Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Ba, 8 tháng 4, 2014

Bài của Đức đ..

Lý do dân trí Việt Nam còn chưa biết chào ?!


Nguyễn Hoàng Đức
Nguyên Hoàng Đức đang học đàn
Nguyên Hoàng Đức đang học đàn
Trên báo mạng Thanh Niên on line có đăng bài “Cách chào của người Việt” của tác giả Nguyễn Văn Mỹ. Theo ông cách chào của người Việt đã mai một, ngày xưa người Việt thường chắp hai tay trước ngực cúi đầu chào. Một ông tây làm thế liền bị coi như trẻ con.
Dù vậy, cách chào đó vẫn chỉ là hành vi chào của cơ thể chứ không phải ngôn ngữ chào. Nói chính xác và chính thức, người Việt cho đến nay vẫn chưa có lời chào chính thức nào. Cụ thể, một số người nước ngoài đến Việt Nam học tiếng Việt, được dạy mỗi khi chia tay sẽ chào “tạm biệt”, nhưng họ bảo: ‘các anh dạy chúng tôi thế nhưng các anh có chào thế đâu, mà chủ yếu các anh chào “về nhé” hay “đi nhé”’.


Tại sao dân Việt chưa có lời chào chính thức, nói chính xác hơn, những lời chào được truyền thống hóa để thành kinh điển? Thực ra thì người Việt mới có chữ viết được vài thế kỷ nay, nên ngôn ngữ miệng chưa chín mọng trên trang giấy để hóa kinh viện cũng là chuyện bình thường. Xưa người Việt được chào thường hay đáp lại “không dám!” tức là luôn hạ mình xuống mức kẻ dưới, nô tài, không dám tự tin khi đưa ra lời chào đàng hoàng ngang vai vừa lứa.
Muốn có lời chào thì người ta phải biết hướng ra người khác. Nhưng cách sống của người Việt chủ yếu mới quanh co đắp vào thân lo ích kỷ vụ lợi cho mình thì làm sao có lời chào?
Để có lời chào, người Hy lạp và La Mã đã nêu cao đức tính đầu tiên của con người là Hiếu Khách. Hiếu khách trở thành một tiêu chuẩn sống đến mức tiên quyết, ai đó không hiếu khách sẽ trở thành nỗi nhục mà không còn được cộng đồng chấp nhận. Hiếu khách chính là con đường hướng đến Công Lý. Bởi phương Tây có một câu bất hủ “công lý là người thứ ba” (le juge est un tier). Trong nhà nếu chỉ có hai vợ chồng, họ cãi nhau dù minh mẫn hay chầy cối thì cả đời cũng không phân thắng bại, nhưng có một người thứ ba xuất hiện thì sự thể ngã ngũ liền theo cách có nhân chứng. Trong các vụ án cũng vậy, nếu chỉ có bên nguyên hay bên bị mà không có người thứ ba làm chứng, thì phiên tòa không bao giờ có thể tiến hành. Vì sao? Vì nó không có công lý ít nhất – là người thứ ba.
Người khác mới là con đường dẫn ta ra xã hội và cuộc đời phổ quát, bởi nếu không có người khác ấy, vai trò của người nhà vĩnh viễn chỉ là thiếu bóng dáng của người làm chứng cũng như công lý. Người khác trong học thuật còn dạy người ta biết thế nào là Khách quan – khách quan là cái nhìn của khoa học và công lý. Trái lại chủ quan là cái tự mình chỉ dẫn người ta đến cái cảm xúc cục bộ nhỏ bé. Người Khách dạy chúng ta biết lẽ sống “Vong kỷ hiến tha” thay vì “Ích kỷ hại tha”, tức là hãy hy sinh cái tôi của mình mà vì người khác, chứ không nên vì lợi cho mình làm hại người khác, như người Việt bảo “của mình thì giữ bo bo/ của người thì thả cho bò nó xơi”.
Từ việc hướng ra người khác, mà người phương Tây đặc biệt chú trọng đến xây quảng trường ở trung tâm thành phố. Đó thường là một khu đất vàng, vuông thành sắc cạnh, được gọi là “square” (ở Việt Nam có người gọi quảng trường Nhà hát lớn Hà Nội là khiên cưỡng vì ở đó chỉ là đường đi qua). Tại quảng trường mọi người có thể dễ dàng đến đó thể hiện tư tưởng, tranh luận hay lắng nghe. Trong khi đó tại những mảnh đất vàng ở trung tâm thành phố người châu Á thường chỉ xây cung vua phủ chúa khép kín tường cao hào sâu để đề phòng thích khách. Đây là một quan điểm chính yếu, nhiều chuyên gia phương tây nói thẳng: các thành phố lớn ở châu Á thường lùi sâu vào trong lục địa để cố thủ, ngược lại ở châu Âu người ta thường xây bên bờ biển để ra ngoài viễn chinh. Người phương Tây bêu đầu kẻ tử tội ở quảng trường để răn đe. Còn châu Á thì thường bêu ngoài chợ là nơi mua bán. Đó cũng là cách thể hiện hai trình độ sinh hoạt. Một đằng đã ra quảng trường để sinh hoạt tinh thần. Một đằng ra chợ để lo việc dạ dầy.
Sau quảng trường, là bài học của Lập Hiến. Điều này là tất yếu, vì theo triết gia Hegel khi con người bước ra khỏi đạo đức tự nhiên của gia đình, sẽ đến các hiệp hội cùng làm ăn, sản xuất hay sinh hoạt, cuối cùng buộc phải hội tụ đến vấn đề của Nhà nước, bởi chỉ có nhà nước mới cho phép các hiệp hội có được công lý để cùng tồn tại. Và nhà nước không thể có nếu không có Lập Hiến. Sau quảng trường, thì đã xuất hiện Nghị viện Athena, rồi Nghị viện La Mã để thiết định nhà nước cộng hòa đầu tiên của lịch sử. So sánh, nói chung cho đến đầu thế kỷ 20, các nước châu Á vẫn chưa có quốc gia lập hiến đúng nghĩa, tóc bạc rồi mà vẫn bị bố hay vua nọc ra lấy roi đánh, những nhà nước phong kiến tồn tại với các vương gia hoàn toàn là cách gia đình trị. Nhà nước chỉ là tổ hợp các gia đình, đứng đầu là gia đình của vua.
Người Việt tuy nói “Lời chào cao hơn mâm cỗ”, nhưng đó chỉ là ao ước nhiều hơn là thực hiện. Người Việt tính lỗ lãi trong từng lời chào. Tại sao vì người ta rất khó vượt qua ích kỷ cá nhân với những phương châm sống: “Ta về ta tắm ao ta/ dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn” và “Có con gái gả chồng gần/ có bát canh cần nó cũng đem cho/ hoài con mà gả chồng xa/ một là mất giỗ hai là mất con”. Lúc nào cũng loay hoay cái nhìn vơ vào cho bản thân cũng như nhóm lợi ích thì làm sao hướng tới người khác để có lời chào?! Tôi đã gặp không ít người, đến bất kỳ đâu họ cũng gật gật như thể không có thói quen chào thành tiếng, nhưng không phải, một lần tôi thấy họ nhìn thấy người có chức vụ cỡ trung trong tỉnh thôi, họ đứng lại nghiêm trang chào thành tiếng cách 10 m vẫn nghe rành rọt từng lời “Em chào anh B ạ”.
Tại sao có tâm lý này? Đó là tâm lý của nô tài, tính lỗ lãi từng ly từng tí. Vì tâm lý nô tài nên họ mặc cảm rằng chào ai thì thua thiệt, nhưng khi gặp người có quyền chức tâm lý nô tài lại sợ hãi chào thật to, thậm chí khi được chào phải đáp lại “không dám”.
Thật ra lúc nào tôi cũng muốn nhắc lại câu của thi sĩ Tản Đà “Dân hai nhăm triệu ai người lớn/ Nước bốn ngàn năm vẫn trẻ con”, nhưng sợ nhắc nhiều quá thành lạm dụng và khiến người khác khó chịu, nhưng quả là người Việt rất ít người trưởng thành. Kể cả nhiều loại giáo sư tiến sĩ, nhà văn, nhà thơ. Gặp nhau thì ậm ừ không dám chào thành tiếng, rồi đưa tay bắt thì lại đưa tay trái úp xuống như ban ơn cho người ta, nhưng gặp cấp trên thì bố bảo không dám làm thế, còn ở nhiều vùng quê thì là anh không sang nhà em, là anh không xới cơm cho em. Uống rượu với nhau thì đùn nhau rót rượu, cho rằng mình rót rượu thì hạ mình xuống. Nhiều cô gái đi đâu ăn uống không dám chia sẻ việc bếp núc, rửa bát với chủ nhà hay bạn bè, sợ mình tụt xuống dạng con ở, hoặc ngại do lười biếng. Nhưng người có tự chủ đích thực đâu có dễ bị tụt dẳng cấp như vậy. Vả lại trong một bữa ăn chẳng lẽ có thể vui nếu người ta không có khả năng chia sẻ hay tham dự cùng bữa ăn đó?
Thế nào là cùng ăn – cùng vui? Đấy là tâm lý thường trực cảnh giác tính toán của kẻ dưới, lúc nào cũng sợ mình bị kém phân. Trong khi đó người phương Tây chỉ cần trên đôi mươi hầu hết đã có dáng cư xử của quí ông, quí bà, đi đâu làm gì họ đều biết sống theo văn hóa, chức năng, và bổn phận . Có phải, chính thế mà người ta mới coi châu Á là dã man mọi rợ?!

Người Việt mình thực tế là vậy đấy, một lời chào chính thức còn chưa có, nhưng có ai bàn đến cái xấu thì bảo “nước nào chẳng có cái xấu ấy”. Hôm qua tôi vừa nghe tin tuyến tầu điện ngầm ở Panama vừa mở sẽ cho tất cả dân chúng đi miễn phí trong 3 tháng. Liệu Việt Nam có làm được thế không? Việc cho dân chúng đi miễn phí sẽ rất khôn ngoan vì trước hết nó tạo ra thói quen, thứ hai nó tạo ra món quà “mang ơn” để mọi người gắn bó đi tầu, trí khôn đó liệu người Việt có học tập được? Trí khôn đó cũng là cách sống thiện chí để tạo đạo đức lâu dài. Với cái khôn vặt vãnh ăn liền ma cà chớp của tâm lý tiểu nông, liệu người Việt có học theo được thứ lòng tốt đó? Cũng khó lắm thay bởi có phương ngôn: tiểu nhân nghĩ được tốt cũng không làm được tốt bởi bị cái lợi nhỏ bé dẫn đi!
Người Việt vẫn còn chưa biết chào, đấy là bằng chứng ngôn ngữ khó lòng chối cãi. Mong rằng từ đó giúp chúng ta phản tỉnh suy xét nhìn lại mình. Một quốc gia nếu có nhiều người tiến bộ thì nó mới hùng mạnh, ngược lại nếu chỉ có vài mống nói rằng “nhà tôi không vậy”, thì làm sao cái nhà tôi đó biến thành một quốc gia lập hiến cao cả và tốt đẹp?! Xin cám ơn.
NHĐ 07/04/2014

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Tin không thể tin được, nhưng nếu thật là sự thật thì đúng là tin mừng:


Tờ Cả thế giới của Nga dẫn nguồn tin giấu tên thuộc cơ quan tình báo đặc biệt của Nga cho biết, chuyến bay MH370 của Malaysia không rơi xuống Nam Ấn Độ Dương mà bị... bắt cóc tới khu vực biên giới Afghanistan - Pakistan. Nhờ hạ cánh an toàn, tất cả 239 người trên chiếc máy bay bị mất tích đều còn sống. Họ bị những kẻ bắt cóc phân ra 7 nhóm, sống cùng nhau dưới sự kiểm soát gắt gao trong các túp lều nhỏ chật chội.

Máy bay của Không quân Australia truy tìm chiếc máy bay Malaysia mất tích tại Nam Ấn Độ Dương. Ảnh: Reuters.


Nguồn tin cho biết, phi công không hề bắt cóc chuyến bay MH370 chở 239 người. Chuyến bay bị khống chế bởi những kẻ tấn công giấu mặt, vẫn chưa rõ danh tính.

Trong khi đó, tờ MK của Nga cũng đưa tin, chiếc máy bay mất tích của Malaysia với 227 hành khách và phi hành đoàn 12 thành viên đang ở khu vực Kandahar, Afghanistan gần biên giới với Pakistan. Chiếc máy bay Boeing 777 khổng lồ đậu trên một con đường nông thôn nhỏ hoang vắng với một cánh bị gẫy. Tuy nhiên, trước đó, chiếc máy bay đã hạ cánh an toàn.

Nhờ hạ cánh an toàn, tất cả 239 người trên chiếc máy bay bị mất tích đều còn sống. Họ bị những kẻ bắt cóc phân ra 7 nhóm, sống cùng nhau dưới sự kiểm soát gắt gao trong các túp lều nhỏ chật chội.

Trong số 7 nhóm hành khách trên chiếc máy bay Malaysia, có một nhóm 20 người “đặc biệt” bao gồm các nhân vật quan trọng được giữ riêng trong một hầm. Hiện vẫn chưa rõ động cơ của nhóm bắt cóc máy bay và nhóm này cũng chưa công khai đưa ra yêu sách của họ. Tuy nhiên, theo một nguồn tin, nhóm bắt cóc thực hiện vụ cướp máy bay táo tợn được cho là muốn gây sức ép với Trung Quốc và Mỹ về một vấn đề chưa được tiết lộ.


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Trở lại với cuốn Người Trung quốc tự trào

                                                                      nxb Văn học, 2002       
VTN                                                     
  Công bằng mà nói, phải nhận biếng nhác, dối trá, tham lợi, cầu an, nịnh nọt, trơ tráo, rồi cái gì cũng cười, cái gì cũng cho là không quan trọng...là những thứ tính chung của loài người, nhìn vào dân nước nào cũng thấy. 
     Mà cuốn sách tôi nói đây  lại chỉ là một cuốn sách mang tính cách phổ thông, có lẽ là đã đăng tải  làm nhiều kỳ trên một tờ  báo nào đó bằng Trung văn trước khi in sách. 
    Bởi vậy sẽ là vô lý nếu đòi hỏi nó phải  có những  phát hiện ghê gớm liên quan đếnnhững khuyết điểm của người Trung quốc (tên sách trong nguyên văn). 
      Đúng ra sự  phân tích ở đây chỉ  dừng lại ở chỗ làm cho người đọc  thấy những mặt yếu kém  trong dân tộc tính Trung Hoa và nói rõ chúng là phổ biến, là đang đầy rẫy trong cuộc sống chung quanh, từ đó giúp cho mọi người tỉnh táo nghiêm túc hơn trong việc nhìn mình cũng như đồng bào của mình.

      Tuy nhiên, NTQTT  vẫn nổi lên giữa vô số sách vở  đang được dịch in và bày bán rộng rãi, ấy là vì nó đã giới thiệu được một xu thế suy nghĩ chi phối xã hội  và xem như một định hướng  của công tác nghiên cứu văn hoá ở Trung quốc hiện nay.
     Thứ nhất,  hãy nhìn vào những ví dụ, những bằng chứng mà các tác giả đưa ra để nói về từng thói xấu một.
      Nhiều chuyện trong lịch sử được nêu ra,chẳng hạn Khổng Tử cũng thèm làm quan, Khuất Nguyên cũng thèm được dùng, Lý Bạch Vương Duy cũng có lúc nhờ cậy người có quyền thế để tiến thân. Rồi Dương Quýnh nhà thơ đời Đường tính hay tị nạnh, rồi Quách Mạt Nhược nhà thơ hiện đại kiêu ngạo khinh đời v..v.. 
      Thoát khỏi khu vực cấm kỵ không ai dám đụng tới để cùng chung số phận với người bình thường, những nhân vật lớn trong lịch sử lại trở nên những dẫn chứng sinh động cho việc hình dung ra những nét căn bản của quốc tính.

     Thứ hai, một điều quan trọng hơn là trong chừng mực nhất định, các tác tác giả bắt đầu tiến tới những khái quát  tầm cỡ, một loại khái quát mà những ai muốn truy cầu sự thật một cách nghiêm túc không thể lảng tránh. Trong phần hay nhất của NTQTT  là phần Nhân cách, người đọc được biết người Trung quốc  không chỉ xu thời, cầu an, sẵn sàng hối lộ thần thánh hoặc rúc đầu vào cánh cam chịu  trước cuộc đời bất công... mà còn  “coi nhẹ tri thức văn hoá thù hằn tri thức văn hoá “.
     Đây nữa, giảo hoạt là sự kết tinh thông minh tài trí của người Trung quốc, khuyết điểm lớn nhất của nó là đối lập chủ nghĩa lý tưởng với chủ nghĩa hành động, nó cười giễu mọi cố gắng của nhân loại...”.
     Những kết luận như vậy vượt qua phạm vi một số ý kiến về một dân tộc cụ thể,  mà trở thành gợi ý để con người ở các dân tộc khác cũng phải suy nghĩ khi có nhu cầu tự nhận thức.

***
     Ở nước nào cũng vậy, người dân thường cũng nghĩ đủ điều không hay ho về bản thân mình, có điều nói giăng giăng với nhau ở ngoài đường để cười giễu mình thì chẳng sao, nhưng thấy ai đó tính chuyện viết vào sách thì chính họ lại e ngại, cho rằng công khai hoá vậy là “vạch áo cho người xem lưng”  hoặc ghê gớm hơn  là “hạ nhục dân tộc” và bảo nhau càng ít đả động tới chuyện này càng tốt. 
     Rồi đến lượt các nhà cầm quyền cũng hùa thêm vào cấm đoán. Chính là để dân chúng chìm ngập trong không khí tự sùng bái, người ta càng dễ cai trị.
     Ngay ở Đài Loan, cuốn Người Trung quốc xấu xí của Bá Dương ban đầu cũng chịu đủ đòn đả kích. Đừng nói là ở Trung quốc đại lục.
     
       Thế nhưng do nhu cầu thúc đẩy xã hội phồn vinh, rồi các dân tộc đều có trưởng thành dần trong việc nhìn nhận bản thân. 
     Tôi không có tài liệu trong tay nhưng biết rằng ở nhiều nước loại sách người một nước tự cười mình tự nói ra cái xấu của mình một cách nghiêm túc, loại  đó ngày càng nhiều. 
     Chẳng những thế, người ta còn sưu tầm nghiên cứu và cho in ra cả những loại sách đại loại người Anh dưới con mắt người Pháp, hoặc dân Pháp theo cách nhìn của dân Đức v..v..
       Những lời gọi là  tự nói xấu ấy chẳng làm ai nản lòng, ngược lại chỉ giúp cho các dân tộc đẩy tới cái công việc thú vị là khám phá bản thân.
     Đi xa hơn người ta còn khái quát : 
 --  một dân tộc không thể nên người nếu không qua giai đoạn tự nhận thức một cách khoa học, khách quan trong đó có chấp nhận cả đau xót xấu hổ.
 -- Trong quá trình tự nhận thức đó, các cấm kỵ sẽ được thu hẹp. 
 -- Và tự trào là một công cụ hiệu nghiệm.

***
       Với Trung Hoa, một dân tộc gần gũi với chúng ta và xưa vẫn được các cụ ta gọi là đồng văn đồng chủng thì sao ? Người dân nơi đây thừa lòng tự hào về tài làm người của mình. Đất nước được xem là trung tâm của thế giới. Xã hội được xây dựng theo hình ảnh của thiên cung. Văn minh thì được gọi là hoa hạ ( không phải là bông hoa; hoa đây, có nghĩa là đẹp, tinh túy, lộng lẫy ...).
      Nhìn vào sách vở Trung quốc được dịch in ra tiếng Việt vài chục năm nay lâu nay ta chỉ biết vậy và bảo nhau vậy.
     Có biết đâu trong thực tế sách vở bên ấy từ lâu đã có hướng nghĩ khác và đã dội sang bên ta.
      Khoảng mươi năm nay, báo giấy cũng như báo mạng ở ta đã  trích in Người Trung quốc xấu xí của  Bá Dương, một tác phẩm mà cũng như truyện chưởng của Kim Dung vốn thuộc mạch suy nghĩ của Đài Bắc Hồng Kông và chỉ gần đây mới được in ở đại lục. 
      Chúng ta cũng không nên ngại nhắc lại cái dẫn chứng đã quá cổ điển là tạp văn Lỗ Tấn với điều kiện bổ sung thêm: một Lỗ Tấn như vậy chỉ hình thành khi có sự chuẩn bị không khí của cả một thời đại. 
      Có một người hoạt động văn học đồng thời với tác giả AQ và còn sống lâu hơn vài chục năm là Lâm Ngữ Đường (1895-1976). Ông này cũng thuộc loại muốn nhìn con người Trung quốc một cách khách quan, giữa các trang sách hào hứng ca ngợi dân tộc đôi khi ông không quên dừng lại tự hỏi không hiểu sao đồng bào mình vốn cao nhã  thông minh mà có lúc lại ngớ ngẩn tầm thường đến kỳ cục
      Khi viết về chất giảo hoạt nói trên, các tác giả Người Trung quốc tự trào  đã phải dẫn Lâm Ngữ Đường là vì vậy.
       Một cuốn sách khác cùng một xu hướng cũng đã được dịch ra tiếng Việt nhưng bị làm hỏng, đó là Mặt dày tim đen của Lý Tôn Ngô (1879-1944 ).
      Nguyên là trước khi nước Trung Hoa của Mao Trạch Đông ra đời, xã hội Trung quốc thời Dân quốc đã  đi khá xa trên con đường hiện đại hoá, kể cả trong tư duy.
        Nhằm bắt mạch quốc dân tính, Lý Tôn Ngô  khởi xướng cả một quan niệm mệnh danh là Hậu hắc học, đại ý cho rằng anh hùng hào kiệt trong lịch sử Trung quốc nói chung không mặt dày thì tim đen. Lý Tôn Ngô có cái mạnh là ông không dừng lại ở những chi tiết đời sống quanh mình mà hướng cái nhìn vào lịch sử và ở đây ông cũng không chịu  bất một hạn chế nào, cả những thánh nhân, triết gia, anh hùng cái thế cũng được ông mang ra khảo xét và đánh giá bằng những tiêu chuẩn nhân bản.        
    Sở dĩ một cuốn sách như Người Trung quốc tự trào có thể  được biên soạn, ấy là vì  trước đó  đã có những nhà nghiên cứu dày công sưu tầm và mở ra những hướng mới trong suy nghĩ  về quốc dân tính Trung quốc.

***
         Chuyện dân tộc tự trào mang ý nghĩa một bước đổi mới tư duy.
          Đứng ở góc độ mỹ học mà xét thì rõ là trong cách nhìn nhận có sự biến cải về mặt sắc thái. 
          Vấn đề tính dân tộc xưa nay vốn coi như cấm kỵ, lại được đặt trong màn sương khói thiêng liêng -- tức có tính huyền thoại, nay được đặt trong sự tiếp xúc suồng sã, nên ban đầu thường khó chấp nhận. 
         Song nghĩ cho cùng đây là bước đi mọi dân tộc phải trải qua trên con đường lâu dài là hiện đại hoá và đặt mình trong cộng đồng nhân loại. 
         Với ý nghĩa đó, có thể xem công việc các tác giả NTQTT là hết sức cần thiết. 
       Quá trình khai phá của những Lý Tôn Ngô, Lỗ Tấn, Lâm Ngữ Đường, Bá Dương.... phải tìm được cách  thâm nhập vào công chúng rộng rãi  thì mới có cơ dựng tạo được những kết quả chắc chắn.
      
         Đã in Thể thao & văn hóa 2002   

Phụ lục                                      

     Khi chuẩn bị bài  viết trên để đưa vào blog, tôi có tra lại các tài liệu có liên quan tới cuốn
    Người Trung quốc tự trào mà tuy đã viết bài về nó, nhưng hiện không có dưới tay.
    Ở trang Những  câu hỏi tại sao,  phần Các dân tộc trên thế giới 
 http://hoitaisao.com/cac-dan-toc-tren-the-gioi/co-phai-trung-quoc-da-xuat-ban-cuon-nguoi-trung-hoa-xau-xi-nham-vach-ra-de-tranh-cac-tat-xau-thuong-gap-o-nguoi-trung-quoc-cuon-sach-nay-da-duoc-dich-sang-tieng-viet-chua-tat-benh-cua-nguoi-trung-q-2/
    tôi đọc được bài sau đây, xin giới thiệu để các bạn đọccó quan tâm tới đề tài này cùng tham khảo. Bài ghi rõ Posted on 03/11/2013 by Nguyen Oanh
 Hỏi :
      Có phải Trung Quốc đã xuất bản cuốn Người Trung Hoa xấu xí, nhằm vạch ra để tránh các tật xấu thường gặp ở người Trung Quốc. Cuốn sách này đã được dịch sang tiếng Việt chưa? Tật bệnh của người Trung Quốc có giống của người Việt Nam hay không?
Trả lời:
Có quyển Những khuyết điểm của người Trung Quốc, tác giả là Trương Bình Trị và Dương Cảnh Long, NXB Trung Quốc xã hội, tái bản lần thứ 3, 1998.
Dịch giả Dương Quốc Anh đã biên dịch và NXB Văn học xuất bản bằng tiếng Việt năm 2002 với tên sách là Người Trung Quốc tự trào.
Cuốn sách được viết theo ý tưởng của đại văn hào Lỗ Tấn : Vạch ra nguồn gốc của bệnh để rồi trị liệu, cứu chữa. Các bệnh tật chính của người Trung Quốc có thể kể ra là:
Trên bắt tay, dưới ngáng chân;
Cam phận làm con cừu nhỏ để người khác lăng nhục;
Dù có dài hơn vẫn có thể đi theo đường cong;
Đổi màu như con kỳ nhông;
 Tuyệt đối không được thiếu tiền;
Không nhìn ra phía trước, chỉ nhìn lại phía sau;
Sự nghiệp chi phối bởi số phận;
Trăm họ sợ quan;
Chỉ tin việc mình đã làm;
 Tính cách AQ (tự cao, gàn dở, phép thắng lợi tinh thần, lưu manh, quá đề phòng quan hệ giữa nam và nữ, giận dữ khi bị chạm huý, căm ghét vì không bằng người, cãi chày cãi cối);
Dệt lưới quan hệ trong quan trường;
Dùng người do thân cận;
Quan trường lắm điều thị phi;
Quan trường dày da mặt;
Làm một việc phải đóng rất nhiều con dấu;
Quyền gắn với lợi, thoái hoá cả tập thể;
Cuồng nhiệt theo đuổi ghế quan trường; Ta sống chưa ai vượt ta, ta chết chưa ai thay ta;
Văn nhân coi khinh nhau;
Giải sầu không gì bằng rượu;
Không giữ gìn tiết tháo; Mua danh, chuốc tiếng;
Khoe giàu sang, phú quý;
Tiêu xài của công thoải mái;
 Tốt xấu nồi cơm vẫn bằng nhau;
Thói quen lâu dần thành đúng;
Lã Bất Vi có ba ngàn thực khách;
Ao mũ thay người;
Ba đời mặc giống nhau;
Quyết không bắt chước quần áo;
 Không ra thằng, cũng chẳng ra ông;
Thuyết có thể hở hang chỉ là cái cớ;
 Ưa nói suông, nói phét;
Lừa người không phải tội;
Thùng rỗng kêu to;
Ô nhiễm ngôn ngữ;
Ác khẩu chết người;
Cưỡng bức hôn nhân;
Mua bán phụ nữ;
Thê thảm vợ bé;
Me Tây bất hạnh;
Hóng mát dưới cây to buồn tẻ;
Tìm vợ vụ lợi;
Phô trương hôn lễ;
Hủ tục làm náo động đêm tân hôn;
Sĩ diện mà không xấu hổ;
Thích ngóng chuyện lạ;
Ăn cơm nhà vác tù và hàng tổng;
Thói quen nhờ vả, lợi dụng;
Chuyện bé xé ra to;
Đông con lắm phúc;
Hủ tục bó chân nhỏ lại;
Ham mê gái trinh;
Một tỷ người đánh bạc;
Hủ tục cầu tự, gọi hồn, xem số, lên đồng, mời thầy phù thuỷ chữa bệnh;
 Sùng bái chính trị, thiên tử chịu mệnh với trời;
Bói toán ngu muội, yên phận thủ thường.
Các thói xấu kể trên có giống với dân ta hay không, xin để các bạn tự phán xét



Phần nhận xét hiển thị trên trang

10 ngàn người chiếm 17% tài sản quốc gia?

Và 200 người sở hữu 20 tỷ đô la… Số lượng người Siêu Giàu của Việt Nam sẽ tăng trưởng cao nhất thế giới?
Theo Hà Anh – Báo Đất Việt – (GNA: Công ty Knight Frank là một nhà môi giới về bất động sản vừa khai trương chi nhánh ở VN). Knight Frank dự báo tốc độ tăng trưởng của giới siêu giàu Việt Nam sẽ ấn tượng nhất thế giới, tăng 166% trong giai đoạn 2013 – 2023.

Hãng nghiên cứu Knight Frank mới đây đã công bố kết quả báo cáo “The Wealth Report 2014″ cho thấy, số lượng người giàu tại Việt Nam tính đến cuối năm 2013 đạt xấp xỉ 10.100 người (khoảng 0.01% hay 1/10,000) , hiện đang nắm tổng tài sản trị giá 40 tỉ USD – chiếm khoảng 17% tổng tài sản cá nhân của Việt Nam (240 tỉ USD).

Các lĩnh vực phát triển mạnh nhất của giới siêu giàu Việt Nam trong giai đoạn 2007-2013 là ngành dịch vụ ngân hàng, sản xuất và xây dựng. Ngành hàng xa xỉ ở Việt Nam trong năm 2013 tạo ra doanh thu là 0,6 tỉ USD, tăng 180% so với năm 2007.

Như vậy, báo cáo đưa ra dự báo dựa trên kết quả khảo sát vào thời kỳ được coi như “hoàng kim” của lĩnh vực ngân hàng và bất động sản. Trong khi 3 năm trở lại đây, 2 ngành trên đang rơi vào khủng hoảng khi nợ xấu tăng vọt, hàng tồn kho bất động sản nhiều khiến nhiều ông chủ địa ốc rơi vào tình trạng nợ nần, phá sản

Ngoài ra, báo cáo của TP.HCM cũng được kỳ vọng sẽ thống trị danh sách bảng xếp hạnh tăng trưởng người giàu ở cấp độ thành phố với tăng trưởng 173% trong 10 năm tới. Theo sau TP.HCM sẽ là Jakarta 148%, Ordos 141%, Mumbai 126% và Delhi 118%.

Tuy vậy, báo cáo cho biết tốc độ tăng trưởng đó cần được cân bằng vì so với các thành phố phát triển nhanh nhất hiện nay, người giàu của TP.HCM đều có xuất phát điểm thấp.

Gánh 20 triệu nợ công, người Việt tiết kiệm nhất Đông Nam Á

Một báo cáo khác của Nielsen mới được công bố thời gian vừa qua cũng cho thấy một kết quả đáng suy ngẫm là Việt Nam là quốc gia tiết kiệm nhất trong khu vực ASEAN.

Cụ thể, có 74% người Việt tham gia khảo sát cho biết họ sẽ để dành tiền sau khi đã trang trải hết các sinh hoạt phí thiết yếu trong cuộc sống. Xếp thứ 2 là Indonesia (72%), kế đến Philippines (68%), Thái Lan (66%), Singapore (64%) và Malaysia (63%). Các quốc gia này đều thuộc Top 10 nước tiết kiệm nhất thế giới.

Có 90% người Việt Nam được hỏi cho biết họ thay đổi thói quen mua sắm của mình để tiết kiệm tiền thừa. Trong đó, chi tiêu cho quần áo mới và các khoản giải trí ngoài gia đình là những lựa chọn cắt giảm đầu tiên, kế đó là gas và điện.

“Tiết kiệm vẫn là lựa chọn hàng đầu vì người tiêu dùng muốn bảo vệ ngân sách gia đình mình”, ông Matt Krepsik, Giám đốc giải pháp Đo lường hiệu quả Marketing khu vực Đông Nam Á, Bắc Á và Thái Bình Dương nói.

Bên cạnh tỷ lệ người để tiền tiết kiệm cao, báo cáo của Nielsen còn cho thấy chỉ số niềm tin người tiêu dùng (CCI) Việt Nam đạt 98 điểm trong quý IV/2013, cao nhất trong 2 năm trở lại đây và hơn 10 điểm so với cùng kỳ năm trước. Tuy nhiên đây vẫn chưa phải là mức cao nhất kể từ khi hãng tiến hành khảo sát ở Việt Nam (quý I/2006). Vào quý II/2010, CCI đạt 119 điểm, tăng mạnh gần 20% so với 3 tháng trước đó nhưng mau chóng tụt xuống còn 88 điểm ở quý liền sau.

Trong một diễn biến khác, năm 2013, mặc dù nợ công đang được công bố ở mức hơn 50% GDP, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cũng từng khẳng định, nợ công của Việt Nam trong các năm 2014, 2015 và 2016 vẫn trong giới hạn an toàn (không quá 65% GDP).

Trong khi đó, ngày 22/11/2013 nhóm tư vấn chính sách vĩ mô thuộc Ủy ban kinh tế của Quốc hội lại cho biết, nếu tính cả khoản nợ nước ngoài của khu vực doanh nghiệp (chủ yếu là doanh nghiệp nhà nước – DNNN) không được Chính phủ bảo lãnh, nợ bằng trái phiếu trong nước không được Chính phủ bảo lãnh khác của DNNN thì nợ công của Việt Nam có thể lên đến khoảng 95% GDP.

Lúc 0h ngày 5/4, đồng hồ nợ công toàn cầu (Global debt clock) trên trang The Economist.com cho thấy, nợ công của Việt Nam đang ở mức trên 80,358 tỷ USD; bình quân nợ công theo đầu người là 889,34 USD, tương đương gần 20 triệu đồng; chiếm 48% GDP, tăng 11,2% so với năm 2013.

Và 200 người sở hữu 20 tỷ đô la….

Người siêu giàu ở Việt Nam: Họ là ai?

Theo VOA 29/3/2014

Một phúc trình về người siêu giàu ở Việt Nam với tài sản từ 30 triệu đôla trở lên mới được công bố trong bối cảnh Việt Nam có khả năng không đạt được mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội.

Theo công ty tư vấn Wealth-X và ngân hàng UBS (Thụy Sỹ), số người siêu giàu ở Việt Nam tăng lên 195 người trong năm 2012, với tổng tài sản ước tính là khoảng 20 tỷ đôla (mỗi người khoảng 100 triệu đô la).

Ông David Friedman, Chủ tịch Wealth-X, cho VOA Việt Ngữ biết công ty ông thu thập các dữ liệu từ các nguồn mở mà bản thân công chúng có thể tiếp cận, rồi sau đó sử dụng cách thức riêng để đánh giá những thông tin về tài sản của những người siêu giàu.

Phúc trình cho hay, sự gia tăng số người siêu giàu ở Việt Nam đứng hàng thứ hai ở Đông Nam Á, chỉ sau Thái Lan, trong năm 2012. Năm 2011, Việt Nam chỉ có 170 triệu phú tiền đôla.

Trao đổi với VOA Việt Ngữ, Tiến sỹ kinh tế Lê Đăng Doanh cho biết ông không ngạc nhiên.

“Trong khi kinh tế khó khăn thì một số người, do có những mối quan hệ và có thể tiếp cận được với các tài nguyên, họ vẫn tiếp tục giàu lên một cách nhanh chóng. Tôi nghĩ rằng xu thế đó hiện nay vẫn đang tiếp tục”.

Ông Friedman cho biết ông không thể tiết lộ công khai các cá nhân siêu giàu ở Việt Nam cũng như nghề nghiệp của họ vì những thông tin như vậy ‘chỉ cung cấp cho các khách hàng của công ty Wealth-X’.

Báo chí trong nước cũng đưa ra các phán đoán riêng về những người siêu giàu Việt Nam dựa trên các dữ liệu từ thị trường chứng khoán.

Đứng đầu trong danh sách của nhiều tờ báo là ông Phạm Nhật Vượng, Chủ tịch tập đoàn Vingroup, tỷ phú đôla đầu tiên của Việt Nam theo đánh giá của tạp chí Forbes.

Tiếp sau đó là ông Đoàn Nguyên Đức, Chủ tịch tập đoàn Hoàng Anh – Gia Lai, người từng được tạp chí the World Street Journal đưa vào danh sách một trong 30 doanh nhân có ảnh hưởng nhất Đông Nam Á.

Trong khi đó, khi được hỏi những người siêu giàu ở Việt Nam có thể là ai, kinh tế gia Lê Đăng Doanh nói ông ‘không thể nói tên’ mà chỉ cho hay rằng đó là ‘những người có các mối quan hệ và được hưởng lợi rất nhiều từ những mối quan hệ đó’.

“Vì vậy cho nên là họ có thể khai thác tài nguyên, họ có thể khai thác gỗ, họ có thể giàu lên nhờ bán đất, hoặc họ cũng có thể giàu lên nhờ các lý do khác nữa. Điều ấy cho thấy thực tế rằng xã hội Việt Nam đang phải đối mặt với tình trạng phân hóa giàu nghèo ngày càng tăng lên”.

Ông Doanh cũng nói thêm rằng những người siêu giàu ở Việt Nam ‘không có người nào đóng góp gì mới về khoa học, công nghệ’.

“Những người giàu lên ở Việt Nam chủ yếu là nhờ đất, bất động sản, vì được hưởng lợi từ tài nguyên, và những đặc quyền, đặc lợi khác”.

Theo ông Friedman, trên toàn thế giới chứ không riêng gì Việt Nam, phần lớn khối tài sản của các triệu phú là do các công ty tư nhân thuộc sở hữu của các gia đình tạo ra.

Chủ tịch công ty Wealth-X nói rằng đó là một trong các lý do giải thích vì sao tài sản của cá nhân siêu giàu ở Việt Nam vẫn tăng trong năm 2012 dù kinh tế không có dấu hiệu khởi sắc.

“Khi ta người ta có các công ty tư nhân do gia đình quản lý và những gia đình này am hiểu về những gì họ cần làm với nhiều nhiệt huyết thì kể cả khi nền kinh tế sút giảm và yếu kém, kinh doanh của họ vẫn phát triển, dẫn tới tài sản của các gia đình đó tăng. Ngoài ra, có thể có các lý do khác như hoạt động kinh doanh của họ dựa vào xuất khẩu nên nó không phụ thuộc vào tình hình kinh tế ở Việt Nam”.

Tại một cuộc hội thảo quốc tế đầu tuần này về kế hoạch kinh tế xã hội 5 năm của Việt Nam, phần lớn những người tham dự đều tỏ ra bi quan.

Các giới chức được trích lời nói rằng Việt Nam có khả năng không đạt được nhiều mục tiêu của kế hoạch 5 năm, dẫn đến nguy cơ tụt hậu so với các quốc gia ở Đông Nam Á.

Chuyên gia kinh tế Lê Đăng Doanh cho rằng nhiều người Việt Nam giàu lên nhờ gia đình.

“Mới đây, có hiện tượng một gia đình cho một đứa bé một tuổi làm chủ tịch hội đồng quản trị và có gia sản rất lớn. Đấy là một trong các điều mà chúng ta thấy rằng là người giàu lên ở Việt Nam khác với những người giàu lên trên thế giới như thế nào. Trên thế giới, người ta muốn giàu lên, người ta phải giỏi về quản trị hay người ta phải làm chủ về khoa học công nghệ, người ta phải đóng góp rất lớn về tiến bộ của cộng đồng. Nhưng trong trường hợp của Việt Nam, những người giàu lên ở Việt Nam là những người giàu lên vì đất”.

Ông Doanh cũng nhận định rằng những người siêu giàu ở Việt Nam hiện có vai trò rất quan trọng vì họ ‘nắm rất nhiều dự án’.

Nhưng chuyên gia này cho rằng cần phải thấy một thực tế là việc khai thác tài nguyên của một số triệu phú đã làm tổn hại nghiêm trọng tới môi trường.

VOA


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Nội dung chính Hiệp định phân định vịnh Bắc Bộ đã được ký kết

Nội dung Hiệp định phân định Lãnh hải, vùng Đặc quyền kinh tế và Thềm lục địa trong vịnh Bắc Bộ là gì? Câu hỏi này khiến nhiều người băn khoăn, TS Trần Công Trục giải đáp cùng độc giả.

TS Trần Công Trục: Trong thời gian 10 năm, từ năm 1991 đến năm 2000, đàm phán phân định vịnh Bắc Bộ giữa Việt Nam và Trung Quốc đã trải qua 7 vòng đàm phán cấp Chính phủ, 3 cuộc gặp không chính thức của Trưởng đoàn đàm phán cấp Chính phủ, 18 vòng đàm phán cấp chuyên viên Nhóm công tác liên hợp, 10 vòng họp Tổ chuyên gia đo vẽ kỹ thuật phân định và xây dựng tổng đồ vịnh Bắc Bộ, 6 vòng đàm phán về hợp tác nghề cá trong vịnh Bắc Bộ.
Phân định Vịnh Bắc Bộ giữa Việt Nam và Trung Quốc từ năm 2000 (Sách Dấu ấn Việt Nam trên Biển Đông)

Ngày 25 tháng 12 năm 2000, ng nội dung chính là:

- Khẳng định nguyên tắc chỉ đạo công việc phân định là: tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau, không xâm phạm lẫn nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng cùng có lợi, cùng tồn tại hoà bình; củng cố và phát triển mối quan hệ láng giềng hữu nghị truyền thống giữa 2 nước, giữ gìn sự ổn định và thúc đẩy sự phát triển của vịnh Bắc Bộ; thông cảm, nhân nhượng lẫn nhau, hiệp thương hữu nghị, giải quyết một cách công bằng hợp lý.

- Xác định phạm vi phân định và xác định đường phân định lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa giữa 2 nước trong vịnh Bắc Bộ đi qua 21 điểm có tọa độ địa lý xác định, nối các đoạn thẳng với nhau. Theo đó, Việt Nam được 53,23% diện tích vịnh, Trung Quốc được 46,77% diện tích vịnh. Việt Nam được hưởng hơn Trung Quốc 6,46% diện tích vịnh, tức khoảng 8.205 km2.

Việc ký kết Hiệp định này mở ra một trang mới trong lịch sử quan hệ Việt Nam - Trung Quốc. Lần đầu tiên, giữa Việt Nam và Trung Quốc đã có một đường biên giới biển rõ ràng, bao gồm biên giới lãnh hải, ranh giới vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa giữa 2 nước trong vịnh Bắc Bộ có giá trị quốc tế, được hai bên cùng thoả thuận dựa theo nguyên tắc do Công ước Luật Biển của LHQ năm 1982 quy định.

Hiệp định phân định vịnh Bắc Bộ và Hiệp định hợp tác nghề cá đã xác định rõ phạm vi và tạo ra khuôn khổ pháp lý quốc tế rõ ràng, thuận lợi cho mỗi nước tiến hành bảo vệ, quản lý, sử dụng, khai thác, phát triển bền vững vịnh Bắc Bộ, duy tì ổn định trong vịnh, tăng cường tin cậy và phát triển quan hệ chung giữa 2 nước.

Các Hiệp định này cũng là đóng góp rất có giá trị cho luật pháp và thực tiễn trong việc phân định ranh giới biển nói chung và ranh giới biển trong vịnh nói riêng, phù hợp với nguyên tắc phân định ranh giới các vùng biển, thềm lục địa chồng lấn giữa các quốc gia ven biển nằm đối diện hoặc kế cận mà Công ước Luật Biển của LHQ năm 1982 đã quy định.


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Đừng coi thường luật nhân quả

Chuyện nhân – quả là có thật. Thực tế cuộc sống đã rất nhiều lần chứng minh điều này.
Trả nghiệp sát sinh
Sư thầy Giác Liên, trụ trì chùa Phước Hải, Vĩnh Long từng kể chuyện nhân – quả được chứng kiến trong nghiệp tu hành của mình. Những câu chuyện ấy đến nay đối với người dân Vĩnh Long vẫn “nằm lòng” như những bài học đạo lý để “định hướng” cách sống, sao cho không theo vết xe đổ của những nhân vật trong câu chuyện của sư thầy.


Một trong những câu chuyện đó phải nhắc đến là cậu bé tên Hiếu, sống lê lết ở chợ Trà Vinh, sống bằng cách xin ăn với thân hình của một… con bò, được sư thầy Giác Liên kể trên một website của Phật giáo.

Theo sư thầy Giác Liên, Hiếu sinh ra trong một gia đình có nghề mổ bò lâu đời để bán thịt ở Trà Vinh. Ông nội của Hiếu làm giàu bằng nghề này nên rủng rỉnh tiền bạc. Một lần, trước khi làm thịt một con bò cái bỗng dưng ông nằm mơ thấy một người đàn bà đến bên ông khóc lóc: “Xin ông đừng giết tôi, để tôi sinh con rồi ông hãy giết”. Và không những mơ thấy một lần mà ông còn mơ tới 3 lần chỉ trong một đêm. 

Ông mang chuyện này kể cho vợ thì được khuyên can không nên làm thịt con bò mà hãy nuôi để cho nó đẻ. Nhưng suy đi tính lại, cuối cùng ông vẫn quyết định thịt nó để bán. Mới sáng tinh mơ không hiểu sao so với những lần mổ bò khác, nó kêu la khủng khiếp hơn nhiều, rồi giãy giụa, lồng lộn đến nỗi đứt cả sợi dây trói khi mổ. Khi nó chết rồi cái ấn tượng mà ông nội Hiếu mãi đến sau này không thể quên được là cái đầu nó lắc lư mãi như thể còn sống.

Tuy nhiên, điều trùng hợp là đúng lúc giết con bò chửa đó, con dâu ông trở dạ sinh đứa cháu nội, đồng thời là “đích tôn” của ông với những dị tật rất giống… con bò ấy là mắt lồi, sứt môi, đầu cứ lắc lư, chân tay cong queo đến nỗi không đi lại được, phải bò. Đứa trẻ ấy chính là Hiếu. 

Nhìn hình ảnh của Hiếu, ông nội Hiếu không thể nào không liên tưởng đến cái chết của con bò, nhất là động tác lắc lư cái đầu. Như hiểu nguồn cơn sâu xa vì sao cháu mình lại bị như vậy và muốn “chuộc” lại lỗi lầm, ông bỏ nghề sát sinh và có bao nhiêu tiền của ông dốc hết ra để chữa chạy cho cháu. Nhưng cậu bé vẫn vậy. Khổ hơn, khi được 10 tuổi, Hiếu đã phải lê la ra chợ xin ăn do người thân của em lần lượt ra đi hết vì trọng bệnh. Mỗi lần xin ăn, chẳng hiểu ai xui khiến, vừa lết Hiếu vừa la khóc thảm thiết: “Xin các bác, các dì đừng “sát sanh” con! Con là con bò nè…”.

Không chỉ sư thầy Giác Liên mà ngay người viết bài này cũng chứng kiến một gia đình có hai thế hệ bán thịt bò ở chợ Ngọc Hà, quận Ba Đình, Hà Nội gặp chuyện tương tự. Chẳng hiểu gia đình này có mổ bò hay không nhưng chỉ biết trong thập niên 90 của thế kỷ trước, trên sạp bán thịt lúc nào cũng có bê “bao tử” bày bán. Tuy nhiên, đặc biệt ở chỗ con gái họ rất giống… bò, nhất là mắt và mũi đến nỗi ai đi qua cũng phải dừng lại nhìn và lờ mờ nhận ra đây chính là “nghiệp chướng” của gia đình bán bê “bao tử”. Và dường như nhận ra sự quả báo này, gia đình hàng thịt đó đã chuyển nghề không bán thịt bò, bê “bao tử” nữa mà mở hàng cơm ở phố Nguyễn Bỉnh Khiêm, một hàng cơm nức tiếng Hà Nội. Tất nhiên cô con gái ấy cùng bán cơm với cha mẹ cho đến tận bây giờ.


Oán báo oán?

Như câu chuyện trên đây, có rất nhiều câu chuyện nhân – quả khác được kể trong cuộc sống với muôn hình vạn trạng từ nhân vật đến hoàn cảnh… trên cơ sở những gì người ta nhìn, nghe thấy được. Ngay như gần đây nhất, câu chuyện của người tù oan sai Nguyễn Thanh Chấn, ở Bắc Giang cũng gây “chấn động” dư luận bởi có ý kiến cho rằng, có “luật” nhân – quả trong vụ án oan này.

Ông Chấn kể, ngày mới bị tạm giam để phục vụ công tác điều tra, ông nhiều lần bị điều tra viên ép phải nhận đã ra tay sát hại chị Nguyễn Thị Hoan. Nếu không nhận sẽ bị đánh cho “lên bờ xuống ruộng”. Vì không thể chịu đựng nổi, ông Chấn đã buộc phải khai nhận mình chính là người đã ra tay sát hại chị Hoan vào ngày 15-8-2003. Khi đó, một cán bộ điều tra đã hướng dẫn ông viết một lá đơn tự thú khai nhận là hung thủ giết người.

Ông Chấn nhớ lại: “Một điều tra viên khác đã đánh và bắt tôi tập đi tập lại các động tác để thực nghiệm tại hiện trường vụ án mạng. Mỗi lần thực hiện sai các động tác, tôi lại bị họ lao vào đánh đập”. Có một điểm đáng lưu ý ở đây: Sau khi vụ án có hiệu lực, ông Chấn bị đưa đi cải tạo tại Trạm giam Vĩnh Quang (Vĩnh Phúc) thì chỉ một thời gian ngắn sau đó, đã có 2 điều tra viên chết do tai nạn giao thông và trọng bệnh. Chưa kể đến Thẩm phán Nguyễn Minh N, chủ tọa phiên tòa xét xử sơ thẩm cũng bị tai nạn giao thông vào năm 2010 dẫn đến phải điều trị lâu dài.

Cùng thời điểm này, sau khi sát hại chị Hoan, thủ phạm giết chị Hoan bỏ lên Lạng Sơn gặp một người thân là chị Lý Thị N và cho biết hắn chính là hung thủ gây ra vụ án mạng tại Bắc Giang. Khi ấy, Chung đưa hai chiếc nhẫn kim loại màu vàng nhờ chị N mang bán hộ nhưng biết đây là tài sản của vụ “giết người, cướp tài sản” nên chị N đã từ chối.

Sau đó, Chung đã nhờ anh trai của mình đang sinh sống tại Lạng Sơn mang nhẫn đi bán. Không biết có phải nhân quả không mà cuối năm 2005 (2 năm sau khi vụ án xảy ra), anh trai của Chung đã bị một số đối tượng ở Lạng Sơn đâm chết trong một vụ xô xát nhỏ.

Mang tính giáo dục sâu sắc

Trước những hiện tượng trên đây, GS Ngô Đức Thịnh, một chuyên gia nghiên cứu tâm linh cho rằng, thật khó để giải thích trên cơ sở khoa học thực tiễn. Bởi từ trước tới nay, duy tâm – duy vật là hai phạm trù vẫn chưa tìm được tiếng nói chung do một phạm trù thì phải nghe, nhìn, sờ thấy được. Còn phạm trù kia thì trừu tượng, bí ẩn. 

Thế nhưng, với tư cách là một người nghiên cứu tâm linh, GS Ngô Đức Thịnh khẳng định, những gì chưa chứng minh được thì không có nghĩa không tồn tại, đặc biệt với hàng loạt hiện tượng “gieo gì gặt nấy”, “nhân nào quả ấy” như các chuyện trên cùng với thực tiễn xảy ra rất nhiều trong đời sống. Cho nên chuyện nhân – quả là có thật. Và theo ông, nhân – quả là một quy luật rất hay của đời sống và nhà Phật lấy đó là mục đích thượng tôn để giáo dục con người về đạo đức, nhân cách và mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc khi khuyến khích con người làm nhiều việc thiện để kết quả của quá trình ấy là nhận lại cho mình từ những gì mình làm.

Không có chuyện mê tín dị đoan ở đây vì ngay cả trên quan điểm khoa học thì rõ ràng những gì bạn nhận hôm nay là quá trình sống của ngày hôm qua. Bởi vậy hãy sống theo chân lý “gieo gì gặt nấy”.

(Theo Tientri )

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thứ Hai, 7 tháng 4, 2014

Gửi An Tiêm

Anh Tiêm xa nhớ.
Đầu thư cho chúng em gửi lòng biết ơn anh chị và các cháu đã truyền lại nghề trồng dưa cho chúng em. Thế mà thắm thoắt đã hơn 3.000 năm rồi anh nhỉ? Tính từ cái ngày anh và chị Nương ăn ở hỗn hào bị bác Hùng đày cả nhà ra đảo. Hạnh phúc đã mỉm cười với gia đình anh bởi mấy cái hạt trong bãi phân chim, sự may mắn và nỗ lực của cả lò nhà anh đã khiến anh thành ông tổ nghề trồng dưa ở nước ta. Chúng em gửi thư này cho anh để tâm sự vài điều về nghề nghiệp của chúng mình. Vì chả biết dãi bày cùng ai...

Trải qua bao nhiêu thăng trầm, cây dưa bây giờ không chỉ mọc trên đất Nga Sơn của anh chị nữa. Nhờ ơn đảng và bác giải phóng miền nam nên diện tích canh tác giờ nằm chủ yêu ở bên kia vĩ tuyến 17 với số lượng và chất lượng mà có sống lại anh Tiêm cũng chẳng dám tin nó là sự thật đâu. Nhưng cái nghề cao quý mà vợ chồng anh truyền lại cho chúng em thì ngày nay cũng lắm nỗi truân chuyên...

Ngày xưa thì mình nhà anh 1 đảo chứ chả như chúng em, đất trồng dưa thì một số nơi đã bị thu hồi làm khu chế xuất và đô thị mới (nói với anh cho đỡ bức xúc chứ anh biết khu chế xuất và đô thị mới là cái đéo gì đâu, anh nhỉ?), nhà em thấp thỏm chẳng biết bao giờ đến lượt. Anh Tiêm trồng ít, chỉ dùng phân bản thân và gia đình tương ra ruộng là đủ, dưa ngọt lịm và rất sinh thái. Nếu đối chiếu thì thừa tiêu chuẩn VietGAP của bộ NN&PTNT bây giờ đề ra. Nay chúng em thực hiện chủ trương của đảng, phát triển dưa theo hướng hàng hóa nên diện tích lớn, phải mua phân NPK mang nhãn hiệu "Đầu trâu" bón mới hiệu quả, nhưng không hiểu sao đồng nghiệp của chúng em ở Bình Định toàn mua phải phân giả, về hòa với nước thì nó tan ra thành bùn, mặc dù quản lý thị trường dày đặc và lĩnh rất nhiều lương, trong đó có phần không nhỏ do dưa dân bọn em đóng góp. Bón cái phân ấy xuống mấy tháng sau ngọn dưa cũng chỉ dài bằng ngọn rau muống và quả thì to như quả cà pháo mà anh Tiêm vẫn cho chị và các cháu ăn lúc chưa tìm ra hạt dưa trong đống phân chim. Bọn em kêu người chả ai giúp, kêu trời chẳng thấy thưa nên chỉ biết khóc lóc kể với anh thôi. Đèo mẹ, đến cứt nó cũng làm giả anh ạ, nó mang đất vo viên lại bán cho bọn em với giá đắt gấp rưỡi gạo tám thơm. Khốn nạn quá...

Mấy tuần nay đoàn xe dưa chở sang nước bạn Trung Quốc bán theo hợp đồng xếp hàng dài 50km, chờ đến thối cả dưa mà chưa đến lượt thông quan, có lẽ đấy là nước bạn của thằng đéo nào ý chứ chả phải bạn bọn em và anh. Khi sang đến nơi nó lại mua chịu đéo trả tiền, ai không bán chịu nó đéo mua, trăm bề đau xót anh Tiêm ạ. Bọn lái xe đành trút xuống vệ đường để ra về cho nhẹ xe, đỡ tốn xăng...

Đọc đến dòng này chắc anh nghĩ bọn em thiếu sáng tạo, sao không tìm cách tiêu thụ trong nước cho nó lành? Không...  bọn em cũng đã sáng tạo và năng động. Đầu tiên là bọn em vận động bà con vùng trồng dưa ăn dưa non nấu canh thay bí, ngon lắm anh ạ mà lại rút ngắn được quy trình sản xuất. Nhưng cả tháng ăn dưa nó cũng cồn ruột và những quả dưa chưa kịp nấu canh nó vẫn đến ngày phải chín. Thấy giá thành ở thành phố nhớn (20k/1kg) đắt gấp 20 lần giá chúng em bán cho tư thương (1k/1kg), mấy gia đình bọn em cổ phần lại thuê xe chở lên SG bán với giá 5k/1kg, trừ tiền xe cộ ngày công cũng kiếm được xuất cơm hộp. Bà con mình được ăn dưa giá rẻ mà chúng em lại trôi hàng. Được một hôm thì có mấy thằng đeo băng đỏ dưới sự bảo trợ của công an thu hết dưa, giữ con mẹ nó cả xe của bọn em đi thuê, chả ai dám chở cho bọn em nữa, mà dưa bọn em cũng mất trắng vào tay chúng nó nên bọn em sợ chẳng dám lên thành phố bán nữa, đành ngồi nhìn dưa thối ngoài ruộng và cư dân đô thị ngậm ngùi ăn dưa với giá trên giời. Bọn em thù địch gì mà cái quân băng đỏ và cảnh sát trật tự nỡ làm thế hả anh Tiêm ơi??? Em on-lai thấy bên cái xứ phát xít Nhật giá dưa trên dưới 1triệu VNĐ/1kg mà xót xa cho bà con bên ý bị nông dân phát-xít chèn ép, lại nghĩ đến phân thận của mình mà nước mắt cứ lã chã rơi.

Vẫn phát huy tính sáng tạo, bọn em bổ dưa ra để lấy hạt, phong trào cắn hạt dưa có từ thời anh chị còn sống đúng không? Tết nhất và cưới hỏi không thể thiếu hạt dưa nhuộm đỏ để zai gái tí tách cho hồng đôi môi mà còn đắm say nhau. Hai tấn dưa cũng được chục cân hạt, mang ra hàng khô bán thì thấy bảo dạo này người ta chỉ ăn hạt hướng dương Tàu thôi. Bọn em đành mang về cho các cháu cắn thay cơm. Học kỳ này cháu lớn nhà em đóng học phí bằng hạt dưa, nếu nhà trường không nhận mà đuổi học thì cháu nó lại về trồng dưa anh nhỉ? Ôi, con (cháu) Tiêm thì lại trồng dưa...

Thôn nhà em có 38 hộ không tiền mua gạo nên ăn dưa thay cơm, cả nhà bị đái đường nằm bệnh viện huyện hết rồi anh ạ. Nghe thiên hạ đồn có con gián đất trị bệnh này hiệu nghiệm lắm nên thôn em tính rước nó về nuôi để trị bệnh cho dân thôn chớ tiền đâu mà đi bệnh viện tỉnh. Dù đi ăn cướp có tiền thì đến bệnh viện cũng không có giường nằm.

Anh Tiêm ơi, chúng em cắn rơm cắn cỏ, cắn cả hạt lẫn cùi dưa mà lạy anh, mong anh chỉ cho con đường để nghề trồng dưa đỡ thất truyền anh nhé.

P/s: Hồi hổi anh có nuôi gián đất hông. Có thì anh cũng cho em xin chút kinh nghiệm.

Em của anh.
Ký tên: Nguyễn Văn...Dưa

Bài của anh Dưa mù chữ nhờ anh Tuan chu chép lại.@ cóp bên Phây của sir Dòi.


Phần nhận xét hiển thị trên trang