Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Hai, 24 tháng 2, 2014

Sao cứ mãi đổ lỗi cho ‘Cơ chế thị trường’?!

Nguyễn Tất Thịnh

Sao cứ mãi đổ lỗi cho ‘Cơ chế thị trường’?!
Những quan chức trong bộ máy Nhà nước mà phát ngôn và hành động của họ là hai phương diện quan trọng với xã hội, qua đó cũng đánh giá được họ là người như thế nào… Tôi gần như ngày nào cũng xem các chương trình TV, theo dõi các hội nghị, diễn đàn, trao đổi trong nước và quốc tế…Tôi chưa thấy có vị chính khách Quốc tế nào đổ lỗi sự quản trị yếu kém, vấn nạn xã hội cho cơ chế thị trường cả, mà thương thấy họ cam kết đổi mới hoặc từ chức…
Ý chí cao nhất của giới lãnh đạo Nhà nước Việt nam, Thể chế của Đất nước đã hơn 20 năm chấp nhận cơ chế kinh tế thị trường. Hệ thống các Doanh nghiệp dân doanh đã hoạt động ngày càng sâu rộng trong cơ chế đó. Chính phủ VN cũng có nhiều nỗ lực thúc đẩy Đất nước tham gia vào khuôn khổ kinh tế thị trường ở quy mô đa quốc gia, tới đây là TPP…
Thế nhưng bao lâu nay người dân vẫn luôn phải nghe thấy các quan chức hàng đầu hễ nói về những tiêu cực xã hội, tham nhũng của bộ máy, hay yếu kém của văn hóa…thì câu đầu lưỡi của họ là đổ lỗi đó là do ‘cơ chế thị trường’ !!! Cứ như là Cơ chế thị trường là cái hũ thần kỳ được họ dùng một tay này thò vào trong để vét những đồng tiền thặng dư do nó tạo ra, còn tay kia thì để ném vào nó muôn điều hư hỏng và thối nát của xã hội. Cách đổ lỗi như thế phản ánh hai điều : họ không thực hiểu về cơ chế thị trường, hoặc là sự yếu kém toàn diện về phương thức quản lý kinh tế xã hội mà thôi. Dù lý do nào thì cũng đều phát xuất từ những nhân cách kém, trình độ kém, tư duy kém….Thực ra là sự trí trá đánh tráo phương thức và kết quả !
Hãy nhìn xem các nước Bắc Âu, các nước G7 và bao nhiêu nước xung quanh chúng ta, mà nền kinh tế hoạt động theo Cơ chế thị trường đầy đủ thì đang như thế nào, cách của các quan chức khi đối mặt với những vấn đề, giải quyết những vấn nạn có đổ lỗi cho Cơ chế thị trường không ? Hay là họ phải tìm cách thay đổi Nhân sự chủ chốt với phương pháp quản trị xã hội ngày càng minh bạch và cam kết tiến bộ !
Nền kinh tế phi thị trường tuy có những tác dụng to lớn trong thời chiến, có thể huy động được nguồn lực Đất nước và sức dân vô biên cho những ‘công trình thế kỷ’, hoặc tạo nên những thành tích phi thường ( chẳng hạn như thời Tần Thủy Hoàng có thể xây dựng được Vạn Lý Trường Thành, thời Liên xô có thể có thể thực hiện những chương trình Vũ trụ vĩ đại…)…nhưng rõ ràng Nhân loại đã khước từ và đi qua những mô hình kinh tế và quản trị xã hội tương ứng kiểu xưa cũ, để xây dựng và hướng tới nền kinh tế hoạt động theo Cơ chế thị trường đầy đủ và hiệu quả hơn…
Cơ chế thị trường bản thân nó không phải là một hình thái tổ chức xã hội, tuyệt đối không phải là thể chế Nhà nước, mà chỉ là một phương thức kinh tế. Nhưng Cơ chế thị trường với tư cách đó đã thúc đẩy sản xuất kinh doanh và giao thương toàn cầu. Cơ chế thị trường đòi hỏi quản trị ngày càng phải văn minh hơn hiệu quả hơn và xã hội hóa hơn. Cơ chế thị trường thực sự tạo nên những ‘sân chơi kinh tế’ những không gian hợp tác ngày càng năng động về phổ biến, tương tác và sử dụng những giá trị toàn cầu….Không cần phải nói nhiều về những điều hiển nhiên của Cơ chế thị trường mà hầu hết các quốc gia thực mong muốn mở cửa và phát triển tiến bộ đang lựa chọn và áp dụng
Những người dân trưởng thành, đã đi qua thời gian khó của những thập niên trước 90 của Thế kỷ trước ( khi nền kinh tế của VN theo mô hình XHCH : kế hoạch hóa tập trung quan liêu bao cấp ) đều thấu hiểu nếu Viêt Nam không áp dụng Cơ chế thị trường thì nền kinh tế VN sẽ sụp đổ, xã hội sẽ xập xệ, mọi điều suy thoái khủng khiếp như thế nào. Sau đó phải xóa bỏ, dần chuyển sang Cơ chế thị trường mà chính Đảng CSVN luôn nhận về mình: sáng suốt đổi mới…ấy thế mà các quan chức hàng đầu đồng thời là đảng viên cốp cán khi đương chức thường đầu môi chót lưỡi đổ lỗi cho Cơ chế thị trường khi hệ thống quản lý Nhà nước của họ thiết lập, vận hành, lãnh đạo mắc sai phạm…
Một khẩu súng, có thể dùng nó để bắn chết người hiền dân, thì không ai tăm tối, vô tri mà đi kết tội khẩu súng là công cụ cả, mà phải xử tử kẻ sử dụng nó ! Một liều thuốc đặc hiệu khiến người sử dụng bị bệnh nặng thêm thì người ta không tố cáo nó mà phải truy nguyên về bác sĩ khám bệnh kê đơn hoặc kẻ đã sản xuất thuốc ! Ngày Pháp thuộc đã có chuyện bi hài tên Lý trưởng lưu manh thấy người nông dân mang dụng cụ nấu rượu bèn dọa bỏ tù nhằm phạt tiền anh ta nấu rượu lậu…Á à…Cơ chế thị trường khiến thằng dân mang đồ nấu rượu lậu phải không… khiến Lý trưởng đòi hối lộ ! Kẻ nào nếu quy việc như thế thì thật lố bịch, chí ít là bị thiểu năng !!!! Không thể kết tội công cụ hay phương thức…mà phải truy cứu người sử dụng nó với phương pháp gì và mục tiêu ra sao… Toàn diện và sâu sắc hơn là phải cầu thị, triệt để, tầm cỡ để có thể sửa chữa cả hệ thống bộ máy tổ chức quản lý gây ra sai lỗi, đặc biệt phải gắn trách nhiệm xã hội và pháp lý cụ thể vào những người đứng đầu !

Trong Cơ chế thị trường thứ rất cơ bản là Tiền – chính là thước đo cho mọi quá trình kinh tế có tiết kiệm và hiệu quả không, là chỉ dấu của thị trường để các doanh nghiệp biết điều chỉnh nên sản xuất kinh doanh cái gì, như thế nào, bao nhiêu…là dung môi tương tác trao đổi về các giá trị ….Thế nhưng chính Tiền là thứ gây men, kích thích ghê gớm nhất cho lòng Tham vô đáy của con người….nhưng đặc biệt nhạy cảm và mạnh nhất với giới chức có Quyền Lực – chính họ là thế lực có thể thao túng nó thu gom nó biến hóa nó, chứ không phải là những người dân có tí Tiền lẻ đâu và họ chẳng có bao nhiêu cơ hội để kiếm được nhiều nó, họ làm gì có thể bắt nó nhảy múa, đâu đủ quyền thuật mà biến hóa nó như Ma Quỷ…Thời kỳ kinh tế kế hoạch hóa , tuy có Tiền tệ nhưng không phải là Cơ chế thị trường lại bó hẹp trong bao cấp hàng hóa ít ỏi kém cỏi của một quốc gia…nên tham nhũng cũng chưa nhiều như bây giờ mà thôi ( chả vì thế mà con người thời đó là Thánh nhân gì đâu, khi ấy đã có vô vàn thói đặc quyền đặc lợi rồi… ). Nhưng nếu thích thú với cái thời đó để khỏi tham nhũng thì học theo cách của Polnpot ở Campuchia : thủ tiêu Tiền tệ ? Không người bình thường nào dám nghĩ nên như thế ! Ngay cả theo mô hình kinh tế kiểu Polpot như vậy thì giới nào vẫn được hưởng lợi phè phỡn trên mồ hôi và máu của nhân dân lao động ? Sự sụp đổ của bè lũ Polpot khi đó có phải do Cơ chế thị trường đâu !!! Hay là Bắc Triều Tiên do nên kinh tế phi thị trường mà không có tham những và xã hội vô cùng tốt đẹp ? Hỡi những vị quan chức cấp cao hãy nên thành thật với nhân dân rằng : chính vì họ với cái lối ‘vừa mở vừa đóng’ cố tình trì hoãn thực thi Cơ chế thị trường đầy đủ, áp dụng Cơ chế thị trường một cách méo mó trong cái gọi là ‘quản lý Nhà nước’ mà thực chất là sinh ra các ‘lợi ích nhóm’ sống ký sinh vào đặc quyền đặc lợi nhờ các chính sách ‘phi thi trường’ do các cơ quan quản lý Nhà nước ban hành ! Chính điều đó mới tạo ra muôn tiêu cực trong xã hội, chứ không phải là Cơ chế thị trường có tội !

Tiền là công cụ chính của Cơ chế thị trường, sự dồi dào hay khan hiếm, những phản ứng và tính chất lưu chảy của nó như thế nào chính là phương thức chủ đạo trong Cơ chế thị trường do hệ thống quản lý kinh tế xã hội điểu tiết… gọi tên đích danh chính là Bộ máy Quản Lý Nhà nước… chứ Tiền không có tội… Trong mọi hoàn cảnh dù chưa có Cơ chế thị trường hay đã có như bây giờ, giới chức trong hệ thống Nhà nước phải chịu trách nhiệm với tất cả những hệ quả xấu tốt của phương thức quản lý áp đặt lên đời sống Nhân dân. Không được đổi lỗi ! Khuynh hướng đổ lỗi của trẻ con đã bị cha mẹ mắng, bị thày cô chấn chỉnh…đối với người lớn, lại có cương vị lãnh đạo quan trọng mà lại có thói quen đổi lỗi thì táng tận lương tri, và thương xót cho Nhân dân quá !


Phần nhận xét hiển thị trên trang

THẢO LUẬN: CHÚNG TA UYÊN BÁC HAY NGỤY BIỆN?


Thói ngụy biện ở người Việt Tranh luận trên các diễn đàn công cộng là một hình thức trao đổi ý kiến không thể thiếu được trong một xã hội văn minh. Ở nhiều nước, lưu lượng của những tranh luận cởi mở và nghiêm túc được xem là một dấu hiệu của một xã hội lành mạnh.
Ở các nước phương Tây, hầu như ngày nào báo chí cũng có những bài của những cây bỉnh bút tranh luận về một vấn đề nóng nào đó. Trên tivi cũng có những cuộc tranh luận trực tiếp giữa hai hay nhiều người về những chủ đề từ “đại sự” đến những vấn đề tưởng như nhỏ nhất. Trong các hội nghị khoa học, trước một vấn đề còn trong vòng nghi vấn, người ta cũng có những chuyên gia tranh luận dưới dạng những bài giảng khoa học. Nhưng thế nào là tranh luận nghiêm túc?
Nói một cách ngắn gọn, cũng như trong một cuộc đấu võ, một tranh luận nghiêm túc là một cuộc tranh luận có qui tắc, mà trong đó người tham gia không được, hay cần phải tránh phạm luật chơi. Những qui tắc chung và căn bản là người tham gia chỉ phát biểu bằng cách vận dụng những lí lẽ logic, với thái độ thành thật và cởi mở, chứ không phát biểu theo cảm tính, lười biếng, hay biểu hiện một sự thiển cận, đầu óc hẹp hòi.
Để đạt những yêu cầu này, người tranh luận nghiêm túc trước khi phát biểu hay đề xuất ý kiến, đưa ra lời bình phẩm của mình, cần phải xem xét tất cả các trường hợp khả dĩ, phải cân nhắc những quan điểm và những cách giải thích khác nhau, phải đánh giá ảnh hưởng của sự chủ quan và cảm tính, phải tập trung vào việc tìm sự thật hơn là muốn mình đúng, phải sẵn sàng chấp nhận những quan điểm không được nhiều người ưa chuộng, và phải ý thức được định kiến và chủ quan của chính mình.
Khi tranh luận phải nhất quán là chỉ xoay quanh chủ đề bàn luận, luận điểm bàn luận chứ không đi lạc đề. Không công kích vào cá nhân và nhân thân của người tham gia tranh luận. Đó là những đòi hỏi khó khăn cho một cuộc tranh luận nghiêm túc có ý nghĩa, và không phải ai cũng có khả năng đạt được những yêu cầu này, nhất là đối với người Việt vốn chưa quen với văn hóa tranh luận. Do đó, không mấy ai ngạc nhiên khi thấy có quá nhiều trường hợp chất lượng của những cuộc tranh luận giữa người Việt rất thấp.
Chỉ cần xem qua những cái-gọi-là “tranh luận” trên các diễn đàn báo chí (và nhất là các “chat room” hay blog), người ta có thể thấy đó không phải là tranh luận, mà là những cuộc đụng độ giũa các cá nhân tham gia tranh luận, những cuộc chửi bới, chẳng có lí luận của người tranh luận.
Ngoài ra, đối với một số người tham gia bình luận về một câu chuyện nào đó là một cuộc dàn xếp, một sự đóng kịch, nhằm tung hỏa mù hoặc lên lớp, hoặc a dua theo đám đông. Đó là những kịch bản ngớ ngẩn đến tội nghiệp. Ngớ ngẩn là vì người xuất hiện chẳng nói được gì cho đầy đủ, mà cũng chẳng phân tích một vấn đề gì cho đến nơi đến chốn. Thật vậy, rất nhiều trường hợp, những cuộc tranh luận giữa người Việt chỉ là những cuộc chửi lộn, mà trong đó người ta tha hồ vung vít, ném liệng vốn liếng chữ nghĩa qua lại một cách hỗn độn mà chẳng cần để ý đến logic hay các nguyên tắc của tranh luận là gì. Hơn nữa, rất dễ dàng nhận thấy rằng trong các cuộc tranh luận đó người ta nhắm vào mục tiêu là nhân thân, cá nhân của người tranh luận chứ không nhắm vào quan điểm và lí lẽ của người đó. Thay vì tranh luận thẳng vào vấn đề, người ta tìm cách gắn cho đối phương một nhãn hiệu, và từ đó làm lu mờ đi quan điểm của họ.
Trong hầu như những tranh luận, nhiều người cố tìm hay tạo cho mình một vị trí đạo cao đức trọng cả bằng cách gắn cho đối phương những danh từ và tính từ mang tính miệt thị, một thủ đoạn có khả năng làm cho một cuộc tranh luận trở nên một cuộc ẩu đã ngôn từ đinh tai nhức óc thay vì là một trao đổi khoa học. Thực ra, đó là một hình thức ngụy biện, một lỗi lầm cơ bản nhưng nghiêm trọng trong tranh luận. Nói một cách đơn giản, ngụy biện là những nhầm lẫn trong lí luận và suy luận. Ngụy biện khác với logic. Logic, nói một cách ngắn gọn trong trường hợp này, là những qui ước quản lí tính nhất quán trong việc sử dụng ngôn ngữ.
Giới triết học Tây phương đã bỏ khá nhiều công sức để phân biệt thế nào là logic và thế nào là ngụy biện. Aristotle có lẽ là một nhà logic học đầu tiên có công phát triển các qui tắc và hệ thống suy luận. Trong quá trình làm việc, ông phát hiện ra nhiều lỗi lầm mà sau này người ta quen gọi là những “ngụy biện.”
Mặc dù Aristotle là một nhà nhà logic học đầu tiên có công liệt kê và phân loại những loại ngụy biện, thầy của ông (Plato) mới xứng đáng được vinh danh như là một nhà triết học đầu tiên đã có công sưu tầm những ví dụ về ngụy biện. Kể từ khi Plato và Aristotle, đã có khá nhiều nhà triết học và logic học như John Locke, John Stuart Mill, Jeremy Bentham, và Arthur Schopenhauer cũng có nhiều cống hiến quan trọng trong việc nghiên cứu về ngụy biện.
Điều đáng chú ý là những lỗi lầm về ngụy biện ở người Việt lại hay thấy trong giới có học. Chỉ cần điểm qua báo chí, websites, blog, v.v… chúng ta dễ dàng thấy rất nhiều cái-gọi-là “tranh luận” thật ra chỉ là ngụy biện. Tuy nhiên, nhiều người vẫn chưa biết đó là những ngụy biện, mà thậm chí còn hết lời khen ngợi kẻ ngụy biện là … uyên bác! Điều này cho thấy trong những người Việt học cũng có người rất lười biếng suy nghĩ và chẳng phân biệt được thật và giả, không có khả năng nhận dạng được ngụy biện. Phải ghi nhận một điều là internet đã rất tuyệt vời, vì qua những “tranh luận” và chửi bới của những kẻ tham gia trên internet, chúng ta biết được bộ mặt xấu xí đằng sau những người mang nhãn mác “trí thức” hay “có học”. Những kẻ này tương đối nguy hiểm, vì với cái nhãn mác “có học” đó, họ có cơ hội làm lũng đoạn xã hội và trở thành những con vi khuẩn làm nhiễm trùng nền học thuật nước nhà. Do đó, cần phải giúp họ nhận ra đâu là ngụy biện và đâu là logic.
Thực ra, nhận dạng ngụy biện không phải là một việc làm khó khăn. Nói chung chỉ với một lương năng bình dân, người ta có thể phân biệt một phát biểu mang tính ngụy biện với một phát biểu logic. Tuy nhiên, cũng có nhiều dạng thức ngụy biện mà vẻ bề ngoài hay mới nghe qua thì rất logic, nhưng thực chất là phi logic. Những loại ngụy biện núp dưới hình thức “khoa học” này không dễ nhận dạng nếu người đối thoại thiếu kiến thức về logic học hay thờ ơ với lý lẽ. Do đó, một điều quan trọng trong tranh luận là cần phải phát hiện và nhận dạng những hình thức ngụy biện, và quan trọng hơn, cần phải hiểu tại sao chúng sai. Có thể phân loại ngụy biện thành nhiều nhóm khác nhau liên quan đến việc đánh lạc vấn đề, lợi dụng cảm tính, thay đổi chủ đề, nhầm lẫn trong thuật qui nạp, lý luận nhập nhằng, phi logic, và sai phạm trù.
Trong khuôn khổ giới hạn, người viết bài này không có tham vọng trình bày tất cả những loại ngụy biện một cách chi tiết (vì việc này đã được hệ thống hóa trong nhiều sách về logic học), mà chỉ muốn liệt kê ra những loại ngụy biện thường hay gặp trong báo chí và truyền thông, hầu giúp bạn đọc có thể phân biệt giữa chân và giả. Liệt kê sau đây là một loạt những ngụy biện phổ biến hay thấy ở người Việt. Những ngụy biện này có thể phân thành 7 nhóm như sau:
• Đánh tráo chủ đề.
• Lợi dụng cảm tính và đám đông.
• Làm lạc hướng vấn đề.
• Qui nạp sai.
• Nhập nhằng đánh lận con đen.
• Phi logic.
• Các nhầm lẫn khác.

NHÓM 1: ĐÁNH TRÁO CHỦ ĐỀ
1. Công kích cá nhân (ad hominem):  Đây là một loại ngụy biện phổ biến nhất, thấp kém nhất, nguy hiểm nhất, nhưng có “công hiệu” nhất, vì nó tấn công vào cá nhân của người tranh luận, và tìm cách trốn tránh luận điểm của cá nhân đó. Hình thức ngụy biện này thường xuất hiện dưới dạng: Ông A phát biểu về một vấn đề; ông B tấn công vào cá nhân ông A, và làm cho người ta nghi ngờ luận điểm của ông A. Tuy nhiên, có thể không có mối liên hệ nào giữa cá nhân và luận điểm của ông A.
Có hai hình thức thuộc loại ngụy biện này. Thứ nhất là dưới hình thức sỉ nhục, hay chửi rủa. Khi bất đồng ý kiến, người ngụy biện chỉ việc công kích vào cá nhân của người phát biểu. Chẳng hạn như “Ông nói là những người vô thần có đạo đức, vậy mà chính ông là người từng li dị với vợ con,” hay “Ông là người làm kinh tế, không biết gì về khoa học, mà nói chuyện khoa học”. Đây là một ngụy biện, bởi vì sự thật của phát biểu không tùy thuộc vào cá nhân của người phát biểu, mà là logic của lời phát biểu. Cũng nằm trong loại ngụy biện này là thói dùng một đặc điểm của một vật thể nào đó để ứng dụng cho một cá nhân hay một vật thể khác. Ví dụ: “Anh học của Tây có vài chữ mà đã quay lại chửi bới đồng nghiệp à? Anh là con ông cháu cha, anh không hiểu gì về sự nghèo khổ của chúng tôi.”
2. Lợi dụng quyền lực (ad verecundiam):  Đây là loại ngụy biện dùng những nhân vật nổi tiếng hay được nhiều người ái mộ để tìm sự ủng hộ cho luận điểm của mình. Chẳng hạn như “Isaac Newton là một thiên tài, và ông tin vào Thượng đế,” làm như ông Newton là người có thẩm quyền để chúng ta tin vào Thượng đế. Thẩm quyền không thuyết phục được ai; chỉ có sự thật, lí lẽ và logic mới quan trọng và có khả năng thuyết phục.
3. Lợi dụng nặc danh: Trong trường hợp này, người ngụy biện không nêu danh tính người có thẩm quyền, và vì không ai biết tên người có thẩm quyền nên không ai có thể kiểm chứng sự chính xác của lời phát biểu. Một loại ngụy biện khác có quan hệ với loại này là dùng lời đồn đại để làm cơ sở lập luận. Giới công an hay sử dụng ngụy biện này, ví dụ như “Một viên chức tình báo cho biết chính anh từng hoạt động cho địch.”
4. Lợi dụng tác phong: Loại ngụy biện này dùng tác phong hay cách làm việc hay một đặc tính nào đó của đối tượng để cố thuyết phục về tính hợp lí của phát biểu. Tiêu biểu cho loại ngụy biện này là những phát biểu như “Nixon thất cử vì ông ta thường hay ra mồ hôi trên trán,” hay “Tại sao anh không nghe theo lời khuyên của anh chàng ăn mặc bảnh bao đó?” Thực ra, “bảnh bao” và “mồ hôi trên trán” chẳng có dính dáng gì đến vấn đề đang bàn thảo.
5. Luận điệu cá trích: Loại ngụy biện này thường hay được ứng dụng khi một người nào đó đưa vào những phát biểu không dính dáng gì đến vấn đề đang tranh luận, nhằm mục đích đánh lạc hướng vấn đề. Ví dụ: “Anh có thể nói rằng tử hình là một hình thức không có hiệu quả trong việc chống lại tội phạm, nhưng còn nạn nhân của tội phạm thì sao? Gia đình của nạn nhân sẽ nghĩ gì khi họ thấy tên sát nhân người thân của họ bị giam giữ trong nhà tù bằng đồng tiền của chính họ. Họ có nên nuôi dưỡng những tên sát nhân như thế không?
6. Luận điệu ngược ngạo: Bằng chứng luôn luôn là gánh nặng của người phát biểu. Do đó, tìm cách chuyển gánh nặng đó cho một người khác là một thủ đoạn của những người ngụy biện. Chẳng hạn như trong câu này “Anh nói rằng ăn nhiều mỡ không liên quan đến cholesterol, nhưng anh có thể chứng minh điều đó không?” Đáng lẽ người phát biểu phải chứng minh, nhưng công việc đó lại được chuyển cho người đối thoại!

NHÓM 2: LỢI DỤNG CẢM TÍNH VÀ ĐÁM ĐÔNG:
7. Dựa vào bạo lực (ad baculum): Ngụy biện dựa vào bạo lực thực chất là một sự đe dọa, nhằm mục đích gây áp lực cho người đối thoại phải chấp nhận một kết luận nào đó. Loại ngụy biện này thường được giới chính khách dùng, và có thể tóm gọn bằng một câu “chân lí thuộc về kẻ mạnh”. Sự đe dọa không hẳn chỉ xuất phát từ người phát biểu, mà có thể từ một người khác. Ví dụ như “Những ai không tin vào chính sách của Nhà nước sẽ phải trả giá đắt”, hay “Được rồi, tôi đã biết số điện thoại của anh và biết anh đang ở đâu. À, tôi có nói cho anh biết là tôi mới mua một cây súng ngắn chưa nhỉ?
8. Lợi dụng lòng thương hại (ad misericordiam): Đây là một loại ngụy biện dựa vào lòng trắc ẩn của người đối thoại để người đối thoại chấp nhận lí lẽ của mình. Ví dụ như “Anh ấy không có giết người bằng búa. Làm ơn đừng tuyên án anh ấy có tội, anh ấy đang trải qua một giai đoạn khủng hoảng tinh thần,” hay “Tôi hi vọng anh sẽ chấp nhận đề nghị này, chúng ta đã tiêu ra ba tháng nay để bàn rồi đấy.”
9. Lợi dụng hậu quả (ad consequentiam): Ngụy biện loại này thường được biểu hiện qua cách phát biểu “A hàm ý B, B là sự thật, do đó A là sự thật”. Ví dụ: “Nếu vũ trụ được một đấng chí tôn thượng đế tạo nên, chúng ta có thể thấy những hiện tượng được tổ chức một cách thứ tự. Và hiện tượng chung quanh chúng ta quả rất thứ tự, vậy đấng chí tôn thượng đế chính là người tạo nên vũ trụ,” hay “Anh phải tin vào Đảng Cộng hòa, chứ nếu không cuộc đời này sẽ chẳng có ý nghĩa” (hay là nói một cách ngược lại: cuộc sống này chẳng có ý nghĩa gì nếu không có Đảng cộng hòa!)
10. Lạm dụng chữ nghĩa: Đây là một loại ngụy biện dựa vào dùng những chữ mang cảm tính cao để gắn một giá trị đạo đức vào một đề nghị hay một câu phát biểu. Chẳng hạn như trong câu “Bất cứ một người có lương tri nào cũng phải đồng ý rằng về Việt Nam ăn Tết là làm lợi cho cộng sản,” chữ “lương tri” được cài vào nhằm cho người đối thoại phải nghiêng theo những người có lương tri.
11. Dựa vào quần chúng (ad numerum): Loại ngụy biện này tin rằng nếu có nhiều người ủng hộ một đề nghị nào đó, thì đề nghị đó phải đúng. Ví dụ như “Đại đa số người dân trong cộng đồng ủng hộ ông Minh, vậy phát biểu của ông Minh ắt phải đúng.

NHÓM 3: LÀM LẠC HƯỚNG VẤN ĐỀ
12. Lí lẽ chẻ đôi: Loại ngụy biện này thường phân định một vấn đề thành hai giá trị: trắng và đen, bạn và thù, có và không, v.v.. dù trong thực tế, có hơn hai lựa chọn. Chẳng hạn như “Hoặc là anh hợp tác với tôi hoặc là anh chống tôi, anh chọn hướng nào, yes hay là no?
13. Lí lẽ ngờ nghệch (ad ignorantiam): Loại ngụy biện này, như tên gọi ám chỉ, xuất phát từ sự ngớ ngẩn. Một trong những cách nói thông thường nhất trong loại ngụy biện này mà giới ngụy biện hay dùng là nếu một điều gì đó chưa được chứng minh là sai (hay giả) thì điều đó là đúng (hay thật). Ví dụ: “Bởi vì các nhà khoa học chưa chứng minh dioxin có thể gây ra dị thai, do đó dioxin không thể gây ra dị thai,” hay kiểu lí luận của “Nền kinh tế phát triển và xã hội ổn định mấy năm nay, không có lý do gì phải cần đến dân chủ”.
14. Lí luận lươn trạch: Loại ngụy biện này cho rằng nếu một sự kiện xảy ra, các sự kiện có hại khác sẽ xảy ra. Chẳng hạn như “Nếu chúng ta hợp pháp hóa cần sa, công chúng sẽ bắt đầu hút cần sa, và chúng ta cũng sẽ phải hợp pháp hóa á phiện. Rồi chúng ta sẽ là một quốc gia với những người ăn bám vào xã hội. Do đó, chúng ta không thể hợp pháp hóa á phiện”. Hay một đoạn ví dụ khác: “Tiếc thay một cuộc cải cách về kinh tế, bình bị, tài chánh, xã hội, nông nghiệp như vậy, đang trên đường thành công rực rỡ: bị tan vỡ, bị huỷ bỏ chỉ vì tham vọng đánh Đại việt của Vương An Thạch. Mà đau đớn biết bao, khi người phá vỡ chỉ là một thiếu phụ Việt ở tuổi ba mươi. Giá như Thạch không chủ trương Nam xâm, chỉ cần mười năm nữa, toàn bộ xã hội Trung quốc thay đổi; rồi với cái đà đó, thì Trung quốc sẽ là nước hùng mạnh vô song, e rằng cứ muôn đời mặt trời vẫn nở phương Đông chứ không ngả về Tây như hồi thế kỉ 18 cho đến nay bao giờ.
15. Mệnh đề rời rạc: Đây là loại ngụy biện dùng hai (hay nhiều hơn hai) mệnh đề chẳng dính dáng gì với nhau để làm thành một phát biểu hay kết luận. Ví dụ: “Anh ủng hộ tự do dân chủ và quyền mang vũ khí hay không?” hay “Anh đã ngưng làm ăn trái phép chưa?” Câu hỏi sau thực ra hỏi hai vấn đề “Anh từng làm ăn trái phép?” và “Anh đã ngừng hoạt động hay chưa?
16. Đơn giản hóa:  Đây là một loại ngụy biện mà người phát biểu cố tình biến một quan niệm trừu tượng thành một điều cụ thể để bắt lấy thế thượng phong trong đối thoại (nhưng là ngụy biện). Ví dụ: “Tôi để ý thấy anh mô tả ông ta là một người quỉ quyệt. Vậy tôi hỏi anh cái ‘quỉ quyệt’ đó nó nằm ở đâu trong bộ não? Anh không chỉ ra được cho tôi; do đó, tôi có thể nói cái quỉ quyệt không có thực.


NHÓM 4: QUI NẠP SAI
17. Khái quát hóa vội vã: Loại ngụy biện này cũng khá phổ biến. Nó dùng một ví dụ hay trường hợp nhỏ và từ đó khái quát hóa cho một cộng đồng. Chẳng hạn như “Ông ấy là một tay đạo đức giả. Do đó, các bạn bè của ông ấy cũng giả dối.
18. Khái quát hóa không đúng chỗ: Đây là loại ngụy biện mà người sử dụng chúng thường áp dụng một qui luật chung cho một tình huống hay một cá nhân. Chẳng hạn như “Người cộng sản là vô thần. Anh là người theo chủ nghĩa cộng sản, vậy anh chắc chắn là một người vô thần.
19. Kéo dài tính tương đồng: Trong loại ngụy biện này, người dùng nó đề nghị một điều lệ chung chung, rồi áp dụng nó cho mọi trường hợp và cá nhân. Ví dụ: “Tôi tin rằng chống luật pháp bằng cách phạm luật pháp là một điều sai trái”, hay “Nhưng quan điểm đó ghê tởm lắm, vì nó ám chỉ rằng anh sẽ không ủng hộ tôi,” hay “Anh muốn nói rằng luật về mật mã cũng có tầm quan trọng tương đương với phong trào giải phóng sao? Sao anh dám nói thế?
20. Lí lẽ quanh co: Loại ngụy biện này thường luẩn quẩn trong vài giả định và kết luận. Chẳng hạn như “Những người đồng tính luyến ái nhất định không thể nắm chính quyền. Do đó, phải tống khứ những viên chức chính phủ đồng tính luyến ái. Vì thế, những người đồng tính luyến ái sẽ làm mọi cách để dấu diếm hành tung của họ, và họ có nguy cơ bị tống tiền. Do vậy, những người đồng tính luyến ái không được giữa chức vụ gì trong chính phủ.” Tức là trong một lí giải như thế, cả hai giả thuyết và kết luận đều giống nhau.
21. Đảo ngược điều kiện: Loại ngụy biện này thường được biểu hiện qua hình thức “Nếu A xảy ra thì B sẽ xảy ra, do đó, nếu B xảy ra thì A sẽ xảy ra.” Ví dụ: “Nếu tiêu chuẩn giáo dục bị hạ thấp, chất lượng tranh luận sẽ bị tồi đi. Do đó, nếu chúng ta thấy chất lượng tranh luận suy đồi trong những năm sắp đến, thì điều đó cho thấy tiêu chuẩn giáo dục của ta bị xuống cấp.
22. Lợi dụng rủi ro: Ngụy biện này thường dùng một qui luật chung và áp dụng nó cho một trường hợp cá biệt. Ví dụ: “Luật giao thông không cho anh chạy quá 50 km/h. Cho dù cha anh sắp chết anh cũng không được chạy quá tốc độ đó.
23. Lợi dụng trường hợp cá biệt: Ngụy biện này thường dùng một trường hợp cá biệt để đem ra ứng dụng cho một đám đông. Ví dụ: “Chúng ta cho phép bệnh nhân sắp chết dùng á phiện, chúng ta nên cho phép mọi người dùng á phiện.
24. Kết luận lạc đề: Loại ngụy biện này thường xuất hiện khi một kết luận chẳng dính dáng gì đến lí lẽ mà người biện luận trình bày. Một ví dụ tiêu biểu cho trường hợp ngụy biện này là: “Độ nhiễm arsenic trong nước ở Việt Nam chưa cao và còn trong mức độ cho phép. Dữ kiện của Bangladesh cho thấy tình trạng nhiễm arsenic ở Việt Nam rất trầm trọng.
25. Ngụy biện rơm: Loại ngụy biện này cố tình xuyên tạc, bóp méo quan điểm hay phát biểu của người khác, để làm luận điểm tấn công. Đây là một ngụy biện, vì nó không đương đầu với cái lí lẽ đang bàn. Chẳng hạn như: “Chúng ta nên ủng hộ chế độ cưỡng bách quân dịch. Người ta không thích tòng quân vì họ không muốn cuộc sống bị đảo lộn. Nhưng họ cần nhận thức rằng có nhiều điều quan trọng hơn tiện nghi trong cuộc sống.


NHÓM 5: NGUYÊN NHÂN GIẢ TẠO
26. “Post hoc”: Loại ngụy biện này phát biểu rằng hai sự kiện xảy ra, một trước và một sau, có quan hệ với nhau như nguyên nhân và hậu quả. Ví dụ: “Liên Xô sụp đổ sau khi nhà nước theo chủ nghĩa vô thần. Do đó, chúng ta phải từ bỏ chủ nghĩa vô thần để khỏi bị suy sụp.
27. Ảnh hưởng liên đới: Một sự kiện được cho là có ảnh hưởng đến một sự kiện khác, nhưng thực chất thì cả hai sự kiện đều có cùng một nguyên nhân. Đây cũng chính là một trường hợp ngụy biện dưới dạng “post hoc”. Ví dụ: “Chúng ta đang chứng kiến một tình trạng thất nghiệp rất cao, vì do thiếu nhu cầu của người tiêu thụ.” (Nhưng có thể cả hai sự kiện có nguyên nhân từ tiền lời quá cao.)
28. Ảnh hưởng không đáng kể: Đây là một loại ngụy biện mang tính phóng đại từ một ảnh hưởng rất nhỏ. Chẳng hạn như “Hút thuốc gây ra ô nhiễm môi trường ở Sydney” là một phát biểu đúng, nhưng ảnh hưởng của thuốc lá đến môi trường rất khiêm tốn khi so với ảnh hưởng của khói xe và các hãng xưởng.
29. Ảnh hưởng ngược chiều: Mối quan hệ giữa nguyên nhân và hậu quả bị đảo ngược chiều để tìm đến một kết luận mang tính ngụy biện. Ví dụ: “Ung thư gây ra thói quen hút thuốc lá”.
30. Nguyên nhân phức tạp: Một sự kiện xảy ra có thể do nhiều nguyên nhân khác nhau, nhưng người ngụy biện có thể đơn giản hóa thành một liên hệ đơn giản. Chẳng hạn như “Tai nạn xe cộ là do đường xá xấu” có thể đúng, nhưng tai nạn cũng có thể do người lái xe ẩu trong một điều kiện xấu.
31. Nguyên nhân sai (Non causa pro causa): Loại ngụy biện này xảy ra khi một điều nào đó được cho là nguyên nhân của một sự kiện, nhưng nó chưa thực sự được chứng minh là nguyên nhân. Ví dụ: “Tôi uống một viên aspirin và cầu nguyện thượng đế, và tôi không còn bị nhức đầu. Như vậy thượng đế đã chữa trị tôi khỏi nhức đầu.”


NHÓM 6: PHI LOGIC (NON SEQUITUR) VÀ NHẦM LẪN TRONG TAM ĐOẠN LUẬN
32. Phi logic: Ngụy biện phi logic thường xảy ra trong trường hợp một lí lẽ mà kết luận được rút ra từ những tiêu đề không dính dáng gì với nhau. Chẳng hạn như “Người Ai Cập đã từng làm nhiều khai quật để xây dựng những kim tự tháp, họ chắc chắn phải rất thạo về cổ sinh vật học.”
33. Loại bỏ tiền đề: Ngụy biện loại này thường xảy ra dưới hình thức “nếu A thì B, không phải A thì không phải B.” Ví dụ: “Nếu tôi ở Sydney thì tôi đang ở New South Wales. Tôi hiện không ở Sydney, do đó, tôi không ở New South Wales”.
34. Nhét chữ vào miệng người khác: Đây là một loại ngụy biện bằng cách dùng kĩ thuật phỏng vấn. Một trường hợp cổ điển là “Ông đã ngưng đánh vợ chưa?” Tức là một câu hỏi với một giả định rằng người được hỏi từng hành hung vợ. Đây là một mẹo mà giới luật sư thường hay dùng trong thẩm vấn. “Ông giấu tiền ăn cắp đó ở đâu?” Giới chính khách cũng thích mẹo này, đại khái như “Bao giờ thì nhóm EU này sẽ không còn xâm phạm vào công việc của chúng ta?
35. Ngụy biện tứ ngữ. (Một tiêu chuẩn của tam đoạn luận gồm có 3 chữ): Ví dụ như trong câu phát biểu “Tất cả chó là thú vật, và tất cả mèo là loài động vật có vú, do đó tất cả chó là loài động vật có vú,” có bốn chữ: chó, mèo, động vật, và động vật có vú.
36. Đứt đoạn: Hai sự vật riêng biệt được xem là có liên hệ nhau nếu chúng có chung đặc tính. Người ngụy biện lợi dụng chữ giữa của một phát biểu để đưa đến một kết luận sai. Chẳng hạn như trong câu “Tất cả người Nga là nhà cách mạng, và tất cả những người theo chủ nghĩa vô chính phủ cũng là nhà cách mạng, do đó, tất cả những người theo chủ nghĩa vô chính phủ là người Nga,” chữ chính giữa là “nhà cách mạng”. Nhưng kết luận này sai, vì dù những người theo chủ nghĩa vô chính phủ và người Nga là những người cách mạng, nhưng họ có thể là hai nhóm cách mạng khác nhau.


NHÓM 7: CÁC NHẦM LẪN KHÁC
37. Dẫn chứng bằng giai thoại: Một trong những ngụy biện phổ biến nhất và đơn giản nhất là dựa vào những câu chuyện có tính vụn vặt, hay giai thoại. Chẳng hạn như “Có hàng khối bằng chứng cho thấy thượng đế hiện hữu và vẫn ban phép mầu hàng ngày. Mới tuần rồi đây, tôi có đọc được một câu chuyện về một cô gái sắp chết vì ung thư, cả gia đình cô đi cầu nguyện trong nhà thờ, và chỉ vài ngày sau cô hết bệnh.” Dùng kinh nghiệm cá nhân để minh họa cho một luận điểm là một điều hoàn toàn hợp lí, nhưng dùng những giai thoại như thế sẽ chẳng chứng minh gì. Một anh bạn có thể cho rằng anh từng gặp Elvis ở một siêu thị nào đó, nhưng những người chưa gặp Elvis bao giờ thì cần nhiều bằng chứng xác thực hơn.
38. Lợi dụng cổ tích: Đây là một loại ngụy biện cho rằng những gì đúng hay tốt chỉ đơn giản vì chúng là cổ xưa, và những người theo cách ngụy biện này thường nói “hồi nào đến giờ ai cũng vậy.” Chẳng hạn như “Hàng trăm năm nay, Úc chịu dưới sự cai trị của Hoàng gia Anh, và là một nước thịnh vượng. Một thể chế tồn tại lâu dài như thế ắt phải là một thể chế ưu việt.”
39. Dựa vào cái mới (ad novitatem): Ngược lại với loại ngụy biện dựa vào cái cũ, ngụy biện dựa vào cái mới cho rằng một điều gì đó tốt hơn và đúng hơn đơn giản chỉ vì nó mới hơn cái khác. “Windows 2000 phải tốt hơn Windows 95, Windows 2000 mới được thiết kế lại năm ngoái.
40. Lí lẽ của đồng tiền: Loại ngụy biện này thường dựa vào một niềm tin duy nhất rằng đồng tiền là một tiêu chuẩn của sự đúng đắn. Những người có nhiều tiến có khả năng đúng hơn những người ít tiền. Chẳng hạn như “Nhu liệu của hãng Microsoft đương nhiên là tốt hơn; nếu không thì làm sao Bill Gates có thể trở nên tỉ phú như thế”.
41. Dựa vào cái nghèo: Ngược lại với ngụy biện dựa vào sự giàu có, có một loại ngụy biện khác dựa vào sự nghèo khổ. Chẳng hạn như “Các vị sư có khả năng hiểu thấu được ý nghĩa của cuộc sống, bởi vì họ từ bỏ mọi xa hoa của cuộc sống.
42. Điệp khúc (ad nauseam): Loại ngụy biện này cho rằng một lí lẽ càng được lặp đi lặp lại nhiều chừng nào thì nó sẽ được người ta chấp nhận là đúng. Do đó, người ngụy biện thường chỉ lặp đi lặp lại những phát biểu, bất kể đúng sai ra sao, cho đến khi người đối thoại mệt mỏi không còn muốn nghe nữa, như “Đảng lãnh đạo, nhân dân làm chủ, nhà nước quản lí”.
43. Lạm dụng thiên nhiên: Đây là một ngụy biện rất thông thường trong giới chính trị gia, mà trong đó họ tìm cái tương đồng giữa một kết luận nào đó và một khía cạnh của thế giới tự nhiên, rồi từ đó phát biểu rằng kết luận đó là không thể tránh khỏi. Chẳng hạn như “Đặc điểm của thế giới tự nhiên là cạnh tranh; động vật đấu tranh chống nhau để làm chủ tài nguyên thiên nhiên. Chủ nghĩa tư bản, một hình thức cạnh tranh để làm chủ tư liệu, chỉ đơn giản là một phần của con người sống trong thế giới tự nhiên. Đó cũng là cách mà thế giới tự nhiên vận hành.” Một hình thức khác của lạm dụng thiên nhiên là lí luận cho rằng bởi vì con người là sản phẩm của thế giới tự nhiên, chúng ta phải bắt chước hành động theo những gì chúng ta thấy trong thế giới tự nhiên, và làm khác đi là “phi tự nhiên”. Ví dụ: “Đồng tính luyến ái dĩ nhiên là không tự nhiên.
44. Ngụy biện “anh cũng vậy”: Đây là một trong những ngụy biện rất phổ biến. Nó dựa vào lí lẽ rằng một hành động có thể chấp nhận được bởi vì người đối nghịch đã làm. Chẳng hạn như “Anh là một người lừa dối.” “Rồi sao? Anh cũng là một tay lừa dối vậy.
45. Lạm dụng thống kê: Thống kê thường được giới ngụy biện sử dụng tối đa, vì theo họ thống kê có thể dùng để “chứng minh” bất cứ điều gì. Người ta có thể vặn vẹo hai con số 1 và 3 điểm để sản xuất những phát biểu như “khác nhau 2 điểm”, “cao gấp 3 lần”, hay “tăng 200%”; người ta có thể dựa vào ý kiến đồng tình của 4 người trong 5 người để cho là “80% người được thăm dò”, hay thậm chí “đa số cộng đồng” đồng ý với một luận điểm nào đó. Tức là những khái quát hoá một cách vội vã, hay dựa vào một mẫu số cực kỳ thấp, thấp đến độ nó không có nghĩa lí gì.
Thực ra, thống kê không chứng minh điều gì cả. Thống kê chỉ là một phương tiện hay thuật toán dùng để loại bỏ những trường hợp khả dĩ hay không khả dĩ. Vì có quá nhiều ngụy biện thống kê, nên vấn đề này sẽ được bàn tiếp trong một dịp khác.

NHẬN XÉT
 Có thể nói những loại ngụy biện trên đây có những đặc điểm chung là (a) phát biểu không dựa vào lí lẽ logic; (b) các định đề không vững để đi đến một kết luận; và (c) đưa ra giả định không đúng. Ngụy biện, do đó, nói cho cùng, là một sản phẩm của sự lười biếng suy nghĩ. Và hầu như trong chúng ta, ai cũng có ít nhất là một lần lười suy nghĩ. Do đó, nếu điểm qua những loại ngụy biện trên đây, chúng ta tự cảm nhận rằng trong quá khứ mình chắc cũng có lần phạm vào lỗi lầm của ngụy biện. Điều này có thể đúng, và không nên lấy làm ngạc nhiên, vì các nhà thông thái, và ngay cả giới có huấn luyện về logic học cũng đôi khi, vì cố ý hay vô tình, ngụy biện.
Giới chính trị gia và truyền thông là những người cực kì nổi tiếng về ngụy biện. Nhưng tại sao những ngụy biện vẫn còn có mặt trên báo chí? Theo tôi, bởi vì chúng vẫn có khách hàng. Vẫn có người, dù ít hay nhiều, tin tưởng vào ngụy biện, vì nó thuận nhĩ, trơn tru, và nhất là không thách thức. Sờ một hòn đá trơn tru đem lại cho chúng ta một cảm giác khoan khoái dễ chịu hơn là sờ một hòn đá lởm chởm, hay ngồi trên một cái ghế ghồ ghề. Người ta thích sự trơn tru, bởi vì trơn tru là dấu hiệu của sự khoan khoái, dễ chịu, là cái khoảng thời gian giải lao, không cần sự thách thức. Có lẽ, ở một khía cạnh nào đó, điều này cũng không đến nỗi tệ, bởi vì những ngụy biện phản ánh sự thành công [hay có người nói sự phong phú] của ngôn ngữ trong việc tách rời giữa những gì thô thiển, gồ ghề với những gì hoàn thiện, mĩ miều.
Nhưng sự trơn tru của các vật thể và ngôn ngữ ngày nay đem lại cho chúng ta một cảm giác giả tạo về thế giới thực của các vật thể. Những kì kẹt xe trên đường xá mới để lộ trái tim phức tạp của một thành phố. Tương tự, một sự cố của internet sẽ nhắc nhở chúng ta về tình trạng hỗn mang và phức tạp của hệ thống thông tin điện tử. Sự hỗn mang và phức tạp là thực. Trơn tru, tròn trĩnh có thể là giả tạo. Những câu văn ngụy biện có thể chỉ là những lời phát biểu lém lỉnh thay vì lịch thiệp, hàm chứa mánh khóe thay vì thân thiện. Có thể nói, ngụy biện là những lối sáo ngữ liến thoắng nhằm vào mục đích lôi cuốn người nghe/đọc, thay vì cung cấp cho họ một sự thực. Bởi vì ngụy biện là những lí lẽ mà bề ngoài có vẻ logic, nên chúng có khả năng thuyết phục những người không chịu khó suy nghĩ, nhất là những người còn mang nặng cảm tính. Điều này giải thích tại sao nhiều người tiếp nhận một cách thụ động quá nhiều những điều quái gở về thế giới chung quanh, kể cả những niềm tin tôn giáo, những mê tín dị đoan, những triết lí quái đảng, những thông tin sai lạc, v.v..
Cái tác hại của việc tiếp nhận thụ động này là nó làm cho người ta trở nên nô lệ với cảm tính, và dễ dàng trở thành những tín đồ cuồng tín của những người “lãnh đạo” chính trị hay tôn giáo. Để không trở thành những nô lệ, cần phải suy nghĩ nghiêm túc. Suy nghĩ nghiêm túc là một quá trình hoạt động tri thức nhằm ý niệm hóa, ứng dụng, phân tích, tổng hợp, và đánh giá những thông tin được thu thập từ quan sát, kinh nghiệm, phản ánh, lí luận, hay liên lạc, như là một niềm tin cho hành động.
Cần phải dựa vào những giá trị tri thức với những đặc điểm như trong sáng, chính xác, nhất quán, có liên hệ, bằng chứng tốt, lí lẽ hợp lí, có chiều sâu, và công bằng. Tức là, trước một câu phát biểu hay một đề nghị, cần phải thẩm định lại kết cấu và nguyên tố của phát biểu hay đề nghị đó. Những kết cấu và nguyên tố này là: mục đích, vấn đề, giả định, quan niệm, bối cảnh, kết luận, ngụ ý, hậu quả, phạm vi tham khảo, và quan điểm khác. Người Việt chúng ta thường rất tự hào về những đối thoại [mà chúng ta cho là “thông minh”] giữa Trạng Quỳnh và Chúa Trịnh ngày xưa. Nhưng nói một cách công bằng và theo tiêu chuẩn của lí luận logic, thì những trao đổi của Trạng Quỳnh hay tương tự chỉ là những ngụy biện ở trình độ thô sơ nhất. Nhưng có điều đáng buồn là những đối thoại kiểu Trạng Quỳnh, mà trong đó sự hơn thua nhau từng câu nói, bắt bẽ nhau từng chữ, vặn vẹo ý nghĩa của từng câu văn, v.v… lại đi vào sử sách, như thể để làm gương cho thế hệ sau này. Mà làm gương thật. Cho đến ngày nay, có người vẫn còn cho đó là một biểu tượng của sự thâm thúy, thông minh của dân tộc, là phản ánh sự phong phú của ngôn ngữ Việt, và đem ra ứng dụng trong tranh luận.
Theo dõi báo chí, chúng ta thấy những hình thức tấn công cá nhân (thay vì tấn công vào luận điểm), xuyên tạc ý tưởng, chụp mũ, suy luận theo cảm tính, mỉa mai, đơn giản hóa vấn đề, v.v… xuất hiện hầu như hàng ngày, có khi hàng giờ. Vì những tần số của những loại ngụy biện xuất hiện quá nhiều như thế, nó thành một sự rập khuôn. Theo thời gian, rập khuôn trở thành “truyền thống”. Hậu quả của cái truyền thống này là những ai ra ngoài cái khuôn sáo của ngụy biện đều có thể bị xem là phi chính thống, dẫn đến một lối suy nghĩ và phán xét kì quặc kiểu “anh/chị không thuộc nhóm của tôi, vậy thì anh/chị thuộc nhóm bên kia,” “anh chê ‘quốc gia’, vậy anh phải là cộng sản”, “anh khen Việt Nam, vậy anh là cộng sản” “giọng nói anh ‘Bắc kỳ 75’, vậy anh là cộng sản” hay “Nhà nước cho anh ra ngoài này trình diễn, chắc anh là cộng sản đi tuyên truyền”… Anh ở phía này, tôi bên kia. Nói tóm lại, đó là một lối phân định theo hai giá trị: xấu và tốt, đen và trắng, hay địch và ta một cách cứng nhắc. Cách phân định này thể hiện một sự nghèo nàn về trí tuệ, hay lười biếng suy nghĩ. Chỉ cần đặt vấn đề ngược lại một chút, hay phát triển vấn đề xa hơn một chút, ai cũng có thể thấy lối phân chia có/không này không thể đem đến một đáp số cho một vấn đề nào cả.
Trong cái sự thực phức tạp, mờ mờ ảo ảo của vấn đề, có cái đẹp riêng. Không phải cái đẹp trơn tru, tròn trĩnh, nhưng là cái đẹp khắt khe của sự thật. Tương tự, một lời phát biểu nghịch lí có cái đẹp của nó, vì nó có thể đánh thức chúng ta về một thế giới phức tạp, một thế giới không nằm gọn trong đúng/sai, tốt/xấu, bạn/thù. Có lẽ đã đến lúc chúng ta nên vượt qua chính mình bằng cách cho các tế bào trí tuệ có cơ hội làm việc.
*
( Bài viết trên do tác giả BTĐ sưu tầm, tuy hơi dài và lấy nhiều dẫn chứng ngoài Việt Nam, nhưng là một bài viết nghiên cứu nghiêm túc và khách quan. Hi vọng các bạn bỏ thời gian để đọc một lần trước khi tham gia tranh luận).
Cám ơn mọi người.

Hoa Nguyen)

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Điểm mù của nhân loại


“Chết là hết” là quan điểm, tư duy, nhận thức của giới khoa học cùng với trường phái duy vật chủ quan (Đây là thành phần chiếm ưu thế và “danh chính, ngôn thuận” nơi đại diện tri thức nhân loại ở thời điểm hiện tại vì mang danh nghĩa học rộng, biết nhiều). Và đại diện cho tri thức nhân loại đã chủ quan trong việc phổ cập hóa hay nói cách khác là gieo quan điểm “Chết là hết” vào nhận thức sống cũng như ở nơi tư duy của số đông nhân loại.
Quá trình “nhào nặn”, ép uổng bằng sự chủ quan đã “nhồi sọ” tư tưởng “Chết là hết” ảnh hưởng sâu rộng đến rất nhiều thế hệ loài người.
Ngày nay, niềm tin “Chết là hết” dường như đã không còn đứng vững, mai một, phai nhạt nhưng cũng không có sự rõ ràng nào về việc “Chết là còn”. Nguyên nhân là do sự khách quan, đúng mực, sáng rõ về việc “Chết là không hết” đã bị giới khoa học cùng trường phái duy vật cực đoan ngày trước ra sức tận diệt, triệt tiêu. Còn lại chăng chỉ là những tư liệu góp nhặt, chấp vá chứa đựng những điều mê tín, huyễn hoặc, giá trị chánh tín không còn rõ ràng.
Kết quả của nhận thức “Chết là hết” thực sự đã, đang và sẽ nhấn chìm xã hội loài người vào vô vàn sự rối ren, hỗn độn, điên đảo. Một nguy cơ khủng hoảng nhân đạo toàn cầu đang dần thành hình với việc áp bức, bóc lột vượt mức, hận thù cực đoan, chiến tranh leo thang và dịch bệnh bùng phát… Sự khổ não, phiền muộn, bấn loạn trong lòng người không đủ đầy sự hiểu biết khách quan, đúng mực về tự thân, cuộc sống sẽ “xô đẩy” nhân loại đến bờ vực của Kỷ Nguyên Đổ Nát Hoàn Toàn ở loài người.
Vì sao lại xảy ra tiến trình lao vào Kỷ Nguyên Đổ Nát Hoàn Toàn ở loài người?
Vì “Chết là hết” kết hợp với lòng tham, tính thực dụng ích kỷ ở loài người đang nhấn chìm ý thức sống của con người. Con người gần như quay về lối sống bản năng của loài thú hoang chỉ biết tranh phần hơn, phần lợi cho cá nhân, gia đình, dòng tộc. Sự tham đắm, si mê phục vụ bản ngã vượt mức đang tạo ra sự mất cân bằng toàn diện trong lòng mỗi người, nhân loại và cả đến nội tại của trái đất, mặt trời cùng vạn vật nơi vũ trụ.
Trái đất đang bốc cháy bởi lòng tham con người, băng 2 cực tan chảy, mặt trời rực sáng để rồi lịm tắt, thiên tai ngày càng thêm khắc nghiệt, khôn lường, dịch bệnh bùng phát, chuyển biến phức tạp, chiến tranh, chạy đua vũ trang, kích động ngọn lửa hận thù âm ỉ từ ngàn xưa, sự bóc lột tinh vi, trắng trợn giữa người với người, giữa kẻ nhiều hiểu biết với người có sự hiểu biết hạn chế hơn… Đó là phần đa số bộ mặt thật của tình người trong xã hội loài người. Nhân cách, đạo đức, ý thức sống vì người dường như đã chết theo quan điểm sống “Chết là hết”.
Sự giáo dục áp đặt chủ quan, cục bộ, cực đoan của một trường phái tôn giáo vô thần - duy vật - khoa học chiếm ưu thế thời thượng của thời điểm hiện tại hoàn toàn không thể giáo dục được ý thức, đạo đức, nhân cách con người trên diện rộng và sâu ở mọi thành phần, tầng lớp xã hội.
Sự dạy và học nhằm phục vụ bản ngã con người đã không thể thực tế hóa ý tưởng sự tồn tại nhân cách, đạo đức, ý thức sống vì người trong nhân loại. Vì “Chết là hết” nên “Tại sao lại không sống vì mình mà sống cho người? Tại sao không tranh danh, đoạt lợi, gồm thu phần hơn, phần được? Sống vì người, sống thánh thiện, nhân từ, hiền đức mà làm gì, những thứ đó không có ăn được, không giúp ta có đời sống hưởng thụ hoang lạc, phì gia, vinh thân?...”.
Và theo lối sống bị xâm thực bởi tính thực dụng, lòng tham, sự “Chết là hết” cùng sự hiểu biết chủ quan, hẹp kém, nông nổi, cục bộ xã hội loài người đang tiến nhanh vào Kỷ Nguyên Đổ Nát Hoàn Toàn của nhân loại. Đó là chọn lựa của lối tư duy, nhận thức sống bằng vào quan điểm cứng nhắc, cực đoan “Chết là hết” của loài người hiện đại mà đại diện là tri thức nhân loại, giới khoa học và thành phần thuộc trường phái duy vật được mặc định là học cao, biết rộng, họ đã lựa chọn tương lai nhân loại. Một sự đổ nát hoang tàn cùng nguy cơ diệt vong loài người, trái đất trở thành hành tinh chết hoặc là sự nổ tung.
“Chết không là hết” là quan điểm thường thấy nơi phần lớn tôn giáo hiện còn trong lòng nhân loại. “Chết không là hết” đã từng bị tận diệt, triệt tiêu vì sự chủ quan cực đoan của ý thức hệ thời thượng nơi đại diện tư duy nhân loại. “Chết không là hết” từng bị cáo buộc là sự mê tín dị đoan, nhũng nhiễu, gây rối loạn lòng người.
Nhưng có lẽ “Chết không là hết” chính là lối thoát cứu cánh cho xã hội loài người đương đại và tương lai.
Tư duy cực đoan, cứng nhắc, chủ quan, cục bộ “Chết là hết” đã thật sự không đúng, không ổn, thật sự có vấn đề, thật sự không còn đứng vững trong niềm tin, hy vọng cũng như sự hiểu biết không ngừng nâng cấp, luôn luôn tăng trưởng của nhân loại.
Có lẽ quan điểm đúng mực hơn “Chết không là hết” cần được phổ truyền và gieo vào lòng nhân loại. Điều quan trọng hơn cả là phải thắp sáng sự hiểu biết trong lòng người bằng sự hiểu biết đúng mực, khách quan và sáng rõ.
Càng nên tránh việc rộng truyền sự mê tín, cuồng tín cực đoan, chủ quan. Càng không nên sử dụng “Chết không là hết” như là một công cụ điều tiết xã hội loài người. Thật không thể dùng sự chủ quan, hẹp hòi, cục bộ khi điều tiết, định hướng xây dựng xã hội loài người.
Bởi lẽ khi sự khách quan, đúng mực, sáng rõ, minh bạch được thay bằng sự dối lừa, man trá, khỏa lấp và tư tâm, tư lợi thì niềm tin bị đánh cắp, sự đổ vỡ sẽ là kết quả sau cùng, nhất là khi sự hiểu biết con người ngày càng có sự nâng cấp vượt bậc cũng như sự tương đồng tri thức do tính cập nhật năng động của yếu tố thời đại công nghệ truyền thông.
Đừng mãi “chết dí” ở tư duy “Nếu chết là còn thì các kết quả thăm dò, giám sát của thiết bị hiện đại, tối tân phải nhận diện được “Cái còn” đó”. Và cũng đừng tiếp tục nông nổi yêu cầu thành phần đại diện cho trường phái duy tâm - tâm linh hãy chứng minh sự tồn tại của cái gọi là “Cái còn” đó
Mắt người có thể thấy hư không, không khí không?
Bảo không cũng chẳng đúng, bảo phải cũng không xong nhưng tin rằng con người khách quan có chút hiểu biết sẽ nhận diện được hư không, không khí.
Máy móc hiện đại, tối tân có nhìn thấy hư không, không khí không?
Câu trả lời sẽ là không bởi lẽ máy móc vô tri chỉ có thể ghi nhận hình ảnh nhưng không thể đặt tên, gọi tên hình ảnh. Vì lẽ đó nếu có nhìn thấy thì chỉ có con người mới có khả năng nhận định điều đó. Việc thấy của máy móc đã không thành thì việc nhận diện hư không, không khí càng gặp khó có chăng đó là một sự quy ước, cài đặt mặc định của con người. Vậy nên để nhận diện “Cái còn” mà con người chưa thể nhận diện, nắm bắt thì máy móc, thiết bị lấy gì làm điểm tựa.
Phải chăng đây là tư duy sai lầm, nông nổi chủ quan của người hiện đại, những kẻ thường tự phụ hơn người, vượt lên trên mọi giống loài?
Còn về yêu cầu sự chứng minh “Cái còn” của sau khi chết ở con người.
Tại sao tôi phải chứng minh? Theo tư duy của chủ nghĩa thực dụng hiện tại thì “Chứng minh điều đó tôi sẽ được gì?”. Hãy nên nhớ rằng “Đó là điều mà giới khoa học - duy vật hoài nghi, trăn trở chứ không phải là vấn đề gút mắc nơi tư tưởng của thành phần duy tâm - tâm linh”.
Hơn nữa, giới khoa học cũng những người thuộc trường phái duy vật chủ quan, cực đoan, cục bộ có mở lòng ra, có tháo gỡ sự cứng nhắc và sẵn sàng đón nhận những sự thật khách quan, sáng rõ cùng đúng mực.
Mặt khác, nếu mở lòng ra trực nhận cuộc sống xung quanh có lẽ câu trả lời “Cái còn sau khi con người chết có hay không?” đã hiện hữu trong lòng giới khoa học - duy vật cũng như trong tâm hồn của mỗi người. Câu hỏi này tựa như câu hỏi “Trong nhân loại có tình yêu thương hay không?”. Mỗi chúng ta đều có thể nhận diện, cảm nhận được sự thật đó khi trong lòng mỗi người tĩnh lặng, không dính mắc sự chủ quan, thiên kiến, phiến diện.
Thậm chí là nếu yếu tố tâm linh, huyễn hoặc, các cõi giới vô hình không hề tồn tại nhưng sống tùy thuận theo nhân quả, tâm từ bi, yêu thương thì có điều gì là sai trái hay không đúng. Sống biết nghĩ cho người, cho mọi loài, muôn vật lẽ nào là một lối sống sai lầm.
Tóm lại, đây là Điểm mù của nhân loại về tư duy, ý thức, nhận thức sống cũng như sự hiểu biết của nhân loại. Giá như đại diện cho tri thức nhân loại có một sự khách quan, đúng mực hơn khi nhìn nhận, đánh giá giá trị đích thực của tôn giáo và sự thật “Chết không là hết” thì xã hội loài người đã không mấy phen suy hoại cũng nhưng nhân loại đã không lâm vào tình cảnh khủng hoảng liên hoàn, bấn loạn, hỗn mang như hiện nay.
Hẳn là khi quan điểm “Chết không là hết” được rộng truyền và sự đúng mực, khách quan, sáng rõ về sự tồn tại con đường chánh pháp, quy luật nhân quả, vòng quay luân hồi thuận nghịch giữa các cõi giới, cách thức thoát ly hoàn toàn sinh tử… thì xã hội loài người sẽ sớm có những chuyển biến tích cực, những khủng hoảng rối ren, đảo điên ở hiện tại sẽ tự giải trừ, chiến tranh, hận thù, thiên tai, dịch họa, sự cân bằng nội tại trong lòng mỗi người sẽ đảm bảo sự bền vững nơi hành tinh xanh. Điều quan trọng nhất là việc hãy gieo hạt mầm chánh pháp chánh tín, trực nhận và rời xa sự điên đảo mê tín, cuồng loạn, cực đoan tà tâm.
“Chết là hết” - “Chết không là hết”, đây là sự chọn lựa thực sự cho hiện tại và tương lai nhân loại. Đây là sự chọn lựa mang tính quyết định và đồng hồ đã điểm ở thời khắc sống còn của nhân loại. Đây đã không còn là chọn lựa chủ quan, cục bộ của một người, một nhóm người, hay của thành phần đại diện cho tri thức nhân loại, giới quản lý đất nước, quản lý xã hội con người,… mà đã là thời khắc chọn lựa của tất cả và chính bạn.
Và mỗi người chúng ta đều có sự tự chủ cho sự chọn lựa mang tính chất sống còn đó. Thế nên hãy nhận diện giá trị của chính mình bằng sự hiểu biết, tư duy, nhận thức, ý thức sống khách quan, đúng mực cho một sự lựa chọn và trên cả là vì bạn, vì những người thân yêu của bạn. Trân trọng!
Hiện tại, blog doavouu.blogspot.com đã được bạn bè hơn 20 quốc gia ghé thăm. Tin rằng số đông người vào xem blog là người gốc Việt bởi lẽ ngôn ngữ của blog là Tiếng Việt. Tôi cùng một vài người bạn của blog doavou cũng tin rằng mai này số người quan tâm, ghé xem blog sẽ tăng nhanh về số lượng và thường xuyên hơn.
Tuy nhiên, chướng ngại về mặt ngôn ngữ sẽ dẫn đến sự giới hạn người đọc ở phạm vi quốc tế. Vì lẽ đó nếu bạn có khả năng dịch thuật, chuyển ngữ và nhận ra nội dung blog có chút ít giá trị thì hãy giúp tôi làm điều đó. Với tôi và có lẽ với rất nhiều người điều đó thật tốt đẹp, tuyệt diệu. Tôi rất cám ơn bạn đã giúp tôi phổ truyền!
Mai này, nếu nhân loại có biết đến đất nước Việt Nam nhiều hơn thì đó không là sự phát triển kinh tế, khoa học - công nghệ, chính trị, xã hội vượt bậc, năng động mà là vì đã có một người Việt cùng những người bạn dám sống thật bằng sự hiểu biết khách quan, đúng mực, sáng rõ của nhân loại. Đây là điều mà Vô Ưu xin xác tín lại cùng bạn và mọi người.
Dường như có một sự nóng lòng và mong cầu từ nơi tôi với chỗ đứng bài viết trong lòng nhân loại.
Phải chăng có sự cưỡng cầu nơi đại ngã của Vô Ưu?
Tôi biết những điều tôi trình bày nơi nội dung blog rồi sẽ lan rộng, vươn xa. Vấn đề chỉ là thời gian để cây ra hoa, kết quả. Đúng thật là tôi đã có những tác động nhằm giúp cây trổ hoa, kết quả nhưng đó là việc làm tùy thuận, tôi không cố cưỡng cầu bạn phải làm những điều không phải với lòng mình.
Tại sao tôi lại có những sự tác động tùy thuận?
Vì lẽ tôi muốn rằng những điều tôi trình bày nơi blog phải có sự khách quan, sáng rõ, đúng mực về con đường chánh pháp. Thế nên, tôi sẽ chịu hoàn toàn trách nhiệm về những việc đã trình bày. Nếu có chỗ này không ổn, sai sót thì tôi mong nhận được những sự phản hồi để nhận lỗi, sửa sai và hoàn thiện những điều chưa thật đúng. Thêm nữa. nếu bạn hay một ai đó có sự chướng ngại nhất định về con đường chánh pháp và cần đến một sự trợ giúp thì tôi sẽ tùy thuận giãi bày tường tận những điều rõ biết trong khả năng.
Tôi sẽ không vì lợi mà chờ đợi lợi dưỡng từ blog doavouu với tôi ngày 2, 3 bữa hay 1 bữa cơm cũng không quá nhiều khác biệt. Yến sào, vi cá, bào ngư,… cũng không khiến tôi thông minh, nhiều hiểu biết hơn. Còn việc kéo dài tuổi thọ thì chí ít ở thời điểm hiện tại và có lẽ cả ở tương lai tôi không cần đến. Việc làm đã xong đã đến lúc dừng lại, lui về sau. Thế nên tôi muốn một sự hoàn mãn về sự sáng rõ nơi chánh pháp những mong mọi người và bạn thảnh thơi, thong dong nơi cuộc sống bình yên, an lành.
Còn về danh. Phật Thích Ca là người thầy đáng kính, là người bạn lớn của Vô Ưu cùng nhân loại. Và Người đã trao trả chiếc chìa khóa khai mở sự hiểu biết khách quan, sáng rõ nơi nhân loại từ hơn 2500 năm về trước chỉ còn lại chút hư danh - Phật Thích Ca. Trong đó, Phật là người giác ngộ sống tỉnh thức, Thích Ca là tên dòng tộc của Người. Dường như không có cái gì của Thái tử Tất đạt đa còn tồn tại hay hiện hữu. Rồi mai này Vô Ưu sẽ được vinh danh ư? Vô Ưu là ai? Vô Ưu không thể là tôi. Và dù còn sống hay đã chết thì danh nghĩa Vô Ưu với tôi đã không còn ý nghĩa.
Tôi càng không chờ đợi người tán thán gọi tên. Tôi là người thích một cuộc sống nhàn hạ, tự tại, phóng khoáng, chí cầu tiến trong tôi đã chết. Tôi cũng không muốn đánh mất cuộc đời mình để làm một tạo hình đẹp đẽ, thô ráp với những quy ước, định mức, nguyên tắc sống giả tạo đẩy đưa thường còn nơi xã hội loài người.
Vẫn là một câu nói cũ “Vô Ưu đang cố nâng tầm vị thế Giác giả hoàn toàn”.
Giác giả để được gì?
Để gần như quên bỏ cuộc đời những 3 năm chỉ nhằm vào việc đáp đền ơn Phật Thích Ca với những trăn trở, suy tư, những đêm không ngủ. Người đời có thể nhận diện cái được, cái hay của Giác giả nhưng Vô Ưu chỉ nhận thấy ở nơi cụm từ Giác giả là nghĩa vụ, là trách nhiệm về những việc cần làm, nên làm (dù rằng gần như chẳng ai có thể trói buộc hay yêu cầu tôi làm những điều đó).
Trong xác thân vật chất thì bất kỳ ai cũng sẽ chết đi. Rồi khi chết đi thì cái gì là Giác giả? Chấp giữ hư danh, vọng tưởng đạt đạo phỏng có ích gì?
Việc cần làm thì hãy làm, xong việc thì hãy nên ngơi nghỉ.
Bởi do tôi đã quên bỏ người thân, gia đình một khoảng thời gian đủ lâu có lẽ đã đến lúc quay về trả dứt những đoạn ân tình vay mượn. Và điều mà Vô Ưu đáng tiếc nhất là tôi chỉ là một đứa trẻ chưa trưởng thành trong cái nhìn của mẹ cha và người thân.
Tuy nhiên, điều này không hẳn đã khiến Vô Ưu nặng lòng trăn trở. Ôi! Có đôi khi “Chúng sinh khổ lạc tùy duyên”. Thôi thì đành tùy duyên đưa đón.
Và… như đã nói khi việc làm hoàn mãn tôi sẽ chơi trò chơi “Ve sầu thoát xác” sau cùng. Tôi cũng không cho rằng tôi sẽ sớm thắng lợi trong trò chơi vượt qua hàng rào sinh tử này (bởi lẽ tính sống còn đã không còn bức thiết) nhưng tin rằng tôi sẽ không thể thất bại vì sớm muộn gì thì tôi cũng sẽ phải chết lần sau cuối.
Thật ra về cách thức để mau chóng “hoàn mãn” việc “Ve sầu thoát xác” tôi đã “nắm bắt” được “cốt lõi” của trò chơi. Vấn đề còn lại là sự đủ duyên và sự dừng lặng, việc buông bỏ có - không.
Lời hứa hiến tặng gan thận, máu tim, mắt,… vẫn sẽ luôn còn giá trị cho đến khi tôi thật sự không còn nữa. Vì lẽ đó nếu bạn hay người thân của bạn cần đến thì cứ giữ lấy mà dùng bởi lẽ đoạn đời còn lại của tôi cho dù làm gì thì đó cũng chỉ là một trò chơi. Đã là trò chơi thì muốn nghỉ chơi lúc nào cũng ổn cả.
Do vậy không hẳn là tôi sẽ tiếp tục duy trì việc post bài trên blog, mọi việc sẽ tùy thuận. Nếu đã hết duyên thì Vô Ưu sẽ không tiếp tục post bài. Thực tế là với nội dung những bài đã post trên blog thì về cơ bản con đường chánh pháp của Phật Thích Ca đã khai hoang rộng mở, sáng rõ, quang đãng. Hy vọng bạn sẽ chạm đến sự thật đó! Chúc bạn an lạc, thảnh thơi, tự tại, sáng rõ đạo đời!
Những bài viết tiếp theo (nếu có) sẽ tựa như việc trình bày cách thức tôi đã nhặt nhạnh, dọn dẹp những thứ vương trên con đường chánh pháp ở các thời kỳ tìm hiểu, tham học, mở lòng, liễu nghĩa Tam Tạng kinh.
Bài kệ của Văn Thù Sư Lợi Bồ tát khi chất vấn Phật Thích Ca lại thoảng bên tai.
Như thế thì cõi thế gian này sẽ chóng bị tiêu diệt
Như thế thì cõi thế gian này sẽ sớm bị tàn hoại
Bởi vì tâm của Đức Như Lai, Bậc A La Hán,
Đấng Chánh Biến Tri, Thiện Thệ, Thế Gian Giải,…
Đã không ra sức thuyết giảng giáo pháp mầu nhiệm
Bạn có nghe chăng? Nếu có bạn hãy cho mình một lựa chọn tốt đẹp. Việc làm của tôi về cơ bản đã xong. Thật sự vấn đề còn lại chỉ là chọn lựa của bạn và mọi người.
Lại nghe Phật Thích Ca khởi các câu kệ vi diệu, thậm thâm, chưa từng có:
Chánh pháp ta chứng ngộ
Cần thuyết giảng hay không?
Bởi những kẻ chìm đắm
Trong ái dục sân hận
Khó ngộ được pháp này
Pháp thù thắng vô sinh
Tinh tế và thâm sâu,
Thật không dễ lĩnh hội.
Những kẻ mê ái dục
Lắm si mê bao phủ,
Rất khó để thâm nhập
Rốt ráo nghĩa Niết bàn.
Chánh pháp quả thật không dễ chứng ngộ, lĩnh hội nhưng để nhận diện, cảm nhận, chạm đến chánh pháp không hẳn là điều rất khó khăn, không phải là điều không thể được. Và đôi khi vì sự bình thường, chân thật, mộc mạc của chánh pháp khiến ta hoài nghi, không xem trọng! Thật đáng tiếc khi người đời cứ mãi “Bỏ hình, bắt bóng”.
Vô Ưu

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Dubai: làm được thơ thì ngu gì không đề thơ trên sóng

Sáng Ánh

Mohammad bin Rashid al Maktoum – vương của tiểu quốc Dubai, thuộc UAE
Ba chàng vừa bị Saudi trục xuất gần đây thực ra không phải là vì họ cạo râu không được nhẵn, mà bởi vì quê hương của họ (UAE) thuộc vào hàng dân tộc nhà thơ hàng nhì. Hiềm khích giữa các tiểu vương quốc thống nhất trên với Saudi đã có từ lâu đời vì Saudi chỉ được coi là một dân tộc nhà thơ hàng ba.
Mohammad bin Rashid al Maktoum vào lúc bé khi đi học luôn mang theo một cây gậy lớn bên mình. Trên đường đến trường trong sa mạc, cậu hay leo lên những đồi cát và say sưa dưới trời nắng chang chang mà đề thơ thật lớn trên cát. Lúc ra khỏi trường để về nhà, thì những vần thơ này đã bị gió làm mờ nhạt. Cậu có chăm chỉ mà đồ lại cho rõ nét thì sáng ngày hôm sau nó cũng lại biến mất. Nhưng Mohammad nhà Maktoum này không phải là một cậu bé bình thường. Ngay từ lúc đó, người ta đã nghe cậu lẩm bẩm:
Việc đời thử thách càng to
Khó khăn là thước để đo anh hùng
Tại vùng Vịnh Ả-rập, chỉ có cát và biển. Nếu thơ trên cát không đề được, thì chỉ còn đề thơ trên sóng.
Năm 2001, Dubai khởi công xây dựng đảo nhân tạo ngay trước bờ biển của vương quốc. Theo kế hoạch vạch ra thì tất cả sẽ có ba đảo gọi là đảo Cọ: Palm Jumeirah, Palm Jebel Ali và Palm Deira. Chen giữa ba đảo này là hai nhóm đảo khác, đảo Thế giới (The World) và đảo Vũ trụ (The Universe).
Các đảo Cọ, nằm xen với các đảo World và đảo Universe
Trên các đảo này sẽ cất nhiều khu giải trí, nhà hàng, khu vi-la và hộ tập thể cao cấp, cộng thêm cỡ 100 khách sạn. Riêng Palm Deira, dự tính là sẽ chứa được một triệu dân cư. Lớn thứ nhì là đảo Palm Jebel Ali, và vòng trong của đảo 7 km rưỡi đường kính này sẽ là bốn câu thơ khổng lồ có thể đọc được từ vùng ngoài khí quyển mà không cần đeo kính. Bốn câu này của ai? Của cậu bé Mohammad ngày nào, giờ là vương của tiểu quốc Dubai!
Palm Jebel Ali với câu thơ của vương Dubai (các bạn nhớ phóng to các hình mà xem đảo và đọc thơ nhé)
Câu chót của bài tứ tuyệt này, đã dịch như trên bằng thể lục bát và xin nhắc lại:
Việc đời thử thách càng to
Khó khăn là thước để đo anh hùng
Ngu công dời núi, bà Nữ Oa vá trời thì ông Mohammad chắp sóng thành thơ (trong khi Thủy Tiêntrang trí biệt thự và Nhã Kỳ làm đại sứ).
Ba câu đầu dịch nghĩa:
1. Cái khôn chỉ học được ở kẻ hiền
2. Biết nhìn xa mới đề thơ được trên mặt nước
3. Chẳng phải ai cỡi ngựa cũng là kỵ mã
Và câu thứ tư (dịch thơ), một lần nữa:
4. Việc đời thử thách càng to
 Khó khăn là thước để đo anh hùng
Diễn nghĩa kiểu hoạch toẹt thì là:
1. Đồ ngu
2. Thằng mù
3. Thế mà cũng rảo qua rảo lại
Không lẽ và có lẽ nào, có lẽ nào, ông Mohammad đề thơ là cho phi hành gia tàu con thoi hay người ngoài hành tinh? Thằng ngu nào vào đây, và thằng nào (cũng) cỡi ngựa (như tao) nhưng không phải là kỵ mã? Thằng nào nhìn nước là say sóng rồi chứ đừng nói đến đề thơ? Hẳn chỉ có mấy thằng vương bên cạnh, trong ba thằng này ắt phải có thằng Saudi hay là một thằng Saudi vừa kém khôn, vừa thiển cận, ngựa không biết cỡi chỉ biết cỡi lạc đà.
Thảo nào Saudi chẳng tống cổ ra khỏi xứ ba chàng đẹp trai, chàng khôn là một, chàng nhìn xa và chàng kỵ mã của chúng mày.
Hiện giờ Palm Jumeirah, đảo nhỏ nhất kể như là hoàn tất, và 2010 đã khai trương khách sạn resort Atlantis. Palm Jebel Ali thì các hộ đã bán xong (trên họa đồ) nhưng vì khủng hoảng tài chánh toàn thế giới và toàn vũ trụ nên giá đã xuống 40%. Đảo Thế giới thì bỏ trống 7 phần, coi hơi bị nản. Vũ trụ còn biệt tăm và Palm Deira thì mới đổ móng, chỗ có chỗ không. Bốn câu thơ vĩ đại trên thì còn lơ lửng xi-măng chưa ra vần điệu.
Nhưng, việc đời thử thách… (xin miễn nhắc lại).
Kết luận (rất có hậu) là nếu Saudi là dân tộc nhà thơ hàng ba, UAE là dân tộc nhà thơ hàng nhì, thì dân tộc nhà thơ hạng nhất là ai nhỉ. Thế mà cũng hỏi và xin miễn phải trả lời.
Palm Jumeirah đã hoàn tất

Palm Deira còn đang đổ móng

Từ không ảnh đọc được thơ thế này, ở vòng trong của đảo Palm Jebel Ali


Phần nhận xét hiển thị trên trang

THẢO LUẬN



Lời nhắn đầu năm: Cho tất cả những ai đang cần danh giá

Từ FB của Kay


Danh giá giống như là cảm hứng bị hóa thạch.

Phần nhận xét hiển thị trên trang