Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Tư, 22 tháng 1, 2014

Có bao nhiêu đứa con biết nghe lời mẹ? Hay chúng chưa hề đọc bài thơ này?

"Lời mẹ dặn":
Tuyên ngôn của người cầm bút
Nhân giỗ lần thứ 19 nhà thơ Phùng Quán ( 22/1/1995- 22/1/2014)    
Ngô Minh
Bài thơ “ Chống tham ô lãng phí “ trong Giai phẩm mùa Thu số I (9-1956 ) của Phùng Quán được những nguời cực đoan thời đó đánh giá là một bài thơ “nói xấu chế độ”, “chống đảng”, là “phản động”. Sau nhiều lần học tập, viết bản tự kiểm điểm, bị “đấu tố” gay gắt , Phùng Quán có nguy cơ bị khai trừ ra khỏi Hội Nhà văn, bị đưa ra khỏi biên chế Tạp chí Văn nghệ Quân đội, nơi anh đã dấn thân theo Vệ Quốc đoàn từ tuổi thiếu niên, rồi phải đi “lao động cải tạo” nhiều năm.
Thực tế gần một năm sau, tức đến năm 1958 những hình thức kỷ luật này mới được thi hành, nhưng lúc đó ai cũng đã biết trước bản án dành cho “bọn nhân văn”. Đối với người miền Nam xa quê hương , thân cô thế cô giữa phố phường Hà Nội như Phùng Quán, nguy cơ bị kỷ luật như thế là rất đáng sợ. Bị coi là “phản động”, ai cũng tìm cách xa lánh, lại bị tách khỏi môi trường lính quen thuộc, xa đồng chí, bạn bè dễ làm người thanh niên trẻ tuổi dễ trở nên hoang mang tuyệt vọng , dễ dẫn đến bệnh tâm thần hoặc tìm đến cái chết. 

   Nhưng Phùng Quán thì không. Anh vẫn sống và sáng tác hay hơn, quyết liệt hơn. Sau khi báo Nhân Văn-Giai phẩm bị đình bản, năm 1957, Nhà nước cho phép Hội Văn nghệ xuất bản tuần báo Văn do nhà văn Nguyễn Công Hoan làm chủ bút với mục đích chấn chỉnh lại tình hình văn nghệ lúc ấy.  Phùng Quán đã xuất hiện trên báo Văn số 21, ra ngày 27-9-1957 với bài thơ Lời mẹ dặn gây xôn xao dư luận. Lập tức bài thơ được nhiều người chép, thuộc như là một tuyên ngôn sống, tuyên ngôn cầm bút của văn nghệ sĩ . Nhưng bài thơ một lần nữa lại làm cho Phùng Quán lâm vào tai tương nặng hơn.

 Lời mẹ dặn là bài thơ tự sự rất dễ hiểu, dễ thuộc, không có gì mới lạ về cấu trúc, ngôn ngữ thơ,  không có gì là “biểu tượng hai mặt” cả. (“Biểu tượng hai mặt” là cụm từ mà thời đó hay dùng để những tác phẩm văn học “có vấn đề”, thực ra văn chương càng đa nghĩa mới hay). Nhưng Lời mẹ dặn lại chứa đựng một tư tưởng nhân văn cực kỳ lớn lao, thể hiện bản lĩnh cao cường của tác giả trước cuộc đời. Vì thế nó đã trở thành một “kiệt tác” thơ Việt thế kỷ XX. Mở đầu bài thơ, nhà thơ kể chuyện tỉ tê rất văn xuôi như không có gì đáng chú ý : “Tôi mồ côi cha  năm hai tuổi/ Mẹ tôi thương tôi không lấy chồng…/ Ngày ấy tôi mới lên năm/ Có lần tôi nói dối mẹ/ Hôm sau tưởng phải ăn đòn /
                                         Nhưng không mẹ tôi chỉ buồn
                                         Ôm tôi hôn lên mái tóc…
                                         Con ơi...trước khi nhắm mắt
                                         Cha con dặn con suốt đời
                                         Phải làm một người chân thật
  Đến đây thì  tư tưởng bài thơ bắt đầu xuất hiện. “Mẹ ơi chân thật là gì ?”- Đúng là câu hỏi rất ngây thơ của một đứa trẻ lên năm, nhưng lại là một câu hỏi lớn, rất khó trả lời đối với không ít người lớn giữa trường đời  đen bạc . “Chân thật”, bản tính hồn nhiên của con người đang bị méo mó, mai một, biến dạng dần đi do mọi người phải tìm cách bon chen, nịnh hót, nói dối, lừa lọc để tồn tại hoặc để được vinh thân phì gia. Thậm chí có người đã không chân thật rồi, lại còn ghét những người chân thật. Tục ngữ ta có câu “Nói thật mất lòng”. Đó là thực tế vô cùng trớ trêu của con người. Nhớ lời mẹ dặn, từ nhỏ, người lớn hỏi Phùng Quán:”Bé ơi, bé yêu ai nhất ? – Bé yêu những người chân thật. Từ chỗ phải làm người chân thật đến  thái độ “yêu những người chân thật” là đi từ mình đến xã hội rộng lớn.
                                           Mẹ tôi hôn lên đôi mắt
                                           Con ơi một người chân thật
                                           Thấy vui muốn cười cứ cười
                                           Thấy buồn muốn khóc là khóc
   Câu giải thích bước đầu  của người mẹ cho con vô cũng dễ hiểu. Thấy vui muốn cười là cười- thấy buồn muốn khóc là khóc. Nhưng đó là một chân lý sâu xa, một phương ngôn sống. Vì con người từ khi lọt lòng mẹ là thế, đó là bản tính tự nhiên không thể khác được. Nhưng chân lý giản đơn ấy làm nhiều người  ngạc nhiên tán thưởng, bởi vì đã từ lâu trong xã hội ta con người luôn sống ngược lại với ý  nghĩ của mình, không dám nói thật ý nghĩ của mình. Có khi vui mà dối lòng không cười được. Khi buồn lại nén lòng mà cười để mong làm vui lòng người khác. Sống dối lòng như thế con người dần dà bị biến thành một kẻ dối trá ! Một người dối trá. Trăm người dối trá. Triệu người dối trá. Một xã hội người dối trá !

 Sau cười khóc hồn nhiên là đến chuyện yêu ghét, một cấp độ cao hơn của thái độ và nhận thức, ứng xử của con người trong cộng đồng:
                                                 Yêu ai cứ bảo là yêu
                                                 Ghét ai cứ bảo là ghét.

 Nhắc đến nhà thơ Phùng Quán là người ta nhớ ngay đến “Yêu ai cứ bảo là yêu- Ghét ai cứ bảo là ghét”. Hai câu đó đã thành biểu tượng tinh thần, ý chí của anh. Yêu ghét rạch ròi là thái độ sống của người quân tử, của kẻ sĩ ở đời. Thái độ dứt khoát thể hiện ở động từ “ cứ bảo”. Cứ bảo là nói ngay, nói không cần đắn đo, suy tính.

 Nhưng sự đời không phải bao giờ cũng “ Yêu ai cứ bảo là yêu- Ghét ai cứ bảo là ghét” được, mà có rất nhiều sức ép buộc con người phải nói khác ý mình đi, dối trá, biến mình thành tôi tớ, “nói theo nói leo” làm lợi cho những người có thế lực có tiền bạc. Vấn đề là anh có đủ dũng khí để yêu là nói yêu, ghét là nói ghét hay không. Đoạn thơ sau đây là một cung bậc cao hơn, có thể gọi là thái độ bất khuất, không chịu luồn cúi của tác giả trước những thế lực cường quyền:
                                                  Yêu ai cứ bảo là yêu
                                                  Ghét ai cứ bảo là ghét
                                                  Dù ai ngon ngọt nuông chiều
                                                  Cũng không nói yêu thành ghét
                                                  Dù ai cầm dao doạ giết
                                                  Cũng không nói ghét thành yêu

 Đây là đoạn thơ hay nhất trong bài thơ, đã thành chân lý vĩnh  hằng trong lòng người yêu thơ Việt Nam từ 50 năm qua, đọc lên nghe như kinh nguyện. Nói yêu thành ghét- nói ghét thành yêu chính là bản chất của những kẻ cơ hội, tâm địa xấu xa, hèn yếu. Chỉ cần kẻ xấu “ngon ngọt nuông chiều”, hứa hẹn tiền tài địa vị hoặc “cầm dao doạ giết” là ngoan ngoan nói và làm theo chúng. Lịch sử Việt Nam đã có nhiều danh nhân vĩ đại nêu tấm gương trung nghĩa, không khuất phục trước cường quyền như Bà Trưng, Bà Triệu, Trần Quốc Toản, Cao Bá Quát, Lê Lợi, Trương Định, Vua Hàm Nghi.v.v..cùng hàng ngàn chiến sĩ kiên trung trong các nhà tù hay trên  các pháp trường của thực dân đế quốc trong hai cuộc kháng chiến…Chỉ mấy câu thơ của Lý Thường Kiệt  trước quân nhà Tống phương Bắc cách đây gần 1000 năm thôi, cũng đủ nói lên ý chí chí đó của người quân tử nước Nam : Nam quốc sơn hà Nam đế cư/ Tiệt nhiên định phận tại thiên thư / Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm / Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư . Ngược lại, nhiều việc nói theo người cầm quyền, làm theo ý đồ ngoại bang đã gây ra nhiều thảm hoạ đau thương cho nhân dân, đất nước. Từ chỗ sợ sệt, người ta trở nên hèn nhát. Một thời xứ ta sinh ra không ít “trí thức hèn”, “nhà văn hèn”. Những “Đại nhân hèn” ấy chỉ cần chìa ra trước mặt một ít bổng lộc, một tí chức tước quèn thôi đã không dám mở miệng nói chính kiến của mình, dù biết cấp trên nói sai, làm sai, vẫn ngoan ngoãn vâng lời. Cứ như thế ở xứ ta  đã đào tạo ra nhiều thế hệ “người hèn” ”gọi : dạ, bảo: vâng”, không còn tính độc lập suy nghĩ của người quân tử.
 Từ chuyện “chân thật”, “khóc cười”,“yêu ghét”, nhà thơ đã đưa người đọc đến bản lĩnh người cầm bút. Đây là mục tiêu cuối cùng mà bài thơ muốn đạt tới:
                                                   Năm nay tôi hai mươi lăm tuổi
                                                   Đứa bé mồ côi thành nhà văn
                                                   Nhưng lời mẹ dăn thuở lên năm
                                                   Vẫn nguyên vẹn màu son chói đỏ
                                                    Người làm xiếc đi trên dây rất khó
                                                    Nhưng chưa khó bằng làm nhà văn
                                                    Đi trọn đời trên con đường chân thật

  Đoạn thơ này chứng tỏ Phùng Quán nhận thức rất rõ một điều : Vì làm nhà văn chân thật là rất khó, nên đã có không ít nhà văn không đi trọn đời trên con đường chân thật. Trước sức ép của cường quyền, nhiều nhà văn đã  cam tâm “bẻ cong ngòi bút”, phục vụ cho những mục đích xấu xa. Ca ngợi cái xấu, đả kích cái tốt. Nhà thơ Xuân Sách đã vẽ rất chính xác chân dung méo mó, khốn khổ của hàng trăm nhà văn Việt Nam một thời qua tập thơ Chân dung nhà văn, vì lý do này lý do khác,  đã không đi trọn đời trên con đường chân thật!

 Còn Phùng Quán thì tuyên chiến với thói nịnh bợ, giả dối:
                                               Tôi muốn làm nhà thơ chân thật
                                               Chân thật trọn đời
                                                Đường mật công danh không làm ngọt lưỡi tôi
                                                Sét nổ trên đầu không xô tôi ngã
                                                Bút giấy tôi ai cướp giật đi
                                               Tôi sẽ dùng dao viết văn lên đá.

   Bài thơ lớp lang, đầy triết lý “sống thật, yêu thật, nói thật, viết thật”, thật đến tận cùng. Đoạn kết bài thơ là một tuyên ngôn sống, tuyên ngôn thơ. Mới 25 tuổi đời mà viết như thế là bản lĩnh, tiết tháo lắm lắm. Điều đáng khâm phục hơn là Phùng Quán suốt cuộc đời mình cho đến khi “nằm dài dưới đáy huyệt” đã sống như thế, viết như thế. Năm 1984, gần 30 năm, khi về thăm quê nội Huế, trong tiểu thuyết tình 13 chương bằng thơ “Trăng Hoàng Cung” , Phùng Quán một lần nữa nhắc lại tuyên ngôn này trong bài thơ “Tôi thích viết trên giấy có kẻ dòng” :
                                                     Là nhà văn
                                                    Tôi yêu tha thiết
                                                     Sự ngay thẳng tột cùng
                                                    Ngày thẳng thuỷ chung
                                                    Của mỗi dòng chữ viết

   50 năm qua, bài thơ “Lời mẹ dặn” đã trở thành tài sản tâm hồn của bao thế hệ thanh niên Việt Nam ở cả hai miền Nam Bắc. Hồi tôi  sưu tầm tài liệu để biên soạn cuốn “ Nhớ Phùng Quán”( NXB Trẻ, 2002), nhạc sỹ Phạm Duy ở nước ngoài đã gửi bản nhạc phổ bài thơ Lời mẹ dặn của Phùng Quán in trong tập“Tập nhạc Phạm Duy”(NXB Hồng Lĩnh USA, 1994) về cho nhà văn Nguyễn Đắc Xuân, nhờ chuyển cho chị Vũ Thị Bội Trâm với lời đề tặng “Kính tặng gia đình Phùng Quán”. Tôi đã coppy một bản để in vào sách,  Nhưng bài hát này không nằm trong quy định các bài hát của Phạm Duy được hát của Bộ Văn hoá thông tin lúc đó, nên thôi. Mới đây, Trung tâm Văn hoá doanh nhân và  Nhà xuất bản giáo dục đã tổ chức bình chọn 100 bài thơ Việt hay nhất thế kỷ XX. Tuy việc bình chọn thiếu chuẩn mực, có nhiều ý kiến không đồng tình với cách chọn và nhiều  tác giả thơ,  nhiều bài thơ được chọn không xứng đáng là thơ hay, chứ chưa nói “ hay nhất thế kỷ”. Nhà thơ Bằng Việt cho rằng chỉ 50% bài thơ là hay, còn  nhà thơ Trần Mạnh Hảo thì nói” đó là tập thơ” 30 bài thơ hay và 70 bài thơ dở của thế kỷ XX”. Nhưng việc chọn bài thơ Lời mẹ dặn của Phùng Quán là một trong những “bài thơ Việt hay nhất thế kỷ XX”, theo tôi là hoàn toàn chính xác.

 Thế nhưng, khi bài thơ ra đời, đã có nhiều nhà phê bình cho là bài thơ “mang biểu tượng hai mặt”, với ý đồ xấu. Ô hay, văn chương càng đa nghĩa càng hay, sao chỉ mới “hai mặt” đã  kêu.  Trong bài “Vạch thêm những hoạt động đen tối của một số kẻ cầm đầu trong nhóm Nhân văn-Giai phẩm” của Từ Bích Hoàng in trên Văn nghệ Quân đội số 5 (5/1958) có đoạn:” Phùng Quán làm bài thơ Lời mẹ dặn , Trần Dần, Văn Cao kéo Quán đi khao chả cá. Văn Cao khen :” Phùng Quán viết khá, không đánh vào hiện tượng mà đả thẳng vào bản chất. Những sáng tác kiểu hai mặt như thế nhan nhản ra đời…”. Có tờ báo lớn còn in hẳn bài thơ “ Lời mẹ dăn- Thật hay không ?” ký tên Trúc Chi  dài 112 câu, chửi bới , nhiếc móc thậm tệ tác giả Lời mẹ dặn . Xin trích mấy đoạn  ngắn:
                                       …Nó ghét chỗ thầy hiền bạn tốt
                                         Nó yêu nơi gái điếm cao bồi
                                         Ghét những người đáng yêu của thiên hạ
                                         Yêu những người đáng ghét của muôn người,
                                         Quen học thói gà đồng mèo mả
                                         Hoá ra thân chó mái chim mồi
                                         ….
                                         Theo lẽ thường: thì sét đánh không ngã
                                         Chắc trên đầu có cột thu lôi
                                         Nếm đường mật lưỡi không biết ngọt
                                         Chắc ăn tham vị giác hỏng rồi
                                         Nghề bút giấy đã làm không trọn
                                         Dùng dao khắc đá cũng  xoàng thôi !...
  Tác giả  bài thơ “ Lời mẹ dặn- Thật hay không ?” dùng lời lẽ côn đồ, hàng tôm hàng cá,  nhưng lại không hiểu những ý nghĩa, triết lý nhân văn cao sâu của những ý thơ Phùng Quán. Phùng Quán viết rằng yêu ai, ghét ai phải nói cho thật lòng, sống cho thật lòng. Nhưng Trúc Chi lại thuyết phải nên yêu ai, nên ghét ai. Hay những câu thơ Đường mật công danh không làm ngọt lưỡi tôi / Sét nổ trên đầu không xô tôi ngã / Bút giấy tôi ai cướp giật đi / Tôi sẽ dùng dao viết văn lên đá là hình ảnh biểu tượng, nghĩa bóng, Trúc Chi lại hiểu theo nghĩa tục, nên lên giọng mỉa mai. Vì thế bài thơ Lời mẹ dặn, cùng với bài Chống tham ô lãng phí là hai bài thơ làm cho tác giả của nó trở thành một tên trong bộ “bộ tứ” nhân văn giai phẩm, bị “đánh” tơi bời, phải “30 năm cá chịu, văn chui, rượu nợ”

 Sinh thời, nhà văn Phùng Quán kể với tôi rằng, khi đọc bài thơ Lời mẹ dặn - Thật hay không? trên đăng trên một báo lớn, anh  vừa buồn cười và tức giận. Anh quyết tâm tìm cho ra Trúc Chi là ai để “đối thoại trực tiếp” cho ra lẽ. Vì không thể hiểu nội dung bài thơ Lời mẹ dặn một cách thô thiển như thế được. Ở Hải Phòng có nhà văn Trúc Chi quê Phú Yên, nhỏ hơn Phùng Quán ba tuổi, là nhà văn miền Nam tập kết.Trúc Chi rất thân với Phùng Quán. Nhiều anh em bạn bè cho rằng, có thể Trúc Chi đã “phản bạn” để “xưng công”(!?). Phùng Quán buồn lắm. Anh quyết định cầm tờ báo Nhân Dân có in bài thơ “Lời mẹ dăn- Thật hay không?” nhảy tàu hoả xuống Hải Phòng tìm đến nhà Trúc Chi. Gặp nhau, nhà văn Trúc Chi rất mừng rỡ, nhưng khi Phùng Quán cho xem tờ báo thì Trúc Chi ngớ ra :” Lời mẹ dặn là bài thơ rất hay, mình thuộc lòng. Mình là người đàng hoàng, làm sao lại có thể viết bài thơ chửi bới tệ hại đối với cậu như thế được !”.

   Mãi đến năm 1989, có người gửi cho Phùng Quán tập thơ “Một đôi vần” của ông quan lớn Hoàng Văn Hoan, do Nhà xuất bản Văn hoá dân tộc Việt Bắc ấn hành, trong đó có bài thơ “ Lời mẹ dặn- Thật hay không?”. Nhà văn Xuân Đài, bạn chí thân của anh Phùng Quán trong suốt 30 năm bị biếm của đời anh, hiện đang sống và viết ở Thành phố Hồ Chí Minh xác nhận việc này là chính xác. Nhưng khi đó thì Hoàng Văn Hoan đã “tị nạn chính trị” tại Trung Quốc (rồi sau này chết chôn ở bên đó).

Mỗi bài thơ đều có số phận của nó. Lời mẹ dặn, là  một tuyệt tác thơ của dân tộc, dù bị chửi bới, vùi dập, nó vẫn sống mãi với thời gian, sống mãi trong lòng người yêu thơ. Yêu ai cứ bảo là yêu. Ghét ai cứ bảo là ghét. Dù ai cầm dao doạ giết...Cũng không nói ghét thành yêu…Giấy bút tôi ai cướp giật đi / Tôi sẽ dùng dao viết văn lên đá. Năm 2010, xây dựng lăng mộ anh chị Phùng Quán- Bội Trâm, chúng tôi đã khắc trích đoạn bài thơ Lời mẹ dặn lên đá granit nặng  tám người khênh, đặt trước mộ như lời nguyền của nhà thơ 

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Nghiên cứu quốc tế

Tìm hiểu chủ nghĩa toàn trị và chủ nghĩa chuyên chế

Nguồn: Edward Webb, “Totalitarianism and Authoritarianism”, in John T. Ishiyama and Marijke Breuning (eds), 21st Century Political Science, A Reference Handbook, (Thousand Oaks, CA: SAGE Publications, 2011), pp. 249 – 257.
Biên dịch: Phạm Hồng Anh | Hiệu đính: Lê Hồng Hiệp
Bước sang thế kỷ 20, một vài di chứng đen tối của thời kỳ cách mạng công nghiệp và chính trị cuối thế kỷ 18, đầu thế kỷ 19 bắt đầu xuất hiện: các nước hùng mạnh tiến hành những cuộc tàn sát bằng phương pháp “được công nghiệp hóa” và khủng bố trên diện rộng nhắm đến chính xã hội của mình. Những sự kiện như cuộc thảm sát người Do Thái (Holocaust), cuộc Đại Thanh Trừng của Stalin (Stalin’s Terror), và cuộc Cách mạng Văn hóa tại Trung Quốc đã thôi thúc các nhà khoa học chính trị lý giải cách thức và nguyên nhân tại sao các nhà nước đó lại vận hành theo cách như vậy. Mặc dù về cuối thế kỷ, một làn sóng dân chủ hóa lan rộng ở nhiều nơi trên thế giới, nhưng các chế độ phi dân chủ dưới nhiều dạng khác nhau, vốn từng phổ biến khắp nơi bên ngoài Tây Âu và Bắc Mỹ, nay tuy đã thu hẹp nhưng vẫn còn duy trì với số lượng lớn. Trong thế kỷ 21, khoa học chính trị phải tiếp tục phân tích những chế độ này, đồng thời đặt ra các câu hỏi đã trở thành thách thức với nghiên cứu hàng thập kỷ qua (ít nhất là kể từ sự trỗi dậy của chủ nghĩ phát xít, chủ nghĩa quốc xã (Nazi), và chủ nghĩa Stalin trong giai đoạn giữa hai cuộc chiến tranh thế giới):
  • Làm thế nào để phân loại và phân biệt một cách hữu hiệu nhất các loại chế độ phi dân chủ?
  • Các chế độ đó trỗi dậy như thế nào?
  • Các chế độ này nắm và giữ vững quyền lực bằng cách nào?
  • Trong hoàn cảnh nào thì các chế độ đó sụp đổ?
Chương này sẽ lý giải một số thách thức trong quá trình tìm kiếm định nghĩa và mô tả một cách thỏa đáng các nhóm chế độ phi dân chủ, và giới thiệu những quan điểm và cách tiếp cận mang tính lý thuyết xung quanh vấn đề này. Phần tiếp theo sẽ giải quyết một số vấn đề thực nghiệm về sự trỗi dậy, cách thức hoạt động và sự tàn lụi của các chế độ này ở thế kỷ 20 và đầu thế kỷ 21. Cuối cùng, chương này sẽ đưa ra một vài gợi ý về hướng đi triển vọng cho những nghiên cứu về sau.
Các vấn đề lý thuyết và định nghĩa
Định nghĩa và phân loại
Mặc dù những nguồn gốc lý thuyết về chủ nghĩa chuyên chế hiện đại có thể được tìm thấy trong các tác phẩm cổ điển về tư tưởng chính trị, bao gồm “Nền cộng hòa” (Republic) của Plato, “Thủy quái” (Leviathan) của Hobbes, và “Bàn về Khế ước xã hội” (On the Social Contract) của Rousseau, phần lớn những phân tích khoa học chính trị hiện đại thường (ngầm) dựa vào khái niệm “thẩm quyền chính đáng” (legitimate authority) của Max Weber (1947/1964). Theo Weber,
Thẩm quyền chính đáng được chia làm 3 loại thuần túy. Giá trị của những tuyên bố về tính chính đáng có thể dựa trên: 1. Nền tảng lý trí được xây dựng trên niềm tin vào tính hợp pháp của mô hình gồm những luật lệ quy phạm và quyền của những người lên nắm chính quyền đưa ra mệnh lệnh trong phạm vi những luật lệ đó (legal authority – thẩm quyền pháp lý); 2. Nền tảng truyền thống được xây dựng trên một niềm tin vững chắc vào tính bất khả xâm phạm của những truyền thống xa xưa, và vào tính chính đáng của thẩm quyền thực thi quyền hạn theo những truyền thống đó (traditional authority – thẩm quyền truyền thống); hay cuối cùng, 3. Nền tảng hấp dẫn dựa trên sự hy sinh cho những điều thiêng liêng cụ thể và đặc biệt, nhân cách anh hùng hay tấm gương của một cá nhân, và của những mẫu hình quy phạm về trật tự được khai mở hoặc quy định bởi người đó (charismatic authority – thẩm quyền lôi cuốn) (tr. 328).
Nền dân chủ tự do hiện đại dựa trên nền tảng thẩm quyền pháp lý, hay tính chính đáng được thừa nhận từ kết quả của những cuộc bầu cử tự do và công bằng được tiến hành theo những thủ tục mà tất cả công dân đều tán thành, ít nhất là về mặt khái niệm. Các chế độ hiện đại khác thì dựa vào một danh sách dài hơn gồm những lý lẽ biện hộ cho sự cai trị của mình. Điều này không có nghĩa rằng thẩm quyền các chế độ phi dân chủ được xây dựng chỉ từ hai nguồn: thẩm quyền truyền thống hoặc thẩm quyền lôi cuốn, mặc dù cả hai loại thẩm quyền này đều đã và đang tồn tại trong các chế độ phi dân chủ, ví dụ như một số nước quân chủ ở Trung Đông (những nước này đều là các chủ thể hiện đại vận dụng sự trung thành với truyền thống), hay sức lôi cuốn của Hitler, Franco, hay Peron. Một số nhà khoa học chính trị đã áp dụng khái niệm của Weber về cai trị dựa trên truyền thống nhằm phát triển các phạm trù hiện đại như chế độ tân gia trưởng (neopatrimonialism) hay chế độ quân chủ Hồi giáo (sultanism) trong việc mô tả nhiều chế độ ở khu vực Trung Đông và Châu Phi hạ Sahara, nhưng không phải mọi học giả về chế độ chuyên chế đều dùng các thuật ngữ này.
Phần lớn các chế độ chuyên chế thường dựa trên nền tảng kết hợp tính chính đáng và sự cưỡng chế. Những công cụ có thể được sử dụng bởi một chế độ đang quản lý một quốc gia hiện đại nhằm truyền bá tính chính đáng và đồng thời thực hiện áp bức phong phú hơn so với thời các bạo chúa trong lịch sử, kể cả những quân vương chuyên chế như Vua Louis XIV của Pháp. Các nhà nước hiện đại có khả năng tổ chức toàn thể xã hội thông qua công nghệ truyền thông, bộ máy chính quyền rộng khắp, và hỏa lực tuyệt đối, nếu đó là con đường các quốc gia này chọn lựa.
Những chế độ chuyên chế là những chế độ phi dân chủ. Nói cách khác, chế độ chuyên chế là sự thiếu vắng hoặc hạn chế của hệ thống đa trung tâm quyền lực (polyarchy) (Dahl, 1979) hoặc có sự giới hạn về chính trị ngay trong bản thân chế độ:
Ở các chế độ chuyên chế, chỉ có duy nhất một dạng hạn chế của chính trị, bởi sự tranh giành quyền lực giữa các phe phái trong chế độ độc đảng và những bất đồng trong quân đội hay bộ máy chính quyền không hề giống như chính trị thực sự – chính trị được tiến hành trong bối cảnh một nền văn hóa công dân (a civic culture). (Pye, 1990, tr. 15)
Mặc dù thiếu dân chủ là yếu tố cốt lõi trong định nghĩa về chế độ chuyên chế, chúng ta không thể đơn giản đánh đồng chế độ này với sự thiếu vắng của các cuộc bầu cử.  Bầu cử là một công cụ chính đáng hóa chính quyền được sử dụng bởi hầu hết các chế độ, nhằm đáp lại một nhu cầu phổ biến rằng chính quyền sẽ thay mặt dân chúng điều hành đất nước. Có rất nhiều cách để một cuộc bầu cử hoặc trưng cầu dân ý có thể được thao túng để đạt được kết quả như ý cho các nhà chức trách, hoặc nhằm hạn chế kết quả trong một phạm vi khả năng đă được khoanh vùng. Ở nước Cộng hòa Hồi giáo Iran, ứng viên cho các cơ quan nhà nước ganh đua trong các cuộc bầu cử thực sự mang tính cạnh tranh, nhưng những nhà cầm quyền tôn giáo đã loại bỏ rất nhiều ứng viên tiềm năng ra khỏi cuộc đua. Tại Ai Cập, tổ chức Anh em Hồi Giáo bị cấm hoạt động như một đảng chính trị, điều đó có nghĩa rằng những ứng cử viên từ tổ chức này phải cạnh tranh như những ứng viên độc lập. Hơn nữa, quá trình bỏ phiếu thường bị cản trở bởi nạn gian lận phiếu bầu, đe dọa người bầu cử, hối lộ, và các tệ nạn khác. Đương nhiên ở các chế độ độc đảng, chỉ có ứng cử viên của đảng cầm quyền mới có thể ứng cử. Nhưng không phải mọi cuộc bầu cử trong những trường hợp trên đều vô nghĩa. Điều quan trọng là những nhà chức trách cấp cao đã tìm cách tránh được sự cạnh tranh hiệu quả thông qua hòm phiếu.
Vậy có bao nhiêu loại chế độ? Một sự phân chia rạch ròi giữa dân chủ và phi dân chủ dường như còn khiến chính những lý giải phức tạp hơn. Tuy nhiên, cách thức một sự phân loại chế độ được phát triển và áp dụng nhằm đạt được những tiến triển trong lý luận và phân tích thực nghiệm là một vấn đề chưa đạt được sự đồng thuận giữa các nhà khoa học chính trị và tiếp tục đưa ra những thách thức cho việc phát triển lý luận.  Trong một tranh cãi gần đây về vấn đề phân loại chế độ, Stephen Hanson và Jeffrey Kopstein (2005) đã cảnh báo về việc phát sinh ra “số lượng cách thức phân loại nhiều ngang số lượng các nhà nghiên cứu xã hội” (tr.77).
Một hướng tiếp cận là đưa ra cách phân loại tỉ mỉ, bao gồm nhiều phạm trù riêng biệt. Ví dụ, chế độ độc tài có thể được phân loại thành chế độ độc tài tuyệt đối – autodictatorship (không có bầu cử), chế độ độc tài độc nhất – monodictatorship (bầu cử không có tính cạnh tranh), và chế độ bán độc tài – semidictatorship (bầu cử chỉ có một phần cạnh tranh); và tiếp đó mỗi loại lại có thể được chia nhỏ hơn thành độc tài quân sự, độc tài đảng phái, hoặc độc tài cá nhân. Hoặc chúng ta có thể lựa chọn phân chia theo nấc thang từ phi dân chủ đến dân chủ (Diamond, Linz và Lipset, 1998). Cách tiếp cận này được sử dụng bởi các tổ chức như Freedom House, nơi thường đánh giá mức “điểm dân chủ” của các chế độ trên thế giới. Một hướng tiếp cận khác đưa ra một vài hạng mục lớn, sau đó xác định các mục nhỏ trong các hạng mục lớn đó bằng các tính từ. Đây là một cách tiếp cận được thiết kế để định rõ đặc điểm các chế độ khác nhau đang nổi lên những năm gần đây [đồng thời] duy trì được giá trị về mặt khái niệm bằng cách tránh lạm dụng chính các khái niệm” (Collier và Levitsky, 1997, tr. 448). Cách tiếp cận này “sản sinh” ra những khái niệm như chế độ chuyên chế “mềm” (soft authoritarianism) và nền dân chủ “phi tự do” (illiberal democracy) (xem Chương 31, “Chế độ bán chuyên chế” (Semi-Authoritarianism), và Chương 32, “Các hình mẫu dân chủ” (Models of Democracy) trong quyển sách này).
Cách một người phân chia các chế độ khác nhau sẽ phụ thuộc vào những tính chất mà người đó tin rằng thực sự quan trọng về mặt lý luận. Trong một bài báo năm 2007, Axel Hadenius và Jan Teorell cho rằng các biến số thể chế (institutional variables) là những dấu hiệu quan trọng nhất chỉ ra chế độ chuyên chế nào sẽ có xu hướng tồn tại bền vững, chế độ nào sẽ hướng đến dân chủ hóa. Cách phân loại này trước hết đặt ra một đường phân chia rõ ràng giữa các chế độ dân chủ và các chế độ chuyên quyền, tiếp đó chia chế độ chuyên quyền thành các chế độ: quân chủ, quân đội và bầu cử, cho dù đó là bầu cử vô đảng, độc đảng, hay đa đảng hạn chế. Đối lập với hai nhà nghiên cứu nói trên, Bradley Glasser (1995) đã phát triển một cách phân loại các chế độ ở Trung Đông dựa trên sự tiếp cận các nguồn lực tài nguyên, nhằm giải thích tính lâu bền của một số chế độ chuyên chế ở khu vực này và sự tự do hóa tương đối của một số chế độ khác.
Xác định cách phân loại nào hiệu quả nhất là một phần thách thức cho nghiên cứu tương lai. Sách của Paul Brooker (2000) cung cấp một cái nhìn tổng quát và thảo luận xuất sắc về nghiên cứu phân loại cho đến nay. Có thể sẽ hữu ích khi chúng ta xác định những phân loại tổng quát về chế độ, dựa trên cấu trúc thể chế, trước khi xem xét những vấn đề cụ thể mà khái niệm chủ nghĩa toàn trị (totalitarianism) mang lại.
Chế độ đảng trị (party regimes) là những chế độ mà ở đó chính phủ do một đảng duy nhất hoặc một đảng thống trị nắm quyền. Chế độ độc đảng (single party regimes) có một đảng gắn liền với quốc gia và không cho phép bất kì đảng nào khác hoạt động. Ngay cả trong nhóm chế độ này, có thể tồn tại sự khác biệt đáng kể về hệ tư tưởng mà qua đó đảng biện minh cho sự cầm quyền của mình, bất kể đảng đó có các cấu trúc an ninh hay dân quân riêng hay không, cũng như các yếu tố khác nữa. Chế độ một đảng thống trị (dominant party regime) cho phép các đảng khác cạnh tranh một cách hạn chế. Các chế độ đảng trị có thể theo bất cứ hình thức hệ tư tưởng nào, tuy nhiên hai hệ phổ biến nhất là cánh tả (cộng sản hoặc xã hội chủ nghĩa), và cánh hữu (phát xít hoặc dân tộc chủ nghĩa). Các đảng dân túy (populist) có thể kết hợp các yếu tố liên quan đến cả hai cánh tả và hữu. Có thể nói hệ tư tưởng không phải là nhân tố hữu ích để phân tích những chế độ này bằng việc xem yếu tố đảng phái chủ yếu như là một công cụ để nắm giữ quyền lực.
Một dạng khác của hệ thống phi dân chủ là chế độ quân đội trị (military regime). Ở đây một lần nữa tên gọi này bao gồm một phạm vi rộng các hệ thống khác nhau, cả về mặt lý luận và thực tiễn. Quân đội có thể cai trị trực tiếp, thông qua một độc tài hoặc một hội đồng cai trị. Quân đội cũng có thể cai trị gián tiếp, thông qua liên minh với các chính trị gia được lựa chọn và người cai trị được chỉ định. Sự cai trị cũng có thể được thực hiện thông qua một đảng tiên phong (front party), đảng này đương nhiên sẽ thể hiện bản chất của đảng đó  chế độ quân đội. Một chế độ quân đội có thể đại diện cho cả quân đội hoặc chỉ một bộ phận trong quân đội đó. Nó có thể mong muốn cai trị vĩnh viễn hoặc sử dụng sự can thiệp vào chính trị như một biện pháp tạm thời để giải quyết một vài vấn đề nguy cấp, như sự đe dọa đến an ninh quốc gia hay đe dọa đến lợi ích của quân đội với tư cách một thể chế.
Dạng thứ ba của chế độ phi dân chủ là chế độ cá nhân trị (personalist regime). Đây là chế độ độc tài của riêng một cá nhân và so với hai loại trên, chế độ này có xu hướng dựa vào thẩm quyền truyền thống hay thẩm quyền lôi cuốn hơn là thẩm quyền pháp lý. Một điểm khác biệt then chốt giữa chế độ cá nhân trị với hai loại chế độ đã bàn luận đó là: nền tảng tuyên bố cai trị nằm ở yếu tố cá nhân (những) kẻ thống trị, cho dù quyền lực của họ là kết quả tự nhiên hay thành tích đạt được, hay thông qua việc nối dõi, hoặc những mối liên hệ khác với thẩm quyền được người dân sùng bái.
Một trong những tác phẩm kinh điển về các chế độ chuyên chế là cuốn “Nguồn gốc của chủ nghĩa toàn trị” (The Origins of Totalitarianism) của Hannah Arendt (1951/1973). Đã có nhiều cuộc tranh luận về việc liệu thuật ngữ chủ nghĩa toàn trị có hữu ích cho việc phân tích trong vai trò một khái niệm tách biệt so với khái niệm rộng hơn – chế độ chuyên chế – hay không. Được viết sau thảm kịch Chiến tranh Thế giới lần thứ hai, tác phẩm của Arendt trước hết là một nỗ lực giải thích biến động lớn đã khiến châu Âu đầu hàng chế độ Quốc xã. Con đường phát triển của nhân loại đã đi trật bánh thảm hại như thế nào? Ít nhất một phần câu trả lời nằm ở khả năng vô tiền khoáng hậu của các quốc gia và phong trào hiện đại nhằm thống trị hoàn toàn xã hội và con người: “Chủ nghĩa toàn trị đã khám phá ra một phương thức thống trị và khủng bố nhân loại từ bên trong” (Arendt, 1951/1973, tr.325). Một vế khác của câu trả lời chính là sự nổi dậy của chính trị quần chúng; của luật lệ theo số đông và sự thất bại trong việc bảo vệ các quyền thiểu số và cá nhân; và của nỗ lực nhằm đồng hóa con người trở thành một tập thể hoàn toàn thống nhất.
Một tác phẩm kinh điển khác ủng hộ đặc điểm khác biệt của chế độ toàn trị là cuốn “Chủ nghĩa độc tài toàn trị và chế độ chuyên quyền” (Totalitarian Dictatorship and Autocracy) của Carl Friedrich và Zbigniew Brzezinski (1965). Các tác giả lập luận rằng tất cả các chế độ độc tài toàn trị mang những tính chất sau:
1. Một hệ tư tưởng phức tạp, được cấu thành bởi một học thuyết chính thức bao quát mọi mặt thiết yếu của sự tồn tại mà mọi người trong xã hội phải gắn liền với… 2. Một đảng đại chúng điển hình được lãnh đạo bởi một người, kẻ độc tài, và bao gồm một phần trăm rất nhỏ dân chúng… 3. Một hệ thống khủng bố, tấn công cả thể xác lẫn tinh thần, chịu ảnh hưởng của đảng lãnh đạo và cảnh sát mật… 4. Một sự độc quyền kiểm soát về kỹ thuật và gần như tuyệt đối với tất cả các phương tiện truyền thông đại chúng, nằm trong tay đảng và chính phủ… 5. Một sự độc quyền kiểm soát về kỹ thuật và gần như tuyệt đối với việc sử dụng hiệu quả tất cả các vũ khí dùng cho chiến đấu vũ trang. 6. Một sự kiểm soát và định hướng cho toàn bộ nền kinh tế xuất phát từ trung ương. (tr. 22)
Họ không trình bày hết mọi khía cạnh của 6 đặc tính này nhưng tranh luận rằng chúng đã “được xem rộng rãi như những nét đặc trưng của chế độ độc tài toàn trị” (tr.23).
Chế độ toàn trị là một chế độ kiểm soát thành công mọi mặt của xã hội, xóa bỏ sự khác biệt giữa nhà nước và tư nhân, thậm chí tham vọng kiểm soát được cả những mặt riêng tư nhất của đời sống và suy nghĩ từng cá nhân. Những bức chân dung lột tả chân thực và mạnh mẽ về những chế độ như vậy có thể tìm thấy trong các cuốn sách “1984” của Orwell, “Thế giới mới can đảm” (Brave New World) của Aldous Huxley, bộ phim “Brazil” của Terry Gilliam, và các tác phẩm khác. Những người phản đối việc sử dụng phạm trù này trong khoa học chính trị tranh luận rằng những xã hội như vậy chưa từng tồn tại trong lịch sử, kể cả khi chế độ đó có tham vọng đạt được sự kiểm soát ở mức cao như thế. Nếu chế độ toàn trị đã từng tồn tại, thuật ngữ này có thể áp dụng gần nhất với Đệ tam đế chế (Đức Quốc Xã), Liên Xô dưới thời Stalin, Iraq dưới thời Saddam Hussein (còn tranh cãi), và có thể là Triều Tiên. Phát xít Ý không nên được liệt vào danh sách này:
Chủ nghĩa phát xít có tham vọng “toàn trị”; trên thực tế Mussolini đã đặt ra thuật ngữ này. Nhưng… sự kiểm soát của Mussolini với xã hội nước Ý không cứng rắn, triệt để như Hitler hay Stalin, ảnh hưởng của ông ta cũng không rộng khắp đến vậy. Phát xít Ý vẫn còn để trống nhiều lĩnh vực xã hội rộng lớn. (Lyttelton, 1987, tr.1)
Một vài người đặt câu hỏi rằng dù có bộ máy tuyên truyền rộng rãi và chiến dịch khủng bố nhà nước, ngay cả các chế độ của Hitler hay Stalin có thực sự không bỏ sót bất cứ lĩnh vực quan trọng nào của đời sống xã hội không? Chế độ Saddam với tệ sùng bá lãnh đạo cũng có ham muốn xâm phạm tất cả các lĩnh vực đời sống, làm cho con cái chống lại cha mẹ, biến tất cả mọi người thành mật thám, và thực sự đã thành công đến một mức đáng kể (al-Khalil, 1990). Và thật khó để đưa ra một đánh giá chắc chắn về Triều Tiên bởi nước này vẫn là một “vương quốc cô lập” – một xã hội khép kín được cai trị bởi một “triều đại tự huyễn hoặc” (paranoid dynasty) thông qua nhiều công cụ được sử dụng bởi các chế độ khác, nhưng rất khó để cho người ngoài nghiên cứu và đánh giá (bộ phim tài liệu “A State of Mind” của đạo diễn Daniel Gordon là một cơ hội hiếm hoi hé lộ về những công cụ quản lý xã hội của chính quyền đầy bí ẩn này).
Một số người phản đối đã coi thuật ngữ chủ nghĩa toàn trị là trống rỗng về mặt lý luận bởi, ví dụ như, nó đơn giản chỉ là một nhánh cụ thể của chế độ chuyên chế (Barber, 1969). Tuy vậy nhiều người khác vẫn muốn áp dụng thuật ngữ này rộng rãi trong việc xác nhận tham vọng của nhiều chế độ chuyên chế hiện đại, ngay cả khi các chế độ này thất bại trong việc quản lý toàn diện xã hội (Friedrich, 1969). Nhưng một trong những đóng góp quan trọng cho lĩnh vực này của Juan Linz (1975) là đưa ra sự phân biệt giữa ba chế độ: toàn trị, chuyên chế và dân chủ (loại bỏ những biến thể như chế độ chuyên quyền Hồi giáo), và lý luận rằng chế độ toàn trị và chế độ chuyên chế là những thể loại khác biệt thuộc chế độ phi dân chủ, thay vì chỉ là những ví dụ của cùng một hệ trục. Theo Linz, chế độ chuyên chế có những đặc trưng riêng phân biệt với chế độ toàn trị, đó là sự hạn chế về đa nguyên chính trị, sự rã đám, không vận động quần chúng (demobilization), hoặc sự vận động quần chúng bị hạn chế hoặc bị kiểm soát.
Các cách tiếp cận trên lý thuyết
Brooker đã tranh luận rằng không thể có một lý thuyết về bản thân chế độ chuyên chế. Thay vào đó, chúng ta có thể nghiên cứu các dạng khác nhau của chế độ này và cố gắng lý giải các mặt khác nhau của chúng – làm thế nào chế độ tồn tại, giữ vững quyền lực và điều gì có thể khiến nó sụp đổ. Tuy nhiên, cho tới nay, trong những nỗ lực giải thích những khía cạnh khác nhau này, chúng ta có thể nhận thấy một vài hướng tiếp cận lớn, bắt nguồn từ tâm lý học, từ việc phân tích các quan niệm và tư tưởng, và từ cấu trúc và thể chế.
Một cách tiếp cận cũ hơn dựa trên tâm lý học, đặc biệt liên quan với Trường phái Frankfurt, pha trộn các nhân tố tư tưởng Freud và Marx. Một tác phẩm kinh điển theo hướng này là cuốn “Tính cách chuyên chế” (The Authoritarian Personality) của Theodor Adorno và các cộng sự (1950). Cách tiếp cận này coi bản thân các nét tính cách cá nhân, vốn là sản phẩm của hoàn cảnh xã hội trong cuộc sống hiện đại, chính là điều kiện tác động đến sự nổi lên của các phong trào quần chúng. Wilhelm Reich (1970) ủng hộ quan điểm này:
“Chủ nghĩa Phát xít” chỉ là biểu hiện chính trị có tổ chức của kết cấu tính cách của một người bình thường… thái độ cảm xúc cơ bản của một người bị đàn áp bởi nền văn minh máy móc chuyên chế, cùng với những quan niệm thần bí mang tính máy móc về cuộc sống. Chính tính cách thần bí mang tính máy móc của con người hiện đại đã cho ra đời các đảng phát xít, chứ không phải điều ngược lại. (tr. xiii)
Có một hướng tiếp cận khác theo cách diễn giải, sử dụng chính các ý niệm và tư tưởng làm công cụ giải thích. Mặc dù là một tác phẩm xã hội học và lịch sử, cuốn sách của Arendt (1951/1973) vẫn dành sự quan tâm nhất định đến khía cạnh này. Gần đây hơn, Lisa Wedeen (1999) đã áp dụng cái nhìn diễn giải đối với sự sùng bái lãnh đạo ở Syria và rút ra những kết luận đáng chú ý về việc tôn sùng tưởng chừng rất vô lý và khó tin kia đã trở thành một công cụ quyền lực ngăn cản sự tiến bộ của một xã hội dân sự như thế nào.
Được đúc kết từ Marx và Weber, cách tiếp cận theo hướng lịch sử-thể chế, hay xã hội học lịch sử, đã đóng góp khá nhiều công trình khả quan trong lĩnh vực này. Tác phẩm của Skocpol về cách mạng xã hội là một minh chứng rất thuyết phục cho hướng tiếp cận này. Tác phẩm của Skocpol về các cuộc cách mạng xã hội là một ví dụ nhiều ảnh hưởng của cách tiếp cận này, nhưng bên cạnh đó còn rất nhiều nhà khoa học khác, như Linz và Guillermo O’Donnell. Một vài ví dụ gần đây bao gồm những đóng góp của họ cho số đặc biệt của tạp chí Comparative Politics tháng 1/2004 bàn về “Chế độ chuyên chế dai dẳng: Bài học từ Trung Đông cho Lý thuyết So Sánh” (Enduring Authoritarianism: Lessons From the Middle East for Comparative Theory) và công trình của Jason Brownlee (2007), người nghiên cứu về các đảng cầm quyền.
Brooker (2000) đã đề xuất hướng tiếp cận mang tính mổ xẻ nguyên nhân (forensic) đối với nghiên cứu sự nổi lên, duy trì và sụp đổ của các chế độ phi dân chủ; nói cách khác, khi phân tích phải xem xét các động cơ, phương tiện và cơ hội. Đây là một cách tiếp cận so sánh lịch sử khá rộng, người nghiên cứu không bắt buộc phải đặt ưu tiên trước cho một yếu tố nào, ví dụ như đơn vị so với cấu trúc hay ngược lại. Cách tiếp cận này cũng cho phép so sánh trên diện rộng giữa các chế độ phi dân chủ với nhau và giữa chúng với các chế độ dân chủ. Đây là một khuôn khổ mở hữu ích, tạo điều kiện để có thể xem xét nhiều vấn đề cụ thể hơn.
Những vấn đề thực nghiệm
Nguồn gốc của các chế độ toàn trị và chế độ chuyên chế
Nhiều chế độ chuyên chế hiện đại là kết quả của các cuộc cách mạng, khởi đầu với thời kỳ Khủng bố (the Terror) xảy ra sau cuộc Cách mạng Pháp, và bao gồm Cách mạng Bolshevik năm 1917 tại Nga và cuộc cách mạng tại Trung Quốc do Mao Trạch Đông lãnh đạo. Cuộc cách mạng của Mao đã thiết lập một chế độ chuyên chế tồn tại vững chắc đến thế kỷ 21 ở quốc gia đông dân nhất thế giới. Cách mạng Iran từ 1977 đến 1979 đánh dấu sự bắt đầu của một dạng chính quyền bán dân chủ đặc biệt – đó là Cộng hòa Hồi giáo.
Theda Skocpol (1979) đã lập một khung nghiên cứu về lịch sử cấu trúc và so sánh để phân tích những cuộc cách mạng trong cuốn “Nhà nước và Cách mạng xã hội” (States and Social Revolutions), một trong những tác phẩm cần đọc trong lĩnh vực này. Bà đã kết luận rằng lời phỏng đoán kinh điển của chủ nghĩa Marx về mâu thuẫn giai cấp dẫn đến biến chuyển cách mạng đã không cân nhắc đầy đủ vai trò quyền lực nhà nước, và đã không “giải thích thỏa đáng quyền lực tự trị, dù hay dù dở, của nhà nước trong vai trò bộ máy hành chính và cưỡng chế được gắn vào một hệ thống nhà nước quốc tế được quân sự hóa” (tr. 292). Cách mạng được tiến hành rộng rãi do khả năng suy giảm của nhà nước trong việc độc quyền sử dụng vũ lực hợp pháp, nguyên nhân thường xuyên là do sự kết hợp đồng thời giữa áp lực quốc tế – trên tất cả là chiến tranh – và sức ép về kinh tế xã hội trong nước. Bà cũng tranh luận rằng, đối lập với tiên đoán của chủ nghĩa Marx về sự tàn lụi của nhà nước sau một cuộc cách mạng thành công, thì “những nhà nước với chế độ mới ra đời ở Pháp, Nga và tương tự là Trung Hoa thậm chí còn hùng mạnh hơn và tự trị hơn trong lòng xã hội” (tr. 285). Mặc dù hình thái tư tưởng và kinh tế-xã hội của ba chế độ hậu cách mạng này tương đối khác nhau, nhưng sự lớn mạnh của nhà nước là một kết quả đồng nhất cho cả ba trường hợp. Ở hai trường hợp sau, như trong nhiều ví dụ về chế độ chuyên chế ở thế kỷ 20, thẩm quyền của nhà nước được xem như một công cụ cần thiết để giải quyết vấn đề “đuổi kịp” các nước có nền kinh tế phát triển hơn.
Cách mạng ở Iran đặt ra một thách thức với việc nghiên cứu cách mạng xã hội, như Skocpol (1982) thừa nhận trong một bài luận xuất bản không lâu sau tác phẩm năm 1979 của bà. Trái ngược với những đánh giá của mình về các cuộc cách mạng trước, bà buộc phải công nhận các ý niệm và tư tưởng đóng một vai trò nguyên nhân độc lập lớn hơn, và nhấn mạnh vai trò của cơ quan tổ chức lên trên yếu tố cơ hội. Cách mạng  Iran nổ ra không phải trong hoàn cảnh nhà nước suy yếu vì chiến tranh, mà vào thời điểm chế độ Shah (hay quốc vương Iran) được Mỹ chống lưng, tập trung trong tay nguồn binh lính, cảnh sát và tình báo dồi dào. Cuộc cách mạng này không chỉ đơn giản “nổ ra” mà chắc chắn đã được “tạo nên” bởi một liên minh các lực lượng xã hội bất mãn với chế độ.
Giành chính quyền, sau đó sử dụng các thể chế như là công cụ để thay đổi và hướng đến một xã hội tốt đẹp hơn là những mục tiêu chung của các cuộc cách mạng, bất kể những chi tiết cụ thể của tư tưởng vận động quần chúng như thế nào. Thay vì tập trung vào hệ tư tưởng – hay sau đó là “động cơ” theo cách tiếp cận của Brooker – có lẽ sẽ hữu ích hơn nếu chúng ta nghiên cứu những vấn đề về phương tiện và cơ hội.
Cơ hội thường đến từ sự tan rã của trật tự chính trị và xã hội hiện hành, bởi chiến tranh, nền kinh tế đứt mạch, và thất bại của các thể chế, như đã xảy ra ở Ý và Cộng hòa Weimar của Đức giữa hai cuộc Chiến tranh Thế giới. Trong những trường hợp này, cuộc cách mạng có thể hoàn toàn mang tính xã hội theo nghĩa rằng nó được thúc đẩy bởi một phong trào rộng lớn của quần chúng nhằm giành lấy quyền lực, mặc dù thông thường chỉ là một nhóm nhỏ tận dụng được thời cơ lật đổ chính quyền cũ. Nhưng trong nửa cuối thế kỷ 20, động lực này đã thay đổi bởi các thể chế nhà nước, và trên tất cả, các công cụ cưỡng chế nhà nước đã trở nên mạnh mẽ hơn trước. Chuyển đổi chế độ có xu hướng bị áp đặt qua lực lượng quân đội, từ bên trong hoặc bên ngoài: “Một khi quá trình phi thực dân hóa kết thúc, với những lực lượng quân đội hiện đại được thiết lập, các cuộc cách mạng xã hội có xu hướng giảm dần – trong khi những cuộc đảo chính quân sự ở nhiều dạng khác nhau vẫn xảy ra khá thường xuyên” (Skocpol, 1979, tr. 290). Các nhà nước đã tăng cường khả năng giữ vững trật tự, ngăn chặn những cuộc vận động quần chúng chống lại mình, nhờ vào những tiến bộ khoa học kĩ thuật. Viễn cảnh cho các cuộc cách mạng xã hội theo đó cũng nhạt nhòa dần, bởi vậy một số phân tích gần đây ít nhiều loại bỏ vai trò nổi trội của dân chúng trong sự hình thành các chế độ chuyên chế, thay vào đó nhìn nhận chế độ này là sản phẩm từ những quyết định của giới tinh hoa lãnh đạo, mà quần chúng là những người ngoài cuộc vô tội chỉ mong mỏi một nền dân chủ (ví dụ, Bermeo, 2003).
….
Xem phần còn lại của nội dung văn bản tại đây: CN toan tri va CN chuyen che.pdf
- See more at: http://nghiencuuquocte.net/2014/01/21/cn-toan-tri-va-cn-chuyen-che/#sthash.2qZqYPgA.dpuf

Phần nhận xét hiển thị trên trang

"VƯƠNG TRIỀU" TRUNG QUỐC KHÔNG BÌNH YÊN



BÙI MẪN HÂN[1]: Đôi khi những cuốn sách mà các nhà lãnh đạo cấp cao của quốc gia đọc có thể tiết lộ khá nhiều điều thú vị về những gì họ đang tư duy.
Gần đây, một trong những cuốn sách mà một ủy viên Ủy ban Thường vụ Bộ Chính trị của Đảng Cộng sản Trung Quốc(một nhân vật được Đảng Cộng sản Trung Quốc lựa chọn để chuyển giao quyền lực tại Đại hội XVIII, 8-2012) nghiền ngẫm có thể là một bất ngờ lớn - sách Chế độ cũ và cách mạng (tác giả: Alexis de Tocqueville).
Tập Cận Bình - TBT Đảng CSTQ, Chủ tịch nước CHND Trung Hoa
Nhà lãnh đạo này không chỉ nghiên cứu dự báo của Alexis de Tocqueville về những yếu tố xã hội vào đêm trước của cách mạng Pháp, mà còn chỉ dụ cho những đồng sự cùng đọc.

Một câu hỏi được đặt ra: Tại sao người lãnh đạo tương lai của đất nước Trung Quốc lại quan tâm đến những phân tích của một nhà kinh điển nước ngoài về cuộc cách mạng xã hội? Câu trả lời thật đơn giản: Nhà lãnh đạo này có thể hoặc đã dự cảm, hoặc bằng những đoán định lý tính đã nhìn ra tình huống khủng hoảng đang đến gần và đe dọa sự tồn vong của Đảng Cộng sản Trung Quốc giống như cuộc cách mạng Pháp đặt dấu chấm hết cho sự tồn tại của vương triều Bourbon.

Các dấu hiệu khủng hoảng đã hiện rõ: Dòng vốn chảy từ Trung Quốc ra nước ngoài đạt đỉnh cao kỷ lục. Những cuộc điều tra, phỏng vấn các nhà triệu phú đô la Trung Quốc cho thấy có đến một nửa trong số họ muốn di cư ra nước ngoài. Dưới áp lực đòi dân chủ hóa ngày một tăng, nhà lãnh đạo Tập Cận Bình đã có cuộc gặp gỡ với con trai Cố Tổng Bí thư Hồ Diệu Bang – nhà cải cách chính trị, biểu tượng đấu tranh cho tự do, dân chủ. Mặc dù không nên khoác lên một cuộc viếng thăm quá nhiều ý nghĩa như vậy, song có thể khẳng định một cách chắc chắn rằng, nhà lãnh đạo mới của Trung Quốc nhận thấy “Thiên triều” đang trở nên bất ổn.

Quan điểm cho rằng một cuộc khủng hoảng chính trị có khả năng nhấnchìm Trung Quốc trong những năm tới có thểkhiến nhiều nhà kinh doanh, nhiều người trong giới lãnh đạo cấp cao phương Tây- những người luôn tin tưởng ở quyền lực và sức mạnh của Đảng Cộng sản Trung Quốc cho là nhảm nhí. Trong tâm thức, họ luôn coi sự tồn tại và quyền lực của Đảng Cộng sản Trung Quốc là “bất khả xâm phạm”.Tuy nhiên, đã xuất hiện một số xu hướng mới, dù chưa thật rõ nét, hoặc còn biệt lập, song đang làm thay đổi đáng kể cán cân quyền lực giữa Đảng Cộng sản và xã hội Trung Quốc theo chiều hướng Đảng mất dần sự tín nhiệm và quyền kiểm soát, còn xã hội thì đang tích thêm sinh lực và sự tự tin.Xuất hiện ngày càng nhiều những nhân vật chính trị có uy tín cao trong xã hội, các doanh nhân thành đạt, các học giả, các nhà văn, nhà báo danh tiếng và các blogger có tầm ảnh hưởng xã hội. Cần nói thêm rằng, kể từ vụ thảm sát ở Thiên An Môn năm 1989, Đảng Cộng sản Trung Quốcđã theo đuổi một chiến lược tích cực hơn đối vớigiới tinh hoa xã hội, nhưng những người như Shuli Hu (sáng lập hai tạp chí kinh tế có thương hiệu), Pan Shiyi(nhà kinh doanh bất động sản nổi tiếng),Yu Jianrong(một trí thức - nhà khoa học xã hội có tài),Wu Jinglian (nhà kinh tế hàng đầu)và các blogger Hàn Hàn và Li Chengpeng… đã đạt được những thành công nhất định, bảo vệ bản ngã và sự độc lập của mình.

Sử dụng lợi thế của Internet và weibo (tương tựTwitter),họ trở thành những chiến sĩ đấu tranh chocông bằng xã hội. Bằng đạo đức, sự can đảm, sức mạnh tinh thần và ảnh hưởng rộng rãi, họ đã có được sự ủng hộ của đông đảo các lực lượng xã hội (được tính bằng hàng chục triệu người theo dõi weibo của họ). Tiếng nói của họ có tác dụng hoặc định ra, hoặc điều chỉnh các khuôn khổ/điều kiện của các cuộc tranh luận về chính trị -xã hội, đẩy Đảng Cộng sản Trung Quốc vào thế phòng thủ.

Sự phát triển của xu hướng đó, rõ ràng là đáng lo ngại.Hiện nay, một số vị trí lãnh đạo cao của nền chính trị Trung Quốc đã buộc phải nhường cho những lực lượng xã hội mà Đảng không thể kiểm soát nổi. Thời kỳ độc quyền của Đảng Cộng sản Trung Quốc đối với đạo đức và uy tín xã hội đã rồi; hiện độc quyền quyền lực chính trị của Đảng đang bị đe dọa.

Đảng ngày càng mất tín nhiệm thậm chí đối với cả những ngườidân bình thườngnhất. Nên nhớ rằng, những mờ ám, bí mật và thiên hướng dối trá của Đảng chỉ càng khiến cho niềm tin chao đảo. Trong khi đó, những thập kỷ gần đây, hàng loạt những vụ bê bối và khủng hoảng – liên quan đến an toàn cộng đồng- thực phẩm tăng trọng, thuốc giả, ô nhiễm môi trường – đã làm tan vỡ những niềm tin ít ỏi cuối cùng còn sót lại.

Trường hợp bán sữa trẻ con nhiễm độc năm 2008 và bưng bít tin tức vụ việc (xảy ra ngay trước thềm Thế vận hội Bắc Kinh)không chỉ khiến nhiều trẻ em bị chết oan, mà còn làm cho những người dân thường Trung Quốc ngày càng thiếu tin tưởng ở chính quyền. Một trong những minh chứng điển hình là về môi trường, người dân Bắc Kinh ngày càng tin tưởng những chỉ báo của Đại sứ quán Mỹ về chất lượng không khí (chạy trên bảng điện tử trước Đại sứ quán) hơn là những bản báo cáo về môi trường của chính phủ Trung Quốc.

Một chế độ mà sự tín nhiệm đã không còn, cái giácho việc duy trì quyền lực là rất đắt- cuối cùnglàkhông thể chịuđựngđược- bởi chính quyềnphải đàn áp ngày càng thường xuyên vànặng nềhơn. Các cuộc bắt bớ, thanh trừng chỉ mang lại bất lợi cho Đảng do sự phát triển của yếu tố thứ ba cótính cách mạng:Sự suy giảm đáng kể sức mạnhtập thể.Các nhà chính trị chuyên chế chỉ giữ được chính quyền khi họ có thể chia rẽ nhân dân và đàn áp được các lực lượng chống đối có tổ chức. Mặc dù hiện nay Đảng Cộng sản Trung Quốc chưa phải đối đầu với các lực lượng đối lập có tổ chức, song nó đang phải đối diện với các hoạt động chống đối có tổ chức diễn ra hàng ngày.

Theo thống kê của các nhà xã hội học Trung Quốc, mỗi ngày tại đất nước này diễn ra khoảng 500 các vụ bạo loạn, phản kháng tập thể và đình công, tăng gấpbốn lần so với một thập kỷ trước. Với hệ thống điện thoại di động và máy tính nối mạng một cách rộng rãi, việc vận động, tổ chức những người đồng chí hướng trở nên đơn giản và dễ dàng hơn bao giờ hết.Sự phản kháng tăng mạnh cho thấy quần chúng ngày càng ý thức rõ rằng, chính quyền không muốn phải đối đầu với những đám đông biểu tình giận dữ, có xu hướng lùi/chấp nhận những yêu cầu của họ. Trước một số cuộc phản đối tập thể - tranh chấp đất đai ở làng Ô Khảm (Quảng Đông), những cuộc đấu tranh liên quan đến môi trường ở Đại Liên (Liêu Ninh), Thập Phương(Tứ Xuyên)và Khải Đông (Giang Tô), chính quyền đã phải có những nhượng bộ đáng kể.

Khi bạo lực của chính quyền không thể chống đỡ được khủng hoảng, những người lãnh đạo thế hệ thứ năm của Trung Quốc bắt đầu lo lắng cho tương lai của Đảng Cộng sản Trung Quốc. Mặc dù thầm lặng, nhưng cuộc cách mạng chính trịtại đất nước này vẫn đang tiếp diễn. Vấn đề đặt ra là liệu những nhà lãnh đạo Trung Quốc có quan tâm đến những dấu hiệu của nó, hay cố gắng duy trì một trật tự - như chế độ quân chủ Phápđã từng làm– song vẫn không thể cứu vãn.
Mai Hoa dịch
Nguồn: Minxin Pei: China’s Troubled Bourbons, Project Syndicate, 31-10-2012

[1]Giáo sư về quản trị tại Claremont MacKenna College và chuyên viên cao cấp không thường trú của Quỹ Marshall Đức tại Hoa Kỳ
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thứ Ba, 21 tháng 1, 2014

THĂM THẲM ĐƯƠNG VỀ (Tiếp theo..) 2


 
R
       ốt cuộc gã cũng về. Gã về sau bảy năm biền biệt xa nhà. Nói đúng hơn là năm năm trước gã cũng qua nhà với thời gian thật là ngắn ngủi. Thời gian chỉ chưa đầy một tiếng đồng hồ rồi vội vã đi ngay. Lúc đó trời khuya lắm rồi. Ngoài trời sáng trăng suông, bốn bề im lìm như chỗ không người. Gã dúi vội vào tay mẹ gã một món tiền nhỏ, đứng một lúc lâu bên giường đứa con gái chưa đầy năm tuổi rồi đi. Bóng gã chìm vào đêm rồi mà mẹ gã chưa hiểu đang xảy ra chuyện gì..." Sau này nghe kể lại thị biết đó là sau lần gã trốn trại ra ngoài. Gã ở chỗ thị một thời gian. Thị đã sắm sửa cho gã về thăm nhà. Lần ấy cũng là lần duy nhất gã về thăm nhà cho đến bây giờ. Suốt thời gian đó gã đi những đâu? Làm những việc gì thị vẫn chưa kịp hỏi. Kể cả việc gã bị bắt lại như thế nào. Mỗi lần đến thăm thời gian được gặp rất ngắn ngủi. Mà những chuỵên như thế theo nội quy lại không được nói đến. Luôn luôn có cán bộ trại giám sát cuộc gặp mặt. Nếu vi phạm rất có thể lần sau gã sẽ không được phép gặp người nhà. Thành ra con người gã thị chỉ nghe qua những người thân trong gia đình. Mà kể thì mỗi người một phách. Mười bảy tuổi gã đã thoát lý gia đình. Có ai gần gũi gã đâu mà hiểu chân tơ kẽ tóc? Ngay gã với thị cũng chỉ gặp gỡ ít ngày rồi gã đi biền biệt, sở dĩ thị tìm thấy gia đình gã rồi theo gia đình gã lên đây là nhờ địa chỉ gã để lại. Chỉ riêng việc ấy thị cho rằng gã không phải là người bội bạc. Nếu gian dối gã sẽ không nói địa chỉ thực của mình. Dù khờ đến đâu gã cũng thừa biết đằng sau lưng gã người ta đang truy đuổi, người ta sẽ tìm đến kỳ cùng tới khi nào bắt được gã lại. Đó là nguyên tắc của trại giam. Tội trốn trại được coi là tội nặng chỉ sau tôi giết người. Lần ấy nếu không trốn trại gã đã được về lâu rồi, không phải tới hôm nay gã mới được tự do.


            Người bạn tù ở với gã ra gặp người nhà về báo với gã một tin không vui. Mẹ gã đang ốm nặng trong lúc bà đang nuôi đứa cháu nhỏ. Mẹ nó thì không đoái hoài gì đến, cô ta đã lấy chồng và chuyển đi nơi khác. Không cầm được lòng, gã đã tìm cách trốn ra ngoài. Dọc đường về xuôi tình cờ gã tới gia đình thị. Đó là tất cả những gì thị biết về gã, qua lời gã kể. Chính xác độ bao nhiêu phần trăm thì thị cũng không rõ. Nhưng thị tin có một phần sự thật.
            Bây giờ gã trở về, đáng lý ra thị phải vui mừng mới phải. Sau những năm tháng đợi chờ, giờ là lúc xum vầy. Nhưng không, thị lại cảm thấy bối rối và lo sợ. Liệu thị có được gã thông cảm như mình đã cảm thông với gã không? Liệu gã có chấp nhận cuộc hôn nhân mà thị là người chủ động? Rồi những ngày tháng mẹ con bà cháu sống ở đất này? gã sẽ bỏ qua mọi chuyện? Khi tàu vào bến, tự nhiên hai chân thị cứ ríu lại. Gã bước lên bờ, đầu không mũ nón, một bên cánh tay băng vải trắng. Thị chào hỏi, gã chỉ khẽ gật đầu. Cử chỉ đó làm cho thị hoang mang. Gã bảo thị cứ đạp xe đi trước, gã đi cùng hai bố con ông Chỉ Đen cho vui. Thị thấycó cái nhìn khang khác trong mắt gã. Nhất là khi gã đi cùng chuyến tàu với lão hàng xóm mà thị không ưa. Biết đâu lão chả thêu dệt những chuyện không hay? Một lão già đổ đốn. Trẻ không tha già không buông. Bát rượu vào rồi là chòng ghẹo không từ ai. Người lão chắc nịch mà bà vợ gầy như cái mõ mương. Cứ thấy đàn bà con gái là mắt lão sáng lên. Một buổi  tối sáng trăng thị ra sông tắm lão mò tới. Lão rút trong bọc ra miếng vải mới rúi vào tay thị, định giờ trò. Nếu thị có ham muốn thì là ham muốn với người khác kia chứ phải đâu với lão? Một lão già lỗ mãng vô học lại hôi nách sặc sụa? Bữa ấy thị đã làm cho lão bẽ mặt. Cả xóm xúm lại xem. Lão lủi thủi chạy vào đám ngô. Vợ con lão phải xin mãi thị mới cho qua, nếu không người ta lập biên bản, và chuyện gì xảy ra tiếp theo không ai lường trước được. Sau lần ấy lão tránh mặt một thời gian và có ý thù. Một thân một mình ở nơi quê người xứ lạ thị cũng không muốn căng thẳng với lão làm gì. Gặp lão thị vẫn chào hỏi nhưng hai bên trong bụng không bằng lòng. Thế nào chuyện thị quan hệ với mấy tay đi bè gần đây lão cũng nói cho gã biết. Nếu như không nói lúc này thì sẽ nói vào khi khác. Lấp ao lấp giếng ai lấp được miệng thế gian? Kể như lão không hở ra rồi cũng có người nói cho gã biết.
            Đấy là lý do khiến thị bối rối, lo sợ khi gã trở về. Có thể hoàn cảnh trước mắt sẽ buộc gã chấp nhận tất cả. Khi sa cơ thất thế mấy ai còn đòi hỏi nọ kia? Nếu gã tỏ ra biết điều thị sẽ an phận. Còn không thì thôi. Gã có gì để thị phải nuối tiếc? Ngoài hai bàn tay trắng, gã đâu có gì để mình ham muốn? Nếu mình không lỡ làng, chưa chắc mình đã đợi gã từng ấy năm trời. Phải mất rất nhiều công sức mình mới chuyển được về dạy học ở nơi khỉ ho cò gáy này. Nếu gã phụ công, mình sẵn sàng chia tay với gã mà lòng không ân hận. Nhưng dù sao gã cũng chưa nói gì. Mình vẫn phải chuẩn bị cuộc đón tiếp vui vẻ. Mọi việc sau này muốn ra sao thì ra... Tuỳ thuộc ở gã. Nghĩ trong bụng như vậy, thị lên xe, đạp thẳng về để lại gã vẫn đang chuyện trò với Lão hàng xóm phía sau. Con đường men theo bờ sông. Hai bên tre nứa, lau lách um tùm. Mấy con trâu bê bết đất bùn đứng giữa đường ngơ ngác nhìn họ một hồi, rồi bất thần phóng rào rào lên đồi đan đầy dây mắc húm: Một loài cây thân mềm nhưng chi chít gai nhọn sắc.
            Rồi gã sẽ quen với quang cảnh này. Nhưng trước mắt gã tỏ ra thất vọng, mình sẽ sống sao đây ở nơi thiếu cả bóng dáng con người? Nói gì đến tiện nghi của cuộc sống văn minh? Một gã trí thức nửa mùa như mình liệu có thể tồn tại được ở đây không? Cuộc sống có còn mảy may ý nghĩa gì? Nỗi ân hận lại trào lên miệng gã đắng ngắt. Tuổi trẻ nông nổi gã đã làm mất đi bao nhiêu thứ quý giá của đời người. Trước đây gã không thể nào ngờ cuộc sống của mình lại như thế này. Quá khứ đau buồn, hiện tại ê chề, còn tương lai thì mờ mịt, giống như câu thơ mà một gã chán đời nào đó ngâm vào lúc nửa đêm văng vẳng ở phòng giam riêng.
            Lão hàng xóm không để ý đến hoặc không biết tâm trạng lúc này của gã. Với lão vùng đất này là thiên đường so với ở dưới quê. Đất đai bạt ngàn, lại toàn đất tốt. Những khi giáp hạt hoặc cần tiêu món gì là vác dao vào rừng. Chỉ vài buổi là có mảng nứa tươi, dăm chục bó củi mang về xuôi có tiền ngay. Cuộc sống cổ cày vai bừa thì cần gì hơn nữa? Cứ chịu khó bới đất lật cỏ, khoẻ lo gì không có cái ăn? Người ta bảo dân lấy ăn làm trời, và lão, lão cũng có khoảng trời riêng của lão. Cả đời lão không mò tới quyển sách, sờ đến tờ báo mà có sao đâu? Khối anh chữ nghĩa hàng bồ mà vợ con đói lên đói xuống. Lão giáo Ngọ cùng trà với lão quanh năm quần là áo lượt, đầu chải rẽ ngôi. Nhưng đó chỉ là cái vẻ bề ngoài. Mỗi lần lão về quê, đến nhà lão giáo chơi, lại thấy vợ ông giáo len lén đi lối sau nhà sang hàng xóm vay gạo. Bữa cơm khách mà chỉ có mỗi đĩa trứng pha quá nửa bột mì đen rán lên. Ăn cứ như thể bánh đúc ngô! Lão lấy làm mừng vì mình đã tìm đường lên đây. Nếu tiếp tục ở quê với đàn con đông với người vợ chậm chạp chẳng biết cuộc sống sẽ ra sao. Đúng là trong cái rủi có cái may. Hết đợt học tập cải tạo tại chỗ, ông anh trai rủ lão lên rừng. Bỏ quê hương bản quán lúc ấy lão cũng buồn. Nhưng cuộc sống dễ chịu làm lão quên dần. Hễ gặp người làng ở dưới xuôi lên là lão rất mừng. Cứ y như gặp người nhà vậy. Có người đi làm thuê làm mướn ở lại chơi vài hôm. Cũng có anh đóng bè ở cả tháng. Nhà lão giống như trạm tiếp đón ở bến này. Sự giao lưu ấy lão có một chút tốn kém, đổi lại cái lợi nhiều hơn, lão mua được những món ở đây chẳng ai mua được, hoặc chỉ mua rẻ. Bán được những thứ ấy ở đây chẳng ai mua, hoặc chỉ mua rẻ với giá cao hơn. Một người mới gặp luôn hứa hẹn những điều tốt lành. Vì thế gặp ai lão cũng niềm nở đón bằng được về nhà.
            Nhưng với gã mà lão gặp hôm qua lại hơi khác. Buổi chiều qua tình cờ gặp gã ở cửa hàng ăn lão cũng không để ý lắm. ở những nơi như thế không nên tỏ ra vồn vã với bất cứ người nào. Kể cả những người quen lâu ngày không gặp. Ai biết họ làm những gì khoảng thời gian mà mình không hay? Nhưng buổi tối hai bố con nghỉ lại nhà quen lão đã nhớ lại tất cả. Khi còn ở quê lúc lão còn là đối tượng phải kiểm thảo thì mẹ thằng này đang là cán bộ chủ chốt ở địa phương. Phong trào phụ nữ ba đảm đang lên như diều gặp gió. Nam giới chỉ còn lác đác vài ba người, chính quyền xã chủ yếu cán bộ là nữ. Mẹ gã rất nguyên tắc, động một tý là xử lý hành chính ngay. Một lần lão bán giấu con lợn của nhà nuôi không báo cáo chính quyền mụ gọi lão lên xã hỏi căn vặn mãi. Suýt nữa lão còn bị tống vào lò thúc mầm vì tội cãi bãi bây. ấy rồi quả đất tròn, lớ xớ thế nào bà ta lại lên chỗ lão khai hoang. Lão đang thắng thế, ở nơi xứ mù thằng chột làm vua. Chữ nghĩa lão chỉ vọc vạch mà người ta vẫn cử lão làm đội trưởng sản xuất. Hợp tác xã trồng rừng chỉ tập hợp được vài năm. Về sau chỉ còn trên danh nghĩa. Nó tồn tại chỉ cốt để dễ thu thuế. Còn mùa vụ của ai có đất người ấy làm. Công việc của anh đội trưởng không phức tạp lắm. Nó giống như việc của anh trưởng thôn bây giờ. Nhưng nó quan trọng và rất hách. Hộ khẩu, hộ tịch sát nhất là anh trưởng thôn. Quyền sinh quyền sát nhiều cái cũng từ đó mà ra.
            Khi mẹ gã lên phải nói mãi lão mới đồng ý cho bà nhập khẩu. Lão chỉ nhận năm lít rượu mang ở dưới quê lên, còn mấy trăm bà đưa, lão trả lại. Thời ấy thì chưa nhũng lạm như sau này. Lão xử sự như vậy cũng là lẽ tự nhiên. Có lần bà cũng nói qua với lão về đứa con trai mình. Một kẻ được ăn học hẳn hoi, ra Hà Nội từ năm mười bảy tuổi. Không biết nó theo đòi bạn bè ngông ngạo thế nào. Dính vào chữ nghĩa bỏ cả công ăn việc làm ở cơ quan. Điều mà cùng lứa tuổi nhiều đứa còn mơ không được. Cuối cùng dính dáng vào một án mạng ở quê. Vụ án không thành, người ta đưa nó đi tập trung cải tạo. Lão cứ hình dung nó là thằng có tướng mạo dữ tợn, cao lớn, xăm trổ đầy mình. Lão không ngờ gã nhỏ nhắn, nói năng dè dặt như anh giáo làng. Một kiểu người từ trước tới giờ lão ít tiếp xúc.       Khi xưa lão giúp mẹ gã nhập khẩu ở xã này cũng là một cách trả ơn. Dù sao thì bà đã không khó dễ khi lão chuyển thủ tục giấy tờ từ dưới quê lên đây. Khi ấy việc quản lý hộ khẩu hộ tịch khắt khe lắm.
            Còn với gã mọi việc lại khác. Lão nhớ lại câu chuyện buổi tối hôm nào ở ngoài bến sông với vợ gã. Cái bọn vào tù ra tội không phải bọn vừa. Ân oán giang hồ là cái chúng hay giở ra, con vợ gã thế nào chẳng nói với chồng? Lạ nỗi là gã về, gặp vợ mà hờ hững như người dưng. Thật là một thằng khó hiểu. Mọi chuyện về thằng này cứ mờ mờ mịt mịt không rõ làm sao. Lão thấy tốt hơn hết là cứ tỏ vẻ thân thiện với gã. Cẩn thận là một đức tính không bao giờ thừa. Còn mọi việc biết đến đâu, xâu đến đấy. Tà tà hẵng hay... Sáng nay gặp một cô gái đèo xe đưa gã ra bến tàu. Lão đã thấy lạ. Định đến lúc ngồi trên tầu lão sẽ hỏi xem quan hệ thế nào, rồi lại thôi. Mình là người lớn hỏi những chuyện ấy e là không thích hợp. Lúc gã gặp vợ ở bến tàu lão nghĩ rằng giữa hai người đang có chuyện. Nhưng bảo rằng có liên hệ với cuộc gặp gỡ kia chắc không phải. Gã mới vừa ra ngoài mới một ngày làm gì có chuyện nhanh chóng đến thế được? Còn gã lúc này nét mặt đăm chiêu. Gã có cái nhìn chăm chú đến mọi vật hai bên đường như để ghi nhớ. Xuống khỏi đoạn dốc này là tới nhà lão. Từ nhà lão nhìn qua vạt ngô non có thể nhìn thấy mái nhà lợp tranh của gã dưới lùm cây um tùm. Ngồi nhà ẩn khuất như thể chủ nhân của nó muốn xa lánh mọi việc của thế gian. Lão mời bằng được kẻ vừa nhập cư vào nhà mình. Đó là ngôi nhà ngói năm gian, cửa bức bàn. Ngôi nhà thật oai vệ giữa những tranh tre, nứa lá trong vùng. Ngói lợp là ngói bầu sao chở theo đường thuỷ từ dưới xuôi lên. Lão rất hãnh diện về tầm vóc của ngôi nhà. Khách mời đến bao giờ lão cũng dẫn vòng quanh nhà để khoe những cây cột bằng gỗ nghiến hoặc đinh thối, vẩy ốc. Nhà lợp ngói trong vùng cũng có dăm cái. Phần lớn lợp bằng ngói gia công. Tức là thứ ngói thợ dưới xuôi lên đóng và đốt ngay tại chỗ. Không được nung bằng lò bầu nên chất lượng rất kém. Trông rõ nào ra viên đấy, nhưng rờ tay vào thì bở như đất. Ngôi nhà nằm chênh chếch trên chân đồi ngoảnh mặt ra sông. Nom thì thoáng, có phần đẹp cảnh quan. Nhưng để ý kỹ lại không được hướng. Nó nhằm chính hướng tây bắc mà người coi trọng phong thuỷ rất kỵ. Nhưng muốn xoay hướng khác cũng không được. Không lẽ úp mặt vào gò cao. Quay lưng ra sông? Lão bảo: " Địa lý không bằng địa ý. Miễn trông được thì thôi " Vài chục năm sau nữa khi lão đã qua đời, gia cảnh nhà lão xa sút không ngờ. Nhưng đó là chuỵên sau này, còn bây giờ hiện diện trước mắt là con người phong lưu, dáng vẻ tự tin của một thương lái. Tóc lão vuốt ngược qua đỉnh đầu, khuôn mặt rắn rỏi, cằm hơi bạnh. Thêm vào cặp mắt linh hoạt, sống mũi cao hơi gồ. Cái áo mầu trứng sáo cổ bẻ, may ba túi nổi bật trên khuôn viên vườn nhà xanh mượt, tạo vẻ viên mãn có phần tự phụ. Gã nhớ lại buổi tối hôm nào khi còn ở dưới quê, cũng con người này trong cái áo tơi tả mang theo quả mít. Thật khó tin trước những đổi thay của một phận người. Không. Gã không cảm thấy ghen tỵ với lão. Nó chỉ gợi lên một ý nghĩ thoáng qua, gã cảm nhận như một lời an ủi. Đường đời không có con đường nào cụt. Mỗi một khúc quanh sẽ là một lối rẽ. Phải nhẫn nại đừng vội nản lòng.



Gã nhận ra cái dáng đã hơi còng của mẹ, đứng bên cạnh là vợ gã và đứa con gái. Thị đang lúi húi nấu gì trong bếp thằng con trai đang túm sau lưng áo mẹ. Trong nhà đang có ba bốn người đang ngồi uống nước. Ngôi nhà vốn là cái bếp cũ nên trần và vách mồ hóng đen kịt. Ngoài trời sáng mà trong nhà tối nhờ nhờ. Có lẽ là do cái mái gianh quá thấp mà cửa ra vào lại hẹp, có độc nhất cái cửa sổ lại bị che bằng mảnh phên nứa. Ngôi nhà với chừng ấy con người quả là chật chội. Nó chỉ có hai gian, mỗi gian chưa đầy ba mét. Thêm một cái chái vảy giả gian làm buồng. Gã hỏi mẹ, dắt đứa con gái nhỏ vào nhà. Con bé được bà báo trước vẫn không khỏi e dè sợ sệt. Bố nó vắng nhà từ ngày nó còn quá nhỏ không nhớ mặt cha. Suốt chừng ấy năm nó ở nhà với bà. Ngay cả mẹ đẻ ra nó cũng ít gặp. Nó gặp mẹ nó lần cuối hơn hai năm rồi không gặp nữa. Gã  thấy con bé có ngấn nước mắt, lòng dạ gã nao nao. Gã khổ ải thì đã đành rồi. Gã còn làm cho bao nhiêu người thân trong gia đình khổ theo. Cảm giác ứ nghẹn khiến gã không cất nổi nụ cười chào những người khách vừa mới đến. Gã chỉ nói nho nhỏ:
- Chào các ông, các bác. Tôi vừa mới về đến. Mời mọi người uống nước…
Ông già cậu ruột gã thì gã biết. Gã nhận ra ngay mái đầu và chòm râu bạc của ông. Sau vụ bê bối ngày vùng gã sát nhập vào thành phố Hà Nội ông gầy đi trông thấy. Thành phố mở rộng, vùng gã trở thành ngoại thành. Nhưng suốt từ chân núi Tản Viên dọc theo bờ sông Đà trở xuống thay đổi chưa thấy đâu. Nhưng tai vạ ập xuống gia đình gã. Mà khởi đầu từ ông già gã gọi bằng cậu này. Ông là người cởi mở, ham vui, thích giúp người. Đức tính ấy nếu ông làm công việc khác thì rất tốt. Người hay cả nể mà lại làm công tác quản lý tiền bạc thì lại là chuyện không hay. Nhiều năm liền ông làm chủ nhiệm hợp tác xã tín dụng. Khi người ta cải tạo đê sông Hồng với nguồn ngân sách lớn, hợp tác xã của ông lại được chọn làm nơi mở tài khoản phục vụ cho công trường. Ngoài nhiệt tình với công việc, ông không có nghiệp vụ ngân hàng. Tiền thu vào phát ra chủ yếu ở cô kế toán và ông thủ quỹ. Bằng cách nào đó họ đã lũng đoạn quỹ ông không kiểm soát được. Họ xây những ngôi nhà to vật vã trong vùng. Khi chưa sát nhập vào thành phố trên huyện về họ cũng có kiểm kê. Những người trong ban quản lý tìm cách thu xếp với cấp trên nên nhiều lần không xảy ra việc gì. Mỗi lần họ về ăn uống tiệc tùng và một chút quà. Cô kế toán xinh đẹp chồng đi bộ đội lại rất khéo léo và gợi cảm. Mọi chuyện  không có gì xảy ra. Nhưng số tiền thâm thủng mỗi ngày một lớn. Đan lát bằng sổ sách chứng từ, càng đan càng lỗi. Dốt nát mà lại tham lam, nguy cơ càng lớn. Đến khi ban thanh tra thành phố về, mọi chuyện vỡ lở. Người trên phủi tay, người dưới chối trách nhiệm. Bao nhiêu tội lỗi trút lên đầu ông. Số tiền bốn mươi ngàn đồng ông phải hoàn trả ngân hàng. Vào thời giá 1978 là số tiền không nhỏ. Một chỉ vàng bán đắt mới được ba mươi đồng. Một cây vàng mới ba trăm đồng. Ông thủ quỹ sợ trách nhiệm nửa đêm treo cổ tự tử. Cô kế toán nhờ có chồng đi bộ đội hy sinh trước ngày giải phóng tạm thời người ta chưa xử lý. Ông sẽ phải ra toà nếu người ta không xét đến gia đình ông là gia đình chính sách. Các cụ thân sinh ra ông là cơ sở kháng chiến. Ông có một người anh và một người em là liệt sĩ. Bản thân ông lại là thương binh chống Pháp. Chiến dịch Điện Biên Phủ ông được tặng thưởng huy chương. Tất cả những cái đó vẫn là chưa đủ. Nếu từ trước đến nay bản chất con người ông không phải là con người ngay thẳng. Rất ít người nghĩ ông tham nhũng số tiền lớn đến như vậy. Người ta chỉ cho là ông kém năng lực và quá tin người. Tình ngay, lý gian. Tiền của Nhà nước không phải bằng lá mít, nếu ông không hoàn trả sẽ không tránh khỏi ngồi tù. Mọi chuyện xảy ra sau ngày gã bị bắt. Mẹ gã và ông cậu đã bán vườn tược nhà cửa của hai nhà để lo số tiền đó và lên đây. Hoạ vô đơn chí, năm đó cũng là năm đứa em ở đơn vị hậu cần đánh đổ cả một xe chở téc xăng. Mẹ gã còn phải vạy mượn thêm để bồi thường cho quân đội. Khi mấy chị em, bà cháu lên Xuân Quang, hơn chục con người sống nhờ đất rừng. Nhà ông cậu vợ chồng con cái cả thảy chín người, trong đó có một cụ già gần tuổi chín mươi. Sống nhờ những quả ngô người ta thu bỏ sót trên nương, những củ sắn trồi còn sót lại và đám rau rừng. Tất cả những chuyện đó mẹ gã chỉ nói cho gã biết chừng nào. Gần đây khi biết gã sắp được tha bà mới nói hết. Nhưng mọi chuyện đã đoạn rồi. Dù có biết hay không gã còn có thể làm gì khác? Không biết có ai báo cho ông không mà giờ ông cậu đã ngồi đây? Nét mặt mệt mỏi, ngại ngần. Mấy người kia một người là cán bộ kiểm lâm. Một người cửa hàng trưởng và một tay buôn bè. Họ là chỗ quen biết của gia đình hay là bạn bè của vợ gã? gã chưa biết tiếp xúc với họ như thế nào ngoài phép lịch sự xã giao. Trông họ béo tốt, ăn mặc lành lặn khác hẳn những người trong vùng. Họ mang giày dép chứ không đi chân đất như những người gã gặp hồi sáng trên tàu, những người gặp cả ngày hôm nay. Ông cậu đến là điều không cần phải suy nghĩ. Nếu lúc này ông không tới gã còn hận ông nữa kia. Năm ngoái có một lần ông xuống trại thăm gã. Lần ấy mẹ gã ốm nhờ ông đi vì lâu lâu bà cũng không xuống cho con gà và ít gạo. Cán bộ trại cho phép gã nấu nướng ngoài nhà khách để có bữa cơm ăn với gia đình. Gã nấu nướng xong xuôi bày lên bàn nhưng ông nhất định không ăn và xin phép anh cán bộ trại ra về. Ông bảo ông còn một số việc trên tỉnh mà khi quay về phải giải quyết. Nếu ở lại ăn cơm cùng với gã sẽ không kịp thời gian. Nhìn mâm cơm trên bàn gã ứa nước mắt. Sau bao nhiêu ngày thiếu thốn, thứ gì gã cũng thèm. Gã sẽ có bữa cơm ngon lành nếu ông cậu cùng ngồi, dù ông dùng nhiều hay ít. Nhưng ông một mực dứt về. Gã nghĩ là ông ngại con mắt của những người xung quanh. Dù sao cháu ông đang là một thằng tù. Nó tù tội gì không phải là ai cũng hiểu. Nhất là lại có người mặc sắc phục thỉnh thoảng để mắt tới. Có lẽ ông không chịu nổi cảm giác ấy. Cái liêm sỉ của con người ở đời là đáng quý. Nhưng nhiều khi nó cũng vô lý vô tình biết bao. Hôm ấy gã trở lại trại với nét mặt của kẻ mất hồn. Phải rất lâu gã mới quên được hình ảnh ông hôm ấy. Cái dáng thất thểu của ông đi như chạy trên con đường ra khỏi khu vực trại.
Những phạm nhân ở buồng cho rằng nhà gửi ít quà nên gã không vui. Có những kẻ như thế thật. Có đứa vất trả không nhận quà khi người nhà mang tới ít. Hoặc vùng vằng ra mặt. Gã lại khác. Cảnh nhà như vậy gã biết chứ. Gã đâu dám đòi hỏi và oán trách gì? Giờ ông cậu ngồi đây, gã chỉ thoảng nhớ qua thế thôi. Không nỡ giận. Thực ra ông chỉ là người đáng thương không đáng trách. Một con người sống gần hết đời được xã hội quý trọng. Ông không ra khỏi thói thường của những lề thói tự bao đời nghiễm nhiên ngự trị trong đời sống hàng ngày. Một kiểu danh dự mơ hồ đôi khi viển vông. Nó giống như thứ trang phục đắt giá dùng cho người nghèo. ẩn chứa sự tạm bợ, bất an. Đôi khi trở thành giả dối. Vợ gã tíu tít pha trà mời khách. Thị có vẻ vui mừng trước việc gã về. Nhưng nhìn ánh mắt của mấy vị khách kia có điều khó hiểu. Gã vốn là con người nhậy cảm, đôi khi quá nhậy. Một phần vì lẽ đó mà gã khổ. Đối với người khác có những việc không quan trọng và không đáng xúc động. Gã lại không thế. Rồi những năm tháng chìm nổi đầy eó le, trắc trở, cái vốn nhạy cảm của gã càng trở nên sắc nhọn. Gã linh cảm trong những người ngồi đây không phải là họ đều thiện chí. Còn có cái gì đó ngoài việc thăm hỏi thông thường. Lác đác một vài người nữa tới thăm. Căn nhà trở nên chật chội. May mà bóng chiều đổ xuống vội. Cây mít già nua và cái mái tranh xoà xuống khoảng đất trống dùng làm sân trước căn nhà. Mẹ gã trải hai tấm chiếu mời khách. Bà mang nải chuối chín mời mọi người uống nước. Gã không nhớ mình đã nghe những gì, nói những gì. Phần nhiều là những câu xã giao chung chung. Hoàn cảnh thực không thể hỏi và nói rõ điều gì vào lúc này. Tâm trạng gã vui buồn lẫn lộn. Gã chưa quen với cảnh quan ở nơi đang gọi là nhà mình. Mười năm trước khi gã còn là sinh viên gã có theo người nhà lên vùng này dự một đám cưới. Lúc đó gã rất lạ lẫm khi vào chơi một làng người Dao - Khi ấy gọi là động mán. Nhữngcô gái thanh y, quần trắng nhuộm răng đen. Hai bên khóe miệng có những chiếu răng bít đồng vàng choé. Tay cô nào cô ấy đen kít mầu chàm. Họ mặc những chiếc áo có hai vạt đằng trước thả dài quá gối. Các cô sẵn lòng đón nhận nếu có trai lạ đến muốn ngủ " thăm ".
Một khung cảnh hoang sơ với chồn sóc, kỳ nhông thỉnh thoảng chạy ngang đường. Có con chim gì cánh xanh mỏ đỏ kêu ríu rít trên cành cây. Trên vách đá lũ khỉ chuyền cành, bứt quả trọi nhau kêu chí choé.
Bến sông có những người cởi trần xách con cá dài cả mét đi xăm xăm trên bãi cát. Khi về xuôi cảnh sắc thiên nhiên còn lưu luyến gã.  Con người lúc đó thực thà, quý khách. Có cô gái ở bến sông còn đưa gã phong thư kèm theo vài bao thuốc Tam Đảo là thứ hàng hiếm lúc bấy giờ. Chẳng biết bây giờ cô đi đâu, chồng con gì chưa?
So với ngày ấy quang cảnh bây giờ khác rất nhiều. Gã có cảm tưởng những rặng núi phía xa thấp hơn độ ấy. Cây cối thưa hơn, sương phủ nhiều hơn. Đã nhìn thấy những vết lở lói trên triền nương mờ xa. Một nét gì khan khan, nghèo nghèo bàng bạc bao trùm lên tất cả. Có lẽ gã là người nghèo nhất trong những người nghèo ở đây, khi gã nhìn thấy cái cuốc cũ mòn, lưỡi cuốc chỉ bằng bàn tay dựng ở hồi nhà. Cái ấy không đáng sợ. Cái gã cảm thấy trờn trợn trong cảm giác về một cái gì đó rất khó gọi tên. Hình như là khung cảnh mờ hồ pha chút hoài nghi loang loáng trong thái độ và cử chỉ của những người vừa gặp. Cảm giác chênh vênh tựa như người ta đứng trên cao nhìn xuống đất. Gã cũng không hiểu tại sao lại có cảm giác ấy. Gã tự nhủ mọi việc rồi sẽ quen. Quãng thời gian vừa qua cho gã thấy khả năng thích nghi đến kỳ lạ của con người. Có những lúc, những việc tưởng không sao chịu nổi rồi cũng qua đi. Số phận đôi lúc là những trò chơi không mấy thú vị.
Buổi chiều qua nhanh. Vùng núi đêm tối thường đến rất vội vã. Nhiều khi người ta không kịp thu dọn công việc trong ngày. Ngày hôm nay cũng vậy. Gã chân ướt chân ráo về nhà, chưa kịp thu dọn nhà cửa đêm tối đã ập xuống. Cũng may không có đồ đạc gì nhiều. Gã sửa lại cây đèn hai dây treo lên giữa nhà. Chỉ có vài người ở lại ăn cơm cùng gia đình. Tay cửa hàng trưởng và tay cán bộ kiểm lâm về trước. Tay thợ bè và ông cậu gã còn ngồi nói chuyện thêm một lúc. Toàn những chuyện sông nước, thuế khoá và các trạm trên sông. Hắn tỏ ra thông thạo, giỏi mánh lới, biết nhiều mánh lối trong nghề sông nước. Ông cậu gã nghe nói cũng đã bám càng theo hắn được vài chuyến. Củi đóm là thứ bán ở đằng ngược này với giá bèo bọt. Nhưng mang về xuôi đắt lên ba bốn lần. Vì thế có mối với cánh đi bè chuyên nghiệp này ai cũng muốn. Trên danh nghĩa họ là những người chở bè cho Nhà nước theo hợp đồng. Nhưng tiền lương của họ các công ty Nhà nước trả cho họ chỉ có ý nghĩa tượng trưng. Chỉ đủ họ trà thuốc, xà phòng, khăn mặt. Nguồn thu chính lại ở dưới các gầm bè tre, nứa hoặc gỗ loại thường, bập sẹo dóng dấu kiểm tra. Đó là những súc gỗ vào loại tứ thiết: Nghiến, đinh, trò chỉ. Có khi có cả đinh, lát. ( vào thời xảy ra câu chuyện này các thứ gỗ đó vẫn rất sẵn, chỉ cần có tiền có thể mua được của tư thương ) Mỗi chuyến xuôi ngược mọi người bỏ ra vài cây vàng. ở đời nhiều tiền không phải ai có cũng hay cả. Phần nhiều lại là mầm mống của sự bất nhân bất nghĩa. Khởi đầu cho việc mờ ám thối nát cờ bạc, trai gái, nghiện ngập. Người tử tế có thể người ta chia sẻ, giúp đỡ người nghèo. Lòng trắc ẩn khiến người ta thông cảm những cảnh đời thiếu may mắn, người ốm đau, hoạn nạn. Kẻ giả dối, ích kỷ thì càng nhiều càng ít. Ngoài miệng là chuyện ân nghĩa, đức cao đạo trọng nhưng thấy khó ngoảnh mặt đi. Rất có lý khi người ta nói rằng: Kẻ giàu có thường tham lam keo kiệt. Dân gian đã từng có câu: " Hà tiện mới giàu, cơ cầu mới khá " Người ngồi trước mặt gã bây giờ thuộc nhóm có tiền sinh lưu bại. Hắn có tiếng trong làng cờ bạc, ăn chơi nổi nhất trong đám thợ bè. Quê hắn ở Bắc Ninh hay Hưng Yên gì đó, không ai biết chính xác. Trong người hắn có đến hai ba tấm chứng minh nhân dân. Cái nào cũng có chữ ký của giám đốc công an, đóng dấu đỏ hẳn hoi. Căn cước thật một trăm phần trăm chứ không phải là giả mạo. Hắn chẳng thiếu giầy tờ gì. Nhưng hắn trôi chảy trong công việc không phải là trông cậy vào mớ giấy ấy. Còn một loại giấy hiệu nghiệm hơn là giấy bạc. Thứ này cửa nào cũng qua. Nhất là lúc biên giới phía Bắc, phía Nam có nhiều biến động. Một thời kỳ chênh chao, lẫn lội nhiều giá trị. Một chút hoang mang pha trong cảm giác bất an vô hình, là môi trường tốt để những kiểu người như gã thao túng.
Hình như đọc được câu hỏi trong cái nhìn của gã. Hắn bảo:
- Tôi thường khi vẫn trọ bên nhà ông Chỉ đợi hàng. Chuyến nào nhanh cũng độ nửa tháng. Chậm có khi cả tháng. Cô nhà đây vẫn thường mua hộ rau canh, lúc con cá khi chai rượu. Bà cụ cũng coi tôi như người nhà. Có việc gì là cụ nhờ tôi không phải do dự. Anh về đợt này nếu có việc gì làm thì thôi. Không thì phụ một tay với chúng tôi. Cũng chả được nhiêu lắm đâu nhưng so với các việc khác cũng còn hơn thế.
- Để tôi còn xem, cũng phải nghỉ ngơi ít ngày cho nó lại người đã.
Cái mặt bánh dày nhiều đường cong, lông mày lờ mờ của hắn nở dãn ra:
- Tất nhiên rồi tuy tôi không phải qua cảnh ấy, tôi cũng không lạ. Người ta bảo:"Nhất nhật tại tù ". Tù thì ở đâu, bao giờ chả thế? Cứ bồi bổ cho khoẻ hẳn đi đã. Làm ăn lâu dài lo gì; có khi cặm cụi cả đời mà không đâu vào đâu. Vấn đề là biết phát hiện và chớp lấy cơ hội.
Gã gượng gạo, không mặn mà lắm:
- Cũng phải có bột mới gột nên hồ. Tôi bây giờ trắng tay tính việc gì cũng khó.
Hắn cười khùng khục, rất tự tin xoè hai bàn tay ra trước mặt :
- Nhiều người nghĩ thế. Tôi cho là chưa đúng hẳn. Nếu sẵn có đồng tiền trong tay thì nói làm gì? Mà vốn ở đâu ư? ở hai bàn tay mình! Đồng tiền nó rơi trên đường. ai biết là nhặt được. Vấn đề là có biết nhân nó lên không!
Hắn còn dài dòng thêm một lúc rất nhiều "Vấn đề là ". Gã đã thấy khó chịu trước vẻ dạy đời của hắn. Nhất là những điều mờ ám của hắn với "vợ" mình. Những điều mà mẹ gã chỉ nói sơ sơ. Nhưng bây giờ trực tiếp nói chuyện với con người này gã đã hình dung ra tất cả. Một kiểu người cậy có đồng tiền luôn thích dạy bảo người khác còn mình không kể xấu tốt có thể làm bất cứ chuyện gì. Nếu là những năm trước, lòng tự ái như con ngựa bất kham cồn lên trong lòng gã, không khéo thằng cha này, đã lỗ mũi ăn trầu rồi. Nhưng lúc này đây gã cố kiềm chế chỉ có nét mặt gã hơi tái đi một chút.
Tên lái bè là kẻ nhạy cảm, hắn đã nhận thấy thái độ khang khác của gã. Hắn vội đứng lên:
- Thôi cũng muộn rồi. Con xin phép bà và cô cậu đi làm nốt một vài cái thủ tục. Thời buổi nhiêu khê lắm cửa quá. Khi nào rảnh con lại chơi. Còn cậu nếu có khó khăn gì ới anh một tiếng. Trước lạ, sau quen không phải giữ ý làm gì.
Gã lạnh lùng:
- Vâng cảm ơn!
Sự xuất hiện bất ngờ của tay thợ bè có cái tên là Hoằng này làm cho gã thay đổi ý định.
Ban đầu gã định từ từ, xem xét cụ thể rồi mới giải quyết việc nhà những ngày gã đi vắng. Chuyện yêu ghét ở đời không bao giờ là chuyện đơn giản. Nó phức tạp ngay tự thuở xa xưa khi con người biết sống có ý thức về mình và xã hội.
Quan hệ mẹ chồng nàng dâu vốn là quan hệ nặng nề, gay gắt dễ nhìn nhận thiếu khách quan.
Nhưng mẹ gã là người có lòng thương người hiếm có. Có thể nói bà là mẫu người còn sót lại cuối cùng của thế kỷ hai mươi này. Chồng mất sớm, bà nuôi bà mẹ chồng mù loà và đứa con oặt ẹo nay ốm mai đau. Cảnh nhà nghèo túng bà vẫn sẵn lòng nuôi thêm đứa con nuôi khi mẹ nó mới đẻ nó mấy ngày. Một năm hai vụ, cũng  là hai lần mẹ đứa con nuôi dắt đàn em vài ba người lên thăm con. ăn ở cả tuần khi về mỗi người còn mang theo một gánh không ngô thì khoai. Một kiểu đóng thuế không do một cam kết hay quy định nào. Việc đó kéo dài tới lúc anh con nuôi đi bộ đội. bà vui vẻ chấp nhận không một chút phàn nàn. Có người mẹ trẻ sinh con không may qua đời. Người này nghèo không chút đắn đo, áo quần cho người chết mang đi là điều người sống kiêng kỵ. Nhưng bà bảo: " Người ta khổ, đến lúc chết sang thế giới bên kia không có nổi manh quần tấm áo thì tội quá ". Ai có khó khăn gì, máy môi giúp được là bà giúp ngay. Không phải người chị nào cũng xử sự với em trai mình như thế, người ta chỉ có thể giúp được phần nào. Không mấy ai hy sinh toàn bộ tài sản để cứu em. Để chấp nhận cuộc sống trông vào việc đi mót đi hái. Vì ai cũng cho rằng trước hết mình phải tồn tại, mới cứu giúp được kẻ khác. Có bơi được mới cứu được người chết đuối. Không phải ai cũng chấp nhận cái nghiệt ngã của số phận trước thử thách vì mình hay vì người...
Gã ngồi trầm ngâm rất lâu bên bộ sa lông cải tiến đã long gẫy. Những miếng tay vịn có lúc rời ra rơi xuống đất. Mặt bàn cũ mẻ, xung quanh những đầu đinh chồi lên. Thứ sản phẩm bằng gỗ tốt nhưng thợ tồi nên mộng mẹo lỏng lẻo, vừa dày vừa thô. Một sự phí phạm của ai đó có của không biết dùng. Hẳn người ta chê quá nên bán thanh lý cho mẹ gã mang về. Không đáng mấy đồng tiền. Kể cả cái tủ kê sát vách cũng thế, người ta cố tạo ra bộ đế của nó cho có vẻ cầu kỳ, nom lại càng vô lý. Nó nặng như cái cùm nhưng lại không mấy chắc chắn, cánh tủ khi mở vô ý có thể bị đập ngay vào đầu. Hiện giờ trong cái tủ cũ có một đàn ong mật. Cách đây mấy ngày vào buổi chiều có một đàn ong xà xuống. Lúc đó chỉ có mỗi đứa con gái gã ở nhà. Con bé sợ hãi kéo chăn chùm đầu. Đàn ong từ trên cây mít một hồi rồi từ từ từng con một chui qua lỗ thủng sau tủ, vào làm tổ. Bây giờ gã ngồi đây vẫn nghe đàn ong rũ cánh ù ù. Đã sắp sang mùa lạnh, mùa đàn ong chuyển, tìm nơi tránh rét.
Gã thấy quyết định đứt khoát của mình lúc này là cần thiết. Mình như người vừa trải qua trận ốm, cần phải thải hết độc tố và mầm mống bệnh tật ra ngoài. Cơ thể có lẽ sẽ tổn thương thêm một chút nhưng mới có cơ lành bệnh. Nếu nó còn âm ỉ sót lại trong người, một ngày nào đó bệnh sẽ tái phát. Giống như cánh tay giập nát không thể cứu được phải cắt bỏ nếu không sẽ hoại thư nguy hiểm đến mạng sống của mình. Một lẽ nữa, sẽ không ai bảo rằng gã lần lữa lợi dụng cô ta. Đợi đến lúc trơn lông đỏ da mới giở rói trở mặt. Gã không oán hận Tâm. Nhưng không thể chấp nhận sống với Tâm, gã sẽ bị day dứt dày vò suốt một đời. Gã đã thề sau ngày chia tay với người vợ cũ là sẵn sàng sống với một người vợ què, mù còn hơn ăn ở với người ăn ở hai lòng. Đầu ở với chồng đít ở với trai. Theo gã quan hệ ấy không có ý nghĩa gì. Dù có bạc tỷ trong tay thì cũng không thể gọi là hạnh phúc. Không phải gã không nghĩ đến ơn nghĩa của gia đình cô ta và của Tâm đối với gã.
Trong lúc gã bị truy đuổi đến kiệt sức, nằm vật trên nương sắn, mẹ Tâm đã đưa gã về. Gã ở lại nhà bà ít ngày đến khi khỏi cơn sốt rét hành hạ. Tâm coi gã như người anh trai. Cô đã thuốc men, chăm sóc cho gã lành bệnh. Nếu không có cuộc gặp gỡ ấy không biết gã sẽ như thế nào? Và sau này, khi tìm được gia đình gã trong lúc ba đào Tâm ăn ở một lòng cho đến ngày gã trở về thì còn có gì phải nói. Dù Tâm không đẹp, dù gã chưa hề yêu thương gã sẽ chấp nhận cuộc hôn nhân tình cờ gặp ấy. Những mọi việc không phải thế. Tâm đã có những chuyện không hay. Những việc ngang nhiên trắng trợn trước mắt bà mẹ gã. Tiếng là về sống với gia đình, mẹ con cô vẫn ăn riêng ở riêng. Cô đi, về không một lời nói với mẹ gã. Đưa hết người này người khác đến nhà không cần giấu diếm. Số gã thật là khốn nạn. Người vợ đầu tiên xinh đẹp nàng cậy mình là con gái nhà giàu. Nàng tác oai tác quái đến nỗi tan nát gia đình. Đến nỗi gã lâm vào vòng lao ly... Đến Tâm là cô gái nhà nghèo, chẳng có nhan sắc gì mà cũng không xong. Mà cả hai cuộc hôn nhân gã luôn là kẻ thụ động. Ngay cả với Tâm bây giờ, cô về đây phải chăng là vì nghĩa vì tình? Hay vì chút sĩ diện? Hay quan trọng hơn là để đối phó với nhà trường? Những năm tháng còn nhiều quy định khắt khe. Có một đứa con ngoài giá thú là một tội nặng không cơ quan nhà nước nào tha thứ. Cô chuyển về đây có phải cái chính là giữ được nghề dạy học. Hợp thức hoá một quan hệ thiếu rõ ràng. Ngay cả với gã thực chất mối quan hệ ấy đến giờ gã vẫn chưa hiểu hết.
Giờ đây cái vẻ mặt nhơn nhơn của tay lái bè khiến gã hình dung ra phần tính cách của Tâm.
Trời đã khuya mà Tâm vẫn đang lúi húi soạn bài. Nét mặt có phần căng thẳng, như luôn tin chuỵên một điều gì đó. Gã ngỡ ra rằng: Người ta thường cho những người con gái xinh đẹp hay có tính lẳng lơ là một sai lầm. Không thiếu người nhan sắc mà vẫn đoan trang. Ngược lại nhiều cô chẳng có vẻ quyến rũ nào mà tính cách lại nhăng nhít. Nhìn nhận đánh giá con người qua vẻ bề ngoài và một cách nhìn nhận chủ quan không mấy chính xác.
Gã Chưa biết bắt đầu câu chuyện với Tâm thế nào cho phải. Cuối cùng gã bảo:
- Tôi mới về, người còn yếu. Không nên gần nhau vào lúc này...
Gã sửng sốt khi thấy Tâm khẽ nhếch miệng nói thản nhiên:
- Tôi biết ngay mà. Người ta nói không sai về anh. Thể nào khi anh thoát nạn anh cũng phụ tôi mà. Nhưng không sao, ngày mai mẹ con tôi sẽ lên tập thể ở. Anh đừng lo.
Gã không ngờ cô ta bình tĩnh đến thế. Cô ta còn có ý xúc phạm mình. Cô ta nghe những gì về mình nhỉ? gã thấy nhói trong ngực. Đã nói thế, không còn gì để nói nữa. Gã đứng dạy đi ra sân. Bên ngoài sương mù giăng giăng che kín tầm mắt. Không nhìn thấy gì rõ nét. Mái nhà tranh giống như tấm buồm đen nham nhở vừa hạ từ cột buồm nào xuống, nằm nghiêng về phía bờ sông mờ mịt. Đâu đó lẻ loi tiếng gà gáy vọng. Trời đã thật khuya. Gã đứng lặng cho đến khi sương đêm ướt đẫm mái tóc còn chưa kịp mọc dài.
Hai bà cháu sau lúc cơm buổi tối dắt nhau đi chơi đâu. Có lẽ bà và đứa cháu ngủ lại nhà hàng xóm. Bà muốn để hai người chuỵên trò tự nhiên. Bà sẽ rất ngạc nhiên trước chuỵên vừa rồi. Gã nghĩ như thế và cố nén một tiếng thở dài.





Phần nhận xét hiển thị trên trang