ chức kỷ lục Việt Nam xác nhận là chiếc bánh chưng lớn nhất cả nước tới nay. http://infonet.vn/den-co-nhat-vn-goi-banh-chung-khong-lo-cung-gio-to-hung-vuong-post125078.info
Quá trình gói bánh chưng "khổng lồ" trên 5 tấn ở Hưng Yên http://infonet.vn/qua-trinh-goi-banh-chung-khong-lo-tren-5-tan-o-hung-yen-post125082.info
Nguồn: Dân trí và Fb Nguyễn Hồng Kiên 

Tễu: Vừa mới hoan hô hôm trước, mà giờ lại ra nông nỗi này!

Đọc thêm trên báo Thanh Niên: 
Làm bánh chưng 5 tấn cúng Quốc mẫu Âu Cơ

(TNO) Phật tử chùa Hoàng Xá (TP Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên) đã cùng nhau gói cặp bánh chưng 5 tấn, bánh dày nặng 0,5 tấn để làm lễ dâng hương cúng giỗ Quốc mẫu Âu Cơ.
  
bánh chưng khổng lồ giỗ tổ Hùng Vương
Người dân và du khách thập phương đến chùa chiêm ngưỡng bánh chưng khổng lồ - Ảnh: Dương Yến

Cặp bánh khổng lồ này được phật tử chùa Hoàng Xá, xã Hùng Cường, thành phố Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên dâng lên đền Quốc mẫu Âu Cơ từ ngày 6.4. Chiếc bánh chưng được gói nguyên khối có trọng lượng 5 tấn. Bánh có chiều dài 2,6 mét; rộng 2,6 mét; cao 0,8 mét. Bánh được làm từ 3 tấn gạo; 0,3 tấn đỗ xanh; 0,3 tấn đường và gói bằng 0,6 tấn lá dong và 0,3 tấn lá chuối 0,3 tạ lạt tre. Bánh được nấu trong 3 ngày 3 đêm bằng chiếc nồi được làm từ 0,8 tấn tôn, sau đó đưa lên thờ tại đền Quốc mẫu Âu Cơ.

bánh chưng khổng lồ giỗ tổ Hùng VươngChiếc bánh dày nặng 0,5 tạ dâng lễ tại Đền Quốc mẫu Âu Cơ - Ảnh: Dương Yến

 bánh chưng khổng lồ giỗ tổ Hùng Vương
Mỗi phần bánh được gói thành từng gói nhỏ để chia lộc cho khách đến chùa  - Ảnh: Dương Yến

Lễ hội đền Quốc mẫu Âu Cơ tại xã Hùng Cường diễn ra từ ngày mùng 8 - 10.3 âm lịch hàng năm trùng với lễ giỗ tổ Hùng Vương 10.3. 

Sau 2 ngày thờ tại đền Quốc mẫu Âu Cơ cho người dân địa phương, khách thập phương chiêm ngưỡng, từ ngày 8 - 9.4 từ ngày 9 - 10.3 âm lịch, bánh sẽ được cắt thành từng phần nhỏ tản lộc cho khách ghé đến chùa.
Dương Yến
Âm nhạc kỳ quái phát loa công suất lớn tại trước cửa đình Bình Đà (xã Bình Minh, huyện Thanh Oai, HÀ NỘI) thờ Quốc tổ Lạc Long Quân trong ngày lễ hội: 
Xung quanh treo cao đèn lồng 

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thứ Sáu, 11 tháng 4, 2014

Hoàng Xuân Sơn: mùa cơ ngơi

quai áo bắt chéo phía trước
và người phưỡn ngực
thế gian
 
có cái rốn đã đen điu bồ hóng
ngọn sào hong phơi chái bếp năm rồi
những quả mướp dài chấm đất
con thuyền chui tọt sông đêm
 
không gian đen
mi trần khép lại
bài thơ rung rung đùi
lạch cạch
trên mỗi cánh lan già
 
cứ mồi sãi bạn đi không chờ ngoái lại
đường cuộn tròn
mùa thu ảm da vại lu
những mảng da sành tươm tướp         áo nắng
lo hệ sứ thần
ai đưa tay bắt bóng chìm
sợi nằm vắt lưng mây
cười lỏn lẻn
 
viền lam hồng núi đo
trường thành rêu co rét
năm ngựa về bôi mặt hát tuồng
kinh đêm ngất vào đại hải
thuyền trù trừ không đi
du di phương hà
những khoảnh lưng trần khác
 
gió sen quánh
và mùa ngất         tung
 


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Nguyễn Văn Thiện: Đăng cai

Tôi vừa quyết định đăng cai thân phận của chính mình
Đăng cai mù loà đăng cai nặng nhọc đăng cai tiếng khóc đăng cai tiếng cười
Tôi sẽ tổ chức những cuộc đấu tay đôi giữa tay trái và tay phải
Sẽ đưa hai mắt lên võ đài tỉ thí với nhau
Và hai chân sẽ tham gia thi chạy
Hai bên mông sẽ thi ngồi xem ai bản lĩnh hơn
Hai tai sẽ thi nghe
Và hai tay thi viết
Hai lỗ mũi thi thở
Vân vân...
Việc đăng cai chắc chắn sẽ thành công vì không có ai phản đối
Vì quyết định tối cao chỉ duy nhất một mình tôi, không bỏ phiếu, không thăm dò quần chúng nhân dân, không tốn hàng trăm triệu đô-la, không cãi nhau ỏm tỏi...
Rồi tôi sẽ ba hoa rằng:
Tao đang ở đỉnh cao nhân loại!
Một mình tao chiến thắng một mình tao!
 
 

Phần nhận xét hiển thị trên trang