Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Tư, 9 tháng 4, 2014

Phải chăng bởi tại vua Hùng? Không hiểu đang xảy ra gì nữa???

Nhảy, lắc "bốc lửa" trong khuôn viên khu di tích đền Hùng

(Dân trí) - Ngay trong khuôn viên linh thiêng của khu di tích Đền Hùng, rất đông nam thanh nữ tú nhảy lắc "điên cuồng" trong tiếng nhạc sàn đinh tai nhức óc kéo dài nhiều giờ đồng hồ.


Trắng đêm, thuê chiếu ngủ vạ vật chờ ngày Giỗ Tổ
Trắng đêm, thuê chiếu ngủ vạ vật chờ ngày Giỗ Tổ
Dọc lối vào khu di tích Đền Hùng, các địa phương trong tỉnh Phú Thọ dựng những lán trại văn hoá giới thiệu truyền thống, bản sắc tới khách thập phương. Nhưng đi ngược lại mục đích đó, trại văn hoá của huyện Hạ Hoà lại biến thành một sàn nhảy. Rất động nam thanh nữ tú nhảy lắc "điên cuồng" trong tiếng nhạc sàn đinh tai nhức óc kéo dài nhiều giờ đồng hồ.
Trọng Trinh



Phần nhận xét hiển thị trên trang

Người đàn ông không chịu lớn


Không giới thiệu tác phẩm nào trong dịp Hội sách TP HCM lần VIII, nhà thơ - nhà báo Lê Minh Quốc bất ngờ cho ra mắt cùng lúc 2 cuốn sách: tiểu thuyết hoạt kê Đời, thế mà vui và Khi tổ ấm nhảy lambada.
Nhà văn Y Ban nhận xét: “Đọc tiểu thuyết hoạt kê của Lê Minh Quốc, ta sẽ có nhiều phen cười nôn ruột. Các nhân vật với đủ chiêu trò từ nhăng nhố đến bi hài nhằm khắc họa sinh hoạt văn nghệ đã và đang diễn ra trong đời sống này”. Quả vậy, Đời, thế mà vui có lẽ là câu chuyện tếu táo với phong cách viết mới lạ nhất so với những cuốn sách từ trước đến nay của nhà thơ Lê Minh Quốc. Độc giả sẽ thấy lồng ghép đâu đó trong những nhân vật hài hước là thực trạng cuộc sống diễn ra hằng ngày.

8-9le-m-b7e9d

Trong khi đó, ở cuốn Khi tổ ấm nhảy lambada, nhà báo Lê Minh Quốc lại tỏ ra rất “dày dạn” trong việc làm chuyên gia tâm lý, gỡ rối tơ lòng đúng nghĩa cho phụ nữ về những góc nhìn với hôn nhân gia đình. Tác giả tự trào: “Có kinh nghiệm hơn 30 năm công tác tại tờ báo dành cho nữ giới (Phụ Nữ TP HCM ), từng dăm ba lần lên xe hoa rồi lại đơn thân, cứ thế tôi lại viết, lại trình bày những suy nghĩ về hôn nhân gia đình. Công việc vừa lý thú vừa khó khăn”.
Hài hước, dí dỏm chính là chất xúc tác làm nên sự hấp dẫn cho mỗi mẩu chuyện, mỗi góc nhìn trong cách kể rất có duyên. Khi tổ ấm nhảy lambada là cuốn sách thứ 3 của ông về “giải mã tâm lý phụ nữ, gỡ rối tơ lòng” sau các tập Gái đẹp trong tôi, Tôi và đàn bà”. NSND Bạch Tuyết nhận định: “Lê Minh Quốc đã không giấu giếm mình - một người đàn ông không chịu lớn. Anh ta là một đứa trẻ, háo hức, tị mị rồi lại chán ngán, buông xuôi. Anh ta chân thành, ngây thơ rồi lại nghi hoặc, ghen tuông… Cả một pho văn chương nghệ thuật, Quốc đắm chìm trong cảm nhận và rồi kéo gần lại trong cảm giác của một hành trình suy niệm từ chính bản thân mình”.

T.Quyên
(nguồn: http://nld.com.vn/van-hoa-van-nghe/nguoi-dan-ong-khong-chiu-lon-20140408212107012.htm)

Phần nhận xét hiển thị trên trang

5 Xu:

Đất Nước có từ bao giờ?


Entry Vua Hùng tên thật là gì được các bạn đọc quan tâm kinh ra phết, view tăng ác. Một phần là bài viết thú vị, hehe, một phần là nhờ các bác nổi tiếng đặt link và đăng lại bài.
Nhờ đó mà bác Trương Thái Du đã nhảy vào comment. Đưa ra giả thuyết Âu Lạc phải là Đất Nước. Tôi đã phản đối kịch liệt (ở phần comment) nhưng bác ấy vẫn bảo vệ ghê lắm, chắc giả thuyết này là bác ấy nghĩ ra nên bác ấy mới đặt vào đấy một niềm tin sắt đá như vậy. Từ việc phải đi chứng minh Âu Lạc không phải Đất Nước, tôi tự hỏi, chữ Nước và Đất Nước xuất hiện từ thời kỳ nào. Dưới đây là đáp án:
Thực ra, Đất-Nước (từ ghép) và Nước là một khái niệm địa lý và chính trị cực kỳ mới mẻ, xuất hiện khoảng đầu thế kỷ thứ 10, sau khoảng một ngàn năm bị giặc Tàu đô hộ. (Tức là sau khi chữ Âu và chữ Lạc xuất hiện rất lâu).
Một nghìn năm đô hộ là rất dài, đủ nô dịch cả một dân tộc, đủ để một dân tộc quên đi gốc gác của mình. Không tin nhìn vào Bắc Hàn mấy chục năm vừa qua thì biết. Thế nhưng dân tộc sống ở cái vùng đất, mà cuối cùng được gọi là An Nam Đô Hộ Phủ, không nguôi ý chí li khai và rồi giành được tự chủ và đi đến độc lập.
Những chính trị gia ly khai đầu tiên, cha con Khúc Thừa Dụ  - Khúc Hạo cùng với chỉ huy quân đội của họ là Dương Đình Nghệ, đã xây dựng một thể chế tập quyền đầu tiên ở cho người Việt ở nước Việt ở đầu thế kỷ thứ 10. Cải cách hành chính, cải cách chính quyền của Khúc Hạo, kết hợp với chính sách ngoại giao với phương Bắc của Khúc Thừa Dụ là manh nha của một chính quyền độc lập dành cho dân bản xứ.
Để làm được việc này, họ cần các khái niệm địa lý chính trị hoàn toàn mới để “dân vận” người dân đứng về phe ly khai, chống lại triều đình phương Bắc vốn đã tỏa bóng thôn tính xuống cả ngàn năm (đến tận bây giờ vẫn có kẻ thần phục Bắc Kinh, nữa là hồi đấy).
Đối lập với các khái niệm Giang Sơn, Sơn Hà Xã Tắc vốn để chỉ đất của thiên tử phương bắc, Khúc Hạo và Dương Đình Nghệ đã nghĩ ra khái niệm Đất Nước. Để đối nghịch với Quốc Gia (chỉ/thuộc vua Tàu, triều đình tàu), Khúc Hạo và Dương Đình Nghệ đã nghĩ ra từ Nước Nhà. Từ đó chữ Quốc trong chữ Hán được dịch ra tiếng Việt cổ là Nước. Còn danh từ Nước Nam hoặc Nước Việt, có lẽ là các từ mới được phe ly khai dung để gọi vùng đất An Nam Đô Hộ. Cho đến khi hoàn toàn độc lập, Nước Việt có vị hoàng đế đầu tiên của riêng mình, thì mới thôi sử dụng cách gọi này và gọi tên nước là Đại Cồ Việt.
Dương Đình Nghệ quê Thanh Hóa. Cha con Khúc Thừa Dụ Khúc Hạo cũng có thể ở Thanh Hóa (có chỗ nói ở Hải Dương). Họ quá quen thuộc với người Mường Việt cổ ở vùng này. Và đương nhiên là họ biết sử thi Đẻ Đất Đẻ Nước (Te Tấc Te Đác), một sử thi kể về sự ra đời của thế giới (đất và nước từ vũ trụ hỗn mang) và các dân tộc. (Phát tích của sử thi này, được coi là ở Thanh Hóa, cũng là nơi sưu tầm được sử thi dài hàng ngàn câu này). Có lẽ đây chính là “triết thuyết” để  các nhà chính trị và tướng lĩnh li khai sử dụng để xây dựng các khái niệm Đất Nước và Nước Nhà.
Bởi Nước là từ chữ nước nên về sau chữ nôm đã ghi chữ Nước này với bộ thủy và biểu âm nhược (*).
Rồi quân Nam Hán xâm chiếm. Dương Đình Nghệ cầm quân. Đất Việt lúc đó loạn lạc, các phe phái đánh hau, một lần nữa Dương Đình Nghệ lại sử dụng các khái niệm chính trị mới mẻ là Đất-Nước, Nước- Nhà để kêu gọi đồng thuận. Các nha tướng của ông, thấm nhuần tư tưởng chính trị mới, sau này một người trở thành vua (Ngô Quyền), một người khác là Đinh Công Trứ thì sinh ra Đinh Bộ Lĩnh.
Ngô Quyền là vị vua giành độc lập (đầu tiên) sau 1000 năm bắc thuộc và mở ra thời kỳ độc lập lâu dài cho Việt Nam. Sau Ngô Quyền chính là Đinh Bộ Lĩnh. Ngô Quyền rời đô từ Đại La (vốn là cơ sở hành chính của Tàu) về Cổ Loa là có ý khôi phục lại chủ quyền của dân bản địa (dân Lạc) và đến thời Đinh Bộ Lĩnh, ông xưng đế (giải tán triệt để ảnh hưởng của hoàng đế Trung Hoa), đặt tên nước là Đại Cồ Việt (Cồ là tiếng Việt cổ, chỉ sự mạnh mẽ, xen vào giữa cái tên).
Sau thời Ngô Quyền xưng vương thì cũng là lúc chữ Nôm bắt đầu được hoàn chỉnh. Từ vựng hẳn không thể thiếu từ Nước của Nước Nhà.
Ngày nay, Nước đã trở thành một từ quan trọng, nó chỉ một quốc gia có chủ quyền (Nation), biến thể Nhà Nước là để chỉ một thể chế chính trị hiện đại (State), còn Đất Nước mang hàm ý thân thuộc hơn (Country).  Trong lúc ấy, từ nước vẫn tiếp tục mang nghĩa là nước (sông, suối, biển) như từ thủa hồng hoang đẻ đất đẻ nước.
Cám ơn các cụ Khúc Hạo và Dương Đình Nghệ, đã tạo ra không chỉ những từ mới, mà còn là cả khái niệm mới, đến tận bây giờ, sau hơn 1000 năm, vẫn còn ý nghĩa thời sự. Xin trả lại quyền thân nhân (tác quyền) hai chữ Đất-nước và Nước-nhà về cho các cụ.
Cám ơn cụ Gúc, đã giúp 5xu có thêm một phát kiến lịch sử hạng nặng cho năm 2012 hehehe.
***
Chiều nay qua Nhã Nam Thư Quán để tra nhờ chữ Nước trong các bộ từ điển: Dictionarium Anamitico Latinum (Taberd), Đại Nam Quấc Âm Tự Vị (Huỳnh Tịnh Paulus Của) , Bảng Tra Chữ Nôm (NXB Khoa học Xã hội HN 1976), và Từ Điển Chữ Nôm (Vũ Văn Kính và Nguyễn Quang Xỹ, TT Học Liệu Xuất Bản).
Thực ra tra từ điển để ghi vào entry này có tính chất dọa ma. Còn thì tán nhảm với chủ thư quán là chính.
Thư quán mở nhiều nhạc xuân. Có bài hát lời thế này:
Mẹ ơi sáng nay xuân về
Mẹ trông ra ngoài hiên nắng,
Mẹ mong đứa con xa nhà, rồi mùa xuân anh ấy sẽ về . 

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Một truyện ngắn "hỏng":


Vị phồn thực
Vũ Ngọc Tiến
 
1- Tôi tỉnh dậy sau một đêm dài mộng mị. Hắn và cả cái phòng tranh quái đản, trưng bày ở Bảo tàng Mỹ thuật cứ ám ảnh tôi suốt đêm, không sao chợp mắt được, đầu óc rối tinh, bộn bề những kỷ niệm về tình bạn giữa tôi với hắn một thời lửa máu. Ngần ấy năm bầu bạn thân thiết, tôi chỉ biết hắn đã từng làm thơ, viết văn, rồi vì thứ của nợ ấy hắn dính đòn, bị đẩy ra mặt trận, thành lính trinh sát pháo binh, cùng tiểu đội với tôi ở chiến trường khu Năm ác liệt. Đành rằng hắn có chút hoa tay, vẽ sơ đồ các cứ điểm của địch chuẩn xác và sinh động đến kỳ lạ, nhưng để làm họa sĩ lại là chuyện khác. Thơ hắn tứ lạ, lời đẹp mà hắn lại gác bút mấy chục năm, rồi chuyển sang nghề vẽ, làm tôi ngỡ ngàng…
2- Chẳng biết hắn học quy luật về ánh sáng, hình sắc, đường nét ở đâu, từ bao giờ mà phòng tranh vừa mở đã gây ồn ào dư luận, khen chê các kiểu. Mới tập tọng vào nghề, hắn đã nhảy ngay vào lĩnh vực tranh tiêu đề khổ lớn, mỗi bức to bằng lá chiếu đại. Đã là tranh tiêu đề thì đằng sau bố cục và những gam màu còn ẩn chứa nội hàm tư tưởng triết mỹ của tác giả, chứ đâu có bỡn. Vậy mà trong hết thảy các bức vẽ, hắn đều đặt tâm điểm triết mỹ vào hình tượng người đàn bà khỏa thân, ngồn ngộn những V và L!
Choán hết mặt tường chính diện ở gian đại sảnh, hắn trưng bày bức tranh “Thăm lại chiến trường xưa”, khiến ai bước vào, thoạt nhìn đã vãi linh hồn. Cái chiến trường khu Năm tôi với hắn ở lâu nhất là Quảng Nam, Quảng Ngãi. Nó ác liệt tới mức lính ta chết vì bom đạn đã nhiều nhưng chết đói cũng không ít. Trên hồ sơ báo tử từ mặt trận gửi về Bộ Quốc phòng chỉ ghi lạnh lùng hai chữ “sốt rét”, nhưng xin các ông bố bà mẹ, những người vợ hiền ở hậu phương thời ấy biết cho, lũ lính chúng tôi sốt rét ít thôi, đa phần là chết đói. Đói vì mấy ông chỉ huy hám thành tích, vững lập trường “tự lực cánh sinh”, chỉ nhận người và vũ khí, còn lương thực xin cấp trên cho được tự túc. Xứ Quảng đói nghèo, miền Tây Quảng Ngãi càng đói nghèo, nhưng lại rất thơ mộng với núi Ấn, sông Trà. Làm lính khu Năm, ai mà quên được những đêm trăng bên dòng Trà Khúc ngồi ngắm núi Ấn với hòn Nghiên, hòn Bút. Hắn trở lại chiến trường xưa vẽ những bóng ma đồng đội xiêu vẹo, lả đi vì đói, dìu nhau đi giữa cánh rừng đại ngàn ở đôi bờ sông Trà Khúc. Tất cả chỉ lờ mờ, không rõ nhân dạng. Người xem tranh chỉ thấy hắn vẽ và đặc tả người đàn bà khỏa thân nằm xiên chéo toàn bộ bức tranh. Ở phần dưới là dòng Trà Khúc bị bãi nổi giữa sông tách đôi thành hai vế đùi đàn bà lấp loáng dưới trăng khuya. Càng nhìn ngắm kỹ, ta càng thấy một mảng lồi tam giác kẹp giữa hai nhánh sông - khóm cỏ lau ngập nước đang trổ bông - chính là cái ấy của đàn bà, rõ từng múi thịt, lún phún lông tơ mịn màng. Thiếu phụ mang tên dòng sông Trà Khúc ấy có bộ ngực đồ sộ, nhô lên chất ngất hai đỉnh hòn Nghiên, hòn Bút của núi Ấn, và hút sâu trong khoảng không giữa hai bầu vú ta thấy ẩn hiện gương mặt thiếu phụ ngủ vùi trong gối mây. Một gương mặt bơ thờ, khắc khoải đợi chờ tạo hình bởi viền sáng của mảnh trăng hạ tuần về sáng, bị che lấp bởi những vạt mây vần vũ xung quanh. Những hồn ma lính đói vật vờ hành quân tạo thành dải băng đen vắt ngang qua bụng thiếu phụ… Tôi sững sờ trước ý tưởng kỳ lạ, nét vẽ tài hoa của hắn, con tim như có chùm gai nhọn của cây rừng Quảng Ngãi đâm lút vào, chắn ngang từng mao quản.
Xem tranh của hắn chỉ thấy ngồn ngộn V và L rất phồn thực. Nhưng có điều lạ, người đàn bà nào của hắn cũng khỏa thân ở nơi hoang dã, bên bờ sông hay trên con đò, dưới chân núi hay lẫn vào trời mây mờ ảo. Có lẽ gây nhiều tranh cãi, ồn ào dư luận khen chê nhất là gian cuối cùng, trưng bày bộ “Tứ bình Cao Bá Quát” của hắn. Bốn bức tranh trong bộ tứ bình phỏng theo nội dung một bài cảm tác ngẫu hứng của thi sĩ họ Cao, khi ông ngồi hát ca trù với cô đào Ánh Nguyệt nổi tiếng đất kinh kỳ. Lời ca ông viết là ba khổ thơ vô đề, không theo niêm luật, lẫn lộn vừa Nôm vừa Hán. Nó rất ngông đời, nổi loạn và cũng rất đa tình như tính cách của ông vậy:
Sơn cao nhất phiến nguyệt
Đã chơi trăng phải biết tình trăng
Sơn chi thọ đối Nguyệt chi hằng
Sơn có Nguyệt càng thêm cảnh sắc.
Nguyệt quải hàm Sơn thi bán bức
Sơn hàm minh Nguyệt tửu thiên tôn
Núi chưa già, trăng hãy còn non
Trăng dù khuyết, tình vẫn tròn với núi.
Rượu một bầu, thơ ngâm một túi
Góp gió giăng làm bạn với non sông
Núi kia tạc để chữ đồng
Trăng kia nhớ mặt anh hùng này chăng?
Bài thơ được hắn xé ra thành bốn bức tranh, đặc tả thi sĩ họ Cao và cô đào Ánh Nguyệt. Có lúc ông cởi trần ngồi ngắm trăng, cô độc như một trái núi, có lúc ông đang hành lạc với nàng trăng. Cô đào Ánh Nguyệt chính là nàng trăng ấy, khỏa thân ở bốn tư thế khác nhau, khi xa thì như đùa rỡn giữa trăng với người, khi gần thì hoặc chàng phủ lên nàng, hoặc nàng phủ lên chàng, cô tịch và hoang dã, chẳng bợn lên chút cảm giác nhục dục nào, buộc người xem tranh phải suy nghĩ mông lung, khắc khoải… 
3- Tôi đang lẩm nhẩm đọc thơ được chép theo lối thư pháp hiện đại ở góc dưới bên phải bức tranh, hắn lại gần cấu nhẹ vào vai tôi hỏi:
- Được không? Bộ tứ bình này thế nào?
- Chịu thôi, tranh của mày toàn V với L, nom khiếp quá!
- Mày nói xạo. Nhìn vào mắt người xem, tao biết ai là người đọc được tranh của mình.
- Cứ cho là thế đi, nhưng tại sao mày bỏ hẳn thơ văn suốt mấy chục năm để lúc về già lại đổ đốn làm thằng thợ vẽ toàn V và L?
- Văn chương ư? Quên đi!... Dù có dùng nghệ thuật ẩn dụ đến đâu chăng nữa thì phương tiện biểu đạt của văn chương vẫn là chữ và lời, ở xứ mình dễ mang vạ vào thân. Tao đã ngấm đòn từ lâu quá rồi, hãi lắm!
- Thế còn hội họa?
- Hội họa có phương tiện biểu đạt riêng là ánh sáng, hình sắc, đường nét. Tao vẽ V và L để nói cái điều tao muốn nói. Ai muốn hiểu thế nào tùy họ. Tao nghĩ và tao vẽ là quyền của tao. V và L có gì phải kiêng kỵ đâu. Nó là cái đẹp vĩnh cửu, cái đẹp tự nó, chẳng cần phải che đậy. Khắm như đậu phụ chấm mắm tôm mà khi ăn rồi ai cũng nghiện, bởi hiện sinh của mắm tôm không chỉ có mùi, còn có vị nữa. Vị mới là cái tinh cốt của đời.
- Nhưng tao vẫn ngờ rằng, mày vẽ V và L còn vì câu chuyện xưa cũ ngày ấy, phải vậy không?
- Đúng. Tao không thể nào quên đôi bầu vú căng mọng sữa của nàng đã cho tao sự sống. Giờ đã qua gần trọn một kiếp người, tao mới ngộ ra bầu vú của nàng đã dạy tao phải sống đúng như tao muốn sống. Tao phải là chính mình. Bầu vú của nàng là tuyệt đỉnh siêu việt để tao siêu thăng giữa thiện - ác, chính - tà, chiến tranh - hòa bình, hiện tại - quá khứ…

Hắn nói một thôi một hồi về sự siêu thăng suốt hai năm qua trốn biệt mọi người lên tận rừng quốc gia Ba Vì để lập xưởng vẽ. Hắn nói rồi đi, mái tóc bồng bềnh, chòm râu phơ phất, áo quần xộc xệch, chân nọ đá chân kia như thằng say rượu… Giữa bức “Thăm lại chiến trường xưa” và bộ “Tứ bình Cao Bá Quát” ngỡ là hai chủ đề khác biệt mà sao tôi đều thấy mình và hắn hiện diện trong đó cùng sự hiện sinh muôn thủa những kiếp người. Đêm, tôi bị ám ảnh khôn nguôi về hình tượng người đàn bà khỏa thân nơi hoang dã rất phồn thực trong tranh, thao thức nhớ lại chuyện xưa ở chiến trường khu Năm.
4- Ngày ấy, những thằng lính đi B có bằng cử nhân hay tú tài như chúng tôi còn là của hiếm, dùng để tuyên truyền cho dân miền Nam về thiên đường xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc. Vì vậy, nếu có bị thương, nhưng chưa đến mức nằm liệt, các cậu cử, cậu tú chúng tôi cũng không được chuyển ra Bắc. Xuất viện là họ điều chúng tôi về An toàn khu làm lính cơ quan hay phân về làm bảo vệ ở các bệnh viện, trại giam tù binh… Tôi bị thương vào cánh tay, còn hắn bị thương ở vùng ngực, gãy hai chiếc xương sườn. An toàn khu có khoảng gần trăm người như chúng tôi, già nửa là lính Hà Nội, đã tốt nghiệp cấp III phổ thông, còn từ cấp chỉ huy đến lính đa phần là người địa phương khu Năm. Họ nhìn chúng tôi hát hò, đọc sách, làm thơ… với con mắt kỳ thị, xem đám lính Hà Nội là lãng mạn tiểu tư sản, lập trường bấp bênh, thiếu tinh thần cách mạng triệt để. Khổ nỗi, các cô gái địa phương hay các nữ giao liên từ vùng địch ra lại cứ xoắn lấy các chàng trai Hà Nội, xem chúng tôi giải toán lớp 12 cứ mắt tròn mắt dẹt. Điều này càng gây chướng mắt các ông chỉ huy. Càng bị cô lập, phân biệt đối xử, chúng tôi càng thương quý nhau hơn, nhất là tôi với hắn vốn cùng một tiểu đội trinh sát, cùng bị thương trong trận đánh cứ điểm Sơn Tịnh. Ngày ấy, lính ta đói dài, ngô sắn còn không đủ ăn, gạo càng hiếm, nói chi đến thịt cá. Chúng tôi thường tụ tập nhau lén đi cải thiện. Nói “cải thiện” cho vui thôi, thực ra là đi ăn trộm của tập thể cơ quan hay của dân bất cứ thứ gì nhét được vào bụng để tồn tại qua ngày. Vì vậy, lính Hà Nội thường hay bị điều đi công tác để tách xa nhau ra. Công tác nguy hiểm nhất là xuống cơ sở ở đồng bằng lấy gạo, muối, thực phẩm. Địch biết quân ta đói nên tung một lữ đoàn thiện chiến bao vây, chốt chặt các ngả đường từ căn cứ xuống đồng bằng. Chỉ huy lữ đoàn là viên trung tá còn rất trẻ, chống cộng đến cùng, nhưng cũng không ưa sự có mặt của người Mỹ. Thời sinh viên, anh ta đã từng biểu tình chống Mỹ xúc phạm các nữ sinh Việt Nam. Là con một trong gia đình trí thức lớn, danh giá bậc nhất ở Sài Gòn, lại làm rể ông nghị sĩ quốc hội, nhưng vì coi thường các tướng lĩnh kém mưu, nhát gan nên anh ta bị điều ra miền Trung. Nuôi mộng vinh thăng cấp tướng để thâu tóm quyền lực, thay đổi thế cờ chiến cuộc nên anh ta xông xáo xuống từng đơn vị, kiểm tra thường xuyên các chốt mai phục không để sơ hở. Là người túc trí đa mưu, anh ta muốn tiêu diệt căn cứ không cần đạn pháo cỡ lớn mà bằng cái đói. Chỉ huy cấp dưới thường được trung tá nhắc nhở: “Đã là chiến tranh tất có một bên phải chết. Muốn sống ta phải tàn bạo với kẻ địch, lương tâm, đạo lý gửi lại cho thân nhân, bạn bè cất giữ ở hậu phương. Gặp thằng lính Việt cộng nào đi lấy gạo các anh cứ việc bắn bỏ rồi chặt đầu bêu ở ven đường cho chúng khiếp vía, chịu đói mà chết dần.”…
5- Tôi nhớ, vào tháng hai âm lịch năm nhâm Tý (1972), giữa kỳ giáp hạt, toàn khu căn cứ đói dài. Một tốp 5 người đi lấy gạo bị địch chặt đầu bêu ở cọc tre ven đường, có đến 3 người là lính Hà Nội. Hắn như phát rồ vì thằng bạn rất thân cũng nằm trong số đó. Đành rằng chiến tranh là cối nghiền thịt khổng lồ, con người ở cả hai phía đều buộc phải tàn ác như nhau cả thôi. Thế nhưng nếu hôm qua thằng bạn còn nằm chung một ổ, ăn cùng một mâm bỗng hôm nay bị đối phương chặt đầu thì ta lại chỉ thấy địch là tàn ác, còn ta có nghĩa vụ đòi lại nợ máu. Cả khu căn cứ sôi sục muốn trả thù cho đồng đội và cũng rất căng thẳng vì đói. Tư lệnh An toàn khu quyết định mở trận đánh phá vây, tiêu diệt lữ đoàn của địch. Mũi đánh vu hồi vào sở chỉ huy lữ đoàn ở tuyến sau của chúng là quan trọng và nguy hiểm nhất, được tất cả lính Hà Nội chúng tôi tình nguyện tham gia. Hắn và tôi được cử đi trinh sát tình hình sở chỉ huy lữ đoàn. Sau 10 ngày luồn sâu, mật phục và quan sát, hai đứa đã nắm được quy luật hoạt động và hệ thống bố phòng của địch. Phải thừa nhận viên trung tá chỉ huy là đối thủ tài ba, không hổ danh là lính trí thức con nhà nòi của phía bên kia, hệ thống bố phòng không tìm thấy một chút sơ hở. Nhưng ở chiến trường, đôi khi mọi sự cẩn trọng, chu đáo có thể bị phá vỡ bởi một yếu tố ngẫu nhiên. Ngày thứ 10, đang chuẩn bị rút về cứ, qua ống nhòm, tôi và hắn phát hiện thấy một chiếc trực thăng hạ cánh ở sân sở chỉ huy lữ đoàn. Bước ra khỏi máy bay là một thiếu phụ đẹp đến mê hồn. Gương mặt nàng đôn hậu như Phật bà Quan Âm giáng thế. Vóc dáng và y phục nàng toát lên vẻ kiều diễm, cao sang mà vẫn dễ gần bởi nụ cười hiền dịu. Đi theo nàng còn có vài cô gái, thảy đều sang trọng, trẻ đẹp. Họ mang theo rất nhiều quà và cả vài chục két bia. Đêm nay chắc hẳn sở chỉ huy lữ đoàn có đại tiệc, lính cũng như quan sẽ tắm bằng bia và rượu. Tôi và hắn sướng run lên, cắm đầu chạy băng rừng về nơi tập kết của đồng đội đang nóng chờ tin tức. Trận đánh diễn ra trong đêm tối trăng thật êm gọn đến bất ngờ, nhưng cái giá xương máu thật là khủng khiếp. Kẻ địch say mèm và hoảng loạn, còn chúng tôi thì như một lũ điên luôn miệng hô giết, giết và giết. Biết làm sao khác được, khi cơn cuồng nộ trả thù đã khiến tất cả như không còn tính người. Kẻ địch chạy - bắn, giơ tay hàng - bắn, bị thương lòi ruột cũng bắn. Máu người vung vãi khắp nơi, dây đầy áo lính, nòng súng bỏng rát, tiếng kêu rên thê thảm… Mặc kệ! Ngón tay trỏ của tôi và hắn chỉ còn một phản xạ nhấn cò súng. Thê thảm nhất là xác viên trung tá găm đầy đạn tiểu liên, đạn AK, máu me đầm đìa, thân hình nát bấy. Chúng tôi nhìn vào xác chết, hả hê vì trả được thù. Tất cả lặng đi vài phút, nhớ đến những cọc tre bêu đầu đồng đội những ngày qua, rồi cùng oà lên, nức nở gọi tên từng người… Bỗng cánh cửa sắt của tủ hồ sơ tài liệu bật mở và thiếu phụ lao ra ôm lấy xác chồng gào khóc. Tay nàng run run sờ mặt, vuốt tóc chồng. Mặt nàng úp lên lồng ngực đầy máu…
- Giết nốt con đĩ này thôi, anh em ơi!
- Cho nó đi chầu Diêm vương với thằng chồng ác ôn!
- Lột quần áo nó ra ngắm cho sướng mắt rồi hãy làm thịt!
- Phải đấy, xem thử cái L người Sài Gòn nó đen-trắng, dày-mỏng thế nào rồi hãy giết!
Hơn chục thằng lính Hà Nội đang cơn say máu, nhao nhao quát thét, ánh mắt man dại. Riêng hắn lặng đi, trán vã mồ hôi, mặt tái mét, trân trối nhìn thiếu phụ. Hắn lại gần, vực nàng đứng dậy và nghẹn ngào nói:
- Chúng mày nhìn đi! Ngực cô ấy căng đầy sữa, rỉ ra từng giọt, chắc vừa sinh con nhỏ. Đ mẹ, bắn giết thế đủ rồi! Trẻ thơ có tội tình gì đâu. Cuộc chiến này đã quá nhiều trẻ mồ côi, còn chưa đủ sao? Hãy tha cho cô ấy về với con. Đứa nào nói nữa tao bắn.

Thiếu phụ quỳ xuống, chắp tay vái lạy từng người, không nói được ra lời. Chúng tôi như bừng tỉnh quay đi, bàng hoàng đau xót, giấu những giọt nước mắt đang ứa ra. Từng người lặng lẽ lao vào bầu trời đen thẫm. Đêm ấy không ngờ tôi và hắn bị lạc nhau. Trên đường rút về cứ, hắn không may dẫm phải bẫy thú rừng của người dân tộc. Những mũi chông nhọn hoắt đâm vào đùi, vào bụng làm hắn ra rất nhiều máu. Vùng vẫy thoát ra khỏi hố bẫy thì hắn kiệt sức, nằm thiếp đi bên một bụi cây. Mờ sáng tỉnh dậy, hắn giật mình vì thấy mình đang gối đầu lên đùi người thiếu phụ hồi đêm. Vết thương ở đùi và bụng của hắn được nàng xé áo băng lại. Nàng là người thành phố, không quen đi rừng nên cũng bị lạc. Đây đã thuộc vùng giải phóng, nàng có thể sẽ bị bắt lại. Hắn định ngồi dậy chỉ vẽ đường đi cho nàng, nhưng vết thương nhói buốt, miệng khô rang vì ra nhiều máu, hắn nằm vật xuống, trong cơn mê sảng luôn miệng đòi uống nước. Nàng nhìn hắn bối rối, thương xót. Trời còn chưa sáng rõ, chạy đi tìm nước nàng có thể bị lạc một lần nữa, không khéo gặp thú rừng thì nguy. Hơn nữa, nàng có thể gặp Việt cộng hoặc du kích, sẽ bị bắt, không còn đường về với con. Nhìn ra bốn bề chỉ thấy núi và cây rừng, chẳng nghe thấy tiếng nước chảy, đang mùa khô, đào đâu ra nước bây giờ? Tiếng hắn thều thào “nước… nước…” khiến lòng nàng quặn thắt. Ngực nàng thì đang cương sữa, vắt đầy ra cỏ đã mấy lần... Lưỡng lự hồi lâu rồi nàng mạnh bạo vạch vú nhét vào miệng hắn. Phản xạ tự nhiên làm hắn chợt tỉnh, đẩy bầu vú của nàng ra, lắc đầu quầy quậy. Nàng càng cố ấn đầu vú vào, hắn càng dùng hết sức đẩy ra. Tức quá, nàng tát thật lực vào mặt hắn, quát to:
- Nước không có, muốn chết khát hay muốn sống?
Cái tát của nàng làm hắn trở nên ngoan ngoãn, thôi vùng vẫy, nhắm nghiền đôi mắt, từ từ há miệng ngậm vào đầu vú mút và mút. Nàng gần như nằm đè lên người hắn, dứt tung nịt vú, vắt kiệt cả hai bầu sữa. Hắn bú no nê dòng sữa của nàng cho đã cơn khát. Sữa cho hắn sức lực để hồi tỉnh. Khi đó hắn mới nhận ra cái cảm giác đê mê trước mùi da thịt của nàng. Sữa đã hết, nhưng miệng hắn còn ngậm chặt đầu vú. Bàn tay hắn mơn man lên da thịt trắng ngần và mịn màng, ấm nóng của bộ ngực đồ sộ như hai trái núi. Hắn không ngờ người thiếu phụ mảnh mai như nàng lại có bộ ngực phồn thực đến vậy. Hắn ngây ra nhìn gương mặt thánh thiện của nàng. Cái ấy của hắn đụng vào người nàng bỗng cương cứng lên, muốn xé rách lần vải quần quân giải phóng. Nàng nhìn hắn mỉm cười. Cái nhìn đầy cảm thông và bao dung của tình mẫu tử, chứ không phải của bạn tình, làm hắn chợt hổ thẹn vì sự nổi loạn trong cái của nợ, dù thằng đàn ông nào chẳng vậy…

Đúng lúc đó, ba người lính địa phương khu Năm xuất hiện. Họ túm tóc hắn lôi dậy, xỉ vả một hồi vì tội hủ hóa, rồi trói cả hai, giải về khu căn cứ. Chuyện của hắn có viết cả trăm lần vào bản kiểm điểm cũng không ai tin, ngoài tôi và mấy thằng bạn thân người Hà Nội. Hắn bị khép tội cố ý tha tù nhân có nợ máu, lại thông đồng với nàng bỏ trốn ra vùng địch. Từ thằng lính lập nhiều chiến công, bị thương về làm lính coi tù, nay hắn thành tù nhân đặc biệt của trại giam. Nàng bị giam ở trại phụ nữ, hắn bị giam ở trại nam giới, hai trại cách nhau một con suối, đằng đẵng gần nửa năm cách trở. Hàng ngày đi lao động trồng sắn, hắn và nàng cách bờ nhìn nhau đau đáu, nhớ thương, ấm ức. Tôi và mấy thằng bạn thân thường tìm cách gặp hắn an ủi, động viên hoặc làm liên lạc giữa hắn và nàng. Lâu dần tôi mới biết hôm đó nàng dùng trực thăng riêng của gia đình đi đón chồng về Sài Gòn chuẩn bị tu nghiệp lớp sĩ quan cao cấp ở Mỹ. Vì quá say sưa thù tạc, chia tay với chiến hữu nên sở chỉ huy lữ đoàn của chồng nàng mới bị quân ta tập kích, trở tay không kịp. Nàng bảo, anh ấy ngoài mặt trận phải buộc lòng làm con thú hung dữ, chứ về nhà lại hết mực yêu vợ, thương con, hiếu đễ với hai bên cha mẹ. Âu đây cũng là số phận!... Khi biết tin thằng cha chột mắt người khu Năm phụ trách trại giam nhiều lần ve vãn, có lần toan hãm hiếp nàng, hắn lồng lên, thề sẽ giết thằng chó đểu. Văng tục, chửi bới một hồi, hắn bưng mặt khóc hu hu như con nít, nài xin tôi và mấy thằng bạn tìm cách bố trí cho nàng trốn khỏi trại giam. Chúng tôi bàn bạc, lập kế hoạch rất chu đáo cho hắn và nàng cùng trốn về đồng bằng. Mất bao nhiêu công sức băng rừng, lội suối, chúng tôi mới đưa được hai người ra đến bờ sông Trà Khúc. Chỉ một bước là lên thuyền xuôi về vùng địch, hắn chợt đổi ý, quyết tâm ở lại, sẵn sàng chịu trách nhiệm một mình về việc nàng bỏ trốn để không liên lụy đến bạn bè. Việc đã gấp, tôi và mấy thằng bạn đành cắn răng, nuốt lệ chiều theo ý hắn. Chúng tôi tản ra canh chừng cho hắn và nàng ngồi chia tay bên mép nước, dưới ánh trăng lai láng. Tôi ngồi sau một bụi cây, xoay lưng về phía bờ sông. Đêm khuya thanh vắng, khoảng cách không xa, lại xuôi theo chiều gió nên tôi vô tình nghe rõ câu chuyện giữa hắn và nàng.
- Em thương anh quá! – Nàng bảo.
- Đừng lo, anh chịu đựng được, em cứ yên tâm tìm về với con và gia đình – Hắn động viên.
- May ra số phận còn cho mình gặp lại nhau.
- Hết chiến tranh, nếu còn sống anh sẽ tìm em.
- Em hỏi thật, anh đừng giấu.
- Hỏi đi, anh nghe đây.
- Cái hôm anh đẩy bầu vú em ra khỏi miệng, em đoán anh chưa từng một lần với đàn bà?
- Đúng vậy. Bạn bè anh nhiều đứa chết rồi vẫn chưa được làm đàn ông.
- Em muốn có thêm đứa con với anh. Chồng em đằng nào cũng chết rồi, oan hồn anh ấy sẽ không phiền trách.
- Nhưng bạn bè anh…
- Không sao, họ đều là con người, sẽ thông cảm cho chúng mình.
- Anh rất muốn, nhưng…
- Thôi, không nhưng gì hết.

Giời ơi!... Còn ai trên đời hạnh phúc như hắn. Tôi nhắm nghiền mắt mà như nhìn thấy rõ hắn và nàng cùng trút bỏ áo quần, lội ra dòng sông loáng bạc. Họ ôm nhau, kỳ cọ thân thể cho nhau rồi… hắn bế thốc nàng lên bờ làm cái chuyện ấy giữa trời mây sông nước bao la… 
6- Mấy chục năm qua đi, giờ tôi mới gặp lại nàng. Nàng vẫn nguyên vẹn dáng vẻ kiều diễm, cao sang như buổi nào bước ra khỏi máy bay trực thăng. Hình như chỉ tôi với hắn là già và xấu đi, còn nàng cứ trẻ và đẹp mãi. Nàng như Phật bà quan âm tái thế, tài trợ cho phòng trưng bày tranh của hắn. Nàng đang từ cõi niết bàn bước ra đọc lời khai mạc phòng tranh trong ánh mắt ngạc nhiên của bạn bè và công chúng yêu hội họa. Chỉ mình tôi biết được chàng trai lịch sự, tuấn tú đứng bên cạnh nàng là con của hắn. Chỉ mình tôi biết được vì sao hắn vẽ tranh toàn V và L, ngoài cái triết mỹ hắn gửi gắm vào tranh còn vì một lẽ khác. Cuối buổi khai mạc phòng tranh, hắn và nàng dắt con trai lại chào tôi, hẹn sẽ đến ăn bữa cơm thuần túy Việt Nam. Hắn bảo, đừng bày vẽ gì, cứ trải chiếu ngoài sân, dưới gốc cây hoàng lan, đãi nhau món đậu phụ chấm mắm tôm ăn với bún là tuyệt nhất. Tôi chưa quen với mùi mắm tôm, nhưng sẽ thử cùng hắn và nàng nếm cái vị của nó. Có lẽ hắn đúng, giữa mùi và vị thì vị mới chính là tinh cốt của đời. 
Hà Nội 7/2005
V.N.T.


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Bạn là loại người thất bại hay thành công?



(Nếu vẫn chưa đủ lớn, xin vui lòng nhấn Ctrl + (máy PC) sau khi click vào, để phóng lớn hơn)
Người thành công luôn có cách giải quyết vấn đề, kẻ thất bại luôn gặp rắc rối khi giải quyết. Người thành công luôn có sẵn chương trình, kẻ thất bại luôn có sẵn lời bào chữa
Người thành công nói: “Để tôi thực hiện việc đó cho bạn”, kẻ thất bại bảo “Đó không phải là việc của tôi”. Người thành công nhìn thấy cách giải quyết cho mỗi trở ngại, kẻ thất bại nhìn thấy trở ngại trong mỗi lời giải.

Người thành công nói: “Việc đó khó nhưng tôi có thể làm được”, kẻ thất bại bảo: “Tôi có thể làm được việc đó nhưng khó”. Khi người thành công phạm sai lầm, anh ta nhận: “Tôi đã sai”, còn khi kẻ thất bại phạm sai lầm, anh ta phân bua: “Đó không phải lỗi của tôi”.

Người thành công thực hiện những lời cam kết, kẻ thất bại thực hiện bằng những lời hứa hẹn. Người thành công có những ước mơ, kẻ thất bại có những âm mưu. Người thành công nói: “Tôi phải làm được điều đó”, kẻ thất bại nói: “Điều đó phải được làm”.

Người thành công là một bộ phận của tập thể, kẻ thất bại nằm ngoài tập thể. Người thành công nhìn thấy lợi ích, kẻ thất bại nhìn thấy đau khổ. Người thành công nhìn thấy những khả năng, kẻ thất bại nhìn thấy trở ngại. Người thành công tin rằng tất cả mọi người sẽ chiến thắng, kẻ thất bại tin rằng họ chiến thắng những người thua cuộc.

Người thành công kiên định với những giá trị cao đẹp nhưng bỏ qua những điều nhỏ nhặt, kẻ thất bại cứng rắn với những điều nhỏ nhặt nhưng bỏ qua những giá trị cao đẹp. Người thành công sống theo triết lý của sự cảm thông: “Đừng làm những điều mà bạn không muốn người khác làm cho mình”, kẻ thất bại sống bằng lý lẽ: “Hãy làm điều đó trước khi nó làm cho mình”.

Và khi yêu, người thành công yêu theo triết lý: “Sống để yêu”, kẻ thất bại yêu theo triết lý: “Yêu để sống”.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Bạn có khả năng là tội phạm không?





Sở dĩ nó được coi là những câu hỏi kinh dị vì nếu bạn trả lời được 6/7 câu sẽ được liệt vào loại tội phạm kinh điển tiềm năng!

Theo 1 nguồn không chính thống, 7 câu hỏi tâm lý mà FBI đã tiến hành đối với những phạm nhân có tâm lý dị thường và kết quả cho thấy câu trả lời của họ đều trùng khớp với nhau. Có thể kết luận rằng những người trả lời được hết hoặc gần hết 7 câu hỏi dưới thì có thể :

1 – Là người có thiên bẩm suy đoán về tâm lý tội phạm, có xu hướng cao độ về tâm lý dị thường. Sau này có thể trở thành một nhà tâm lý học về tội phạm hay là một thám tử xuất sắc.

2 – Là người có tâm lý khác thường, hành động cũng khác thường, có thể sẽ trở thành một tội phạm nguy hiểm đối với xã hội. Ví dụ: Sát nhân biến thái giết người hàng loạt.

Hãy thử sức vui qua 7 câu hỏi này, suy nghĩ thật kỹ rồi hãy kéo xuống xem đáp án nhé.!

Và sau đây là 7 câu hỏi của FBI:

* 1: Vào một hôm, có một vị công trình sư đã từng đến Nam Cực công tác, đang ngồi ăn thịt trong nhà, cảm giác mùi vị rất lạ bèn hỏi vợ đây là thịt gì? Vợ nói là thịt chim cánh cụt. Người kỹ sư trầm mặc một lúc, lấy dĩa cắm vào cổ họng mình. Câu hỏi là: Tại sao?

* 2: Một người nam giới bị mắc bệnh kinh niên, đi khắp nơi để chữa bệnh, cuối cùng đã được một bệnh viện chữa khỏi hoàn toàn. Nhưng ngồi trên tàu hỏa trở về quê, đột nhiên anh ta kêu khóc thảm thiết, sau khi điên cuồng làm bị thương mấy hành khách, liền đâm vỡ cửa sổ, nhảy ra ngoài. Kết quả bị cuốn vào bánh xe tàu, nát bét. Tại sao?

* 3: Một đôi nam nữ đang đi dạo bên hồ, cô bạn gái trượt chân ngã xuống sông, sau khi giãy giụa một lát, liền chìm nghỉm. Người con trai hoảng loạn lao xuống sông, nhưng không cứu được cô bạn gái. Mấy năm sau, người con trai quay lại chốn đau thương, nhìn thấy một ông già đang câu cá. Cậu phát hiện ra những con cá bị ông già câu lên đều rất sạch sẽ, bèn hỏi ông già, sao trên người những con cá không có rong rêu. Ông già trả lời: Con sông này chưa bao giờ có rong rêu. Cậu con trai nghe xong, không nói câu nào, bèn lao mình xuống sông tự vẫn. Tại sao?

* 4: Một người đàn ông đâm đầu xuống cát ở sa mạc, chết, bên cạnh là mấy chiếc va li hành lý. Trong tay nạn nhân cầm một nửa que diêm. Người này vì sao mà chết?

* 5: Hai chị em gái tham gia đám tang của mẹ. Trong đám tang, cô em gái nhìn thấy một anh chàng rất đẹp trai, nên đã say mê. Đáng tiếc thay, sau khi đám tang kết thúc, anh chàng này cũng biến mất. Mấy hôm sau, cô em gái lấy dao đâm chết chị gái mình trong bếp. Tại sao?

* 6: Trong đoàn xiếc có hai người lùn, một người bị mù. Một hôm, ông chủ đoàn xiếc nói với họ, đoàn xiếc chỉ cần một người lùn. Hai người lùn này đều vô cùng mong muốn giữ được công việc này để sinh sống. Kết quả, sáng sớm ngày hôm sau, người lùn mù đã tự sát trong phòng mình. Trong phòng có các đồ dùng bằng gỗ và đầy những mẩu gỗ thừa nằm dưới đất. Tại sao người lùn mù lại tự sát ?

* 7: Có một người sống ở một căn nhà nhỏ trên đỉnh núi. Vào một đêm khuya, trời mưa như trút nước. Khi người đó đang ở trong căn phòng nhỏ, đột nhiên… Anh ta nghe thấy tiếng gõ cửa. Anh ta đẩy cửa ra nhìn… thì không thấy một người nào cả .Anh ta bèn đóng cửa lại, lên giường đi ngủ. Ai ngờ, mấy chục phút sau, tiếng gõ cửa thần bí lại một lần nữa vang lên. Người đó run rẩy mở cửa, nhưng vẫn không thấy ai, suốt cả một đêm, tiếng gõ cửa lặp đi lặp lại mấy lần liền, nhưng mỗi lần mở cửa đều không có một ai. Sáng sớm hôm sau, có người phát hiện ra ở chân núi có một thi thể mình đầy thương tích”. Câu hỏi là, người này làm sao mà chết ???



Lời giải :
Câu 1:Vào một hôm, có một vị công trình sư đã từng đến Nam Cực công tác, đang ngồi ăn thịt trong nhà, cảm giác mùi vị rất lạ bèn hỏi vợ đây là thịt gì? Vợ nói là thịt chim cánh cụt. Người kỹ sư trầm mặc một lúc, lấy dĩa cắm vào cổ họng mình. Câu hỏi là: Tại sao?

Đáp án: Người kỹ sư đó đã từng gặp nguy hiểm ở Nam Cực, có một người đồng sự đã chết, sau đó ông và những người khác dựa vào ăn một thứ gọi là thịt chim cánh cụt mới duy trì, gắng gượng đến lúc nhân viên cứu hộ đến. Ông ta sau khi được nếm mùi vị thực sự của chim cánh cụt, mới biết lúc đó thứ thịt mà ông ăn là thịt của người đồng sự đã chết.\
Câu 2: Một người nam giới bị mắc bệnh kinh niên, đi khắp nơi để chữa bệnh, cuối cùng đã được một bệnh viện chữa khỏi hoàn toàn. Nhưng ngồi trên tàu hỏa trở về quê, đột nhiên anh ta kêu khóc thảm thiết, sau khi điên cuồng làm bị thương mấy hành khách, liền đâm vỡ cửa sổ, nhảy ra ngoài. Kết quả bị cuốn vào bánh xe tàu, nát bét. Tại sao?

Đáp án: Bệnh kinh niên của người đàn ông đó là bệnh mù. Sau khi khỏi bệnh, cứ tưởng mình sẽ được sáng mắt lại, nhìn thấy mọi thứ, kết quả là khi đoàn tàu đi qua đường ngầm, trong đêm tối, người đàn ông đó cứ ngỡ bệnh cũ của mình tái phát lại, quá tuyệt vọng nên đã nhảy xuống tàu tự sát.
Câu 3:Một đôi nam nữ đang đi dạo bên hồ, cô bạn gái trượt chân ngã xuống sông, sau khi giãy giụa một lát, liền chìm nghỉm. Người con trai hoảng loạn lao xuống sông, nhưng không cứu được cô bạn gái. Mấy năm sau, người con trai quay lại chốn đau thương, nhìn thấy một ông già đang câu cá. Cậu phát hiện ra những con cá bị ông già câu lên đều rất sạch sẽ, bèn hỏi ông già, sao trên người những con cá không có rong rêu. Ông già trả lời: Con sông này chưa bao giờ có rong rêu. Cậu con trai nghe xong, không nói câu nào, bèn lao mình xuống sông tự vẫn. Tại sao?

Đáp án: Khi cậu con trai nhảy xuống sông cứu bạn gái, đã từng nắm vào một thứ giống như rong rêu, cậu đã thả tay ra. Sau đó, khi nghe xong câu trả lời của ông già, cậu mới biết, lúc đó, thứ cậu nắm được không phải là rong rêu mà là tóc của cô bạn gái.
Câu 4: Một người đàn ông đâm đầu xuống cát ở sa mạc, chết, bên cạnh là mấy chiếc va li hành lý. Trong tay nạn nhân cầm một nửa que diêm. Người này vì sao mà chết?

Đáp án: Chiếc máy bay người này ngồi xảy ra sự cố, tất cả mọi người cần phải nhảy dù để sống sót, nhưng lại phát hiện thiếu mất một cái dù. Thế là mọi người bốc thăm để quyết định sinh tử, người bốc vào nửa que diêm không có dù, chỉ có thể tự nhảy xuống. Kết quả nạn nhân bốc vào nửa que diêm.
Câu 5: Hai chị em gái tham gia đám tang của mẹ. Trong đám tang, cô em gái nhìn thấy một anh chàng rất đẹp trai, nên đã say mê. Đáng tiếc thay, sau khi đám tang kết thúc, anh chàng này cũng biến mất. Mấy hôm sau, cô em gái lấy dao đâm chết chị gái mình trong bếp. Tại sao?

Đáp án: Cô em gái đã phải lòng người con trái đó, khao khát được gặp lại anh ta. Nhưng cô biết, chỉ có thể gặp lại anh ta trong tang lễ, thế nên cô đã tự tạo ra một đám tang bằng cách kill chị mình
Câu 6: Trong đoàn xiếc có hai người lùn, một người bị mù. Một hôm, ông chủ đoàn xiếc nói với họ, đoàn xiếc chỉ cần một người lùn. Hai người lùn này đều vô cùng mong muốn giữ được công việc này để sinh sống. Kết quả, sáng sớm ngày hôm sau, người lùn mù đã tự sát trong phòng mình. Trong phòng có các đồ dùng bằng gỗ và đầy những mẩu gỗ thừa nằm dưới đất. Tại sao người lùn mù lại tự sát ?

Đáp án: Người lùn kia nhân lúc người lùn mù ngủ, đã lẻn vào phòng anh ta, cưa tất cả chân những đồ gỗ cho thấp xuống. Người lùn mù sau khi tỉnh dậy, phát hiện ra những thứ anh ta sờ thấy đều thấp xuống, cứ tưởng rằng sau một đêm mình đã cao lên, tuyệt vọng quá, đã tự sát.
Câu 7(nghe ghê nhất):Có một người sống ở một căn nhà nhỏ trên đỉnh núi. Vào một đêm khuya, trời mưa như trút nước. Khi người đó đang ở trong căn phòng nhỏ, đột nhiên… Anh ta nghe thấy tiếng gõ cửa. Anh ta đẩy cửa ra nhìn… thì không thấy một người nào cả .Anh ta bèn đóng cửa lại, lên giường đi ngủ. Ai ngờ, mấy chục phút sau, tiếng gõ cửa thần bí lại một lần nữa vang lên. Người đó run rẩy mở cửa, nhưng vẫn không thấy ai, suốt cả một đêm, tiếng gõ cửa lặp đi lặp lại mấy lần liền, nhưng mỗi lần mở cửa đều không có một ai. Sáng sớm hôm sau, có người phát hiện ra ở chân núi có một thi thể mình đầy thương tích”. Câu hỏi là, người này làm sao mà chết ???

Đáp án: nạn nhân đến tìm người sống trong căn nhà trên đỉnh núi – chú ý, người này sống ở trên đỉnh núi. Sau khi gõ cửa, người đó mở cửa ra, người đến thăm đáng thương đó liền bị đẩy xuống. Anh chàng xui xẻo này vẫn không cam tâm, sau khi trèo lên lại bị đẩy xuống dưới, cứ lặp đi lặp lại, anh chàng xui xẻo này cuối cùng bị mất mạng

(Sưu tầm)

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thứ Ba, 8 tháng 4, 2014

Thở than phỏng được ích giề???

KẺ SĨ XƯA VÀ NAY: NỖI CÔ ĐƠN TRIỀN MIÊN
Nguyễn Quang Thân

Văn hóa bao giờ cũng chuyển mình rất chậm, qua chọn lọc lâu dài của thời gian, không như giá trị vật chất hay kỹ thuật. Văn hóa là những gì còn được ghi nhớ sau bao thứ bị con người quên đi, nó giống như hạt ngọc còn lại trong con lòng con trai ngọc sau khi cái xác trai thối rữa tan biến thành cát bụi trooi theo dòng nước. Khái niệm “kẻ sĩ Bắc Hà, sĩ phu Bắc Hà” là một trong những hạt ngọc khá độc đáo còn lại trong văn hóa Việt.
Kẻ sĩ Bắc Hà được nhắc tới và nói đến nhiều có lẽ từ thời Lê Mạt nhiễu nhương, tiếp đến là Trịnh Nguyễn phân tranh rạch đôi sơn hà Nam – Bắc và sau đó là triều đại Quang trung Nguyễn Huệ chói lòa rồi tắt nhanh như sấm sét. Chưa bao giờ đất nước và lòng người bị chia rẽ, phân tâm như thời ấy. Dân chúng lầm than đói khổ, nông dân khởi nghĩa và giặc giã nổi như rươi, kỷ cương rối loạn, văn hóa suy đồi. Hào quang khí phách Chu Văn An nhiều trăm năm trước vẫn le lói trong tâm thức kẻ sĩ. Khác hẳn với xã tắc trước đây là một mối “vững âu vàng”, từ thời thịnh Trần, sau đó là cuộc khởi nghĩa Lam Sơn tạo dựng một triều vua có thể nói là thịnh trị nhất trong lịch sử. Kẻ sĩ từ Lý Thường Kiệt đến Nguyễn Trãi, Trần Nguyên Hãn, Đặng Dung và bao sĩ phu khác hầu như chỉ có một con đường để chọn là đuổi giặc xâm lược phương Bắc, cứu dân, cứu nước. Chưa có “Nam Hà” nên cũng chưa ai nói tới “sĩ phu Bắc Hà”.
Nhưng từ Nguyễn Bỉnh Khiêm và sau đó khá lâu là Nguyễn Thiếp, giới sĩ phu đã vấp phải trước mắt mình những ngã ba đường khắc nghiệt của lịch sử. Vốn được nuôi dưỡng bằng bầu sữa Nho giáo hàng trăm năm với tinh thần trung quân miễn bàn, họ bỗng choáng ngợp trước quá nhiều ông vua để thờ, nhiều triều vua để chọn. Khi khuyên Nguyễn Hoàng vào Nam “vạn đại dung thân”, Trạng Trình đã đánh dấu một giai đoạn lịch sử mới. Một đất nước đang tan rã, đang phân liệt và kẻ sĩ vốn chỉ biết có nhà Lê đang tự hỏi mình về tính chính thống còn hay mất? Trong cuồng phong loạn ly với những cơn xoáy mãnh liệt, nhân cách con người và trước hết là của giới tinh hoa có học được hình thành. Nhà thơ Aragon rất có lý khi viết câu thơ: “ Khi tấm kính nhân dân bị che mờ thì mặt người soi vào càng thấy rõ”. Kẻ sĩ được đặt trước những nan vấn đụng chạm đến cả đức tin đạo Nho khi cung Vua phủ Chúa tràn ngập rác rưởi, dâm loạn và thối nát. Những Thị Huệ, Đặng Mậu Lân hay Huy quận công chà đạp lên nhân phẩm của một xã hội từng có kỷ cương đang rữa nát. Kẻ sĩ – người có học, được coi là lương tri của thời đại không thể không tự dằn vặt là mình đang buộc phải “trung” với loại vua nào, chúa nào. Nhưng chữ nghĩa và đạo đức thánh hiền cùng tính cách học trò thừa bạc nhược, không cho phép họ hành động, không cho họ làm những gì họ nghĩ, họ muốn làm. Mấy ai được như Nguyễn Hoàng dứt áo ly khai? Mấy ai được như Nguyễn Hữu Cầu, bỏ văn lấy võ với khát vọng san bằng bất công, sắp xếp lại giang sơn? Hay như Lý Trần Quán tự chôn sống mình để bảo toàn khí tiết?
Cặp bài trùng bạn đồng môn Phạm Đình Trọng – Nguyễn Hữu Cầu (Quận He) thời Lê Trịnh và Thần Siêu – Thánh Quát thời Minh Mạng cũng như mối mâu thuẫn lớn trong tâm trạng thiên tài Nguyễn Du, cục máu đông không thể tan, với hàng chục năm lận đận tìm đường chống Tây Sơn, tỏ lòng trung với nhà Lê đã bộc lộ hết sức rõ ràng sự giàng xé tâm can kẻ sĩ Bắc Hà đương thời. Những kẻ sĩ khí phách như Nguyễn Hữu Cầu vứt đường công danh làm giặc, như Cao Bá Quát, thiên tài thi ca vẫn ước ao “Ngã dục đăng cao/Hạo ca ký vân thủy” (Ta muốn trèo lên đỉnh cao ngất/Hát vang lên để gửi tấm lòng vào mây nước...), dám cầm gươm nổi loạn để kết thúc cuộc đời trên chiến trường. Hay như Nguyễn Du bảo hoàng hơn cả vua, ôm mối trung quân,  muốn “làm giặc” chống “giặc Tây Sơn” tuy cầm gươm không nên cơm cháo gì, nhưng cây bút lông của ông đã viết trọn những trang huy hoàng nhất của văn thơ nước Việt. Dù có người làm “giặc” nhưng ngay cả người đương thời vẫn coi họ là “kẻ sĩ”, có nhân cách lớn của “kẻ sĩ”.
Nhưng kẻ sĩ Bắc Hà không chỉ làm giặc. Một số lớn bị quan niệm bảo hoàng và cả nợ áo cơm trói buộc, bị giằng xé đau đớn suốt cuộc đời trong nỗi cô đơn. Nguyễn Siêu không đủ gan làm giặc nhưng mang tâm trạng u uất, bất lực, đành để tâm trau giồi văn thơ cứu lấy tinh hoa văn hóa, chỉ còn biết “tả thanh thiên” (viết lên trời xanh) đối thoại với trời xanh những điều không thể viết thành chữ thành lời. Hay Nguyễn Công Trứ, nhà thơ lớn của dân tộc, có cái ngông, cái phản kháng trong bản chất, một nhân cách độc đáo của kẻ sĩ, tuy bảy nổi ba chìm trong hoạn lộ nhưng vẫn không dứt được tấm áo xanh quan văn và cả cân đai quan võ, không thể thoát ra khỏi sức hút của bộ máy quyền lực mà trong thâm tâm ông khinh ghét. Và mãi tới sau này, khi triều Nguyễn đã ổn định trong cái ô “bảo hộ” của thực dân Pháp, khi nước đã mất không tìm thấy ngày mai, những kẻ sĩ Bắc Hà như Nguyễn Khuyến, Tú Xương vẫn có cái tài ấy, cái ngông, cái phản kháng, cái thâm nho ấy, nhưng chi còn biết giữ được nhân cách kẻ sĩ bằng cách trút tâm sự vào những vần thơ trào lộng để đời mà thôi.
Một số kẻ sĩ lại có cách xuất xử khác thường. Trong làn sóng ngầm dữ dội và quyết liệt chống Quang Trung ở Bắc Hà với Lý Trần Quán, Trần Phương Bình, Nguyễn Hành, Phạm Thái, Bùi Dương Lịch, kể cả Nguyễn Du…thì một số sĩ phu Bắc Hà như
Ngô Thì Nhậm (1746 - 1802) , Phan Huy Ích (1751 - l822) , Nguyễn Thế Lịch (1748 - 1817), Vũ Huy Tấn (1749 - 1800) cùng nhiều người khác, tự nguyện và cũng rất hồ hởi ra trình diện và cộng tác với triều Tây Sơn mà có vẻ như không hề có mặc cảm “thờ hai vua”. Họ rất được nhà vua áo vải trọng dụng. Sau khi Gia Long lên ngôi, họ bị làm nhục, trả thù tàn nhẫn. Nhưng sau đó, con cháu họ như Phan Huy Chú, Phan Huy Vịnh ( con và cháu Phan Huy Ích) lại cộng tác và làm quan to với nhà Nguyễn, như quên mối thù xưa và khí phách kẻ sĩ. Thực ra, đây là một đặc điểm của kẻ sĩ Bắc Hà. Những người này có thể bị đời sau cho là “cơ hội”, “sọc dưa”. Nhưng họ là những đại sĩ phu, học rộng tài cao. Họ chỉ đơn giản tranh thủ cơ hội để được đưa cái sở học của mình ra gìn giữ ngôi đền văn hóa nước nhà vì họ là kẻ sĩ. Nếu không thế làm sao đời sau có được 28 tập Lịch triều hiến chương loại chí và bài dịch Tỳ bà Hành bất hủ?
Từ Nguyễn Hữu Cầu, Cao Bá Quát đến Phan Huy Ích, Nguyễn Văn Siêu, Nguyễn Công Trứ cho tới Nguyễn Khuyến, Tú Xương và sau nữa là Tản Đà…mỗi người một vẻ, kẻ sĩ Bắc Hà khác nhau rất nhiều về cách xuất xử, về hành vi cũng như tính cách cá nhân, thậm chí đối lập như nước với lửa. Nhưng chính khối mâu thuẫn ấy đã tạo nên một viên ngọc văn hóa, đó là nhân cách “kẻ sĩ Bắc Hà” với tính cách thâm thúy, học rộng tài cao, có sở hữu chung là cái ngông, cái thâm nho, có minh triết lẫn tù mù trí tuệ, tuy mỗi người biểu hiện những tính cách đó khác nhau, thậm chí trời vực. Có số ít kẻ sĩ dấn thân thà chết không chịu nhục, bên cạnh đó cũng không ít người chấp nhận sống cảnh hàn nho, coi trời bằng vung nhưng luôn “mong được vua yêu”( Mười mấy năm qua ấn với thao/Thân này mong được đức vua yêu – Nguyễn Khuyến), nói là hèn nhát trước đòi hỏi của thời cuộc cũng không oan.
Tuy thế, qua văn thơ, giai thoại, hành vi, họ đã tạo ra được một khái niệm văn hóa trường tồn cùng lịch sử, đó là khái niệm “kẻ sĩ Bắc Hà” với tất cả các mặt đối lập hay dở phong phú để hậu thế có thể tranh cãi, bình luận thậm chí chế riễu và chiêm nghiệm học hỏi.
Có người nói rằng “kẻ sĩ Bắc Hà” đã chết. Chết với cảnh đầu rơi máu chảy của thi hào họ Cao, với chiếc roi tẩm thuốc độc của Đặng Trần Thường, cái nhẫn nhịn “mấy năm làm quan không nói một lời tâu vua” của Nguyễn Du, cuộc đời ưu thời mẫn thế, luôn bất mãn nhưng bất lực của Nguyễn Khuyến, Tú Xương…
Thực ra không hẳn thế. Khái niệm “kẻ sĩ Bắc Hà” xưa đã trở thành truyền thống kẻ sĩ. Bất mãn, phản biện và phản kháng để giữ nhân cách (tu thân) và sau đó là thay đổi hay uốn nắn thời cuộc (bình thiên hạ) theo những nguyên lý truyền thống họ được giáo dục và truyền đạt là đặc điểm của trí thức mọi thời chứ không riêng gì kẻ sĩ Bắc Hà. Dù mang nhiều mặt đối lập, dù là một khối mâu thuẫn lớn, dù khí phách lẫn hèn nhát, truyền thống kẻ sĩ vẫn là một điểm son, một hạt ngọc có ảnh hưởng tích cực là chủ yếu trong tâm thức văn hóa Việt.
Thế kỷ hai mươi, “khi tấm kính của nhân dân bị che mờ”, nước mất nhà tan hay kẻ thù mang gươm súng trở lại hòng “đô hộ nước ta một lần nữa”, chắc chắn lịch sử sẽ không quên một lớp kẻ sĩ (không chỉ Bắc hà) đã thật sự phát sáng trên con đường cứu dân cứu nước. Tuyệt đại đa số trí thức hàng đầu, hậu duệ của tầng lớp kẻ sĩ ưu thời mẫn thế dù đã phiêu bạt nước ngoài hay còn ở lại trong nước đã tự nguyện hiến dâng cho đại nghĩa dân tộc. Đó là lớp “sĩ phu” Tây học nhưng còn khá đậm tinh thần Nho giáo, dù mác-xít hay không, vẫn chấp nhận hy sinh mọi thứ để đứng dưới cờ kháng chiến như Hồ Đắc Di, Tạ Quang Bửu, Hoàng Xuân Hãn, Trần Đại Nghĩa, Nguyễn Văn Huyên, Trần Đức Thảo, Nguyễn Mạnh Tường, Nguyễn Khắc Viện…Lớp kẻ sĩ thời đó, như ta biết về sau này, tuy bị ảnh hưởng sâu đậm của trí thức phương Tây ở thế kỷ ánh sáng như Voltaire, Diderot nhưng vẫn mang đầy đủ tính cách “kẻ sĩ” truyền thống, vẫn “ngông”, vẫn có bản chất phản biện và tính cách mạnh mẽ do hấp thụ hoặc sống nhiều năm trong xã hội phương Tây. Nhưng họ đã từ bỏ bản thân mình, kể cả cuộc đời vật chất lầu son gác tía để đi theo và cố gắng thích nghi với kháng chiến. Sự hy sinh ấy không phải là nhỏ nhưng niềm tin vào cuộc hồi sinh của dân tộc đã làm họ lạc quan, thúc đẩy họ luôn hướng về phía trước. Nhà thần học Nguyễn Khắc Dương nhớ lại : “Anh (Tạ Quang Bửu) đưa mắt nhìn quanh anh em rồi trầm giọng xuống  nói rằng : “Anh rất thương các em, con đường học vấn của các em thế là dang dở. Rồi đây một số trong các em sẽ phải lên đường với một hành trang chưa đầy đủ như lớp các anh, dù sao cũng tạm gọi là một phần nào thành đạt. Trong các em rồi nhiều kẻ sẽ bị hy sinh dù là dưới dạng nào trên nẻo đường nào. Nhưng các em cứ mạnh dạn đi theo con đường của mình và nên biết những biến chuyển lớn lao của lịch sử bao giờ cũng đòi hỏi rất nhiều hy sinh dưới rất nhiều dạng. Và dù hy sinh dưới dạng nào (có khi những dạng đối nghịch nhau) thì những hy sinh của các em cũng trực tiếp hay gián tiếp góp phần vào sự nghiệp xây dựng tương lai”. ( Trích trong cuốn Thầy Nghệ - NXB Hà Nội). Ta thấy rõ, sự giải phóng cá nhân từ văn hóa phương Tây trong tâm thức lớp kẻ sĩ thế kỷ hai mươi như dòng sông lớn hòa tan, làm nhạt dần chất “kẻ sĩ Bắc Hà” mà chúng ta hằng biết.
Sau thắng lợi vang dội thống nhất đất nước cũng như những sai lầm của quá khứ trước đổi mới, sau những thành tựu lớn lao về kinh tế sau 20 năm chuyển mình sang kinh tế thị trường, đất nước đang hiện hữu một xã hội có quá nhiều vấn nạn. Nhiều sự thật đáng buồn đang diễn ra trước mắt nhân dân. Bên ngoài lũ bành trướng lăm le nuốt trọn biển Đông và các quần đảo cha ông để lại cho chúng ta, bên trong nạn tham nhũng hoành hoành và cái hố giàu nghèo được khoét sâu và mở rộng chưa từng có. Đó là nguồn gốc của tội ác đang xẩy ra mỗi ngày được “nâng cấp”, được trưởng ác dần lên, của tình trạng đạo đức truyền thống đang suy đồi, giáo dục bế tắc, có thể nói là khủng hoảng, văn hóa đặc biệt là văn học nghệ thuật đang xuống cấp nghiêm trọng. Tất cả đều làm mọi người lo lắng. Thất phu hữu trách nhưng trước hết là trí thức, những người có học đang phải đối mặt với vấn nạn. Dấn thân luôn nằm trong bản chất của họ.
Kẻ sĩ thời nay đã có sẵn trong máu truyền thống kẻ sĩ thời Nho giáo thịnh hành hay từ lớp cha anh Tây học vừa khuất bóng chưa bao lâu. Cái sở học của họ không như cha ông. Họ đang sống trong một thế giới hòa nhập, đặc biệt là xa lộ internet và có thể không sợ vô lễ khi cho rằng họ học cao tài rộng hơn cha anh ( đương nhiên với sự phát triển của thế giới văn minh), tính độc lập suy nghĩ và chất phản biện vốn có sẵn trong con người kẻ sĩ mọi thời đại cũng mạnh mẽ hơn nhiều. Bởi vì chất Nho giáo chưa hề tồn tại hoặc nếu có ( những người xuất thân gia đình nho giáo) thì cũng đã nhạt nhòa.
Nhưng kẻ sĩ thời nay như ta quen nghĩ về họ đã làm được gì, đã xuất xử thế nào? Rõ ràng là họ chưa làm được gì nhiều. Bởi vì, trước hết nếu không nói là duy nhất, kẻ sĩ thời nay cũng không may mắn hơn kẻ sĩ thời xưa là không có được một cơ chế, một môi trường phản biện lành mạnh để họ có điều kiện giúp dân giúp nước. Thời xưa đàn hặc, viết sớ, tâu trình vua không nghe hoặc may ra trăm lần mới có một lần nghe. Nỗi đau không chỉ riêng của Chu Văn An, thật điển hình. Kẻ sĩ mặc nhiên rơi vào một nỗi cô đơn triền miên. Người lạc vào hẽm núi, kêu cứu vẫn còn có thể nghe được tiếng vọng. Nhưng kẻ sĩ bày tỏ tâm can thậm chí cũng không nghe thấy tiếng dội của lòng mình, còn hy vọng gì mắt xanh của vua. Nay cũng không khác lắm ngày xưa. Nhiều kiến nghị tâm huyết đã bị rơi xuống cái vực "im lặng đáng sợ"!
Không ít kẻ sĩ nản chí đầu hàng vì không chịu nổi sự cô đơn. Thói quen thụ động và nhút nhát dẫn tới dễ dàng chấp nhận vô điều kiện mọi thứ gọi là chính thống. Có người coi Trời bằng vung nhưng vẫn có kẻ coi vung bằng Trời.
Dù vậy, kẻ sĩ chưa chết. Tinh thần và khí phách của kẻ sĩ Bắc Hà chưa chết và sẽ không chết. Roi tẩm thuốc độc của Đặng Trần Thường chỉ giết được thể xác một Ngô Thời nhiệm chứ không nhục mạ được tinh thần kẻ sĩ. Hơn bao giờ hết, trên con đường dẫn tới một Việt nam giàu mạnh, dân chủ, văn minh, xã hội vẫn cần một tinh thần phản biện kẻ sĩ, khí phách không nhân lượng với cái ác của kẻ sĩ. Không thể tưởng tượng được một xã hội không còn kẻ sĩ dù trong số họ hoặc trong mỗi người không phải bao giờ cũng loại trừ được những cái dở, cái hèn, cái bàng quan.
Cô đơn luôn đồng hành một cách tự nhiên với những người nhìn thấy trước và mạnh dạn bước lên trước thời đại. Có câu nói: “Nguy hiểm nhất là người chỉ đọc một cuốn sách”. Nhưng còn nguy hiểm hơn là những người được giao trọng trách trong xã hội, dắt dẫn dân chúng mà chưa từng đọc một cuốn sách. Vì thế, kẻ sĩ luôn vẫn là nguyên khí của mọi thời.

Phần nhận xét hiển thị trên trang