Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Sáu, 11 tháng 4, 2014

Thử bàn thêm về tính đại chúng trong văn học



Nguyễn Thế Duyên

2Tôi có đọc bài “ Tính đại chúng kẻ thù của văn học” của tác giả Nguyễn Hưng Quốc. Một bài nghiên cứu văn học rất hay,có một hàm lượng trí tuệ rất cao. Tác giả đã đưa ra nhiều nhận định rất xác đáng và rất bất ngờ nguộc hẳn lại với những quan điểm đang rất thịnh hành trong nền văn học nước nhà. Tuy vậy tôi vẫn không thể đồng ý với anh về cái nhận định “ Tính đại chúng là kẻ thù của văn học”.


Tôi vẫn biết có nhiều những tác phẩm được xếp vào hạng kinh điển, khi mới xuất bản nó đã bị độc giả quay lưng lại trong nhiều năm ví dụ như cuốn đồi gió hú hay đỏ và đen nhưng sau đó một thời gian đọc giả lại đón nhận nó một cách nồng nhiệt và những tác phẩm như vậy ta không thể gọi nó là “Không có tính đại chúng”.
Anh cũng nói rất đúng, nhạc giao hưởng, thính phòng không ai dám nói là dở nhưng ở Việt Nam mấy ai đã nghe. Nhưng cũng có một câu hỏi nguợc lại là “ Ở các nước châu âu loại nhạc bác học đó rất đông người nghe vậy nó có phải là không có tính đại chúng?”
Rõ ràng là: Tính đại chúng phụ thuộc hoàn toàn vào dân trí mà dân trí lại phụ thuộc vào nền giáo dục của một đất nước và còn phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế của đất nước ấy nữa. Tố Hữu là một ví dụ điển hình về “ Tính đại chúng trong văn học”. Thời của Tố Hữu trình độ dân trí của chúng ta rất thấp, đại đa số là thất học, mang nặng một thói quen cảm nhận văn chương mà như anh nói “Ca dao và cổ tích”, còn đội ngũ trí thức chỉ là một nhúm rất nhỏ, manh mún vì vậy thơ Tố Hữu đuộc đón nhận một cách nồng nhiệt nhưng càng về sau, khi dân trí đuợc nâng lên thì Tố Hữu càng mất dần người đọc và đến ngày nay thì còn ai đọc Tố hữu nữa không?
Phủ nhận vai trò của tính đại chúng theo tôi là một sai lầm. Nghệ thuật nói chung và văn học nói riêng sinh ra là nhằm thỏa mãn khát vọng bay lên với cái thiện, cái đẹp của đại chúng chứ không phải chỉ thỏa mãn thị hiếu cứ cho là rất cao của một nhúm nhỏ không đáng kể nào đó. Và cũng chính đại chúng là động lực cho nghệ thuật và văn học tồn tại và phát triển. Xin hỏi “Văn học còn tồn tại không khi mà một cuốn sách in ra chỉ có dăm người mua nó? Nhạc, phim còn tồn tại không khi một cuộc biểu diễn chỉ có dăm người đến xem?. Chúng ta phải dũng cảm để thừa nhận rằng: Tất cả chúng ta, những người cầm bút, ai cũng đều nín thở để nghe xem độc giả đón nhận đứa con tinh thần của chúng ta như thế nào, vậy thì làm sao có thể nói “Tính đại chúng là kẻ thù của văn học”?
Nhưng ngược lại tuyệt đối hóa tính đại chúng cũng là một sai lầm không kém. Và tiếc thay, hầu hết chúng ta và cả nền giáo dục của chúng ta nữa đang đổ xô vào điều đó. Tuyệt đối hóa tính đại chúng đồng nghĩa với chúng ta khuyến khích thị dân hóa văn chương. Mà văn chương đỉnh cao không thể là loại văn chương thị dân được.
Vậy chúng ta có thể rút ra điều gì từ trường hợp thơ Tố Hữu, từ một nhà thơ có tính đại chúng rất cao trở thành một nhà thơ không còn đọc giả? Chúng ta thấy gì khi Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương dù đã trải qua hơn mấy trăm năm vẫn là những tác giả có tính đại chúng cao nhất hiện nay?
Rõ ràng là nhà văn không thể chỉ thỏa mãn thị hiếu của đại chúng đương đại mà còn phải dẫn dắt được cái thị hiếu ấy vuợt lên phía trước. Tố Hữu đã không làm được điều đó nên Tố hữu đã chết và một loạt các nhà văn theo trường phái hiện thực xã hội chủ nghĩa trong suốt hai cuộc kháng chiến chống pháp và chống Mĩ đã chết vì họ chỉ thỏa mãn được cái thị hiếu thị dân tầm thường ( Mà thậm chí cái thị hiếu tầm thường này chưa hẳn đã là thị hiếu của người dân mà là thị hiếu của những người lãnh đạo văn học). Điều này thật là đáng tiếc .
Thật là khó khăn khi vừa phải thỏa mãn được thị hiếu đương đại để có được người đọc làm động lực cho ngòi bút lại vừa phải dẫn dắt vừa phải nâng cao trình độ thẩm mĩ cho công chúng. Nhưng biết làm sao được! Muốn tồn tại với thời gian. Có phải ai cũng làm nổi điều đó.
Bất tri tam bách dư niên hậu
Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như?
Nhưng chúng phải hiểu điều đó, trăn trở vì điều đó để tiến tới có những tác phẩm đỉnh cao.

Văn hóa nói chung và văn học nói riêng là một dòng chảy liên tục nó luôn luôn có tính kế thừa. Chính cái tính đại chúng đã tạo nên tính kế thừa đó. Để thỏa mãn thị hiếu của đại chúng buộc người viết phải gắn chặt với hiện tại, gắn chặt với nền văn hóa của dân tộc mình, cũng đồng nghĩa với gắn chặt với quá khứ của dân tộc mình để viết. Nền tảng văn hóa chính là cái bệ phóng để đưa tác phẩm của nhà văn bay xa và bay cao. Không có bất cứ một tác phẩm kinh điển nào không dựa trên nền tảng văn hóa vững chắc của người viết.
Nhưng tính đại chúng lại là một con dao hai lưỡi . Nó là động lực và cũng chính là nguyên nhân giết chết những cây bút không đủ bản lĩnh. Chạy theo thị hiếu tầm thường của độc giả các nhà văn đã tự đầu độc chính mình.
Có một vấn đề đặt ra là: Tại sao thị hiếu người đọc của chúng ta lại rất tầm thường? Câu trả lời là rất rõ ràng. Tại dân trí. Vậy cái gốc của dân trí nằm ở đâu? Nó nằm trong giáo dục. Cứ tạm tính từ năm 75 đến nay, chúng ta đã trải qua gần ba mươi năm, mỗi năm ta có khoảng một triệu học sinh rời ghế nhà trường, vậy thì chúng ta có ba bốn mươi triệu con người được giáo dục . Một con số không hề nhỏ thế mà mặt bằng dân trí của chúng ta vẫn rất thấp. Trình độ cảm thụ văn học của con người Việt Nam chúng ta vẫn chỉ quanh quanh trong cái hai cái từ “ Giải trí” tầm thường. Tại sao vậy? Tại vì trong giáo dục chúng ta không dạy học sinh của chúng ta cách cảm thụ văn chương. Lẽ ra chúng ta chỉ nên khơi gợi để cho học sinh tự khám phá ra cái hay, cái đẹp trong một tác phẩm văn học thì chúng ta lại đi bắt học sinh của chúng ta phải thích cái điều chúng không thích nên mới có cái chuyện trong một cuộc thi học sinh giỏi văn lớp 11 của thành phố Hà Nội khi phải viết một bài luận văn về bài Văn tế nghĩa sỹ Cần Giuộc một em trong đội tuyển thi học sinh giỏi văn của truồng Việt Đức đã viết “ Em chẳng thấy bài này có gì hay cả”. Tôi nhớ điều này vì chính con gái tôi cũng dự thi trong đội tuyển đó và nó đuộc giải nhì . Khi biết tin nó được giả nhì tôi đã hỏi nó.
-Thế con có thích bài văn tế ấy không?
Nó cười trả lời.
-Ai mà thích đuộc cái bài ấy. May mà trước hôm đi thi cô giáo con lại bồi duỗng cho con đúng vào bài ấy.
Thế đấy! Những học sinh trong đội tuyển giỏi văn còn thế thử hỏi những học sinh bình thường khác sẽ thế nào? Chúng ta không dạy con em chúng ta cách thưởng thức văn chương mà ta dạy chúng thành những con vẹt học nói.
Ta hãy làm thử một phép tính để dễ dàng so sánh. Dân số nước ta khoảng 90 triệu người một đầu sách văn học in ra chỉ khoảng 1000 cuốn mà vẫn ế trong lúc dân số mĩ khoảng 200 triệu chỉ gấp đôi chúng ta nhưng một đầu sách in ra hàng vạn cuốn mà vẫn bán hết để thấy mặt bằng dân trí của chúng ta hiện nay.

Những nhà văn của chúng ta sinh ra và lớn lên trong một nền dân trí thấp. Khi cầm bút họ lại quay lại phục vụ cho một nền dân trí mà cái nền dân trí ấy vì quá thấp nên nó cũng chẳng bao giờ đòi hỏi nhà văn phải nỗ lực hết mình phải học suốt đời. Nó sẵn sàng chấp nhận những tác phẩm văn học “Không gì cả” miễn là có một chút diễm tình, một chút sex, một chút là lạ. Tất cả đều chỉ là một chút. Và khi phải tiêu hóa những món ăn tinh thần như vậy mặt bằng dân trí lại tụt đi thêm một chút.
Đấy là về đại chúng.
Còn cái bộ phận không đại chúng thì sao?
Hình như chúng ta quá thừa thãi những ông Giáo sư, phó giáo sư tiến sỹ văn chương. Nhưng thử hỏi các ông ấy làm đuộc gì để nâng cao nền dân trí nước nhà?
Câu trả lời là “Không gì cả”

Các ông viết hàng trăm cuốn sách, cuốn nào cũng dày đến hàng thước trích dẫn hết ông tây lại đến ông tàu nhưng ai đọc? Chỉ có bụi đọc, vì chính các ông cũng chẳng bao giờ đọc của nhau. Vấn đề các ông nghiên cứu to như trái núi và xa tận cung trăng nhưng cái việc cỏn con quyển truyện này hay ở đâu, bài thơ này hay như thế nào để nâng tầm hiểu biết, cảm thụ văn chương của đại chúng tôi đố thấy ông nào viết nổi một bài bình.
Viết đến đây tôi lại nhớ đến Hoài Thanh. Cuốn thi nhân Việt Nam mỏng thôi nhưng nó đã tổng kết cả một giai đoạn văn học nhưng hơn thế ( và đây mới là điều thiết thực cho văn học) nó đã nâng tầm cảm thụ văn chương cho biết bao nhiêu thế hệ người đọc nó.

Mảng phê bình và lý luận văn học đã hoàn toàn thiếu vắng trên văn đàn mặc dù có biết bao nhiêu ông hội viên hội nhà văn việt nam nằm trong danh sách mảng phê bình và lí luận văn học.
Thỉnh thoảng lắm mới đọc được một bài thì bài đó lại cứ xưng xưng ca ngợi mà chẳng hề phân tích lý giải cho người đọc tại sao như thế, một tác phẩm mà người đọc vừa đọc nó vừa phải lấy tay bịt mũi. Ấy thế nhưng khi có một ai đó viết ra một điều mới lạ khác với cái giáo điều mà các ông được nhồi nhét là các ông xúm lại đánh hội đồng mà Nhã Thuyên và giáo sư Bình là một vụ điển hình.
Thử hỏi với một tư duy như vậy của đội ngũ “Không đại chúng” ấy biết đến bao giờ tầm cảm thụ văn học của đại chúng mới được nâng lên?
Tất nhiên dân trí gồm nhiều vấn đề chứ không chỉ có trình độ cảm thụ văn học nhưng có một điều rất rõ ràng rằng văn hóa đọc là mảng quyết định nhất để nâng cái mặt bằng dân trí của đất nước.
Ai cũng biết lí luận là người dẫn dắt, chỉ đường cho một ngành chuyên môn nào đó nhưng riêng với văn học thì không. Thử hỏi những nhà lí luận phê bình, các ông đã dẫn dắt được gì cho văn học? Xin kể ra đây những thành tích “VĨ Đại” của đội ngũ phê bình và lí luận văn học
Vụ đầu tiên là vụ nhân văn giai phẩm
Vụ thứ hai là bác bỏ những nhà thơ mới suốt từ năm 1954 đến tận sau năm 1975
Vụ thứ ba cố tình dìm chết Vũ Trọng Phụng .
Vụ thứ tư Đánh hội đồng Nguyễn Tuân
Và còn rất nhiều vụ lẻ tẻ nữa mà gần đây nhất là vụ Nhã thuyên
Các nhà lí luận của chúng ta chỉ là những kẻ ăn theo các cây bút nhưng luôn là người cản trở những cây bút muốn vươn mình thoát khỏi cái cũ mòn sáo rỗng, muốn thoát khỏi sự kiềm tỏa của chính trị. Hình như các ông không định hướng cho văn học mà là người đi định hướng cho dư luận để đào mồ chôn văn học.

Lí luận phê bình văn học là một ngành khoa học. Nhưng một nghiên cứu chỉ thực sự là khoa học khi nó đi được vào cuộc sống xã hội và đẩy được xã hội tiến lên một bước. Với tiêu chí như vậy tôi chưa thấy một nghiên cứu nào của nhóm “Không đại chúng” Thực sự là “Khoa Học”.
Không một nghiên cứu nào của các ông đi được vào cuộc sống , chính vì thế mà sau bao nhiêu lần cải cách giáo dục, dân tộc ta vẫn là một thằng lùn.
Tất nhiên chúng ta không thể đòi hỏi một tác phẩm đỉnh cao phải nhiều người đọc nó và thích nó như những tác phẩm thuần tính giải trí. Nhưng nếu nói như nhà nghiên cứu Nguyễn Hưng Quốc -
“Ở những lúc ấy có thể xuất hiện những nghệ sĩ lớn không cần có tác phẩm lớn và những tác phẩm lớn không cần phải thực sự mang tính thẩm mỹ cao: đó là những tác phẩm có khả năng mang lại một định nghĩa khác và mới về văn học và/hoặc nghệ thuật, khiến, từ đó, địa dư của văn học và/hoặc nghệ thuật thay đổi hẳn; cách hình dung cũng như cách cảm thụ của mọi người về văn học và/hoặc nghệ thuật không còn giống như trước nữa.” – thì tôi lại nghi ngờ điều đó lắm. Nếu điều đó thực sự xảy ra thì có nghĩa là trên đồ thị ( lấy trục tung biểu thị thời gian) sẽ có một buốc nhảy thẳng đứng và tại điểm đó mọi quan niệm về mĩ học, văn học, thậm chí là cả đạo đức hoàn toàn thay đổi như là sự bắt đầu đầu tiên của văn học và mĩ học. Thực tế không thể xảy ra điều này. Nếu đấy chỉ là điểm gãy của lịch sử văn học và mĩ học như tác giả nói (Tức là không có đoạn nhảy thẳng đứng trong đồ thị ) điều đó đồng nghĩa với việc bắt đầu từ đó chỉ có một sự thay đổi lớn (Chứ không phải thay đổi hoàn toàn) trong những quan niệm về văn học và mĩ học nhưng những thay đổi đó vẫn gắn chặt với quá khứ của lịch sử văn học và mĩ học. Tôi không biết trong khoa học xã hội đã có điểm đứt gãy nào như thế chưa nhưng
trong khoa học tự nhiên điều đó đã từng xảy ra đấy chính là thuyết tương đối hẹp của anhstanh. Sau thuyết tương đối quan niệm về không gian thời gian đã thay đổi nhưng thuyết tương đối vẫn phải gắn chặt với lịch sử phát triển của vật lý vì nếu không có cái phát hiện “Vận tốc ánh sáng là không đổi trong mọi hệ quy chiếu” thì thuyết tương đối đã không thể hình thành.
Tôi cho rằng văn học cũng như vậy. Tính kế thừa là một thuộc tính cố hữu của văn học.
Văn học không phải là một môn khoa học. Nó là một bộ môn nghệ thuật mà hai từ nghệ thuật lại luôn gắn chặt với hai từ “ Công chúng”

Những quan niệm về “Đẹp” , “Hay” , “Tốt” , “xấu” là những quan niệm được hình thành do xã hội và người nghệ sỹ sẽ sáng tác trên cơ sở những quan niệm ấy. Nhìn lại lịch sử mĩ học ta sẽ thấy rõ điều này. Tranh của các họa sỹ thời Phục hưng luôn vẽ phụ nữ hơi mập một chút, đùi hơi ngắn và tròn trịa. Tại sao vậy? Vì thời ấy xã hội coi thế mới là một phụ nữ đẹp còn bây giờ xã hội coi một người phụ nữ phải mảnh mai, đùi thon và dài mới là đẹp và những người phụ nữ mập đùi tròn trịa lập tức biến khỏi các bức tranh.
Trong văn học cũng xảy ra những điều tương tự. Hầu như các tác phẩm văn học xưa (Của cả chúng ta và thế giới) đều dùng một hình mẫu phụ nữ xinh đẹp, dịu dàng thậm chí có chút e dè, chung thủy làm hình tượng vì thời ấy xã hội coi đấy mới là người phụ nữ lí tưởng. Nhưng khi xã hội phát triển lên, người phụ nữ được giải phóng, vai trò người phụ nữ được khẳng định trong xã hội thì hình mẫu người phụ nữ lại là Xinh đẹp, cá tính và mạnh mẽ.
Tác giả Nguyễn Hưng Quốc nhận định rất chí lý rằng: “những tác phẩm văn học nghệ thuật đích thực nào cũng nhằm chống lại người thưởng lãm; đúng hơn, chống lại những sự chờ đợi của người thưởng lãm; chống lại những quan điểm thẩm mỹ, những mô hình về cái hay, cái đẹp đã hoá thạch và ngỡ là bất biến ở người thưởng lãm. Mỗi tác phẩm lớn, với những mức độ khác nhau, tồn tại như một phản đề của một cái gì đó thuộc về truyền thống. Do đó, tôi tin tác phẩm lớn nào, tự bản chất, cũng mang tính phản-đại chúng”.

Nhưng chúng ta phải hiểu cái nhận xét này như thế nào đây? Có thật những tác phẩm lớn là một tác phẩm luôn chống lại đại chúng? Không thể hiểu cái nhận xét sâu sắc này bằng một cách thô thiển như thế
Xã hội luôn biến động. Khi nó biến động đến một cái ngưỡng nào đó thì nó bắt đầu tác động đến cái “ Ý thức xã hội” và khi đó những quan niệm về thẩm mĩ, về đạo đức bắt đầu thay đổi theo. Nhưng cái “Ý thức xã hội” lại luôn có độ trễ (Có khi là rất dài) so với cái “Hình thái xã hội” đã được hình thành. Và một tác phẩm lớn phải là một tác phẩm thu ngắn được khoảng trễ ấy lại.
Tác phẩm “Nỗi buồn của chiến tranh” của Bảo Ninh là một minh chứng rõ nhất cho điều này.
“Nỗi buồn của chiến tranh” được viết năm 1987, mười hai năm sau khi chiến tranh kết thúc. Một cuộc sống nghèo khó đến cùng cực khác hẳn với những gì mà cơ quan truyền thông  đã tuyên truyền. Cái đau thương của chiến tranh chưa mất đi, cái đói khổ trùm lên trên nối đau ấy, điều đó khiến cho những những người tham gia cuộc chiến thất vọng . Nhận thức về chiến tranh mà chúng ta vẫn luôn tự hào bắt đầu thay đổi. Cái “ Hình thái xã hội” đã hình thành nhưng tại thời điểm ấy cái niềm tự hào “Đánh thắng hai đế quốc to” vẫn là cái ý thức xã hội chủ đạo trong công chúng. Tại thời điểm đó cuốn nỗi buồn của chiến tranh ra đời và cũng bắt đầu từ đấy người ta bắt đầu nhìn nhận và viết về chiến tranh bằng một con mắt khác.
Tất nhiên nếu không có cuốn nỗi buồn của chiến tranh thì trước sau gì cái nhận thức về chiến tranh của công chúng cũng sẽ thay đổi, nhưng nó chắc sẽ kéo dài không biết đến bao giờ.
Nếu nhìn về hình thức thì đúng là nỗi buồn của chiến tranh “chống lại những quan điểm thẩm mỹ, những mô hình về cái hay, cái đẹp đã hoá thạch và ngỡ là bất biến ở người thưởng lãm” như tác giả Nguyễn Hưng Quốc đã nói. Nhưng xét về bản chất của vấn đề thì lại không phải như vậy. Một cách chính xác thì chúng ta phải nói rằng “Nỗi buồn của chiến tranh” Là một cú hích từ phía sau lưng công chúng làm cho công chúng phải ngã vào sự thật

Và đấy cũng là một trách nhiệm đầy vinh quang nhưng cũng vô cùng khó khăn và nguy hiểm của những người cầm bút chân chính. Họ phải tìm cho ra những mạch ngầm đang len lỏi chảy trong lòng xã hội để rồi thay mặt xã hội nói lên những khát vọng của con người.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Việc trái đạo lý kiểu gì cũng có thể xẩy ra



Đào Dục Tú
1Nhiều năm trở lại đây, đặc biết kể từ thời điểm “nhóm lợi ích ” được định danh chính thức trên các diễn đàn long trọng, ám chỉ (ám chỉ thôi !) các thế lực ( tạm dùng lại từ) tài phiệt thao túng nền kinh tế và đôi ba người đứng đầu chính thể quyết liệt. . . chỉ trích bầy sâu tham nhũng “ăn hết phần của dân”, thì người ta thấy biết bao sự việc lớn nhỏ ở nước mình đến giầu tưởng tượng hư cấu như các nhà văn. . . không tưởng và hoang tưởng cũng không sao hình dung được. ” . 
..Mới đây lại thêm việc một ông kỹ sư “tháo tung” truyện thơ Kiều tuyệt đỉnh ngôn từ nghệ thuật Việt thế kỷ 18, thành cái gọi là ” Truyện Kiều Nguyễn Du với tiếng Việt hiện đại phổ thông đại chúng và trong sáng”.

Tác phẩm “siêu hiện đại” ” trên cả tuyệt vời ấy” ấy được công bố dưới hình thức sách pho to biếu đại biểu trong cuộc hội thảo mang cái tên vừa văn hoa lại vừa khoa học (chuẩn không phải chỉnh nhé !) là “Giòng chẩy văn hóa xứ Nghệ từ truyện Kiều đến phong trào thơ mới”. Và không kém phần quan trọng “cộng” long trọng, là được một nhà văn, nhà khoa học xã hội, nhà. . . . anh hùng lao động XHCN lão thành cổ vũ hết lời .
Với “tinh thần khoa học rất nghiêm túc” ông kỹ sư ấy đã tháo tung truyện Kiều như người ta bổ máy, đại tu ô tô xe máy, nhắm cái đích “phổ cập hóa truyện Kiều cho quảng đại quần chúng”. Muốn làm được công việc văn hóa “vì dân ta” như thế, trước hết ông kỹ sư “gạt bỏ những câu chữ khó hiểu từ tiếng Hán để thay bằng ngôn ngữ tiếng Việt”-như lời đề dẫn của nhà khoa học xã hội đầu ngành lão thành có tên gọi Vũ Khiêu. Thật không thể nào hiểu nổi nữa! Nói nôm na truyện Kiều mãi mãi được người mình yêu, nàng Kiều mãi mãi được người mình quý, có lẽ trước hết bởi thơ Kiều đáp ứng nhu cầu thưởng thức của đại chúng, nghĩa là của tuyệt đại đa số dân Việt, cả người bình dân lẫn người có học, từ các bậc thức giả khả kính “sách gối đầu giường” đến người . . . một chữ bẻ đôi không biết (thời phong kiến cả làng chỉ có ông đồ Nho là “có chữ”). Thế nên trên dưới ba thế kỷ qua, chuyện “bà già nhà quê” truyền miệng nhau thơ Kiều, có người đọc ngược từ câu cuối lên câu đầu hơn ba ngàn câu thơ Kiều ,”không sai một chữ”, đâu có còn là huyền thoại và người “yêu Kiều” đến thế đâu chỉ có ở một vùng miền nào, Nam Định, Bắc Ninh, Nghệ An, Hà Tĩnh. . . đâu đâu cũng có hết. Và biết bao nhiêu cây bút thời danh đời nào chẳng hiện diện, biết bao nhiêu học giả, người làm công việc nghiên cứu văn học, phê bình văn học, kể cả các bậc chính nhân quân tử, chính khách có tiếng, chí sĩ ái quốc lừng danh . . . đã bàn thảo ,đã luận định, thẩm định, luận giải, bình giải giảng giải về thơ Kiều hàng trăm năm nay. Truyện Kiều có cần phải viết lại, làm mới lại không dưới chiêu bài “đại chúng hóa, hiện đại hóa”? Hàng nghìn câu thơ Kiều có cần phải một ông kỹ sư làm cái việc vô bổ ” vẽ rắn thêm chân” (tôi không nghĩ nó có hại gì đáng kể vì người biết đọc biết viết tiếng Việt không ai đọc nổi “Kiều mới” ngô ngọng kiểu đó, trừ số ít người, xin bỏ quá cho, nói thật, thiểu năng trí tuệ-thiểu năng văn học).Tiếng Việt trong truyện Kiều có cần phải làm cho trong sáng không – như mục đích cao cả của những người tung hô …tân Kiều (đối lập cựu Kiều !) Người viết kiến văn hạn hẹp, mỹ cảm văn chương cấp độ “gốc nhà quê” không dám lạm bàn, xin giành để các vị mũ cao áo dài tài cao học rộng làm chức phận cao cả của mình. Người viết chỉ xin mạo muội “ngồi góc cột nhà” nói … leo vài ý. Một trong những “thành tố” làm nên giá trị cổ điển của thơ Kiều là điển cố văn học. Người ta sợ chữ Hán, điển cố văn học Trung Hoa, “ngại Hán” đến mức câu thơ “cựu Kiều” (!)” Lứa đôi ai dễ đẹp tày Thôi Trương” thành câu “tân Kiều” (!) ” Lứa đôi từng thấy những ngày trái ngang”. Hay câu ” Một đền Đồng Tước khóa xuân hai Kiều “điển cố nói tham vọng của Tào Tháo thời Tam Quốc nổi danh lịch sử Trung Hoa phong kiến cổ muốn san bằng đất Đông Ngô, nhằm cái đích đem “nhị kiều” xứ này (vợ Ngô Tôn Quyền và vợ Chu Du, hai chị em ruột có tiếng mỹ nhân )) về đền Đồng Tước hoa lệ “sủng ái”, được người ta viết lại thành “Buồng đào nơi tạm khóa xuân hai kiều” thì thật không còn biết nói gì thêm nữa, không còn muốn nói gì thêm nữa… Hay câu thơ “Thực là tài tử giai nhân – Châu Trần còn có Châu Chần nào hơn”- lời ông quan xử án khen thơ Kiều “giá đáng thịnh Đường” và khen Kiều với Thúc Sinh đẹp đôi, điển cố nhắc chuyện đời xưa bên Trung Hoa có hai họ Châu và họ Trần đời đời kết thông gia với nhau, nay một câu được ông kỹ sư sáng tác thành “Lứa đôi còn có gì cần nhiều hơn”. Chán đến thế là cùng! Có thể các cụ già làng tôi, làng anh, làng chị thuộc lòng từng đoạn hoặc cả tập thơ Kiều, chữ quốc ngữ chỉ biết lỗ mỗ, không đọc “Điển cố văn học”, không có trong tay bộ “Từ điển truyện Kiều’ của cụ Đào Duy Anh khả kính như các bậc… học giả, nhưng không vì thế mà người ta thấy tiếng Việt truyện Kiều thiếu trong sáng, khó hiểu, đến mức không muốn “thuộc” thơ Kiều, không muốn ngâm thơ Kiều, lấy thơ Kiều để ru con ru cháu ngủ hay đưa truyện Kiều vào các cuộc “tập Kiều”, “đố Kiều” thi tài trí, không muốn âm thầm hoặc đọc to lên câu Kiều ứng với số phận, thân phận của mình trong một ngữ cảnh nào đó. Và cấp độ cao hơn, lấy truyện Kiều cùng với tầm ảnh hưởng rộng lớn, đa diện phong phú của một tác phẩm văn học làm nên danh nhân văn hóa thế giới Nguyễn Du làm nguyên liệu quý giá cho các công trình nghiên cứu văn hóa ngôn ngữ, văn hóa văn chương Việt… Thể thơ lục bát ví như dòng nước trôi xuôi vô tận quen với lỗ tai thẩm thơ hàng nghìn đời truyền miệng, quen với tâm hồn tình cảm người Việt. Có ai vì điển cố văn học cổ trong đó, có ai vì những từ Hán Việt, từ Việt cổ trong đó mà “bài bác” Kiều, mà “phê’ Kiều vô lối ? Và những điển cố văn chương đó lại được các bậc thức giả cổ kim mấy trăm năm “sướng khoái” vì đáp ứng nhu cầu hiểu sâu biết rộng của họ. Cứ cái đà hiện đại hóa truyện Kiều, đại chúng hóa truyện Kiều kiểu “kỹ sư chế tạo máy” thế này thì rồi đây, tuyên ngôn chữ Hán của cụ Lý Thường Kiệt “Nam quốc sơn hà nam đế cư”, “Hịch tướng sĩ” của cụ Trần Hưng Đạo, “Bình Ngô Đại Cáo” của cụ Nguyễn Trãi ” Bạch đằng giang phú” của cụ Trương Hán Siêu, rồi thơ “Cung oán ngâm khúc” của cụ Nguyễn Gia Thiều, “Chinh phụ ngâm” của hai cụ Đặng Trần Côn – Đoàn Thị Điểm” vân vân biết đâu sẽ có kẻ “điếc không sợ súng” nêu gương, noi gương “làm trong sáng tiếng Việt, hiện đại hóa thơ cổ “của các cụ giống như ông kỹ sư nào đó đang “danh nổi như phao” thì sao ? Chưa biết chừng, các vị ấy sẽ cao đàm khoát luận mà rằng các em các cháu học sinh thơi a-còng bây giờ không biết chữ Hán Việt, không biết điển cố văn học cổ, thì ngoài cách “tháo dỡ” ra viết lại, thì có cách gì để các thế hệ tương lai hiểu văn học cổ nữa !!!
Thương quá cho những câu thơ Kiều không phải bị ” biên tập ” mà là viết lại, đổi chữ. Mà tác phẩm văn học ví như ngôi nhà tinh thần xây bằng những viên gạch chữ nghệ thuật, thay chữ thì còn gì là tác phẩm nguyên bản nữa, còn gì là giá trị văn chương mang dấu ấn lịch sử văn hóa nữa (chưa nói tới xâm hại bản quyền)! Mà viết lại, đổi chữ mới hay ho làm sao. Ví như câu thơ có điển cố “thiếp Lan Đình”, người có học một chút đều hiểu là thiếp viết chữ đẹp, viết thơ bằng… thư pháp tuyệt vời của danh sĩ Vương Hy Chi nước Trung Hoa cổ, được “con cháu hậu thế” sáng tạo thành “thiếp xem tình” thì còn gì là Kiều nữa hả trời! Tự nhiên tôi nhớ tới chuyện thật “trăm phần trăm”: có một cháu tầm tuổi ba mươi không biết do nhầm nhọt sang… trồng trọt, hay “kiến văn lỗ mỗ’ chót nhớ… sai câu thơ Kiều tuyệt hay “Vừng trăng ai xẻ làm đôi-Nửa in gối chiếc nửa soi dặm trường ” thành. . . ” Nửa in gối chiếc nửa soi… gậm giường ” (!). Tôi… thương cháu và thương cho cả các thầy cô nào ở đủ loại cấp học đã giảng Kiều cho cháu nghe. Thôi đành tạm chấm dứt trang tạp cảm buồn… lê thê này vậy. Chuyện thật mà như đùa đại loại thế còn đỡ, chuyện giơ bức bình phong vì dân, vì đại chúng, lại còn thêm vì khoa học nghệ thuật nữa mà làm cái việc “tháo dỡ truyện Kiều” như ông kỹ sư nào đó “bổ xe máy xịn . . . ngoại” thay phụ tùng nội địa chợ Giời “toàn phần giả và rởm” thì quá là chẳng ai nghĩ nó lại xẩy ra ở Việt Nam năm thứ mười bốn thế kỷ 21 ! . / .

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Vũ Hữu Định(1942-1981), đường đi chưa tới.

Đỗ Trường

2
Từ độ Nguyễn Bính bị “giam mình“ bởi Trăm Hoa đua nở, để rồi phải chết trong cái tận cùng của sự đói khổ vào một đầu ngày xuân, nơi bè bạn. Cứ tưởng rằng, văn học sử Việt Nam không phải viết tiếp những cái bi thương đó. Nhưng đúng mười lăm năm sau (1981) thi sĩ Vũ Hữu Định ra đi, trong cái khốn cùng ấy, đã lặp lại y chang bóng hình Nguyễn Bính. Tuy không cùng một thế hệ, nhưng Nguyễn Bính và Vũ Hữu Định đều là hai thi sĩ đích thực nhất, lấy thơ, rượu và rong chơi bạn bè, giang hồ làm thú vui của cuộc đời. Nếu như Lỡ Bước Sang Ngang hay đến độ trùm cả lên tên gọi của Nguyễn Bính, thì Còn Một Chút Gì Để Nhớ đã làm nên tên tuổi nghệ sĩ Vũ Hữu Định. Tôi không có ý so sánh, nhưng quả thật, Nguyễn Bính và Vũ Hữu Định có những cá tính, thân phận khá trùng hợp nhau.

Vũ Hữu Định tên thật là Lê Quang Trung, sinh năm 1942 tại Thừa Thiên Huế, trong gia cảnh nghèo túng. Cuộc đời lang bạt nhiều nơi, nhưng Đà Nẵng mới là chốn đi về, cũng là nơi dừng chân cuối cùng của ông.
Vũ Hữu Định bộc lộ năng khiếu văn thơ khá sớm. Những năm đầu thập niên sáu mươi, của thế kỷ trước, ông đã có thơ đăng rải rác trên các báo ở Sài Gòn. Nhưng phải đến chục năm sau,(1970)thơ của ông mới thật sự bước vào độ chín. Dù trước khi dừng bước giang hồ (chết) Vũ Hữu Định chưa có một tập thơ riêng nào, nhưng thơ của ông đã được in một cách trân trọng, sâu đậm nhất, trong lòng bạn bè và người đọc, từ suốt mấy chục năm qua. Tôi nghĩ, Vũ Hữu Định đã chinh phục được nhiều thế hệ người đọc như vậy, bởi sự trong sáng trong thơ, trong tư tưởng, chứ không hẳn chỉ vì tài năng của ông. Thơ Vũ Hữu Định nhẹ nhàng không chỉ trong tình yêu quê hương, tình yêu đôi lứa, tình bằng hữu, mà khi viết về thân phận con người dù trong xã hội, hoàn cảnh bi đát nhất, đắng chát nhất, ta vẫn cảm thấy lời thơ, nỗi buồn ấy, man mác, dìu dịu, dường như thoảng qua thôi. Chứ tuyệt nhiên không thấy nó bùng, hoặc gợn lên một chút hằn học, đắng cay. Nên đọc thơ ông, không gây cảm giác nặng nề, dù người đọc khó và kỹ tính nhất.
Cũng như Nguyễn Bính, cuộc đời Vũ Hữu Định là chuỗi ngày dài khao khát tìm kiếm, trong men say với những bước chân giang hồ. Nhưng nó lại là chiếc vòng luẩn quẩn, Vũ Hữu Định không bao giờ đi tới đích. Cho nên, bốn mươi năm rong chơi, cuộc đời ông chỉ là những áng mây, bồng bềnh trong buổi chiều đông xám ngắt, buồn hay vui cũng chẳng thể giãi bày:
“Chiều dựng mùa đông mây xám ngắt
núi cao trời thấp có ta về
giang hồ đâu có ai phong ấn
mà nghĩ từ quan trở lại quê
——————————-
Ta đi, có những ngày trú quán
lòng mốc tình khô như lá bay
ngồi quán suốt ngày trông thiên hạ
ta có sầu không ta cũng chẳng hay…” (Chẳng Hay)

Thật là kỳ lạ, thoáng đọc qua Vũ Hữu Định, ta cứ ngỡ, trong những lúc bồng bềnh tỉnh say ấy, thi sĩ bất chợt viết ra những câu thơ, làm nao lòng đến như vậy. Nhưng khi bình tâm, đọc ông kỹ hơn, ta mới cảm được, cái lung linh, tinh túy đó, chỉ có thể được chiết, vắt ra từ cái quằn quại trong tâm hồn sâu thẳm, tỉnh táo hơn ai hết của thi sĩ. Biết là thế và rất tĩnh tâm đọc ông, nhưng đôi khi ta vẫn phải giật mình tự hỏi. Thi sĩ vờ? Hay Vũ Hữu Định đang say:
“Anh là một gã giang hồ tới/ Lòng hoang như con lộ không đèn/ Ngồi với hồn sầu ly rượu cạn/ Sao mới vài ly mà đã say?”.
Vâng! Vũ Hữu Định đã vờ say, để vắt ra những câu thơ rất tỉnh. Chỉ một chút hương tinh túy của đất trời, thi sĩ đã chưng cất lên bức tranh Quê Rượu, yên bình tuyệt đẹp. Trước cũng như sau Vũ Hữu Định, có nhiều thi sĩ đã dùng hương, khói bay để diễn tả tâm trạng, hay một nỗi nhớ quê xa…Như câu thơ Huy Cận “ Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà“. Huy Cận bảo, không có khói. Thật ra hương khói ấy, đã có thường trực trong lòng thi sĩ, trong lòng người đọc rồi. Nhưng viết lạ như Vũ Hữu Định, có lẽ chúng ta ít gặp. Thi sĩ bảo, dường như đã say men, say rượu, nhưng đâu phải vậy (ông đang đùa đấy). Ông đang say cái đẹp, cái hương đầu mùa trong làn khói hoàng hôn xuống:
“ Tới đây thấy lúa vàng đang chín
Đứng lại nhìn thôn xa khói bay
Không biết nhà ai đâu nấu rượu
Thoảng thoảng hương mùa đã muốn say” (Quê Rượu)

Có lẽ, không thể thơ nào ép nén ngôn từ, ý tưởng của người thi nhân, như thơ tứ tuyệt. Nó chỉ được(nở) bung ra, khi người thưởng ngoạn chạm đúng vào cái van nén đó. Cấu trúc thơ tứ tuyệt nhỏ là thế, nhưng lại dung tải những điều lớn lao khôn cùng. Thông qua hình tượng cụ thể, nhà thơ gửi vào đó cảm xúc, tư tưởng của riêng mình và đôi khi nó còn là của cả một xã hội đương thời hay chế độ xã hội đã qua…(Nói vui, làm thơ tứ tuyệt cứ như công việc của người thợ nén và nổ bỏng ngô vậy).
Vũ Hữu Định cũng thế, ông có nhiều bài thơ tứ tuyệt hay, nhưng hai bài: Màu Trời Cũ, Cảm Mà Viết 3, được viết trước và sau 1975, tôi thích hơn cả. Có một điều kỳ lạ, cả hai bài đều có nội dung tư tưởng trùng lặp nhau. Nó như là khúc hát u hoài, mang mang niềm tiếc nuối. Dường như người thi sĩ cố giấu đi cái xót xa đau đớn đó. Nhưng trong cơn say, cơn mê, sự thật lại trở lại và nỗi đau kia đã vỡ òa trong ông. Đọc hai bài thơ này, ta chợt ngộ ra cái mâu thuẫn ngay trong nội tâm của thi sĩ. Và cả cuộc đời ông luôn phải đi tìm, giải quyết mâu thuẫn ấy:
“Sáng hôm nào ngó lại
Màu xanh trên trời cao
Màu của trăm năm cũ
Mà sao lòng ta đau” (Màu Trời Cũ)

“Khi tỉnh chẳng bao giờ ta khóc
Lúc say mê khúc hát người xưa
Một ý cũ như là trái đất
Ngấm trong ta bật tiếng khóc òa”. (Cảm Mà Viết 3)

Trong hành trình tìm kiếm đó, lúc nào Vũ Hữu Định cũng cảm thấy cô độc, dù xung quanh ông đầy ắp bạn bè. Và ông luôn luôn là người đi ngược lại những con đường. Để rồi khi thành phố về đêm, ông chỉ còn là người lỡ hẹn. Rồi những bước chân vô định ấy, in lên thành phố, một tiếng lặng câm, dù ông đang nghe thấy hàng nghìn tiếng động. Vâng! Đó là những bước chân đã lỗi nhịp. Dù không tiếng vọng, nhưng nó như ngàn nhát búa gõ vào hồn người. Bài “Tạm Trú“ là một bài thơ hay. Tôi nghĩ, có nhiều người chung hoàn cảnh, đau và thấm thía, khi đọc bài thơ này:
“…trong đám đông anh lại càng cô độc
bởi một nơi đâu cũng ăn tạm ở nhờ
sợ cả lời chia vui thành thật
bạn bè thì đông sao anh vẫn bơ vơ
buổi tối xe lam muộn màng ế khách
lại tới một nơi không hẹn không tìm

anh đi ngược lại con đường xe chạy
mỗi bước chân rời mỗi nhịp đau tim
thành phố lặng là khi nghìn tiếng động
không xô tan được khối lòng sầu
chân anh bước, mắt chỉ nhìn phía trước
tai nghe hoài một câu hỏi về đâu…”

Bước chân đã lỗi nhịp, Vũ Hữu Định chơi vơi trong khoảng không rách nát. Sự cô đơn cùng cực trong cái hoang vắng của linh hồn, nhà thơ tìm đâu ra một tri kỷ? Thời chẳng còn những Thi Thánh, Thi Tiên, cùng với rượu thi sĩ tìm về với Thi Qủi Lý Hạ trong cõi u hoài. Đêm Mưa Thiếu Rượu Nhớ Lý Hạ, là một bài thơ như vậy. Vũ Hữu Định đã mượn Lý Hạ, để giãi bày sự cô đơn trong tận cùng nghèo khổ về cả vật chất lẫn tâm hồn của người thi nhân:
“…Cứ tưởng nằm kề bên họ Lý
Gác chân nhau nói chuyện biển dâu
Ma quỷ sợ tâm hồn ướt rượu
Gối chai không mà thương nhớ nhau
Thời đại thánh thần đi mất biệt
Còn lại bơ vơ một giống sầu
Rót mãi, bao nhiêu tình cũng cạn
Nâng ly, nhìn thấy tóc bạc mau…“

Bốn mươi năm trên cõi tạm của Vũ Hữu Định là vòng tròn luẩn quẩn. Cái luẩn quẩn ấy, có ngay từ trong tâm thức nhà thơ. Do vậy, bao khát khao, khi đi cũng như lúc trở về của ông đều mờ mờ, nhạt nhạt. Và con đường cuối của nhà thơ là con đường lang thang về lại cõi ao tù. Tuy hoang mang cay đắng là thế, nhưng ta vẫn thấy lời thơ nhẹ nhàng, như chính con người ông:
“Bờ chiều sắc cỏ sông xanh
Mây bay anh đứng lại nhìn mây bay
Nỗi niềm vui với đắng cay
Theo sông nước chảy theo ngày phù du
Lang thang về cõi ao tù
Lạ quen ai đó nghìn thu nhớ gì!” (Không Đề)

Đọc Luân Hoán và Hoàng Cát, thấy hai ông thi sĩ này, tử vì thơ đã thấy kinh, nhưng khi nghiên cứu Vũ Hữu Định, tôi còn thấy thất kinh hơn. Nói như từ ngữ thời nay, của mấy ông bà nghệ sỹ trẻ: Vũ Hữu Định đã cháy hết mình cho thi ca. Qủa thật, cháy hay đốt thế nào thì chưa biết, nhưng cứ để vợ con nheo nhóc, nhiều bạn bè dù rất thương Vũ Hữu Định, cũng phải phàn nàn về ông.
Nói là như vậy, nhưng từ một khía cạnh nào đấy trong tâm hồn thi sĩ mới hiểu và cảm thông được cho ông. Nói như nhà thơ Đinh Trầm Ca:
“ Tôi không thích những người vô trách nhiệm, thiếu bổn phận…Hai mươi năm nay tôi lại giống anh lúc trước, tôi mới hiểu được và thương anh. Khi tôi hiểu được thì không còn Định nữa để mời một chén rượu cảm thông. Tôi không nghĩ anh là người ham danh, hay nhẹ nhàng hơn, có chút ưu ái hơn các bạn tôi rằng anh là người say đắm thơ, rượu. Tôi biết rằng những tháng năm đen tối đời anh không nhờ thơ, rượu thì không biết con người anh sẽ ra sao? Và cuối cùng thơ rượu đã cứu rỗi anh.“
Cuộc sống Vũ Hữu Định là những chuyến đi dài, ngắn. Trách nhiệm gia đình chắc chắn dồn lên vai người vợ trẻ. Tôi cho rằng, không phải Vũ Hữu Định ít nghĩ đến trách nhiệm gia đình, mà có thể ông còn nghĩ nhiều hơn đã tưởng. Nghiên cứu về Vũ Hữu Định, tôi thấy có nhiều bài thơ, ông viết về vợ con gia đình, đọc cảm thấy rưng rưng. Vâng! Cũng có lẽ, từ những vần thơ đắng chát này, không những bạn bè mà vợ con gia đình cảm thông cho thi sĩ phần nào chăng?
“…Lần nào em sinh nở
ta cũng phải vắng nhà
tháng này em sinh nở
ta lại trên đường xa
…cám ơn người vợ khổ
chiều nay ta khóc thầm
uống những giọt rượu đắng
ngày xa quê long đong…”.

Cũng như nhiều nhà thơ khác, Vũ Hữu Định là người gắn bó, yêu quê hương, đất nước hơn bao giờ hết “ Mùa lúa năm nay đòng đòng đã trổ/ Anh yêu mùa yêu đất yêu quê“. Dường như, bài thơ nào viết về quê hương đất nước, của ông cũng hay. Lời thơ nhẹ nhàng, giầu hình tượng, tưởng như những nốt nhạc rót thẳng vào lòng người. Và có lẽ, chỉ có tình yêu trong sáng, chân thực người nghệ sĩ mới làm rung động lòng người đến như vậy. Có khi chỉ là làn khói bếp bay lên trong chiều hoàng hôn, bên đồng lúa vàng đang vào mùa gặt, hay một tiếng gọi đò trưa cũng làm tâm hồn ông thổn thức bồi hồi. Và có cơn bão về làm cho lòng ông quằn quại, đớn đau:
“cơn bão lớn về bình nguyên giục giã
run theo cây mùa lúa rạp buồn rầu
cát bụi lộn đường bay tản về đâu
khung cảnh dựng mùa nguyên sơ man dã

con sông nước về tràn mọi ngả
thuyền bè đi, đi mất tự bao giờ
những bến chiều tấp nập mộng ban sơ
đã hun hút trong triều lên trắng xoá…”. (Thời Tiết)

Có thể nói bài thơ Còn Một Chút Gì Để Nhớ là chiếc đinh, đã đóng dính tên tuổi Vũ Hữu Định vào trang, thế kỷ hai mươi với những bài thơ hay của văn học đất Việt. Nó cũng giúp cho nhạc sỹ Phạm Duy, để lại cho đời một nhạc phẩm (cùng tên) mãi ru hồn người.
Có người cho đây là bài thơ tình. Tôi nghĩ, không hẳn như vậy. Và câu chuyện bắt đầu, từ người lính chiến trên đồn biên giới, lần đầu làm thân lữ khách. Có phải người lữ khách đó là Vũ Hữu Định, hay thi sĩ đã hóa thân làm anh lính chiến ấy? Trong tâm trạng buồn tênh, trước khoảng trời xanh dường như đang thấp xuống, thi sĩ chợt thấy em đi trong sương khói mông lung huyền ảo, giữa cái lạnh chiều đông. Để rồi, chợt một phút xuất thần và có lẽ giây phút xuất thần đó đến với Vũ Hữu Định chỉ có một lần? Thi sĩ đã kịp vẽ lại. Thật là kỳ lạ, chỉ có bốn khổ thơ ngắn gọn đơn giản, thế mà dáng vóc, thần thái của phố núi hiển hiện lên rất hoang sơ mà lãng mạn. Nó như là bức tranh hai mặt, thành phố đã tạc vào em, hay em đã tan trong thành phố, làm người lữ khách phải ngất ngây. Cho nên, dù quen, hay người lần đầu đến với Pleiku, trong hoàn cảnh, tâm trạng nào, khi đọc(nghe) cũng cảm thấy gần gũi và không khỏi bồi hồi xúc động.
Và tôi tin rằng, chắc chắn mai này, sẽ có một con đường Vũ Hữu Định mờ mờ sương khói, được gắn với với bài thơ này, trên dáng hình em phố núi Pleiku.
Không hiểu do vô tình hay cố ý, ở trong nước, khi viết, đọc và hát, người ta đã đổi từ TRÊN ĐỒN trong câu thơ nguyên bản: Mai xa lắc trên đồn biên giới, là một câu thơ sống, nó sẽ hiển hiện ra sự sống, hình bóng người lữ khách, người lính trên đồn biên cương, bằng từ BÊN ĐỒI, làm cho câu thơ trở thành câu thơ chết, vô nghĩa vô hồn: Mai xa lắc bên đồi biên giới.
Hay câu: Đi dăm phút đã về chốn cũ. Từ Dăm trong câu thơ bị thay bằng con số đếm NĂM (5) làm cho câu thơ bị đóng khung, gò bó. Từ dăm, ba mang tính ước lệ, làm cho câu thơ thoáng đạt và hay hơn rất nhiều.

Thật vậy, trong một bài thơ chỉ bị thay một từ, một câu ý nghĩa của cả bài sẽ khác đi nhiều lắm.
Và thật kỳ lạ, trên bia mộ thi sĩ Vũ Hữu Định cũng thấy khắc câu thơ vô nghĩa “Mai xa lắc bên đồi biên giới“ này? Tôi nghĩ, nếu như vì lý do gì đó, không được sử dụng nguyên bản, nên đổi câu thơ, đoạn thơ khác của thi sĩ. Vũ Hữu Định không thiếu những câu thơ hay. Nghe nói, bia mộ này, do các nhà thơ bạn của thi sĩ cùng với gia đình dựng lên?
Chúng ta hãy đọc(nghe) bài thơ này, để cảm lại tài năng của thi sĩ Vũ Hữu Định nhé: (http://www.youtube.com/watch?v=WPS1MVmvEeU)
“phố núi cao phố núi đầy sương
phố núi cây xanh trời thấp thật buồn
anh khách lạ đi lên đi xuống
may mà có em đời còn dễ thương
phố núi cao phố núi trời gần
phố xá không xa nên phố tình thân
đi dăm phút đã về chốn cũ
một buổi chiều nào lòng bỗng bâng khuâng
em Pleiku má đỏ môi hồng
ở đây buổi chiều quanh năm mùa đông
nên mắt em ướt và tóc em ướt
da em mềm như mây chiều trong
xin cảm ơn thành phố có em
xin cảm ơn một mái tóc mềm
mai xa lắc trên đồn biên giới
còn một chút gì để nhớ để quên”.

Sinh ra và lớn lên, rồi phải sống cùng chiến tranh, nên Vũ Hữu Định nhận ra sự tàn khốc của nó. Đọc bài thơ Trên Đoạn Đường Về Quê của ông, được viết vào năm 1972, làm tôi chợt nhớ đến câu thơ, của Nguyễn Duy “nghĩ cho cùng/mọi cuộc chiến tranh/phe nào thắng thì nhân dân đều bại“ Tôi nghĩ, đây là bài thơ rất hay, viết về chiến tranh trong kho tàng thi ca đất Việt. Nó không những hay về nội dung nghệ thuật, mà còn bộc lộ rõ tư tưởng, cái nhìn khách quan của nhà thơ về chiến tranh. Cuối bài thơ là một câu hỏi, đọc lên ta cảm thấy đau đến xé lòng “Những dòng máu đã thấm tràn mạch đất/Có làm tương lai con cháu huy hoàng?“. Huy hoàng sao được khi con cháu chúng ta cũng là nhân dân. Đã là nhân dân thì sự thất bại là điều không tránh khỏi. Và tương lai, đã thấy những gì từ mấy chục năm qua?
“Lửa đã cháy đường ra quê em
Lửa đạn, lửa trời đốt người nghiệt ngã
Lửa đã cháy trong lòng anh hóa đá
Giữa biển người thành thú bò ngổn ngang

Trong hai lằn đạn giữa đồng hoang
Máu chảy ngập chân lúa gầy cỏ dại
Máu đã đỏ con đường anh đi lại
Của những ngày xưa yêu dấu vô cùng

Ôi con trẻ cũng biết tìm sự sống
Bò giữa hôn người vừa chết nát thân
Đêm ngã xuống vô tình con trăng bạc
Những tiếng gọi gào sao không động từ tâm

Lửa rực đỏ treo trăm đường sinh tử
Trong đêm cay, đêm địa ngục hãi hùng
Mẹ thét tìm con tóc dài điên dại
Xiêu vẹo giữa đường chết đuổi sau lưng

Lửa đã cháy đường ra quê em
Lửa đã cháy một đoạn lòng của mẹ
Ôi cái chết có còn chăng lý lẽ
Có lý lẽ nào đã giết anh em

Ðường ra quê em trăm ngàn cay đắng
Lửa hạ đạn gào trăm tiếng kêu la
Những dòng máu vô tình vô tội
Ðã chảy lên nhau thành suối chan hòa

Lửa Quảng Trị lửa rượt về Mỹ Chánh
Rải những thây người gục giữa đồng khô
Những dòng máu đã thấm tràn mạch đất
Có làm tương lai con cháu huy hoàng?”

Với tôi, một số bài thơ viết về tình bạn, tình yêu đôi lứa, tôi đã đọc, không phải là những bài thơ hay của Vũ Hữu Định. Viết về tình bạn, tình yêu của ông thường nặng tính kể lể, liệt kê. Chứ hoàn toàn không triết lý sâu sắc viết về tâm trạng, thân phận con người như trong thơ tứ tuyệt. Hay trữ tình, giầu hình tượng như viết về quê hương đất nước. Hôm rồi, có một nhà thơ gửi cho tôi tập Thơ Vũ Hữu Định Toàn Tập, do nhóm nhà thơ Trần Hoài Thư sưu tầm, nhà in Thư Ấn Quán, Hoa kỳ. Đây là tập thơ thứ hai của Vũ Hữu Định. Nhưng tôi tin chưa đầy đủ, thơ của thi sĩ vẫn còn luẩn quất đâu đó. Trong tập thơ này, có bài Một Chiếc Gương Soi, rất dở. Lời thơ sên sến, nhạt nhạt. Không biết Vũ Hữu Định viết bài thơ này vào thời gian nào?(có sự nhầm lẫn khi sưu tầm hay không?) Nếu xóa tên tác giả đi, tôi tin, không ai nghĩ, đó là thơ của Vũ Hữu Định:
“Với số tiền còn lại ngày ở Sài Gòn
Em sẽ soi gương mỉm cười rẽ tóc
Em sẽ nhìn để nhớ anh hôn
Mua cho em chiếc gương tròn bỏ bóp
Quà Sài Gòn về tặng người yêu
Buổi trưa nắng trong vườn xanh Đại Nội
Em sẽ vì anh tô lại môi thơm
Để em nhớ hàm răng em có ngọc
Mắt em đa tình, em sẽ soi gương
Để nhớ anh những ngày xa cách
Tập lại duyên cài lại tóc hoa hường
Anh còn lại năm mươi đồng trong túi
Không mua được gì ngoài một chiếc gương
Bởi anh nghĩ xa nhau còn để nhớ
Trong gương soi anh hôn hết nỗi buồn“

Cứ tưởng mới đây thôi, thế mà đã trên ba mươi năm, Vũ Hữu Định từ bỏ hành trình “đi học làm thơ, xin phần rượu tặng“ trong nhân gian, để về đối ẩm, ngâm thơ cùng Thi Qủi Lý Hạ.
Bốn mươi năm cuộc đời là bốn mươi năm thi sĩ Vũ Hữu Định khao khát, mải miết đi tìm. Tuy nó ngắn ngủi và đường đi chưa tới…nhưng hình ảnh ông, thơ văn ông để lại cho đời, vẫn mãi đậm sâu trong lòng bạn bè và người đọc.
Leipzig 10-4-2014
Đỗ Trường


Phần nhận xét hiển thị trên trang

CHÍNH SÁCH ĐỒNG HÓA ĐẠI VIỆT CỦA QUÂN MINH

Hạ Long Bụt sĩ


-         21 năm-1407-1428 kế hoạch đồng hóa Việt của Tầu.
-         21 năm Hán hóa văn hóa Việt, từ Bụt sang Phật.
-         21 năm trấn yểm long mạch đế vương đất Bắc.      

Nhà Minh đô hộ Đại Việt chỉ có 21 năm, 1407-1428  (dài bằng thời gian đất nước chia đôi 1954-1975), nhưng lại là bước ngoặt lịch sử rất quan trọng, nó chấm dứt 400 phục hưng Lạc Việt của hai triều Lý Trần 1010-1400, gây hệ quả hướng Tầu tai hại cho tới bây giờ.


A-Chính Sách Đồng hóa Việt của nhà Minh
Trong Bình Ngô Đại Cáo Nguyễn Trãi kể tội quân Minh :
…Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn
Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ
Chước dối đủ muôn ngàn khóe
Ác chứa ngót hai mươi năm
…Độc ác thay! Trúc rừng không ghi hết tội
Dơ bẩn thay, nước biển không rửa sạch mùi…

Quỷ kế đồng hóa rất bài bản :
1-   Về Tinh thần : quân Minh lập 861 đền miếu, bắt dân cúng tế bách thần, xã tắc, sơn xuyên theo Tầu, 444 đàn tràng, 68 nha môn chuyên về Âm Dương học, học hành theo Tầu, đốt sách hay mang sách do người Việt viết về Tầu, phá đổ bia đá. Lập Tăng Đạo ty giảng Phật Lão theo lối Tầu. Từ Bụt đổi sang Phật từ đây (vì Tầu không phát âm được B, chỉ có âm P như Pán hàng thay vì Bán hàng). Xóa quá khứ một nước chính là cách đồng hóa thâm độc nhất, quân Minh lập ra 252 cơ quan phụ trách tôn giáo và mê tín dị đoan nhằm hạ thấp tôn giáo thành ma giáo. Phá hủy 2 An Nam Tứ Khí (chuông Quy điền, vạc Phổ minh, tháp Báo thiên, tượng Bụt Quỳnh Lâm)

2-   Xã hội : bắt dân ăn mặc áo ngắn quần dài như Tầu, không nhuộm răng, không được cắt tóc. Giới hạn sĩ số đi học (mỗi phủ 1 người 1 năm !), bổ dụng làm quan. Thổ quan, thổ binh là chính sách dùng người Việt trị người Việt, nhưng dân chúng trốn vào rừng núi phản kháng. Lập trạm liên lạc bằng thuyền, ngựa, từ Việt sang Tầu để tiếp ứng cứu viện. Riêng Trương Phụ khi về Tầu bắt theo 9000 người Việt, gồm rất nhiều phụ nữ, con hát, phường nhạc, thợ giỏi, thầy thuốc, trong năm 1408 quân Minh lấy được: 235.000 voi ngựa trâu bò, 13.600.000 thạch thóc, 8.670 chiếc thuyền, 2.539.800 binh khí. Dân phu, thợ xây cất kiến trúc (như Nguyễn An) bị bắt về Tầu xây dựng kinh đô mới Bắc Kinh cho nhà Minh.

3-   Hành Chính- Lập Tam Ty : Ty Đô, Ty Bố, Ty Án cai trị Giao Chỉ quận (bỏ tên nước Đại Việt Lý Trần, hay Đại Ngu nhà Hồ, Hoàng Phúc kiêm hai Ty Bố và Án.) Ty Bố chính gồm 419 cơ quan sau tăng lên 837 cơ quan nhằm cai trị thu thuế chặt chẽ cả nước. Bắt dân làm thẻ chứng minh ghi tên tuổi, cai trị chia theo Lý, Giáp…110 hộ làm 1 Lý. Tên Lý trưởng bắt đầu có từ đây. Theo Minh Sử, dân số Giao Chỉ có 3 triệu 120,000 người, man dân 2 triệu 087.500 người

Thuế má nặng, thuế ruộng, thuế muối, bắt dân đi khai mỏ, mò ngọc, tìm sừng tê ngà voi, cống tiến về Tầu hồ tiêu, quế…

Tước đoạt mọi vũ khí trong dân chúng, tiêu diệt phản kháng tàn bạo như : chém giết thả cửa, chất thây thành núi, rút ruột quấn vào cây, rán thịt người lấy mỡ, làm nhục hình bào lạc mua vui, mổ bụng người mang thai, cắt tay mẹ con dâng cho giặc… ( Việt Sử Thông giám cương mục), thiến hoạn con trai mang về Tầu làm quan thị.

B- QUỶ KẾ YỂM TRIỆT PHONG THỦY
Trước Trạng Trình 100 năm, trong 21 năm thuộc Minh, một phong thủy sư nổi danh của Tầu là Hoàng Phúc đã đến triệt yểm địa lý nước ta. Hoàng Phúc xuất thân Tiến sĩ, mang chức Thượng Thư, giữ việc Bố chính (hành chính) và Án Sát trong chiến dịch cai trị đồng hóa Việt Nam. Việc cử một quan Thượng Thư sang nước Nam nói lên tầm quan trọng của của việc cai trị  và nhất là cơ mật vụ triệt yểm các long mạch đại phát trên đất Việt.

 Hoàng Phúc bắt khắp nơi lập đền miếu thờ bách thần, thổ thần, sơn thần, thần sông, thần gió... bên cạnh văn miếu. Lập Tăng cương ty và Đạo kỳ ty để truyền bá đạo Phật và Lão cùng với đạo Nho... Ngay tại Đông Quan (Thăng Long), Hoàng Phúc lập nhà Giao Chỉ Học để chiêu dụ nhân tài, nơi đây Nguyễn Trãi gặp Hoàng Phúc sau khi đi tiễn cha là Nguyễn Phi Khanh bị bắt về Tầu cùng với cha con Hồ Quí Ly. Sử liệu cho thấy Hoàng Phúc can thiệp để Nguyễn Trãi không bị quân Minh hạch tội, và trong thời gian từ 1407-1416 bị quân Minh giam lỏng ở Đông Quan. Sau này cùng Lê Lợi kháng chiến thành công, Nguyễn Trãi bắt được Hoàng Phúc và  đối xử tử tế với Hoàng Phúc, một kẻ thù trí thức. Truyện kể lại rằng Nguyễn Trãi biết Hoàng Phúc có biệt tài về phong thủy nên mời Hoàng Phúc tới xem đất Nhị Khê là quê quán của dòng họ Nguyễn. Hoàng Phúc nhìn ra vườn sau nhà ở Nhị Khê rồi từ tốn nói : "Số tôi có phúc dầy nên gặp hạn  xấu cũng chỉ bị nhiều lắm là 100 ngày, chứ gò đất sau nhà ông, đâm vào trong nhà thế kia, thì ông sẽ bị mang họa mấy đời!" Quả đúng như lời Hoàng Phúc, ít lâu sau các quan quân nhà Minh đều được thả về Tầu để tạo giao hảo hai nước, còn Nguyễn Trãi 15 năm sau (1442) bị chu di tam tộc vì vụ Thị Lộ. Khi nghe Hoàng Phúc nói về gò đất đâm vào nhà, Nguyễn Trãi không dám tin hẳn và không cho phạt đi như lời Hoàng Phúc khuyên vì nghi bị họ Hoàng thâm gạt.

           Nguyên Hoàng Phúc khi sang đất Việt đã mang theo cuốn Địa Lý của Cao Biền đời Đường để làm bản đồ nghiên cứu địa hình nước ta. Thời xưa, sách Địa Lý đúng là một tài liệu quân sự, ghi rõ hình thể sông, núi, đồi, gò, cao điểm, hạ lưu, mạch núi, thời tiết... nên Hoàng Phúc đã tới những linh địa do Cao Biền ghi chép. Một trong những linh địa ấy là Tam Đảo gần đền Hùng. Núi Tam Đảo gồm ba ngọn cao thẳng đột khởi gần như đối xứng với ba ngọn Ba Vì  (Tản Viên ) bên kia sông Hồng, hợp với Thăng Long, thành ba đỉnh tam giác đều. Tam Đảo tay long, cao hơn Ba Vì 300 mét (1591m) với ngọn cao nhất là Phù Nghĩa, ngọn giữa cao vót gọi là Kim Thiên hay Thạch Bàn có bia Cao Biền dựng, ngọn bên tả là Thiên Thị. Trên đỉnh núi có ngôi chùa Đồng đúc toàn bằng đồng rất cổ, sườn núi có chùa đá khắc chữ Địa Ngục Tự, suối nước vàng chói từ khe cửa chảy ra nhập vào suối Giải Oan. Trên tầng  núi khá cao, khoảng 3 dặm, có một khoảng đất bằng phẳng, với ba nền đất dài, tám phiến đá vuông và một tấm bia lớn khắc vỏn vẹn bốn chữ lớn "La Thành Bất Loạn" bên cạnh có dòng chữ nhỏ "Minh Thượng Thư Hoàng Phúc cẩn đề". (xem Kiến Trúc Phật Giáo VN-Nguyễn Bá Lăng)

          Cả Cao Biền lẫn Hoàng Phúc, hai danh thủ Phong thủy Trung Hoa, cách nhau hơn 500 năm đều dựng bia ở Tam Đảo, vậy có thể nơi đây kết long mạch đặc biệt. Điều này tác giả Vũ Trung Tùy Bút, Phạm Đình Hổ, từ thế kỷ XVIII luận giải như sau :
          " ...Mạch núi Côn Lôn chạy vào (Trung Hoa) chia làm ba cán Long : một đằng theo sông Hoàng Hà chạy về phía Bắc, ... một đằng theo núi Mân Sơn chạy về phía Đông,...một đằng theo sông Hắc Thủy chạy về phía Nam...phía Đông sông Hắc Thủy là những  tỉnh Vân Nam, Quí Châu, Hồ Nam, Quảng Đông, Quảng Tây và Lão Qua kéo dài tới tận núi Tiểu Côn Lôn lại biệt làm một chi thiếu tô. Chi này chạy sang nước ta  lại chia làm ba :
- Chi bên hữu chạy qua sông Đà Giang là những tỉnh Hưng Hóa, Sơn Tây, Sơn Nam, rồi chạy vào Nghệ An, Thanh Hóa, cho đến Thuận, Quảng thì tản ra các cù lao gần biển...

- Chi bên tả qua Tuyên Quang, Cao Bằng, Lạng Sơn, Quảng Yên rồi qua đến biển là Hồng Đàm, đảo Đại Nhân...

- Chi giữa tự núi Tam Đảo trở xuống, mênh mông liên tiếp thành ra những tỉnh Thái Nguyên, Kinh Bắc, Trung Đô, Hải Dương, Sơn Nam ... "   ( tr. 46-47 ).
            Tác giả kết luận "  địa thế nước ta, toàn thể cũng giống Trung Hoa, chỉ có nhỏ hơn mà thôi ".

          Nhìn tổng quát như vậy ba ngọn Tam Đảo là chi giữa, làm tổ sơn cho toàn châu thổ Hồng Hà, là mạch xuất phát đổ khí lực vào Thăng Long, trong khi núi Ba Vì thuộc chi hữu mà Nguyễn Trãi, tác giả Dư Địa Chí và mọi nhà lý số, đều gọi là tổ sơn của cả nước. Tại sao lại có hai quan điểm không đồng nhất về tổ sơn ? Theo suy luận, núi Ba Vì tròn như cái lọng, sườn núi thoai thoải rồi vọt cao đứng, đó là hình núi thuộc Kim, núi Tam Đảo đỉnh phẳng lẫn đất đá, cây cối um tùm, xây được chùa Đồng, như vậy có thể là hình dạng  Mộc. Cao Biền biết Sơn thần núi Tản rất thiêng nên không dám xâm phạm, còn ở Tam Đảo không thấy nói tới sơn thần (mặc dù có vườn Tiên rất linh thiêng cầu đảo rất ứng), hoặc có thể Cao Biền đã dùng pháp thuật chế khắc được nên mới dám dựng bia xây thành? Vả lại, thế kỷ IX, khi chống quân Nam Chiếu ở Vân Nam đổ xuống, thì Tam Đảo là một cao điểm chiến lược ở tuyến đầu che cả miền châu thổ sông Hồng. Khi Hoàng Phúc sang đất Việt, ông ghi nhận "La Thành Bất Loạn" để tán dương cái thế đất quân bình Âm Dương, Long Hổ của Đại La. Thời Minh các núi Tam Đảo, Tiên Du... tổng cộng 21 quả núi danh tiếng của An Nam, được tế tại giao đàn cùng với sông núi Trung Hoa (đời Hồng Vũ nhà Minh, theo Đại Nam Nhất Thống Chí). Nhưng khi nhìn tới bối cảnh của Tản Viên thì thấy tổ sơn này tụ long mạch của cả một rặng núi dài và cao là rặng Hoàng Liên Sơn song hành với sông Đà khí lực mạnh mẽ, lại nằm ở vị thế kín đáo, nên có phần trường viễn hùng hậu hơn Tam Đảo.

 Hoàng Phúc có thành công trong việc triệt hạ các long mạch đế vương trên đất Bắc Việt hay không, quả thật khó minh chứng. Chỉ biết rằng thời Minh, với Lưu Bá Ôn, một đại lý số gia, thì khoa phong thủy đã được dùng như một phương pháp dư địa chính –geopolitics- hay ít nhất như một phương pháp song song với phép cai trị. Chưa kể từ thời Cao Biền, khoa Phong Thủy bao gồm cả thuật chôn sống trinh nữ làm thần giữ kho vàng, mổ bụng người nhét chấu làm âm binh, lập đàn tế chiêu dụ thần núi thần sông rồi bất ngờ chém… Sau thời Minh thuộc có một vài hệ quả cần suy ngẫm : 
1-    Từ tk 15, quyền lực ngai vàng đi về phương Nam, họ Lê, gốc Mường Thanh Hóa, tiếp đến Lê-Trịnh -Tây Sơn, Nguyễn- CS miền Bắc, Quốc gia miền Nam… các vị nguyên thủ đều không phải gốc Bắc Lạc Việt Hồng Hà. Ngoại trừ hơn 60 năm nhà Mạc (1527-1592), khối dân Bắc Việt mất hẳn thế lực chính trị. Miền Bắc Lạc Việt chỉ còn giữ căn bản văn hóa làng xã, giới sĩ phu khoa bảng đa phần nhu nhược, bát sách, đa ngôn… hơn là chân trí thức. Phải chăng do Hoàng Phúc triệt hạ các đất đế vương đại địa nguyên thủ trên đất Bắc? Có thể vùng sâu, xa, như Thanh Hóa, Nghệ An…Hoàng Phúc không đủ thì giờ yểm triệt, hoặc Cao Biền không quan tâm vì cho là viễn châu thuộc Lâm Ấp, Chiêm, đất hẹp, sông nông, núi không cao…chăng ? Các thế đất phát của họ Lê vùng núi rừng Thanh-Lào, Tây Sơn vùng Cao nguyên Việt-Lào…đã không bị triệt yểm.
2-    Sau Lý, Trần, Mạc, công trình phục hưng văn minh Lạc Việt hơn 400 năm bị ngưng lại, ảnh hưởng Nho Tầu biến dần nước Nam thành một mảng văn hóa Tầu : Bụt thành Phật, hiền sĩ thành Nho sĩ, thiện trí thức thành Tiến với Cử phục vụ triều đình, Văn ôn Vũ luyện thành Tiên học Lễ hậu học Văn, nhất nhất đều tôn phù Bắc phương mà không quân bình Ấn-Trung, không phát huy Lệ Làng, đồng tôn, đồng quy, đồng tiến như trước.
3-    Sự yểm triệt phong thủy thường  tác hại được 300 năm hoặc 500 năm. Sang đến cuối tk 20, các mạch đất miền Bắc đã tái sinh động cải vận, một số nhân vật gốc Bắc đã lên được địa vị lãnh đạo, trong khi suốt 140 năm nhà Nguyễn (1802-1945), chỉ có một người gốc Bắc là Phạm Quỳnh (Hải Dương) làm tới Thượng Thư đệ nhất phẩm mà thôi, tới thời 1965 có Nguyễn Cao Kỳ (Sơn Tây) cũng chỉ làm tới Phó TT và Chủ tịch Hành pháp được vài năm ngắn ngủi. Nhưng các huyệt kết đại địa đế vương trên đất Bắc, bền vững như Hùng, Lý, Trần… vẫn chưa hội đủ Thiên thời, Địa lợi, Nhân hòa để chấn phát.

KẾT LUẬN
 - Tầu từ thời Tần Thủy Hoàng đến giờ chưa bao giờ biết đến dân chủ tự do, vẫn ngụp lặn trong vũng lầy phong kiến, loại phong kiên phi nhân, tàn bạo, coi rẻ mạng sống, khinh thị phụ nữ, tự cao miệt thị Man Di, lấy miếng ăn nặng hơn danh dự đạo đức (khác hẳn văn hóa Phật/Ấn Hy Mạ Lạp Sơn). Hán du mục máu săn bắn, to khỏe, ăn tươi nuốt sống, các lân bang Thần Nông như Việt, Thái, Lào…khó sống yên ổn với họ.

- Lối đồng hóa tiệm tiến, như tằm ăn dâu của Tầu ngày càng nguy hiểm : với mật độ dân số quá cao, nhiều nam hơn nữ, họ sẽ lấn đất khắp nơi, lập khu khai thác tài nguyên riêng, rồi lấy vợ xứ “man di” sinh con đẻ cái nhằm Hán hóa sau 2-3 đời, ngay ở Phi châu họ cũng không tha, chẳng nói gì tới Tây Tạng 6 triệu dân bị 20 triệu người Tầu đè nén, mang ác căn gieo lên thiện địa, lấy duy vật ép lên duy linh, mở hắc điếm trên đỉnh Tuyết sơn Hy mã !

- Việt Nam hiện nay.. vận nước Nam ta còn dài, thánh nhân đại địa Ba Vì, Tam Đảo còn linh, mạch Cửu Long còn vượng, nên sẽ có lúc thiên lý xoay chuyển đến hội Long Hoa tứ hải lạc âu ca vậy.

Tham Khảo
-Việt Nam Sử Lược I-Trần Trọng Kim
-Nhìn Lại Sử Việt II-Lê Mạnh Hùng xb 2011 Tổ Hợp XB Miền Đông Hoa Kỳ
-Lịch Sử Việt Nam-Nguyễn Phan Quang, Võ Xuân Đàn xb 2000 VN
-Đại Việt SK Toàn Thư-Ngoại Kỷ-bản Nhượng Tống 1944 tái bản Đại Nam-Cali.
-Lịch sử VN tập III tk XV-XVI xb 2007 Viện Sử Học- VNcs
-Đại Cương LSVN-Trương Hữu Quýnh tập I- 2004 tái bản lần thứ 7-Giáo Dục,VNcs.
-Nguyễn Bá Lăng : Kiến Trúc Phật Giáo VN ( tr.156-57) và Chùa Xưa Tích Cũ.
- ĐVSK Toàn Thư, ĐVSK Tiền Biên, Khâm Định…
Ghi chú I :Việt Sử Siêu Linh-Lưu Văn Vịnh xb 1999 với thư tịch đầy đủ hơn về Địa Lý. ( gần đây khi đào vét khúc sông Tô Lịch, Cầu Giấy, tại Hà Nội còn thấy các công cụ yểm triệt cả 1000 năm trước như 8 bộ xương người, bát đĩa, 7 cọc đóng rất lạ theo hình đa giác đều, tấm gỗ có hình bát quát, và còn tác hại tới người đào vét, mũi khoan gãy 3 lần.. nhiều người bị tử vong kể cả nhà thầu, nhà sư lập đàn cúng tế (?) có thể đây là trận đồ trấn yểm sông Tô Lịch, mạch chính của thành Đại La, khí lực xuất từ Tản Viên sơn, Cao Biền từng chôn 4 tấn sắt, đồng để yểm triệt đền Bạch Mã (nay còn ở Hàng Buồm) là nơi thờ Thần sông Tô Lịch, đặt bùa 19 điểm trấn yểm dọc sông Tô Lịch là khí mạch chính của Đại La, Thăng Long. (Xem mạng về Thánh vật sông Tô Lịch 9/2001, gs Sử học Trần Quốc Vượng nhận rằng đây là trận đồ trấn yểm phong thủy).
Ghi chú II : Dân số Tầu đời Minh 1393 mới hơn 60 triệu, đến đời Thanh 1747 đã tăng lên gần 200 triệu. Toàn binh lực nhà Minh là 1tr.198.434 binh sĩ, con số 80 vạn quân sang đánh Việt là phô trương, vì chẳng lẽ lại mang 2/3 tòan lực sang xâm lăng, trong khi phía Bắc vẫn chưa yên (theo xét đoán của Whitmore nhà Minh sang đánh Việt với khoảng 215.000 quân.). Dân số Việt tk 15, khoảng 5 tr., chưa bằng 1/10 dân số Tầu (tra cứu từ Google).


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Ngu thời chít, hỏi giề??

BUÔN LẬU

Mình rất ngu về kinh tế, ngu một cách sâu sắc và toàn diện luôn. Hôm nọ đi Ấn Độ, mua gì toàn hỏi em Dili, em ơi cái này bằng ấy rupee, quy ra tiền Việt là bao nhiêu? em ấy lại rút điện thoại ra bấm bấm 1 hồi, mồ hôi hơi rịn ra rồi nói, chả biết trúng hay trật. Mình lại ngẩn ra lúc nữa xem nó rẻ hơn hay đắt hơn ở nhà rồi mới... quyết một cách hoành tráng...

Vậy nên mấy hôm nay rất thắc mắc khi thấy Bộ Công an vừa triệt phá 1 vụ buôn lậu xăng cực lớn, là mua xăng từ nước ngoài về bán ở Việt Nam. Sáng nay ngứa tay và cũng ngứa... óc, vì không hiểu nổi, viết status trên facebook thế này:

"Bác nào thông thái cho nhà cháu hỏi tí:

Các ông xăng dầu, có sự bảo trợ xác nhận của bộ Tài chính, luôn kêu kinh doanh xăng dầu lỗ vì giá bán trong nước thấp hơn giá thế giới lẫn giá khu vực, vì thế liên tục tăng giá, liên tục liên tục liên tục...

Trong khi đó, Bộ công an, trực tiếp là Tổng cục an ninh, vừa triệt phá một vụ buôn lậu xăng cực lớn, lớn không hình dung được, chỉ biết mỗi ngày nó lời đến mấy tỉ bạc, có nguồn tin còn nói cả chục tỉ.

Vậy thì dứt khoát phải có 1 trong 2 thằng điên. Một là thằng buôn lậu. Giá trong nước thấp hơn rồi thì nó buôn lậu vào để nó... phát không à? Hai là thằng xăng dầu, nó cứ tăng liên tục như thế mà nó không điên mới lạ, vì cứ theo thằng buôn lậu mà suy, phải bán có lời, mà là lời lớn, mấy tỉ 1 ngày, nó mới buôn cho bõ, vậy thì dứt khoát giá nó bán thấp hơn nhiều cái anh xăng dầu độc quyền kia.

Nghĩ mãi chả ra, vậy thì xăng của mình đang cao hay thấp? Hay là nó đang... cong mềm mại...".


15 phút, có gần 100 like và hơn 20 comment. Về cơ bản càng còm thì càng thấy chả ai... hiểu gì.

Vậy nhà cháu lại đưa lên đây hỏi xem có bác nào thông thái cho nhà cháu (và nhiều người nữa) biết với ạ. Lâu nay chỉ biết 2 việc: một là ngành xăng dầu luôn lỗ, luôn phải tăng giá cho khỏi lỗ nhưng càng tăng lại càng lỗ và tất nhiên thì càng lỗ lại càng tăng. Nhà nước đã phải lập quỹ bình ổn giá, có lúc nghe nói thuế nhập khẩu còn bằng không, để doanh nghiệp phục vụ nhân dân cho nó hào sảng. Và hai là toàn dân miền Tây buôn xăng từ Việt Nam bán sang Campuchia vì giá xăng Campuchia (và cả Lào) cao hơn ở Việt Nam rất nhiều (thấy tivi tuyên truyền thế), giờ lại có sự buôn ngược lại.

Tóm lại là, tít mù nó lại vòng quanh ạ...

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thứ Năm, 10 tháng 4, 2014

Trùm CIA cuối cùng ở miền Nam Việt Nam qua đời


Thomas Polgar. Ảnh NYTimes
Thomas Polgar. Ảnh NYTimes
Sài Gòn xin tắt tiếng
Thomas Polgar, trùm cuối cùng của tình báo Mỹ CIA đã qua đời hôm 22 tháng 3 tại Florida nhưng đến 7 tháng 4, báo chí Mỹ mới đưa tin.
Tháng Tư 1975, Polgar là người giúp đưa những người Mỹ còn lại ra khỏi Việt Nam bằng trực thăng. Một trong những việc làm cuối cùng trước khi phá hủy chiếc máy đánh công điện về Washington là chuyển đi bứcđiện cuối cùng:
“Đây sẽ là bức điện cuối cùng từ nhiệm sở Sài Gòn,” ông viết. “Chúng ta đã trải qua một cuộc chiến dai dẳng và khó khăn, và chúng ta đã thua. Trải nghiệm này, độc nhất trong lịch sử Hoa Kỳ, không nhất thiết là dấu  hiệu suy tàn tư thế nước lớn của Mỹ.
Tuy nhiên, mức nghiêm trọng của chuyện thua cuộc và tình huống bao quanh của nó, dường như cho chúng thấy cần đánh giá lại các chính sách nửa vời yếu kém, tiêu biểu phần lớn cho sự tham dự của chúng ta tại Việt Nam mặc dù chúng ta có cam kết về nhân lực và vật lực, hai thứ này rõ ràng là hào phóng. Những ai không chịu học hỏi ở lịch sử bị buộc phải lập lại nó. Chúng ta hãy hy vọng sẽ không có một trải nghiệm Việt Nam khác và chúng ta đã học được bài học.”
Bức điện chấm dứt với câu: “Sài Gòn xin tắt tiếng.”
Cuộc đời người đánh công điện
Chào đời tại Hungary, nhập tịch Mỹ năm 1943, cuộc đời làm tình báo của ông bắt đầu với Lục quân Mỹ vào những năm cuối cùng của Thế Chiến 2. Lục quân chuyển ông sang OSS (các đảng viên CSVN chắc còn nhớ các sĩ quan OSS đã từng bí mật gặp Hồ Chí Minh) trước khi cơ quan này đổi tên thành CIA vào năm 1947. Có lẽ Polgar là bô lão cuối cùng của CIA thuộc thế hệ OSS cựu trào.
Trong thập niên 1950, Polgar làm ở Berlin, chỉ huy các hoạt động tình báo tại Đông và Tây Đức. Thập niên 1960, ông làm ở Vienna, thủ đô Áo và trở về trụ sở trung ương CIA ở bên ngoài Washington. Năm 1970, ông đến Buenos Aires, nơi ông giúp thu xếp một vụ không tặc bằng cách bước vào trong khoang nói chuyện với kẻ cưỡng đoạt máy bay. Năm 1971, Polgar khăn gói sang châu Á, nơi ông chuẩn bị nhận nhiệm sở ở Sài Gòn.
Rời Việt Nam, Polgar được điều sang Mexico City, Mexico và rút lui khỏi CIA năm 1981. Trong thời gian nghỉ hưu ông có làm một vài công việc theo hợp đồng, trong đó có giúp một ủy ban Thượng viện điều travụ Iran-contra của chính phủ Reagan.
Ông qua đời hôm 22 tháng 3 tạiWinter Park, Florida, thọ 91 tuổi.
Polgar qua Snepp và Hưng
Frank Snepp, một chuyên viên CIA tại Việt Nam, tác giả quyển “Decent Interval” nói về những ngày cuối cùng của chế độ VNCH, tố giác Polgar đã không thuyết phục được lãnh đạo Mỹ rằng miền Bắc Việt Nam quyết tâm muốn chiếm được miền Nam bằng mọi giá.
Polgar trả lời ông tôn trọng ý kiến của Snepp nhưng ý kiến đó chỉ là “quan điểm riêng tư về cuộc chiến.”
Trong quyển “Khi đồng minh tháo chạy,” Tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng kể lại những lần  Đại sứ Graham Martin về Washington báo cáo tình hình Việt Nam cho Tổng thống Ford và Ngoại trưởng Kissinger đều sử dụng những thông tin do Polgar cung cấp.
Về chuyện sắp xếp đằng sau hậu trường để giải quyết chiến tranh Việt Nam thì “trong khi tại Washington, các ông Ford và Kissinger đi qua ngả Dobrynin (đại sứ Nga tại Washington) để nhờ Nga Xô áp lực Hà Nội, thì ở Sài Gòn, hai ông Martin và Polgar liên lạc qua ngả đại diện Hungary trong phái đoàn Kiểm soát đình chiến và Đại Sứ Pháp Merillon.”
Về giải pháp chính trị cũng có tình trạng trống đánh xuôi kèn thổi ngược. “Trong khi Ford-Kissinger chỉ mong có một giải pháp tình thế, một tình huống trong tầm kiểm soát, để Mỹ có thể rút ra cho yên ổn, thì Martin lại muốn theo đuổi một mục tiêu lâu dài hơn: đó là có được một giai đoạn chuyển tiếp để:
- Thứ nhất, giúp Mỹ ra đi tư từ, chứ không vội vã và mất mặt.
- Thứ hai, di tản một số người Việt nhiều hơn là Washington đã dự tính.
- Thứ ba, để tránh xung đột Mỹ-Việt.”
Tác giả“Khi đồng minh tháo chạy” thuật lại chuyện Hà Nội đổi ý đêm 27 tháng 4. “Tại Sài Gòn, theo Đại Sứ Martin, tuy là hồi tháng ba, ông đã có tin tình báo là Hà Nội đã quyết định đi tới một chiến thắng hoàn toàn quân sự, nhưng cả ông và Polgar không đặt nặng sự chính xác của bản tin này. Theo ông, lý do là vì cũng cùng một lúc đó, lại có thông tin từ phía đại diện của mặt trận giải phóng bên Âu Châu, một từ Stockholm (Thụy Điển), và một từ Paris, cả hai đều cho biết rằng họ cũng muốn có một giải pháp chính trị. Ngoài ra, Martin còn suy luận là chính Hà Nội cũng muốn một giải pháp chính trị để kết thúc một cách êm đẹp vì họ còn muốn nhận được viện trợ của quốc tế sau này.”
Thế nhưng, theo ông Martin, ‘’Không hiểu vì một lý do nào đó, đêm ngày 27 tháng 4, Bắc Việt đã bất chợt thay đổi tín hiệu, quyết định chọn giải pháp hoàn toàn quân sự, và như vậy, giải pháp chính trị đã không còn nữa’’.
“Về điểm này, chính Kissinger cũng đã xác nhận trong cuộc họp báo ngày 5 tháng 5.1975 rằng cho tới ngày 27 tháng 4, Hoa Kỳ vẫn có nhiều hy vọng Hà Nội không định đi tới một chiến thắng hoàn toàn quân sự, và còn muốn điều đình với ông Dương Văn Minh.”
Lần cuối cùng Polgar được nhắc đến trong quyển “Khi đồng minh tháo chạy” là vai trò của ông ta trong chuyến bay rới Việt Nam của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu:
“Chiếc máy bay DC-6 dưới quyền sử dụng của Đại Sứ Hoa Kỳ từ Thái Lan bay qua Sài Gòn trong đêm 25 tháng 4. Ông Polgar, trùm CIA ở Sài Gòn và Tướng Timmes (Charles Timmes, Tư Lệnh Phái bộ Viện trợ Quân sự cho Việt Nam, Military Assistance Command, Vietnam hay MACV) gặp ông Thiệu và đoàn tùy tùng ở nhà Thủ Tướng Khiêm trong Bộ Tổng Tham Mưu (ở Tân Sơn Nhất). Polgar chuẩn bị ba chiếc công xa màu đen chở mọi người ra phi trường.
Đoàn xe lướt qua đài tưởng niệm Chiến Sĩ Trận Vong của Đồng Minh gần phi trường, với ba hàng chữ nổi bật trên bảng: ‘’Những hy sinh cao quý của các Chiến Sĩ Đồng Minh sẽ không bao giờ bị quên lãng’’. Ông Thiệu ngồi giữa ông Polgar và Tướng Timmes. Nhìn thấy bảng, ông thở dài và quay mặt đi.
Đoàn xe chạy vút về phía sân bay của hãng Air America(công ty hàng không làm theo hợp đồng với CIA.) Đại Sứ Martin đã đợi sẵn ở đó để tiễn đưa. Dù buồn thảm và cam chịu số phận, ông Thiệu vẫn đi thủng thẳng, cố giữ phong độ ông quay lại cám ơn ông Martin đã dàn xếp chuyến đi.
Với một giọng xúc động, ông Martin đáp lễ: ‘’Thưa Tổng Thống, đó là điều tối thiểu tôi có thể làm. Xin tạm biệt và chúc Ngài may mắn’’.
(Tổng hợp theo truyền thông Mỹ và “Khi đồng minh tháo chạy” của TS Nguyễn Tiến Hưng)

Phần nhận xét hiển thị trên trang