Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Sáu, 4 tháng 4, 2014

Truyện ngắn, mỹ học của cái vụt qua

[Một phiên bản khác của tiểu luận này, tương đối ngắn hơn và với một số dị biệt trong lối diễn ý, đã được phổ biến trên Da Màu, ngày 1.4.14. Bản hiện tại đã được tác giả hoàn chỉnh lại với một số bổ túc để làm sáng rõ hơn một vài khái niệm đã dược trình bày trong phiên bản đã nói.]
____________

                                              B.V.Ph
TRUYỆN NGẮN, MỸ HỌC CỦA CÁI VỤT QUA

.1.

Để bàn về truyện ngắn, trước hết, tôi muốn nói về số mệnh của nó.
Tôi tin là số mệnh của truyện ngắn sẽ còn dài, không như số mệnh của tiểu thuyết mà cứ cách khoảng trên dưới mười năm, trong thời gian trên dưới nửa thế kỷ nay, vẫn có những người lo lắng đưa ra những suy nghĩ/quan tâm về sự sống của nó. (Nhưng rồi lại có những tiếng nói khác phản bác nỗi lo âu ấy — lời phản bác gần đây nhất về những suy nghĩ bi quan liên hệ đến cái chết của tiểu thuyết mà tôi được biết là của Orhan Pamuk, tác giả của những tiểu thuyết nổi tiếng như My Name is Red (Tên Tôi là Đỏ), Snow (Tuyết), White Castle (Pháo Đài Trắng), The Black Book (Sách Đen), The Museum of Innocence (Bảo Tàng Viện của Sự Trong Trắng), v.v., và là chủ nhân của giải Nobel văn học 2006.)
Trong thời đại của công nghệ thông tin và internet hiện nay, sách vở, văn chương (đặc biệt là tiểu thuyết) đang bị những phương tiện thông tin (nghe nhìn) khác tấn công và chèn ép. Truyện ngắn có lẽ là một chọn lựa tốt đẹp để người ta vẫn còn có thể “gần gụi” với văn chương. Dung lượng của một truyện ngắn cho phép người ta đi vào và đi qua nó chỉ trong khoảng từ mười, mười lăm, hai mươi phút cho đến tối đa là trên dưới hai tiếng đồng hồ. Nhịp điệu, tốc độ, và cả những “tiết nhịp” của truyện ngắn là những cái kéo người đọc lại gần nó. Những điều đó cũng cho thấy cái kỹ năng, cái tài hoa, cái “thần” của người viết.
Truyện ngắn là một con ngựa, Italo Calvino, tác giả của If on a Winter's Night a Traveler (Nếu một đêm đông một lữ khách), đã nói thế, dẫn lại ý của Boccaccio. Nhịp điệu và tốc độ của con ngựa ấy tùy thuộc vào khoảng cách của nó trên đường đến đích cũng như điều kiện của mặt đất dưới chân nó. Con ngựa có thể đi nhịp kiệu hay phóng nước đại, nước rút. Và nhịp điệu cũng như tốc độ ở đây thiên nhiều về mặt tinh thần. Tất cả những điều đó thu hút người ta đến với truyện ngắn. Ở một chỗ khác, Calvino còn nhắc đến một ý của Leopardi, cũng liên quan đến ngựa, rằng việc cưỡi ngựa hiến cho người ta cái kinh nghiệm về “sự nhanh lẹ, năng lực và sức mạnh”, cho phép chúng ta cảm nhận như mình được tiếp cận với một bình diện cao hơn của bản thể về mặt cảm xúc và tinh thần. Dù sao, thời tính của truyện ngắn, trong quan niệm của Calvino, không nhất thiết phải thu gọn lại trong một thời khoảng giới hạn nào đó, Thời gian trong truyện có thể co lại, hay được kéo dài ra, hay đứng bất động. Cái quan trọng là sự bí ẩn của nhịp điệu.
Tóm lại, tôi nghĩ, nếu ngôn ngữ, câu và chữ, và cú pháp, và những thủ pháp sử dụng trong việc diễn tả, tạo nhịp điệu cho truyện, tạo được một ấn tượng về dòng chảy của thời gian, giúp nhà văn đem lại được cái ánh lấp lánh hoặc những sắc mầu đặc thù cho truyện của mình, nhà văn sẽ làm cho người đọc hắn nhớ mãi.
So với tiểu thuyết, thơ, và kịch, những thể loại đã tạo được nhiều cách tân trong suốt lịch sử của chúng khiến cơ hội làm mới, tái sinh chúng càng ngày càng trở nên khó khăn, thì truyện ngắn vẫn là một mảnh đất còn khá mầu mỡ để người cầm bút canh tác.

.2.

Trong lịch sử trên dưới 6000 năm của mình (từ những năm của thế kỷ 40 trước công nguyên với những bản văn từ thời cổ Ai Cập cho đến ngày nay), truyện ngắn, về đại thể, chỉ trải qua một số biến động lớn. Từ những truyện cổ tích, truyền thuyết, huyền thoại mang tính cách hoang đường, thần bí, siêu nhiên, không dựa trên hiện thực, phản ánh một quan niệm gián tiếp trong miêu tả nghệ thuật, đến thời Phục Hưng, thế kỷ XIV, qua Giovanni Boccaccio, truyện ngắn đã đi vào nghệ thuật trực tiếp, phản ánh cuộc sống với những mẫu nhân vật gần gụi trong đời thường (những lái buôn, những kẻ mang lốt tu hành nhưng có một tính cách phản diện, cái thiện, cái ác cụ thể, v.v.). Sau đó, vào đầu thế kỷ XIX ở châu Âu, truyện ngắn bắt đầu có những biến đổi căn bản. Nhưng để thấy rõ khúc ngoặt của truyện ngắn, người đọc phải chờ đến Edgar Allan Poe (1809–1849) của Mỹ với tài dựng truyện tuyệt vời cũng như khả năng lập thuyết sắc sảo của ông khi nói về thể loại này. Những truyện ngắn mang cái lõi trinh thám cùng với loạt truyện gây ấn tượng sâu sắc của Poe, kết hợp những yếu tố kinh dị, kỳ ảo hay huyền ảo, đã đưa truyện ngắn vào một khúc quanh mới.
Rồi đến Anton Chekhov, bậc thày của truyện ngắn Nga. Chekhov đã, qua những truyện ngắn đặc thù trong lối viết của mình, cắt bỏ các trạng từ, tính từ mang tính biểu cảm, thậm chí cắt bỏ luôn cả cốt truyện, chỉ trình bày một mảng hiện thực được soi chiếu bằng những vệt chiếu vừa đủ để tạo nên một cảm giác bềnh bồng của sương mù, nhưng từ đó lại làm bật lên cảm nhận về hiện thực của tâm hồn con người. Cái cảm giác này có thể còn lờ mờ, không thật rõ nét, nhưng cái ấn tượng về đời sống, về cái hiện thực bên trong ấy của hồn người cứ còn vương đọng lại mãi trong tâm trí người đọc.
Phong cách của Sherwood Anderson, và phong cách viết của Hemingway với nguyên lý “tảng băng trôi” một phần nổi bảy phần chìm (hay, sau đó, Camus — với cách viết trong “Kẻ Xa Lạ”[1] —, và thậm chí đi đến phong cách “tối giản”, “cực hạn” (minimalism) một cách tuyệt vời sau đó nữa của Raymond Carver) theo kiểu tước bỏ tất cả những gì trước đó, một cách căn bản, tạo nên sự thành công của truyện ngắn, như những câu chữ mang nhiều tính mô tả (như tính từ, trạng từ, các cụm tính từ, trạng từ, v.v.), các hình ảnh, cốt truyện, sự tràn đầy trong miêu tả, diễn đạt, v.v., làm nên cái thần thái xưa của truyện ngắn, cũng đã là sự nối tiếp phong cách Chekhov. Tuy nhiên, những nhà văn vừa nói đã tô đậm thêm cái phong cách này với những nét tài hoa cùng sự sáng tạo riêng để xác định chỗ đứng và nét đặc thù của mình. Chẳng hạn như Hemingway đã sáng tạo nên dạng truyện ngắn đối thoại nổi tiếng. Còn Raymond Carver thì đã được các nhà văn và người đọc xem là một maestro của phong cách “tối giản” (còn được gọi là “thiểu tố” hay “cực hạn”), cùng với cung cách khách quan hóa tối đa thái độ cũng như phong thái của người kể truyện. Carver đã chiếm được sự cảm phục của người đọc trong suốt nửa sau của thế kỷ XX.
Đó là chúng ta chưa nói đến Katherine Mansfield và Alice Munro, hai nhà văn kiệt xuất của truyện ngắn. Một người được gọi là Chekhov của Anh quốc, và người kia cũng được xem là Chekhov của Canada.

.3.

Bước đột phá gây ấn tượng gần đây nhất trong lịch sử của truyện ngắn có lẽ đã được tạo nên bởi Franz Kafka và, sau đó, Gabriel García Márquez.
Cả Kafka lẫn Márquez đều đã dùng những yếu tố kỳ diệu, huyền ảo mang đầy tính ma thuật trong những truyện ngắn của mình. Nhưng họ đã đi những bước khác nhau, với phong cách, thần thái khác nhau. Kafka, cùng với các nhà văn hiện đại khác, đã không chấp nhận việc miêu tả hiện thực một cách trực tiếp nữa. Mà nhắm vào cái nghĩa bóng, nghĩa được suy đoán của hiện thực. Từ đó, nhà văn cấp cho hiện thực tính đa trị, đa nghĩa. Nhắm vào việc làm mờ hóa hiện tượng, bôi bỏ những đường viền rõ nét của hiện thực, nhà văn đẩy người đọc vào thế phải suy giải. Có những hiện tượng được suy giải theo những con đường trái chiều, đối nghịch hẳn nhau, nhưng đều có nghĩa. Và, từ đó, những văn bản văn chương của thời hiện đại và hậu hiện đại nhiều khi có được những nét đa trị, đa nghĩa hết sức phong phú. Sự phong nhiêu, phong dật của văn chương (không hẳn theo nghĩa “Văn chương của sự phong dật” — The Literature of Replenishment của John Barth), ở một mặt ý nghĩa nào đó, cũng đã được nhận rõ từ khía cạnh này.
Cùng với Kafka, văn chương của sự biến dạng ra đời. Một thứ văn chương của huyền thoại. Của cái thực và cái mơ xoắn quyện, bồng bế lẫn nhau. Đó là văn chương của cái nghĩa bóng. Cái đằng sau, cái nghĩa bóng ấy, bỗng được đẩy ra phía tiền trường. Còn hiện thực thì được đẩy lùi về phía sau, được nhìn một cách gián tiếp. Chất Kafka của văn chương... hậu-Kafka đã được quy chiếu từ phong cách đó.
Và rồi cái bóng sừng sững của Márquez.
Márquez đối mặt với hiện thực một cách rõ nét hơn Kafka, cho dù những yếu tố hoang đường và ẩn dụ cũng đầy tràn trong truyện của ông. Ẩn dụ của Kafka bật sáng những thao thức đầy chất trí tuệ. Ẩn dụ của Márquez chập chờn và lấp lánh những hoa văn của hình tượng. Qua đó, với Márquez, người đọc như chìm vào “biển của thời đã mất” (cũng là tên một truyện ngắn của ông), nhập vào và sống một cách tự nhiên nhi nhiên với những cảnh hoang đường, kỷ ảo (thậm chí có những lúc nghịch dị) trong truyện của Márquez. Nhà văn đã thành công trong việc đưa dẫn người đọc vào những giấc mơ kỳ ảo, say đắm mà họ không muốn thoát ra.

.4.

Nói đến truyên ngắn, của thế giới nói chung và của Việt Nam nói riêng, việc liệt kê những nhà văn đã để dấu ấn mình trong truyện ngắn và, bằng một cách đặc thù nào đó, thổi tiếp sinh khí cho thể loại này, rất dễ bị trở nên thiếu sót. Trên phạm vi thế giới, người ta có thể nói đến Nikolai Gogol, Guy de Maupassant, Alexander Pushkin, Leo Tolstoy, Ivan Turgenev, Ivan Bunin, Anton Chekhov, Charles Dickens, Vladimir Nabokov, Hermann Hesse, Nathaniel Hawthorne, Edgar Allan Poe, Rudyard Kipling, Mark Twain, Herman Melville, Virginia Woolf, O. Henry, Jack London, F. Scott Fitzgerald, William Faulkner, W. Somerset Maugham, Katherine Mansfield, Isaac Bashevis Singer, Thomas Mann, Franz Kafka, James Joyce, D. H. Lawrence, Sherwood Anderson, Ernest Hemingway, Jorge Luis Borges, Dino Buzzati, Italo Calvino, Gabriel García Márquez, Kurt Vonnegut, John Barth, Donald Barthelme, Flannery O’Connor, John Cheever, John Steinbeck, J. D. Salinger, Raymond Carver, Alice Munro. Vân vân.
Cũng thế, đối với các nhà văn viết truyện ngắn Việt Nam. Dù sao, tôi không muốn thử liệt kê như đã làm ở trên với các nhà văn ngoại quốc. Có lẽ đa số chúng ta đều có thể hình dung được tiếng nói, giọng điệu và phong cách của những nhà văn Việt Nam mà mình yêu thích. Cả ở trong lẫn ở ngoài nước. Dù sao, những điểm làm cho họ nổi bật cũng là những điểm đã làm cho các nhà văn thế giới và những truyện ngắn của họ được người đọc yêu mến và ghi nhớ trong lòng. Những điểm đó tôi đã thử trình bày ở một đoạn trên. Đó là tài năng (không chỉ là “kỹ năng”, cho dù “kỹ năng” có thể dẫn đến “tài năng”) và sự sáng tạo. Chính tài năng và sự sáng tạo là xương cốt, máu thịt và hơi thở để dựng nên những truyện ngắn sống mãi với đời.
Về ranh giới giữa truyện ngắn và truyện dài, đây có lẽ vẫn còn là một vấn đề chưa giải quyết xong một cách rốt ráo. Nhà lập thuyết về thể loại Edgar Allan Poe thì cho rằng truyện ngắn là truyện có thể “ngồi đọc liền một mạch” (“in one sitting”) trong một thời khoảng giới hạn nào đó. Dù sao, cái “mạch” mà ông nói, trong thời buổi của truyền thông với công nghệ internet và những “kênh” xã hội của thời buổi này, có lẽ ngắn hơn thời của Poe kha khá. Đó là vấn đề của thời đại. Và truyện ngắn nào cũng được viết trong cái thời đại của mình. Bây giờ, nói chung, người ta thường cho rằng một truyện ngắn không nên/không thể ngắn hơn 1,000 từ và không nên/không thể dài hơn 20,000 từ. Truyện ngắn mà ngắn hơn 1,000 từ thì thường được gọi tên là “truyện chớp” (“flash fiction”), “truyện thình lình”, “truyện bất chợt” (“sudden fiction”), “truyện vi-ti”, “truyện mini”, “truyện micro” (“micro fiction”, “micro-fiction”, “microfiction”, hay “MicroFiction”). Ngoài ra, Yasunari Kawabata, tác giả của Snow Country (Xứ Tuyết), The Sound of the Mountain (Tiếng Rền của Núi), The Old Capital (Cố Đô), v.v., khôi nguyên của Nobel văn chương 1968, trong thể loại truyện ngắn, cũng để lại một ấn tượng đặc biệt với người đọc ông khắp thế giới qua loạt truyện ngắn mà ông gọi là “truyện ngắn trong lòng bàn tay” (“palm-of-the-hand stories”). Những truyện này có thể ngắn hơn một truyện ngắn trung bình, nhưng thường thì lại dài hơn một truyện “chớp”. Người đọc, qua loạt truyện này, có thể thấy tính thơ mộng, trầm tư và hóm hỉnh của Kawabata qua những suy nghĩ và hình ảnh của nhà văn, cũng như sự cô đúc về mặt kỹ thuật sáng tạo truyện của ông. Cũng thực hiện nguyên lý “tảng băng trôi” như Hemingway, ông khai mở lối vào tâm hồn con người một cách tinh tế và độc đáo qua một số lượng tối giản về từ ngữ.
Dù sao, khi bàn về ranh giới của truyện ngắn, cũng có những trường hợp đặc biệt không nằm trong quy luật “đọc liền một mạch” này. Mà có khi phải cần đến hai hay ba “mạch”! Chẳng hạn như nhiều truyện ngắn của Võ Phiến, tạm thời có thể kể: Thác Đổ Sau Nhà, Về Một Xóm Quê, Thương Hoài Ngàn Năm, v.v. Nói chung, những truyện ngắn này của Võ Phiến, về bề dày phân tích tâm lý và độ sâu của câu chuyện, cũng như về số chữ mà chúng chứa đựng, có lẽ, ở một số giác độ nào đó, có thể tạm so sánh với “những truyện (ngắn) về tình yêu” (“love stories”) của Ivan Turgenev. Những truyện ngắn như First Love (Tình Đầu) hay Torrents of Spring (Lũ Xuân) của Turgenev cũng có một độ dài dài hơn là một truyện ngắn điển hình, nói chung. Truyện ngắn của Võ Phiến, cũng như truyện ngắn của Turgenev, có lẽ còn dài hơn “truyện dài” The Old Man and The Sea (Ông Già và Biển Cả) của Hemingway. Đối với những trường hợp này, thay vì gọi là “truyện ngắn”, có lẽ ta chỉ nên gọi là “truyện” thôi, nếu ta không thích gọi chúng là những “truyện vừa”.

.5.

Alice Munro là khôi nguyên Nobel văn chương 2013. Bà được trao giải Nobel văn chương vì những truyện ngắn đặc sắc, mang nét cách tân, của bà. Mong muốn của Alice Munro, cùng với niềm vui khi được trao giải Nobel văn chương vì những truyện ngắn của mình, là hy vọng người đọc, qua giải thưởng mà bà nhận được, sẽ coi truyện ngắn là một nghệ thuật quan trọng, chứ không phải chỉ là sự “thử bút” của nhà văn cho đến khi viết được truyện dài. Như thế, không phải chỉ ở Việt Nam, mà cái thái độ xem trọng tiểu thuyết/truyện dài hơn truyện ngắn vẫn là một thái độ mang tính phổ biến. Nhưng, nếu ta quan tâm đến truyện ngắn đủ để thấy cái nghệ thuật đẹp đẽ và tuyệt vời của nó nơi những nhà văn đã thành công với thể loại này, ta sẽ thấy là truyện ngắn cũng đem lại cho người đọc những khoái cảm thẩm mỹ như những khoái cảm mà tiểu thuyết mang lại, cho dù tố chất và cường độ của chúng có thể khác nhau.
Nếu nói về những cách tân thể loại, như đã thử trình bày ở trên, trong suốt mấy ngàn năm lịch sử của nó, truyện ngắn đã có những khai phá, những khúc quặt, những biến động. Dù sao, tất cả những điều ấy cũng đòi hỏi thời gian và một môi trường văn hóa-xã hội thích đáng, như một chất men kích thích. Chưa kể đến cái tài năng riêng của những con người khai phá, sáng tạo. Chúng ta có thể tự hỏi tại sao các nhà văn Việt Nam chưa tạo được nhiều cách tân trong phạm vi thể loại này. Hãy đối chiếu lịch sử 6000 năm của truyện ngắn thế giới và độ dài của lịch sử truyện ngắn Việt Nam. Tôi nghĩ, truyện ngắn Việt Nam, dù sao, trong chiều dài lịch sử của mình, cũng đã cho thấy những tài năng nổi bật, chẳng hạn như Nam Cao trước đây và Nguyễn Huy Thiệp trong giai đọan vừa qua (tôi chỉ thử kể tên hai người, nhưng mỗi người đọc, trong sự tìm hiểu, khám phá và thẩm mỹ riêng của mình, có thể thêm vào một số hay nhiều tên tuổi nữa). Ngoài ra, truyện ngắn trong nước, qua nhiều giai đoạn, đặc biệt truyện ngắn của miền Nam Việt Nam thời kỳ 1954-1975, và truyện ngắn Việt Nam trong giai đọan khoảng vài chục năm trở lại đây của cả nước, đã cho thấy có những thành tựu xuất sắc. Đó là chưa kể đến những nét đặc thù, hoặc đầy tính lai tạp thú vị, của truyện ngắn Việt Nam của những nhà văn hải ngoại sau 1975. Đi sâu vào việc tìm hiểu, phân tích các yếu tố và chất liệu được sử dụng trong những “vùng năng lượng” này, chắc hẳn người ta sẽ tìm ra được những viên ngọc lấp lánh trong các vỉa quặng đó.[2]
Tôi nghĩ, sự phát triển của truyện ngắn mang tính lịch sử, mang tính văn hóa. Càng có cơ hội tiếp cận nhiều với thế giới chung quanh, càng có những nỗ lực khai phá, tìm hiểu, đào sâu vào cái bản-thể-người để thấy được những mê lộ của tâm lý và ý thức nó, càng nhuần nhuyễn trong việc nắm cương ngựa (như trong ẩn dụ của Boccaccio), chúng ta càng có nhiều cơ hội để ghi dấu ấn của mình vào truyện ngắn. Nhưng, để lập lại, đây là vấn đề mang tính lịch sử. Và văn hóa. Ngoài ra, nếu ngôn ngữ và văn hóa Việt Nam được biết đến rộng rãi hơn nữa trên thế giới, nếu tiếng nói và kinh nghiệm sống, kinh nghiệm làm người của chúng ta được lắng nghe và được tìm hiểu một cách thích đáng hơn nữa, cơ hội mà chính ta hoặc người ngoài nhìn thấy sự cách tân trong thể loại này của mình hẳn sẽ nhiều hơn. Chúng ta sẽ mở rộng hơn biên độ khai phá và ta sẽ nhìn thấy những cỏ hoa, cây cối mới trong không gian, địa vực của truyện ngắn Việt.

.6.

Alice Munro, trong một cuộc phỏng vấn với tạp chí The Paris Review, phát biểu: “ [Hồi còn trẻ] tôi đã mê đọc Eudora Welty, Flannery O’Connor, Katherine Ann Porter, Carson McCullers. Tôi nghĩ nhà văn đàn bà có khả năng viết về những điều quái dị, hoặc những chuyện bên lề (... ) Còn tiểu thuyết vĩ đại trong dòng chính về hiện thực là giang sơn của đàn ông.”
Tôi nghĩ đây là một cách nói có phần nào dí dỏm và khiêm nhường của Munro. Đặc biệt khi nó áp dụng cho truyện ngắn. Của bà. Và của những nhà văn nữ mà bà đã nhắc đến. Dù sao, đó có lẽ cũng là một cảm nhận riêng của Munro, một người, ở một góc độ nào đó, cũng chia sẻ những rung động và cái nhìn của mình như những nhà văn nữ mà bà đã kể tên, đặc biệt là như Carson McCullers. Bà có cái gắn bó, đồng cảm thân thiết với những kẻ ở bên lề, những kẻ bị người đời bỏ quên hay bỏ qua. Có được điều đó vì một phần bà đã sống giữa họ, nhưng phần lớn, theo tôi, là bà đã có sự quan sát và rung động sâu sắc trước những cuộc đời ấy. Bà hiểu được những góc khuất của những tâm hồn bị bỏ rơi đó. Còn về vấn đề “quái dị”? Có lẽ cũng giống Carson McCullers, đứa con của miền Nam nước Mỹ, gắn bó với những tâm hồn... “nguyên sinh”, chất phác, những người có tố chất “dân quê” của cuộc sống làng mạc, nhiều người là những kẻ khuyết tật, dị dạng, những kẻ “ở bên lề”, bà đồng cảm và thân thiết với họ. Trong họ và qua họ, bà “nhìn” thấy được những điều “quái dị”, trong niềm tin thô sơ, trong lối ứng xử, trong thái độ sống, trong những xác tín cuộc đời... Dù sao, phát biểu của bà, theo tôi, đúng thì cũng có đúng, nhưng có lẽ nên được hiểu trong một nghĩa giới hạn và tương đối. Vì, thật sự, Poe, Kafka, Marquez chẳng hạn, không phải là những nhà văn (nam) cũng rất gần gũi với sự quái dị đó sao? Thật sự, thậm chí, tên tuổi của họ có lẽ phần lớn đã được gắn bó và định hình qua những khái niệm về “nghịch dị”, “quái dị”, cho dù tính “quái dị” nơi mỗi nhà văn này mang những tố chất khác nhau. Còn Margaret Mitchell, tác giả của Gone with the Wind (Cuốn Theo Chiều Gió), Harriet Beecher Stowe, tác giả của Uncle Tom's Cabin (Chiếc Lều của Chú Tom), Ayn Rand, tác giả của Atlas Shrugged (Atlas Vươn Mình), không phải là những nhà văn nữ hay sao? Và tác phẩm của họ chẳng lẽ không phải là những “big novel”, những “tiểu thuyết vĩ đại”?
Ở Việt Nam, Võ Thị Hảo đã viết tiểu thuyết (lịch sử) Giàn Thiêu, rồi gần đây in quyển Dạ Tiệc Quỷ ở ngoài nước, một album gồm những “xấp hình” cắt dán mang những thông điệp lịch sử, cho thấy những lát cắt sắc nét với những mô tả, giải minh đầy ấn tượng về lịch sử và con người Việt kể từ Cải Cách Ruộng Đất đến thì hiện tại. Tiếng nói và cái nhìn mang tính panorama ấy của nhà văn nữ này không phải là lớn hay sao, cho dù trong văn chương của Võ Thị Hảo, người ta cũng có thể phát hiện ra những điều “quái dị”, “nghịch dị”. Và cả thái độ gần gũi của nhà văn đối với những con người bị bỏ rơi bên cạnh bờ lề (lịch sử) nữa.
Bởi thế, tôi nghĩ, phát biểu trên của Munro không phải là không có chỗ hợp lý, nhưng nó cũng không nên được nhìn theo hướng tuyệt đối.
Đọc truyện ngắn của Munro, có những người cảm thấy là những câu truyện ấy ảm đạm quá. Truyện ngắn của Alice Munro không phải chỉ bị xem là “ảm đạm” trong cái nhìn của một số độc giả Việt Nam. Trong số những người đọc truyện ngắn của bà trên thế giới, nhiều người cũng đã chia sẻ cái nhìn về nét “ảm đạm” ấy. Sở dĩ có vấn đề “ảm đạm” là vì những nhân vật của Munro thường thể hiện hoặc bị đẩy vào những tâm trạng phân vân, bất an, bấp bênh và đầy tính bất ngờ, không tìm được lối thoát trước những ngã ba đường. Còn bối cảnh của những truyện ngắn ấy là những bối cảnh mang tính... “phản trắc” và đầy “lừa lọc”. Nhiều truyện có những kết thúc bất ngờ, đôi khi nghịch lý, làm người đọc bối rối, loạng choạng, hoang mang. Tuy nhiên, để bù lại, Munro có những quan sát sắc sảo, những nhận xét dí dỏm, độc đáo và một tâm hồn đầy bao dung, nhân ái đối với những con người đầy nét khuyết tật, dị dạng, vụng về, thô kệch, ngu dại và lắm bất an ấy. Qua họ, bà nhìn ra được những sự thật cuộc đời. Cái đúng cái sai, cái hay cái dở, cái tốt cái xấu, cái được cái mất. Tất cả những mảnh ghép ấy làm nên cái thật của cuộc sống.
Cái độc đáo trong truyện ngắn của Alice Munro là ở đấy. Đó là chưa nói đến những kỹ thuật cách tân truyện ngắn nơi bà, đặc biệt qua cách kể truyện, qua thao tác tạo điểm nhìn, góc nhìn cho các nhân vật, và cách xử lý không gian cũng như thời gian của bà. Chúng ta có thể học được những điều này qua những bài phân tích, nhận định của nhiều nhà nghiên cứu về truyện ngắn của Munro.

.7.

Yếu tố không gian-địa lý, trong nhiều trường hợp, cũng là một yếu tố quan trọng của truyện. Cả truyện ngắn lẫn truyện dài. Vùng Ontario ở miền Trung Canada của Munro. Không gian và khung cảnh trong những truyện dài, truyện ngắn của các tác giả sống ở (hoặc viết về) miền Nam nước Mỹ, từ McCullers đến Faulkner và bao nhiêu nhà văn Mỹ khác nữa liên hệ đến vùng đất này. Chuyện đất đai, thổ ngơi khô cằn đá sỏi của làng Haworth và thời tiết khắc nghiệt với gió lạnh, sương lạnh, mưa ẩm và tuyết trắng của cái vùng “moors”, cái miền đồng hoang này đã ảnh hưởng đến truyện của chị em nhà Brontë ra sao đã được nhiều nhà nghiên cứu văn học phân tích kỹ. Đặc biệt khung cảnh thiên nhiên cằn cỗi của vùng Yorshire, với các đầm lầy hoang vu ẩm ướt, đã tạo không khí và đánh nhịp cho cường độ và sắc thái tình cảm của những nhân vật trongWuthering Heights (Đỉnh Gió Hú) của Emily Brontë như thế nào thì có lẽ chúng ta đều đã biết.
Trong khung cảnh Việt Nam, đọc những truyện ngắn của Đỗ Bích Thúy, người ta thấy hiện lên rất rõ khung cảnh, thổ ngơi của vùng Tây Bắc với cái đời sống, cả về mặt xã hội và tinh thần, của những con người vùng đất ấy. Truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư thì là những vệt quết đậm nét đầy tài hoa về con người, ngôn ngữ và đất đai sông nước miền Tây Nam Bộ Việt Nam. Tôi nghĩ, yếu tố không gian-địa lý có thể không phải là tất cả, nhưng, qua nó, nhà văn có thể cho người đọc thấy một cách sống động nhiều điều mà ông ta/bà ta muốn trình bày qua những trang văn của mình.
Ngoài ra, địa lý và cái không gian của nó không phải chỉ giúp cho nhà văn tạo được cái khung, phả được cái hơi thở của nó vào tác phẩm. Nó còn mang tính sáng tạo. Địa lý tạo ra nhà văn, hay, ngược lại, nhà văn tạo ra địa lý riêng cho mình? Quận Yoknapatawpha của William Faulkner,[3] vùng đất Macondo của Gabriel García Márquez, vùng Wessex của Thomas Hardy, v.v., là những địa vực mang tính huyền thoại, bật sinh ra từ trí tưởng tượng của nhà văn với xương thịt và hơi thở của chúng còn gân guốc và nóng hổi hơn bất cứ những vùng đất có thật nào. Nhưng để trở thành người cai quản những vùng đất đã đi vào văn học thế giới như những huyền thoại như thế, nhà văn đã phải sử dụng những gân cốt và xương thịt có thật. Như Chúa đã tạo ra người phụ nữ bằng một khúc xương sườn của người đàn ông. Bằng vào một hơi thở. Nhà văn, để tạo được những không gian huyền thoại như thế, qua việc dùng xương cốt, máu thịt là những vùng đất có thật mà mình đã từng biết, phải phả cái hơi thở sáng tạo của mình vào đó. Để đắp thêm xương thịt và cho chúng cái sức sống của tưởng tượng mình.
Địa lý trong sáng tạo của nhà văn chính là cái đã nuôi dưỡng hắn ta, cho hắn hơi thở và sức sống. Và cũng chính cái địa lý ấy, có những lúc, đã dẫn hắn đi xa, đi rất xa, trong tưởng tượng của mình để có thể tạo nên, từ đó, những đất đai, khí hậu, cỏ hoa, chim chóc, con người trong những thổ nhưỡng mới.
Tất cả đều nằm trong chữ viết và trong sự tưởng tượng của nhà văn. Nếu hắn có tài.

.8.

Để kết, tôi muốn dùng một vài nhận xét về cách viết truyện ngắn của Raymond Carver để đóng lại một vài ý kiến, nhận xét của riêng mình cũng như một vài hiểu biết mà tôi đã học hỏi được qua việc đọc truyện ngắn cũng như đọc những gì được viết về truyện ngắn.
“(...) Định nghĩa của V.S. Pritchett về một truyện ngắn là “cái gì đó được nhìn thoáng qua từ khóe mắt, trong lúc lướt qua, vụt qua.” (...) Thoạt tiên là cái nhìn thoáng qua. Rồi cái nhìn này tạo nên sự sống, biến thành một cái gì đó thắp sáng khoảnh khắc ấy (...) Công việc của nhà văn viết truyện ngắn là đưa vào cái nhìn thoáng ấy tất cả sức mạnh mà hắn có. Hắn sẽ đầu tư trí tuệ và kỹ năng văn học của mình để [nói về] (...) cái cách mà mọi vật trong cõi đời kia thật sự đã hiện ra như thế nào và cái cách mà hắn nhìn những sự vật ấy — chẳng giống một người nào khác nhìn thấy chúng. Và điều đó được thực hiện bằng việc sử dụng ngôn ngữ trong sáng và chính xác, cái ngôn ngữ được dùng để mang lại sự sinh động cho những chi tiết làm bật sáng câu chuyện cho người đọc. Để những chi tiết trở nên cụ thể và chuyển tải được ý nghĩa, cái ngôn ngữ ấy phải chính xác và được sử dụng một cách tinh tế. Từ ngữ có thể rất tinh tế đến nỗi chúng có thể nghe ra tầm thường, nhưng chúng vẫn có thể chuyên chở ý nghĩa; nếu được dùng chính xác, chúng có thể đánh đúng vào tất cả mọi nhịp điệu của cảm xúc.”[4]
Truyện ngắn, như thế, có phải không, là mỹ học của cái vụt qua. Biến cái vụt qua trở thành cái trường tồn, cái vĩnh hằng, cái sống mãi, đó chính là tài năng và nhiệm vụ của một nhà văn viết truyện ngắn.
Của mọi thời và mọi nơi.

Bùi Vĩnh Phúc
Tustin Ranch, Calif.
30. III. 2014

_________________________
Chú thích:
[1]Xin chú ý, về Camus, ở đây, tôi chỉ bàn về cách viết của nhà văn trong L'Étranger (Kẻ Xa Lạ), chứ không gộp Camus vào những nhà văn viết truyện ngắn mà ta đang quan tâm ở đây.
[2]Truyện ngắn trong nước trong thời gian vài chục năm trở lại đây là một hiện tượng nở rộ với nhiều tác giả đáng chú ý. Các tài liệu/tuyển tập truyện ngắn trong giai đọan này có thể được tìm thấy tại Việt Nam một cách khá dễ dàng. Truyện ngắn của thời 1954-1975 tại miền Nam Việt Nam khó tìm hơn nhiều, cho dù cũng có một số tuyển tập về truyện ngắn được ra đời trong thời gian đó. Một tuyển tập dày dặn, giới thiệu được khá nhiều tên tuổi của các nhà văn Việt Nam trong giai đọan này, là cuốn Những Truyện Ngắn Hay Nhất của Quê Hương Chúng Ta (1954-1973), nhà xuất bản Sóng in năm 1973, gần 800 trang, với 45 tác giả. Nguyễn Đông Ngạc tuyển chọn, và sự chọn lựa khá đúng đắn. Ở ngoài nước từ 1975 đến nay cũng có mấy tuyển tập truyện ngắn. Có thể lấy Tuyển tập truyện ngắn hai mươi năm văn học Việt Nam hải ngoại 1975-1995làm thí dụ. Tuyển tập này quy tụ 49 tác giả, dày gần 900 trang, do Văn bút Việt Nam hải ngoại & Trung tâm Tây Nam Hoa Kỳ thực hiện, xuất bản vào năm 1995.
[3](Yoknapatawpha, tiếng của người Da Đỏ Chickasaw, theo Faulkner, có một nghĩa khá thơ mộng là “nước chầm chậm chảy trôi qua đồng bằng”. Nhưng, thật ra, có thể Faulkner đã có sự hiểu lầm ở đây. Yocona and petopha, có nghĩa là “(vùng) đất xẻ” (“split land”). Arthur F. Kinney đã cho biết thêm một số chi tiết ngôn ngữ cho thấy nguồn gốc và ý nghĩa của cái tên này. Trong cuốn Go Down, Moses: The Miscegenation of Time ông đưa ra ý kiến là có thể Faulkner đã tra một quyển từ điển ngôn ngữ Choctaw in năm 1915 trong đó “Yoknapatawpha” đã được đập vỡ thành nhiều mảnh như sau:
ik patafo, tính từ: chưa được cầy cấy.
patafa, quá khứ phân từ: xẻ ra, tách ra; cầy cấy, xẻ thành luống; canh tác.
yakni, danh từ: trái đất; đất; mặt đất; quốc gia; quận hạt...
yakni patafa, ngữ kết hợp: đất đai được xẻ thành luống. vùng đất đã cầy qua, nhưng còn để hoang, chưa gieo hạt.
 
Bởi thế, Kinney đề nghị, ý nghĩa theo mặt chữ của “Yoknapatawpha” trong ngôn ngữ Choctaw có thể là “một vùng đất hay một (vùng) quận hạt đã được cầy cấy, canh tác”
[4]“(...) V.S. Pritchett’s definition of a short story is ‘something glimpsed from the corner of the eye, in passing.’ (...) First the glimpse. Then the glimpse gives life, turned into something that illuminates the moment (...). The short story writer’s task is to invest the glimpse with all that is in his power. He’ll bring his intelligence and literary skill to [talk about] how things out there really are and how he sees those things — like no one else sees them. And this is done through the use of clear and specific language, language used so as to bring to life the details that will light up the story for the reader. For the details to be concrete and convey meaning, the language must be accurate and precisely given. The words can be so precise they may even sound flat, but they can still carry; if used right they can hit all the notes.”
(Trong Raymond Carver, Call If You Need Me: The Uncollected Fiction and Other Prose – Xemhttps://www.goodreads.com/work/quotes/1038752-call-if-you-need-me-the-uncollected-fiction-and-other-prose)

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Báo TQ: Bắc Kinh cần "giết gà dọa khỉ" để giải quyết vấn đề Biển Đông

 


(GDVN) - Báo của TQ cho rằng, tấn công Philippines có tác dụng "giết gà dọa khỉ", khi nỗ lực giải quyết vấn đề quần đảo Trường Sa bằng "phương thức hòa bình" đã 0 còn!.
Tàu hộ vệ tên lửa Type 054A của Hải quân Trung Quốc
Trang mạng quân sự sina Trung Quốc ngày 1 tháng 4 cũng có bài viết cho rằng, hiện nay, tranh chấp bãi Cỏ Mây đã tiếp tục nóng lên, gây xôn xao dư luận. Ngày 29 tháng 3, tàu cá Philippines (mang theo binh lính) và tàu cảnh sát biển Trung Quốc đã quần nhau trên vùng biển này. Phía Philippines đã thành công đổ bộ lên đảo tiếp tế cho một tiểu đội chốt giữ trên bãi Cỏ Mây (hòn đảo thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam).
Theo bài báo, khi tàu cá Philippines xông lên bãi Cỏ Mây thì một tàu chiến của Hạm đội Thái Bình Dương, Hải quân Mỹ đang tuần tra ở vùng biển bãi Cỏ Mây, một chiếc tàu ngầm trinh sát bí mật của Mỹ cũng được điều từ căn cứ Subic nhanh chóng đến khu vực xảy ra sự việc, trong khi đó có một chiếc máy bay của Hải quân Mỹ bay trên vùng trời bãi Cỏ Mây.
Cán cân sức mạnh trên Biển Đông giữa Trung Quốc-Philippines
Theo bài báo, Hải quân Philippines là lực lượng trên biển có quy mô nhỏ nhất trong các nước Đông Nam Á, tổng binh lực hiện nay là 24.000 quân, Thủy quân lục chiến có 8.700 quân, Lực lượng bảo vệ bờ biển có 3.500 người, ngoài ra lực lượng dự bị khoảng 17.000 người.
Tàu hộ vệ tên lửa Nhạc Dương Type 054A, Hạm đội Nam Hải, Hải quân Trung Quốc biên chế năm 2013
Hải quân Philippines chỉ có một hạm đội, trực thuộc có hạm đội sẵn sàng chiến đấu, lực lượng tuần tra, lực lượng hậu cần, lực lượng tàu đột kích, cụm hàng không hải quân và cụm tác chiến đặc biệt hải quân.
Tổng số tàu chiến của Hải quân Philippines không ít, theo thống kê đến năm 2010 còn có khoảng 120 chiếc. Trong đó tàu tác chiến chính có 66 chiếc, tàu hỗ trợ có trên 50 chiếc. Nhưng quan sát kỹ cơ cấu tàu chiến của họ thì không có gì nổi bật.
Tàu chiến lớn nhất của Hải quân Philippines là tàu BRP Gregorio del Pilar lớp Hamilton, từng phục vụ cho Lực lượng bảo vệ bờ biển Mỹ.
Tàu này có tốc độ, khả năng chạy liên tục xuất sắc, nhưng vũ khí trang bị rất yếu, mặc dù thân tàu trên 3.200 tấn có tiềm năng cải tạo rất tốt, nhưng khi mua tàu chiến cũ đã hoạt động 40 năm của Lực lượng bảo vệ bờ biển Mỹ, Philippines không hề tiến hành cải tạo tàu này.
Tàu chiến có hỏa lực mạnh nhất của Hải quân Philippines là tàu hộ vệ BRP Rajah Humabon, đây là tàu chiến cũ hạ thủy vào năm 1943, từng tham gia Chiến tranh thế giới thứ hai, nay trở thành tàu chỉ huy của Hải quân Philippines.
Tàu hộ vệ tên lửa Hoành Thủy số hiệu 572 Type 054A biên chế cho Hạm đội Nam Hải vào tháng 7 năm 2012
Hải quân Philippines có kế hoạch mua tàu hộ vệ hạng nhẹ lớp Pohang nghỉ hưu của Hàn Quốc, nhưng hiện nay còn chưa có kinh phí, chưa nói đến huấn luyện nhân viên và bàn giao. Do đó, tàu này chưa thể đến Philippines.
Về không quân và lực lượng hàng không, Hải quân Philippines có 14 máy bay, Không quân chỉ có vài máy bay huấn luyện cánh quạt KT-1, máy bay OV-10 và vài chục máy bay trực thăng. Những máy bay trên đều không có khả năng tấn công chính xác trên biển, thậm chí tiến hành tấn công mục tiêu trên đất liền cũng rất khó khăn.
Theo bài báo, lực lượng chấp pháp Trung Quốc có thể vươn tới bãi cạn Scarborough hiện nay gồm có các lực lượng của 3 cơ quan chấp pháp trên biển Trung Quốc như hải giám, ngư chính, hải sự.
Trung Quốc hiện có vài tàu công vụ mới biên chế, lượng giãn nước 1.000 tấn trở lên, khả năng chạy liên tục khá tốt, có thể tiến hành tuần tra trong thời gian nhất định ở bãi cạn Scarborough. Trong tranh chấp trên biển, chúng có thể dựa vào thân tàu chắc chắn để tiến hành cơ động, đạt mục đích áp chế xung đột trên biển.
Nhưng tàu BRP Gregorio del Pilar hiện nay của Hải quân Philippines vốn xuất thân từ tàu tuần tra, về lý thuyết, tàu BRP Gregorio del Pilar có ưu thế tính năng nhất định so với tàu công vụ mới của Trung Quốc, nhất là tua bin khí công suất lớn của tàu này giúp cho nó có tốc độ 29 hải lý/giờ, đạt tốc độ tàu chiến chủ lực của cụm chiến đấu tàu sân bay.
Nhưng, trong xung đột Biển Đông, tàu BRP Gregorio del Pilar cũng là trụ cột đánh tiên phong của Hải quân Philippines, trong tranh đoạt với tàu chấp pháp trên biển hiện có của Trung Quốc hoàn toàn không cho thấy có ưu thế mang tính áp đảo.
Ngoài ra, Hải quân Trung Quốc còn có một lực lượng mạnh, đó là Hạm đội Nam Hải, trong hạm đội này có các tàu “Aegis Trung Hoa” như tàu khu trục 170, 171, 168 và 169 (ngoài ra còn có tàu khu trục tên lửa mới Côn Minh số hiệu 172 Type 052D vừa biên chế ngày 21 tháng 3 năm 2014) cùng một số tàu hộ vệ mới Type 054A. Hạm đội Nam Hải hiện có hơn 350 tàu chiến, trong đó có 9 tàu khu trục, 17 tàu hộ vệ, 3 tàu ngầm hạt nhân, 21 tàu ngầm thông thường.
Lực lượng đường không của Hạm đội Nam Hải có 2 sư đoàn hàng không hải quân, 1 sư đoàn máy bay chiến đấu và 1 sư đoàn máy bay ném bom, ngoài ra còn có 1 trung đoàn máy bay vận tải độc lập chuyên vận chuyển vật tư và nhân viên tới Hoàng Sa (quần đảo của Việt Nam), 1 trung đoàn thường xuyên tới khu vực vùng trời Trường Sa (quần đảo của Việt Nam) và 1 đại đội trực thăng trang bị cho tàu chiến.
Trung Quốc đã biên chế 5 tàu hộ vệ hạng nhẹ Type 056 cho Hạm đội Nam Hải, Hải quân Trung Quốc
Dưới lữ đoàn 1 hải quân đánh bộ của Hạm đội Nam Hải có 7 tiểu đoàn: 3 tiểu đoàn đánh bộ, 1 tiểu đoàn bọc thép, 1 tiểu đoàn pháo binh, 1 tiểu đoàn xe chiến đấu đổ bộ và 1 tiểu đoàn thông tin.
Lữ đoàn đánh bộ 1 hàng năm duy trì trình độ huấn luyện cao, khả năng tác chiến đổ bộ được TQ tự đánh già tốt, là một trong những lực lượng có sức chiến đấu mạnh nhất của Quân đội Trung Quốc. Lữ đoàn này phụ trách một phần nhiệm vụ đánh chiếm đảo, đá ngầm.
Những lực lượng trên đều có thể sử dụng cho cuộc khủng hoảng Biển Đông trong tương lai, trong đó tàu chiến mặt nước cỡ lớn có thể triển khai tạm thời ở bãi Cỏ Mây mà không cần tiếp tế trên biển, bất cứ tàu chiến nào được điều đi đều “có thể bao vậy tiêu diệt” Hải quân Philippines.
Thế lực nước lớn đằng sau Philippines
Theo bài báo, Mỹ là nước đứng đầu, “ông chủ” lớn nhất ở phía sau Philippines. Trước thập niên 90 của thế kỷ trước, quân Mỹ từng có căn cứ hải quân ở Subic, căn cứ không quân ở Clark. Nhưng, sau này, quân Mỹ đã phải rời khỏi Philippines do không đạt được thỏa thuận mới.
Tàu tuần tra lớp Hamilton Philippines mua của Mỹ
Tuy nhiên, cùng với việc thực hiện chiến lược quay trở lại châu Á-Thái Bình Dương của Mỹ trong mấy năm gần đây, Philippines lại bắt đầu chào đón quân Mỹ đến đồn trú.
Bộ trưởng Quốc phòng Philippines Gazmin ngày 27 tháng 3 cho biết,  Philippines đang cân nhắc mở cửa với mức độ lớn hơn cho Mỹ và Nhật Bản. Ông Gazmin nói, nhà cầm quyền Philippines đang xây dựng một kế hoạch sơ bộ, để cho phép quân Mỹ đến đồn trú dài hơn ở căn cứ quân sự tại Philippines, kế hoạch này cũng có thể áp dụng cho Lực lượng Phòng vệ Nhật Bản.
Trong đó, quân Mỹ từ lâu đã không có lực lượng thường trực ở Philippines, nhưng trong thời gian 12 năm luôn duy trì luân phiên lực lượng đặc nhiệm quân Mỹ ở Philippines. Quy mô của lực lượng này khoảng 400 quân, đóng vai trò "cố vấn" và "huấn luyện" tấn công khủng bố cho Chính phủ Philippines. Rõ ràng, Lục quân Mỹ không cần căn cứ lớn như vậy, vậy thì ai sẽ sử dụng?
Số liệu cho biết, chỉ trong năm 2014, tàu chiến và tàu ngầm quân Mỹ thăm vịnh Subic đạt được trên 72 chiếc, còn số lượng tàu chiến thăm cả năm 2013 là 88 chiếc, năm 2010 là 51 chiếc. Số lượng khổng lồ như vậy đã cho thấy Mỹ có kế hoạch tích cực can thiệp tình hình Biển Đông, kiềm chế Hải quân Trung Quốc.
Máy bay tuần tra săn ngầm P-8A Poseidon Hải quân Mỹ
Trong khi đó, theo bài báo, Philippines "cáo mượn oai hùm", tận dụng Mỹ làm lá chắn, liên tục "gây sự" trên Biển Đông. Trong cuộc đối đầu Biển Đông lần này, máy bay tuần tra trên biển P-8A của quân Mỹ được biết là đã cất cánh từ Philippines.
Một nước “can dự tình hình Biển Đông” khác chính là Nhật Bản. Ngay từ tháng 3 năm 2013, Nhật Bản sớm cho biết, chính phủ nước này xem xét cung cấp 10 tàu tuần tra cho Philippines, trong đó lượng giãn nước tối đa là 1.000 tấn.
Trong khi đó, thông tin này được Bộ trưởng Quốc phòng Philippines Gazmin xác nhận, cho biết, điều này sẽ nâng cao khả năng phòng thủ lãnh thổ cho Philippines ở Biển Đông.
Nhật Bản lần này lấy danh nghĩa "viện trợ" cho Philippines công khai xuất khẩu vũ khí, là quyết định đầu tiên sau khi Chính phủ Nhật Bản nới lỏng "Ba nguyên tắc xuất khẩu vũ khí", gây quan ngại cho Trung Quốc.
Trong tình hình Biển Đông vẫn phức tạp hiện nay, hành động này của Nhật Bản bị truyền thông Trung Quốc chỉ trích là "phá rối tình hình Biển Đông, cân bằng với vai trò ảnh hưởng Trung Quốc".
Đối với vấn đề này, báo Trung Quốc vu cáo cho rằng, Nhật Bản đã không hề ngần ngại can thiệp vào vấn đề Biển Đông, tích cực phối hợp với chiến lược hướng Đông của Mỹ, đây cũng là "bước đi đầu tiên can thiệp vũ trang vào tranh chấp Biển Đông của quân phiệt Nhật Bản".
Tàu ngầm hạt nhân tấn công lớp Los Angeles, Hải quân Mỹ
Theo bài báo, Nhật Bản tích cực "can thiệp" vào tranh chấp Biển Đông có 2 mục đích chính: Một là muốn phân tán sự chú ý của Trung Quốc ở đảo Senkaku, biển Hoa Đông. Hai là Nhật Bản muốn tận dụng cơ hội này gia tăng con bài đàm phán của họ trong vấn đề đảo Senkaku. Vì vậy, báo Trung Quốc cho rằng, Nhật Bản có "mưu đồ đáng sợ".
"Khi cần phải ra tay"
Theo bài báo, Trung Quốc-Philippines trực tiếp xảy ra xung đột trên biển có nghĩa là ngoại giao hai nước đã cắt đứt hoàn toàn, đàm phán chính trị không thể giải quyết vấn đề, hai nước tạm thời không thể tiếp tục đàm phán, hậu quả xung đột bãi Cỏ Mây lúc này rất có thể là "chiến tranh nóng".
Khi buộc phải dùng hình thức tác chiến trên biển để giải quyết xung đột đảo, đá trên Biển Đông (thực ra là Trung Quốc muốn cướp đoạt) thì Trung Quốc phải tiến hành chuẩn bị trước, nhất là khi tình hình tiếp tục diễn biến xấu đi, Philippines bất chấp sự giám sát, kiểm soát (thực ra là quấy rối) của tàu hải giám Trung Quốc, tiếp tục tiếp tế cho tàu đổ bộ cũ nát trên bãi Cỏ Mây (thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam), tiếp tục điều tàu chiến và máy bay đến khu vực "đảo tranh chấp" (thực ra là Trung Quốc gây ra tranh chấp), hình thành sự đối đầu lâu dài với tàu Trung Quốc.
Tàu sân bay USS George Washington Hải quân Mỹ trên Biển Đông (ảnh tư liệu)
Bài báo phỏng đoán, Hải quân Philippines hiện nay rất có thể điều động tàu tuần tra BRP Gregorio del Pilar và tàu số 2 cùng cấp đến tấn công, trong khi đó biên đội tàu chiến của Trung Quốc gồm 2 - 4 tàu khu trục/hộ vệ.
Về mặt lựa chọn tàu chiến, bất cứ tàu khu trục/hộ vệ nào của Hạm đội Nam Hải, từ tàu hộ vệ lớp Giang Hồ kiểu cũ đến tàu khu trục tên lửa phòng không cỡ lớn mới nhất đều có hoàn thành nhiệm vụ tác chiến.
Báo Trung Quốc tự tin cho rằng, tàu chiến thích hợp để tác chiến với tàu chiến của Hải quân Philippines chính là tàu khu trục lớp Lữ Đại kiểu cũ của Trung Quốc.
Theo bài báo, thực ra, Trung Quốc-Philippines nếu xảy ra chiến tranh trên biển chính là một cuộc chiến tranh trên biển có tầm bắn vượt khả năng của hỏa pháo, nhưng chỗ khác với chiến tranh trên biển trước đây của Trung Quốc là, chiến tranh tương lai sẽ sử dụng tên lửa chống hạm. Trong khi đó, tên lửa chống hạm dòng Ưng Kích-8 của Trung Quốc sử dụng linh hoạt, thuận tiện hơn.
Bài báo cho rằng, trong cuộc chiến tranh trên biển tương lai, tàu chiến của Hải quân Philippines sẽ bị tấn công mang tính "hủy diệt", còn biên đội tàu chiến và lực lượng Trung Quốc sẽ bị tổn thất nhỏ. Hải quân Philippines chỉ có tàu tuần tra BRP Gregorio del Pilar, trên tàu có 1 khẩu pháo 76 mm, có thể gây thương vong cho phía Trung Quốc.
Máy bay chiến đấu F/A-18 Super Hornet huấn luyện chiến đấu trên tàu sân bay USS Nimitz Mỹ tháng 9 năm 2013
Vì sao không thể khai chiến?
Nếu xung đột bãi Cỏ Mây phát triển theo trạng thái khai chiến, sẽ là một sự kiện dữ dội của toàn Đông Nam Á cho đến phạm vi thế giới, có ảnh hưởng to lớn đối với tình hình Trường Sa, nội bộ ASEAN cho đến tình hình trên biển của Tây Thái Bình Dương trong tương lai.
Đối với Philippines, đó là một thảm họa quân sự. Nói chung, do cán cân sức mạnh quân sự giữa Trung Quốc-Philippines quá chênh lệch, khả năng khai chiến với Philippines rất nhỏ.
Tuy nhiên, báo Trung Quốc tham vọng và hung hăng cho rằng, nếu như đặt sự kiện này vào toàn bộ Biển Đông, thậm chí trong tầm nhìn lớn “phục hưng Trung Quốc”, tấn công dường như là “con đường ra duy nhất”.
Bài báo tiếp tục luận điệu cho rằng, trong vấn đề liên quan đến quần đảo Trường Sa (của Việt Nam), tấn công Philippines có tác dụng "giết gà dọa khỉ", khi nỗ lực giải quyết vấn đề quần đảo Trường Sa bằng "phương thức hòa bình" đã không còn.
"Tầng lớp lãnh đạo của Philippines đã coi các đảo trên quần đảo Trường Sa là một con bài chính trị, chỉ "đàm phán" sẽ không thể hóa giải khủng hoảng, sẽ không bàn được kết quả mang tính thực chất. Đàm phán sẽ chỉ kéo dài thời gian Philippines "xâm chiếm" quần đảo Trường Sa". - báo TQ viết.
Tàu ngầm thông thường lớp Kilo Hải quân Việt Nam
Báo Trung Quốc sặc mùi hiếu chiến và lòng tham cho rằng, cách làm thực tế là thực hiện "một lần cho xong", thông qua tấn công "thu hồi các đảo ở Biển Đông, bởi vì phương án giải quyết hoàn hảo quần đảo Trường Sa chưa từng tồn tại.
Truyền thông TQ đang cố gắng "rung cây dọa khỉ"
Nhưng bài báo cũng tự kết luận cho rằng, "nếu Trung Quốc tận dụng hòa bình giải quyết được cuộc khủng hoảng quần đảo Trường Sa, thì đây là một phương thức giải quyết gây hài lòng cho mọi người".


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Tương lai của sách giấy


Đoàn Ánh Dương
Bên thềm thế kỷ XXI, trước sự bùng phát của internet và loại hình kinh doanh trên mạng, người ta bắt đầu lo lắng cho tương lai của sách, như có lúc người ta đã lo cho tương lai của tiểu thuyết. Nỗi lo lắng này song chiếu số phận của tiểu thuyết và sách in trong lịch sử, rộng ra là văn học và công nghệ ấn loát, như là hai nhân tố đã mở ra thời hiện đại.
Bên thềm thế kỷ XIX, trước sự bùng phát của internet và loại hình kinh doanh trên mạng, người ta bắt đầu lo lắng cho tương lai của sách, như có lúc người ta đã lo cho tương lai của tiểu thuyết. Nỗi lo lắng này song chiếu số phận của tiểu thuyết và sách in trong lịch sử, rộng ra là văn học và công nghệ ấn loát, như là hai nhân tố đã mở ra thời hiện đại. Vậy sách in có mất đi khi chúng ta bước vào thời hậu hiện đại, và mọi chuyển biến nếu có sẽ đem lại hệ quả gì, chúng ta có thực sự phải lo lắng về điều đó? Jean-Claude Carrière và Umberto Eco đã có những trao đổi thú vị về vấn đề này với sự dẫn chuyện của Jean-Phillippe de Tonnac ở những năm cuối cùng của thập niên đầu tiên của thế kỷ XXI. Tập hợp các đối thoại này vừa mới được dịch sang tiếng Việt dưới tiêu đề: Đừng mơ từ bỏ sách giấy1. Sự phủ quyết nỗi lo lắng về số phận của sách giấy ở hai nhân vật hàng đầu này, Carrière không chỉ trong tư cách nhà văn, nhà viết kịch và biên kịch mà còn với tư cách một người thông tuệ các vấn đề công nghệ, Eco không chỉ trong tư cách nhà văn, nhà nghiên cứu văn hóa và văn học cổ mà còn với tư cách một lý thuyết gia ký hiệu học, đã vượt lên trên mức độ cảm tính của những nhà sưu tầm sách cũng hàng đầu, đưa câu chuyện vào địa hạt của những phân tích lý tính, và gợi ra những suy tư về tương lai của sách giấy nơi bạn đọc.
Câu chuyện đầu tiên trong hơn mười câu chuyện về sách của Carrière và Eco là lời khẳng quyết: Sách in sẽ không chết. Carrière là người gợi vấn đề, bằng việc đề cập đến nhận định của một nhà tương lai học tại Hội nghị thượng đỉnh tại Davos năm 2008 rằng trong tương lai gần, thế giới phải đối mặt với bốn vấn đề: giá dầu mỏ, vai trò của nước, vị thế của châu Phi, và cái chết của sách in. Sự khơi gợi này, theo câu chuyện, sẽ từng bước bị chính Carrière phủ nhận, bằng kinh nghiệm đối diện với các ngành công nghệ, nhất là công nghệ truyền thông đa phương tiện, đối thủ cạnh tranh của sách in trong lĩnh vực giải trí và lưu truyền văn hóa. Còn với Eco, từ góc nhìn ký hiệu học, ông đưa ra những nhận định thực sự ấn tượng và thấu đáo: “Cuốn sách cũng giống như cái thìa, cái búa, bánh xe hay cái kéo. Một khi đã phát minh ra chúng rồi, bạn không thể làm tốt hơn được nữa… Sách đã chứng tỏ được bản thân nó, nên chúng ta không thể biết làm thế nào để làm ra một kiểu sách tốt hơn với cùng một mục đích sử dụng như vậy”. Eco hiểu rằng, sách giấy là phương tiện chuyên chở chữ viết, một cuộc cách mạng của loài người ngang tầm với việc tìm ra lửa, bởi “chữ viết là phần kéo dài của bàn tay, và theo nghĩa đó, nó gần như mang tính sinh học”. Sự khác biệt làm nên sức sống của sách giấy so với các phát minh về lĩnh vực văn hóa thông tin khác về sau, như điện ảnh, truyền thanh, truyền hình, internet, kể cả ebook, là bởi các phát minh sau này “không mang tính sinh học”. Chính tính sinh học làm cho sách in trường tồn với cuộc sống loài người, bằng tất cả các khả năng “tiến hóa sinh học” của nó, theo các con đường chọn lọc cả tự nhiên và nhân tạo.

Những câu chuyện tiếp sau đề cập đến những khía cạnh khác nhau của sách trong đời sống, lịch sử, sự lưu truyền, sự tiếp thu, sự lưu giữ, các cách thức mà sách ra đời, vượt qua các loại kiểm duyệt, trở thành một phần trong đời sống văn hóa, trong các bộ sưu tầm, sự tương tác với các kỹ thuật hỗ trợ thông tin và văn hóa khác,… Bằng lối nói hóm hỉnh, nên dù với rất nhiều thông tin, khả năng đan dệt đời sống của sách trong bức khảm văn hóa và thông tin đương đại, các tác giả vẫn níu giữ câu chuyện vào một sợi chỉ xuyên suốt, là tình yêu với các cuốn sách, sức sống và giá trị trường tồn của các cuốn sách. Có điều, tất cả không phải xuất phát từ một niềm tin duy ý chí, mà trong sự thức tỉnh về nỗi hoang mang hiện tại, mà như một lúc nào đó trong cuộc trò chuyện, cả Carrière và Eco đều thấu hiểu: “…ký ức của chúng ta ngắn ngủi vì quá khứ gần gây sức ép lên hiện tại và thúc đẩy nó, chèn ép nó về phía tương lai có hình dạng như một dấu hỏi to tướng. Hoặc như một dấu chấm than.” bởi “đây không phải là vấn đề ký ức tập thể sẽ bị mất …đúng hơn đây là vấn đề hiện tại dễ bị mất. Chúng ta không còn sống trong một hiện tại yên ả nữa, mà luôn cố gắng chuẩn bị cho tương lai.” Tương lai của sách nằm ở giữa sự do dự và sự chuẩn bị ngày một chóng vánh này. Theo các cách mà cuộc đối thoại giữa sách với người đọc sách và không đọc sách tạo nên.

---


1 Jean-Claude Carrière, Umberto Eco và Jean-Phillippe de Tonnac: Đừng mơ từ bỏ sách giấy, Hoàng Mai Anh dịch, Sao Bắc Media & NXB Thế giới, 2014. 

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Nền văn minh Việt cổ


GS.TSKH Hoàng Tuấn
Với mong muốn “góp phần nhỏ bé của mình để khôi phục lại một phần nền văn minh Việt cổ – công lao của tổ tiên xưa – hy vọng trường tồn trong lòng dân tộc Việt hiện đại”, GS.TSKH Hoàng Tuấn đã viết cuốn “Nền văn minh Việt cổ” (NXB Văn học – 2013), trong đó ông cho rằng cư dân vùng Đông Nam Á- trong đó có dân tộc Việt cổ ở lưu vực sông Hồng, sông Mã hiện nay - đã là chủ nhân vùng đất này từ rất lâu đời.
Họ đã sinh sống không những chỉ ở đồng bằng sông Hồng, sông Mã và ven biển Bắc Bộ hiện nay mà đã là chủ nhân của cả vùng đồng bằng các con sông lớn là Dương Tử và Hoàng Hà xưa. Thời gian xa xôi đó tuy chưa hình thành xã hội nhưng những bộ lạc Bách Việt đã di thực lên khắp các vùng đồi núi sát các triền sông lớn trên.

Dân tộc Việt cổ đó đã hình thành nền văn hóa “Việt Nho cổ”. Tiêu biểu nhất là tư tưởng “Triết học Dịch” dựa trên hai bảng số Âu Đồ và Lạc Thư cổ cùng nền “Lịch Toán Can Chi” phục vụ nông nghiệp.

Tia Sáng xin giới thiệu phần Nhập đề cuốn sách đó.

* Theo Đại Việt Sử Ký toàn thư của sử gia đời Trần là Lê Văn Hưu, sau này được Ngô Sĩ Liên đời Lê biên soạn lại thì, nước ta dựng nước từ thời họ Hồng Bàng, với vị vua đầu tiên là Kinh Dương Vương vào năm Nhâm Tuất, tức năm 2879 trước Công nguyên, tính đến năm 2013 này thì đã 4892 năm. Sau Kinh Dương Vương là 18 đời các vua Hùng nối tiếp, với tên nước là Văn Lang. Nước Văn Lang thời đó rộng lớn, phía bắc là miền đồng bằng phì nhiêu thuộc lưu vực sông Dương Tử giáp Hồ Động Đình, phía nam giáp Lâm Ấp (Chiêm Thành cũ), Tây giáp Ba Thục, Đông giáp biển Đông. Ngay tên Kinh Dương Vương cũng đã mang ý nghĩa rõ ràng về “vua của hai vùng đất rộng lớn là châu Kinh và châu Dương cổ - nay đã thuộc về Trung Quốc.”

Nhiều người còn nghi ngờ về thời kỳ lập nước xa xôi trên với lý do duy nhất là 18 đời vua Hùng không thể kéo dài đến hàng ngàn năm! (Mỗi đời vua trong các triều đại Đinh, Lê, Lý, Trần, Lê, Nguyễn sau này cũng chỉ từ 15 đến 30 năm). Thời các vua Hùng nếu mỗi đời kéo dài đến 50 năm thì 18 đời Hùng Vương cũng chỉ là 900 năm. Như vậy thời Hùng Vương kéo dài đến hàng ngàn năm là hoang đường! Tuy nhiên, nếu xét thời gian chỉ ngắn ngủi như trên thì không phù hợp với nhiều hiện tượng bành trướng xâm lược của Đế quốc Hán Mông xưa. Vì vậy 18 đời vua Hùng chỉ là 18 chi họ Hùng Vương, mỗi chi gồm nhiều vị nối tiếp nhau cai trị đất nước đều gọi là đời Hùng Vương thứ nhất hoặc thứ hai… Nếu chi họ đó không có con trai hay người tài nối vị thì dòng họ gần kề sẽ lên nối ngôi và được gọi là đời Hùng Vương thứ ba hay thứ tư v.v… Điều này phù hợp với thời đại Thái cổ của Tổ tiên xưa: người dứng đầu các bộ lạc thời “săn bắn và thuần hóa súc vật” đều được gọi là Phục Hy; người đứng đầu các bộ lạc thời “nông nghiệp đầu tiên” đều được gọi là Thần Nông. Vì vậy thời Phục Hy và Thần Nông, mỗi thời kỳ đều có nhiều vị đứng đầu cùng tên nối tiếp nhau. Tiếp đến thời Hùng Vương cũng thế: thời Hùng Vương thứ nhất hay thứ hai, thứ ba… cho đến thứ 18, mỗi đời đều gồm nhiều vị vua Hùng. Thời gian như thế mới phù hợp với nhiều hiện tượng lịch sử mà các sử gia Trung Quốc sau này đã ghi.

Nước Văn Lang được thành lập dưới thời Kinh Dương Vương chắc chắn là vào thời kỳ nền nông nghiệp đã phát triển khá mạnh vì thời đó đã có nền lịch toán vững chắc để phục vụ nghề nông.

* Cổ sử Trung Quốc cũng đã viết: “Vào thời vua Nghiêu (năm 2357 trước CN – tức sau khi nước Văn Lang được thành lập 522 năm), có sứ giả Việt Thường  đến kinh đô tại Bình Dương (phía Bắc sông Hoàng Hà – tỉnh Sơn Tây ngày nay) để dâng một con Thần Quy (rùa lớn), vuông hơn ba thước, trên lưng có khắc chữ Khoa Đẩu ghi việc từ khi trời đất mới mở trở về sau…

Vua Nghiêu sai người chép lại và lưu vào “tàng thư” gọi là “Lịch Rùa”. Sách “Thông Chí” của Trịnh Tiều xưa cũng đã ghi rõ về việc Thị tộc Việt Thường tặng Lịch Rùa cho vua Nghiêu .

Nếu tính từ năm thành lập nước Văn Lang đến nay thì lịch rùa chắc chắn cũng đã có từ gần 5000 năm trước.

Tại sao vào thời xa xưa đó mà người Việt Thường lại có thể giải thích được “việc trời đất từ khi mới mở đến sau này”? Rõ ràng họ đã có một nền văn minh “lịch toán” rất phát triển. Vì sao? Vì đó là yêu cầu của nền nông nghiệp đã được hình thành từ lâu đời (nghề canh tác lúa nước). Để dự báo thời tiết cho nông nghiệp bắt buộc họ phải phát triển lịch toán.

Và cơ sở của “Lịch Toán” này chắc chắn đã được khắc trên mai rùa đem sang tặng vua Nghiêu để cầu bang giao. Vì thế mà cổ sử Trung Quốc mới ghi lại là “…trên lưng rùa khắc chữ Khoa Đẩu ghi việc trời đất từ khi mới mở trở về sau này”. Như vậy là người Việt Thường  đã nghiên cứu Vũ Trụ rất sớm, đã đi sâu tìm hiểu Vũ Trụ từ khi mới sinh thành và đã đem những hiểu biết đó để làm lịch phục vụ nông nghiệp.

Lịch đã được khắc trên mai rùa mang sang cống vua Nghiêu chỉ có thể là hai bảng Âu Đồ và Lạc Thư – cơ sở của Lịch toán xưa – mà sau này người TQ đã đổi tên gọi là Hà Đồ và Lạc Thư cho hợp với sự giải thích hoang đường và thần bí của họ.

Trải qua hàng ngàn năm bị dân tộc Hoa – một dân tộc du mục thiện chiến phương Bắc – tràn xuống xâm chiếm lãnh thổ, tiếp theo là hàng ngàn năm bị đô hộ và “đồng hóa” nền văn hóa cổ của cả một dân tộc bị ra sức xóa bỏ cùng với chữ viết “Khoa Đẩu”. Tuy nhiên cốt lõi của nền văn minh nông nghiệp phát triển rất sớm của dân tộc này cùng những thuần phong mỹ tục  đi theo thì   không thể xóa bỏ, nhưng đã bị “đồng hóa” vào nền văn hóa của kẻ chiến thắng, thành nền văn hóa Hán tộc, nhất là từ sau khi chữ Hán Nho được phổ biến. Rất nhiều tinh hoa của nền văn hóa này có nguồn gốc từ nền “văn minh Khoa Đẩu” và tiếp là nền văn hóa “Việt Nho cổ”. Tiêu biểu nhất là tư tưởng “Triết học Dịch” dựa trên hai bảng số Âu Đồ và Lạc Thư cổ cùng nền “Lịch Toán Can Chi” phục vụ nông nghiệp. Kẻ chiến thắng thống trị đã biến chúng thành sản phẩm văn hóa của chính mình. Là con cháu nòi giống Việt Thường xưa, sau gần 5000 năm lịch sử –  tác giả tuy sự hiểu biết có hạn – cũng xin góp phần nhỏ bé của mình để khôi phục lại một phần nền văn minh Việt cổ – công lao của tổ tiên xưa – hy vọng trường tồn trong lòng dân tộc Việt hiện đại. Đây không phải là sự phủ nhận nền văn hóa vĩ đại của nước Trung Hoa suốt quá trình lịch sử lâu dài, mà chỉ là để góp phần chứng minh sự đóng góp quan trọng của nền văn minh Việt cổ trong nền văn hóa rộng lớn của các nước Á Đông mà Trung Quốc là đại diện hiện nay. Chắc chắn còn nhiều thiếu sót, tác giả mong bạn đọc bổ cứu để làm sáng tỏ thêm nền văn minh Việt cổ của tổ tiên xưa đã bị thất truyền.



Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thứ Năm, 3 tháng 4, 2014

Những câu chuyện về sự lầm lạc của loài người


Có một định nghĩa ở đâu đó, con người là một loài động vật có hệ thần kinh, có bộ não phát triển nhất. Vì thế con người rất thông minh so với những loài vật khác. Nhưng trong sự thông minh đó, con người có biệt tài rất lạ - Tự lấy dây trói mình.

Câu chuyện thứ nhất

Bạn hãy thử xem.
Hãy lấy một cái lồng được sơn son thếp vàng thật đẹp đem ra đặt ở ngoài vườn - nơi có nhiều loài chim xinh đẹp.
Bạn hãy đợi xem có chú chim nào vào và chờ bạn đóng cửa lồng lại không?
Loài chim không làm thế nhưng loài người thường làm thế.
Bạn thấy có lạ không?
Có lẽ ai trong chúng ta đều phải trải qua thời thơ bé. Khi đó, những người cha, người mẹ sợ ta đi ra khỏi nhà nguy hiểm nên họ làm những cửa, những rào để ngăn ta lại. Lớn lên một chút, họ thả ta ra từ từ. Ban đầu, ta chỉ đi ra ngoài, đến trường dưới sự chăn giữ của cha mẹ. Tiến thêm một bước, ta tự do hơn, rồi được đi xa hơn. Khi lớn, ta gần như là người tự do, làm việc trong xã hội. Lớn thêm một chút, ta cất một cái nhà và tự nhốt vào trong. Thấy vẫn chưa an tâm, ta xây thêm tường cao cửa rộng tự nhốt, tự thu hẹp với thế giới bên ngoài. Và khi đó, ta cho rằng: “Ta giàu có”. Nhưng rồi tình bạn bè, hàng xóm láng giềng cũng mất đi cùng với sự xa hoa, ích kỷ lớn lên.
Những đứa bé lại ra đời, những sợi dây cứ buộc lại, mở ra và trói chặt lại.

Câu chuyện thứ hai
Một sự lầm lạc khác cũng không kém phần kỳ lạ

Những năm khó khăn, cả gia đình ông bà con cháu sống chung với nhau trong một mái nhà nền đất. Dẫu không dư ăn, dư để nhưng cũng đủ ăn, đủ mặc.
Rồi năm tháng trôi qua, ta lớn lên, dấn thân vào xã hội kiếm được khá nhiều tiền. Ta trở thành một nô lệ thuần thành của đồng tiền.
Nhìn ngôi nhà ông bà như cái ổ chuột đã buông lời dèm pha, trách móc. Ta quyết tâm xây dựng một tòa nhà cao đẹp, có hàng rào, có cây cảnh xanh tốt. Lao tâm, khổ trí kiếm tiền.
Thậm chí bất chấp việc không đồng ý của ông bà, ta dẹp bỏ nhà cũ nền đất thay bằng tòa nhà có lối kiến trúc bên Tây. Ông bà buồn giận, bệnh tật rồi qua đời.
Mẹ ngày xưa 2, 3 ngày mới phải quét dọn nhà, giờ thì ngày 4, 5 lần lau dọn vẫn không vừa ý con. Ngày trước, nhà cũ nền đất, ba còn có thời gian hàn huyên uống trà cùng hàng xóm, giờ thì ngày 2, 3 bận chăm sóc tưới cây.
Đôi khi, ba mẹ ngồi trò chuyện cùng nhau “Giá như ngày trước, mình cũng ngăn không cho con  cất nhà mới thì giờ đâu có cực nhọc đến vậy. Bỏ mặc thì con cái nặng nhẹ, mướn người ở lau dọn, chăm sóc vườn tược thì tốn kém và phải trông chừng dòm trước ngó sau. Thời buổi này, đâu dễ tin ai?”.
Đúng là tự mua dây trói mình.

Câu chuyện thứ ba

            Ngày xưa, con người rất quý trọng việc học. Việc đọc sách là một thú vui bổ ích. Không ít người quý trọng, xem sách như là sinh mạng của mình. Việc đọc sách giúp họ nuôi dưỡng nội tâm, tâm hồn lành mạnh. Những quyển sách, những bộ truyện cổ chứa đựng những bài học, những phương pháp tu dưỡng đạo đức mang đầy tính nhân văn.
            Vì thế ông cha ta ngày xưa dẫu không có điều kiện học cao nhưng họ có đầy đủ đức tính quý báu của con người hữu ích. Họ sống theo Nhân - Nghĩa - Lễ - Trí - Tín. Họ có đời sống nội tâm rất sâu sắc. Họ sống rất chân thật, hài hòa, thương yêu, san sẻ giúp đỡ lẫn nhau nhiệt thành trong lúc khó khăn.
            Có một sự thật về con người thời nay - Phần lớn con người đã chuyển sang sống tham lam, ích kỷ, chỉ biết có bản thân và ngày càng tệ hại hơn,... Đời sống nội tâm thì nghèo nàn, cạn cợt,...
Lý do tại vì đâu?
Ngày nay thói quen đọc sách đã bị quên lãng. Loài người đã không còn chú trọng đến việc nuôi dưỡng tâm hồn.
Hàng ngày, người ta đọc những tờ báo lá cải, những quyển sách mì ăn liền,... Xem xong chẳng có gì đáng để giữ lại.
Một số khác thích xem những tờ báo phanh phui về đời tư của người khác, những xì - căng - đan để làm đề tài bình phẩm những lúc nhàn đàm.
Họ nghĩ rằng như thế là có hiểu biết. Thật nhạt nhẽo, vô bổ!
Một số khác xem giá vàng, đô la, tỉ giá cổ phiếu để rồi buồn lo sầu khổ.
            Phương tiện truyền thông phát triển. Thế là vợ chồng con cái quay quầng xem những bộ phim tình cảm uỷ mị để rồi nước mắt hoen mi. Họ cho rằng họ là người có những trái tim yêu thương biết đồng cảm với khổ đau của người khác trong những bộ phim dài tập.
Nhưng khi nhìn thấy những mảnh đời bất hạnh ở trước mắt, họ ngoảnh mặt quay đi và bảo nhau rằng “Coi chừng bị lừa gạt!”.
Thật là hết chỗ để khen chê!
            Người lớn đã thế, trẻ em nào đâu chịu kém. Chúng  chúi mũi vào những trò chơi bạo lực rồi tiêm nhiễm, rồi làm một gian hùng, một tay anh chị bắt nạt bạn bè, dối mẹ gạt cha, dễ dàng tiếp cận những bộ phim ngoài luồng. Vậy là sống thử.
Biết trách ai đây?
            Một lối sống có quá nhiều sai lầm. Tôi chỉ phác họa đôi nét, những sai lầm còn lại bạn thử tìm xem. Một lời khuyên gửi đến mọi người:
            Hãy quay về thói quen xem sách lành mạnh! Hãy nuôi dưỡng lại nội tâm, tâm hồn mình trước khi chúng mục nát, hư rỗng. Nếu điều đó xảy ra thì tình yêu thương trong bạn sẽ chết. Gia đình sẽ chỉ còn là những mảnh vá vụng về chứa đầy những khổ đau.
Câu chuyện thứ tư

Khi trái đất mới xuất hiện loài người. Người ta sống bằng việc săn bắt và hái lượm. Họ bắt được con nai, con hươu, hái được trái cây, đào được củ rừng thì chia nhau ăn. Ban đầu, loài người tập hợp thành nhóm nhỏ, sống gần gũi nhau. Dần dần, họ tách nhau ra.
Nếu có người lạ xâm phạm khu vực cư trú thì họ cùng hò hét, đánh đuổi. Ít khi, họ phải khiến đồng loại thiệt mạng.
Dần dà, con người tinh khôn hơn làm được vũ khí để săn bắn thú rừng. Để bảo vệ nơi ở, họ có thể bắt giết những đồng loại vô tình đi lạc.
Cứ thế, vũ khí được chế tạo ngày một tốt hơn, độ sát thương nguy hiểm hơn. Những ranh giới được vạch ra rõ ràng, sự phân biệt ngày càng lớn hơn - Tôi thuộc chủng người này, còn bọn giống người kia là bọn mọi rợ xấu xa. Vũ khí được trang bị để săn bắn thú rừng và bảo vệ lãnh thổ.
Không dừng lại đó, loài người bắt đầu biết vượt ranh giới xâm phạm những vùng lãnh thổ khác cướp bóc, bắt người khác làm nô lệ. Kẻ nào ngang ngạnh giết chết không tha.
Để khiến những tên còn lại khiếp sợ thuần phục, con người dùng những cách thức giết người kinh khiếp, dã man nhất.
Ôi! Thật khó phân biệt ai là mọi rợ, là những kẻ giết người xấu xa.
Cứ thế ... cứ thế ... vũ khí ngày trước chỉ có thể giết được vài người. Càng ngày càng hiện đại tối tân hơn hủy diệt cả một thành phố lớn, một khu dân cư đông đúc chỉ bằng một cái nhấn nút.
Còn nữa, con người bây giờ có nhiều thủ đoạn giết người hơn - Họ có thể dùng tiền, dùng ma túy, dùng sữa, dùng đồ ăn, thức uống giết người hàng loạt; Họ còn tự đào một cái hố sâu ngay dưới chân mình. Rồi vênh vênh tự đắc “Ta phát triển, ta văn minh, ta tiến bộ”.
Ôi! Người đời lầm lạc!
Con người thường có thói quen chỉ nhìn thấy lỗi người chứ ít khi nhận ra lỗi mình.
Bạn thì sao?
Bạn có bao giờ tự hỏi “Mình có vướng những lầm lạc trên không?”.
Cũng như khi người ta đang sống ít khi họ nghĩ rằng “Rồi họ cũng phải chết, khi chết họ sẽ đi về đâu?”.
Họ vẽ ra những kế hoạch lâu dài mà không nhận ra mạng sống chỉ nằm trong hơi thở. Đến khi hơi thở dứt, họ không nghĩ mình đã chết, không kịp nhắm cả mắt lại.

Đã có rất nhiều người già chết mà vẫn không chịu buông bỏ, còn lo cho con cháu nên nỗi cứ quanh quẩn, xót xa, tiếc nuối. Chẳng được ích lợi gì mà còn hại mình sống kiếp đói rách, lang thang.
V.Ưu
Phần nhận xét hiển thị trên trang