Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Hai, 20 tháng 1, 2014

Chuyện đương thời:

Shinzo Abe - Ngựa Chiến Giáp Ngọ
Võ Thành Văn - Việt Báo Xuân Giáp Ngọ


Tam Hoá Liên Châu Của Một Con Ngựa Chiến


*  Thủ tướng Shinzo Abe của Nhật Bản *


Hình như là quan hệ giữa Trung Quốc và Nhật Bản lại hơi kỵ tuổi Giáp Ngọ. Vào năm Giáp Ngọ 1894, Trung Quốc bị Nhật đánh cho đại bại và mất ảnh hưởng trên bán đảo Triều Tiên. Năm Giáp Ngọ lần này có thể lại là một năm thư hùng giữa hai nước, với một Thủ tướng Nhật tuổi Giáp Ngọ....


Nói về hệ thống quyền lực chính trị Trung Quốc, người ta cứ nhắc tới loại lãnh tụ xuất thân con ông cháu cha mà họ gọi là "Thái tử". Lãnh tụ số một của Trung Quốc hiện nay thuộc vào phái đó vì Tập Cận Bình là con trai của Tập Trọng Huân, Ủy viên Bộ Chính trị và Phó Thủ tướng thời Mao Trạch Đông và Đặng Tiểu Bình. Cũng theo lý luận ấy, người ta có thể nghĩ Thủ tướng Shinzo Abe là lãnh tụ thuộc loại "Thái tử đảng" của Nhật Bản.


Nhưng nghĩ vậy là sai!


Thái tử đảng của Bắc Kinh chỉ là lớp "Thái tử đỏ" mới xuất hiện sau khi quyền lực được tập trung vào một đảng độc tài từ năm 1949. Ông Shinzo Abe có xuất xứ truyền thống hơn nhiều.

Về ngôn từ, do cách đọc của Nhật, họ Abe đọc là Abê. Nếu viết theo từ Hán-Việt thì đấy là họ An Bội, còn tên Shinzo thì dịch là Tấn Tam, nhưng xin cứ dùng tên theo cách phiên âm của dân Nhật. Sinh vào năm Giáp Ngọ, Tháng Chín 1954, Shinzo Abe thuộc loại ba đời chính khách, lại sinh ra từ ba dòng họ nổi tiếng trong hơn trăm năm qua, là các dòng họ Abe, Sato và Kishi.

Xuất phát từ tỉnh Yamaguchi, một khu vực được canh tân và kỹ nghệ hóa sớm nhất thời Minh Trị, ba gia đình này còn kết thông gia hoặc nhận con nuôi của nhau, cho nên Shinzo Abe là loại tinh hoa gần như chỉ thấy dưới thời các Tướng quân Shogun chia nhau cai trị nước Nhật cho đến cuối thế kỷ 19.

Nói về huyết thống, họ Abe có truyền thống kinh doanh về rượu, đến thế kỷ 20 thì nổi danh về chính trị. Shinzo là cháu nội của lãnh tụ chính trị Kan Abe thời Tiền chiến, con trai của Shintaro Abe là Ngoại trưởng lâu đời nhất của Nhật thời Hậu chiến. Thân mẫu của ông lại là con gái nhà Kishi nên ông là cháu ngoại của Thủ tướng Nobosuke Kishi thời Hậu chiến. Hãy có vài hàng về ông Kishi này.

Về sự nghiệp, ông Kishi từng là Bộ trưởng trong Nội các Chiến tranh và đang bị Hoa Kỳ cầm tù thì được trả tự do từ năm 1948 vì lập trường chống cộng, rồi hai lần làm Thủ tướng và sáng lập ra đảng Tự Do Dân Chủ đang cầm quyền ngày nay (đảng LDP hay Tự Dân đảng). Ông Kishi mở ra kỷ nguyên hợp tác Mỹ-Nhật thời Chiến tranh lạnh và có ảnh hưởng lớn với các nước Đông Nam Á. 

Thủ tướng Nhật Nobosuke Kishi giữa Tổng thống Eisenhower và Ngoại trưởng Foster Dulles của Mỹ


Về huyết thống, Kishi thực ra là con trai của gia đình Sato, được cho làm con nuôi của gia đình Kishi và còn có người em ruột là Eisaku Sato, cũng từng là Thủ tướng và đoạt Giải Nobel Hoà Bình năm 1974. Shinzo Abe gọi Thủ tướng Sato này là ông chú. Ngày nay, em trai của ông cũng lại được cho gia đình Kishi làm con nuôi, là Nobuo Kishi, một chính khách tại Yamaguchi.

Shinzo Abe còn là cháu họ xa của Ngoại trưởng Yōsuke Matsuoka thời chiến, chết trong tù năm 1946, nhưng từ năm 1979, linh vị được thờ trong đền Tĩnh Quốc Thần Xã (Yasukuni Jinja) cùng 13 nhân vật của Chiến trường Thái Bình Dương, những tội phạm hạng nặng vào thời chiến được coi là liệt sĩ đã hy sinh cho Thiên Hoàng. Thời ấy, một người vận động việc khôi phục thanh danh cho các nhân vật đã lãnh đạo cuộc chiến chính là Thủ tướng Kishi. Chúng ta nên chú ý đến ngôi đền Yasukuni, thiêng liêng về tinh thần mà tai tiếng về ngoại giao, vì anh hùng của dân Nhật có thể là tội phạm chiến tranh ở xứ khác. Hôm 26 Tháng 12 2013, ông Shinzo Abe đã mặc lễ phục đến ngôi đền Yasukuni, lần này với tư cách Thủ tướng, để viếng các tử sĩ Nhật Bản và lập tức bị Trung Quốc la ó!

Với huyết thống gia đình, Shinzo Abe thuộc loại quý tộc chính trị xuất thân từ đất Yamaguchi, nhưng đưa tên tuổi lên hạng toàn quốc và sẽ là toàn cầu.

Ra đời từ Yamaguchi, Shinzo Abe sống và đi học tại Thủ đô Tokyo, tốt nghiệp Chính trị học tại Đại học Seikei, một trường đại học tư thục ra đời từ năm 1906 và đào tạo ra nhiều nhân tài thuộc tầng lớp doanh gia và quý tộc. Sau đó, ông du học Hoa Kỳ về Chánh sách Công quyền tại Đại học USC ở miền Nam California. Về nước, ông làm việc trong tổ hợp thép Kobe Steel rồi mới bước vào chính trường từ năm 1982.

Shinzo Abe lần lượt làm bí thư cho thân phụ là Ngoại trưởng Shintaro Abe và cho Tổng thư ký đảng Tự Do Dân Chủ, đến năm 1993 thì ra tranh cử ghế dân biểu tại Yamaguchi. Khi đó, Nhật Bản đang trải qua cuộc khủng hoảng kinh tế khiến đảng Tự Dân LDP lần đầu tiên kể từ 1955 đến 1993 bị mất đa số.

Qua 20 năm, việc cải cách quốc gia và chấn chỉnh nội bộ đảng Tự Dân là những chuyển động lớn trên chính trường Nhật, với các Thủ tướng lên xuống như đèn kéo quân. Duy nhất có ông Junichiro Koizumi làm Thủ tướng được một nhiệm kỳ năm năm với nhiều cố gắng đáng kể, mà chưa đủ.

Từ quỹ đạo của Koizumi bước ra, Shinzo Abe lên kế vị vào năm 2006 ở tuổi 52, Thủ tướng trẻ nhất kể từ năm 1941. Việc cải cách cũng không thành, chính trường lại khủng hoảng nên đúng một năm sau thì Shinzo Abe bất ngờ từ chức, trở về nghiền ngẫm sự thất bại.

Trong sự đình trệ kinh tế của khối công nghiệp hóa là Hoa Kỳ, Âu Châu và Nhật Bản, nước Nhật thêm suy yếu trên bình diện quốc tế trước sự lớn mạnh của Trung Quốc. Năm 2010, kinh tế Trung Quốc vượt Nhật Bản lên hàng thứ nhì toàn cầu sau nước Mỹ và Bắc Kinh càng có thái độ hung hăng ngang ngược, với vụ tranh chấp chủ quyền trên quần đảo Senkaku mà Trung Quốc gọi là Điếu Ngư. Qua năm sau thì trận động đất và sóng thần tại khu vực Đông Bắc Tohoku vào Tháng Ba còn làm tê liệt hệ thống năng lượng nguyên tử của Nhật, một quốc gia không có tài nguyên về dầu khí.

Kể từ khi lãnh bom nguyên tử của Mỹ và bị giải giới, có lẽ chưa khi nào dân Nhật lại thấy mình rơi vào cảnh "mã cùng đồ" như vậy.


Đấy là lúc con ngựa chiến Shinzo Abe chuẩn bị trở về....


Ông Shinzo Abe mở ra cuộc vận động từ bên trong để lên lãnh đạo đảng Tự Dân vào Tháng Chín năm 2012, với một chương trình hành động mới về cả an ninh lẫn kinh tế. Chủ trương cải cách kinh tế táo bạo đến độ liều lĩnh và lập trường quốc gia triệt để của ông được đa số ủng hộ nên đảng Tự Dân đại thắng ở Hạ viện và cuối năm 2012, Shinzo Abe trở về làm Thủ tướng, lần thứ nhì. Giữa năm 2013, đảng Tự Dân lại thắng lớn trong cuộc bầu cử Thượng viện và có đủ vốn liếng chính trị cho một cuộc phục hưng, ít ra cho đến kỳ bầu cử tới, vào năm 2016.

Gần như cùng lúc đó, Đại hội khóa 18 của đảng Cộng sản Trung Hoa cũng đưa lên một lớp lãnh đạo mới. Tập Cận Bình lên làm Tổng bí thư rồi Chủ tịch Nhà nước và đang thâu tóm lại quyền lực để cũng lại cải cách vì kinh tế có triệu chứng sa sút chẳng khác gì Nhật Bản hơn 20 năm trước. Nghĩa là cuối năm 2013, lãnh đạo hai cường quốc Á Châu gặp cùng một cảnh ngộ là phải chuyển hướng để tránh khủng hoảng ở bên trong. Việc chuyển hướng đó dẫn tới những mâu thuẫn và có khi xung đột ở bên ngoài. Với nhau.

Vì vậy, năm Giáp Ngọ sẽ là năm thư hùng giữa Trung Quốc và Nhật Bản, với một Thủ tướng Nhật sinh năm Giáp Ngọ.

Khi lên lãnh đạo, Shinzo Abe nói đến ba mũi tên của việc cải cách kinh tế. Thật ra, toàn bộ chiến lược hành động của ông cũng có thể được gọi là ba mũi chuyển hóa nhắm vào ba hướng. "Tam hóa liên châu" là như vậy.

Trước hết, về kinh tế, ông Abe đề nghị kế hoạch kích thích và chỉnh đốn bất thường, được các thị trường tài chánh quốc tế gọi là "Abenomics". Ông tiến hành việc đó qua ba bước là kích thích tiền tệ, cải tổ thuế khóa và nhất là giải tỏa cơ chế kinh tế để tăng cường sức cạnh tranh của Nhật. Xuất phát từ kế hoạch này, năm Giáp Ngọ sẽ chứng kiến nhiều biến động kinh tế bên trong và bên ngoài nước Nhật khi ông Abe giải toả cơ chế và đánh bung các thế lực kinh tế và chính trị đã thống lĩnh xã hội Nhật từ thời Hậu chiến.

Thứ hai, về đối ngoại, ông Abe chủ trương tăng cường khả năng bảo vệ quyền lợi và uy tín Nhật Bản. Bị Mỹ giải giới với điều chín của Hiến pháp không cho phép có quân đội, Nhật chỉ có lực lượng tự vệ. Qua sáu thập niên, Nhật góp sức và chung tiền cùng các nước ổn định tình hình thế giới mà không được có quân đội. Shinzo Abe sẽ vận động để tu chỉnh điều chín, có khi chỉ bằng đa số tương đối tại Quốc hội. Đấy chỉ là phần ôn nhu để hợp thức hóa một yêu cầu tất yếu về võ lực dù sẽ gây tranh luận trong năm Giáp Ngọ.

Phần võ, mũi tên thứ ba, là về an ninh. Shinzo Abe lập ra Hội đồng An ninh Quốc gia, tương tự Hoa Kỳ, để thống nhất hành động về an ninh, quân sự và cả kinh tế nhằm tái cân bằng tương quan lực lượng tại Đông Á. Tương quan đó dĩ nhiên là tương quan Nhật-Hoa, trước sự chứng kiến, ủng hộ hay lo ngại, của các nước lân bang, từ Đông Bắc Á xuống Đông Nam Á qua tới Ấn Độ dương và Úc Đại Lợi.

Đằng sau và ở xa thì có Hoa Kỳ, đứng ngoài giám trận nhưng với lực lượng rất gần là Đệ thất Hạm đội, tiếng là Hạm đội Thái Bình dương mà thật ra có trách nhiệm mở rộng đến Ấn Độ dương, qua vùng biển Đông Nam Á.

Khi ấy, chúng ta mới chú ý đến vài sự kiện trong năm 2013.

Mẫu hạm Nhật Bản, như một tầu dầu....


Chủ thuyết Monroe kiểu Nhật


Loại sự kiện thứ nhất, cũng về văn, Tháng Chín năm 2013, Thủ tướng Shinzo Abe là nhân vật duy nhất ngoài nước Mỹ được Viện Hudson trao giải Herman Kahn tại thủ đô Hoa Kỳ. Herman Kahn là nhà vị lai học (futurologist) đã tiên đoán sức bật của Nhật từ hơn nửa thế kỷ trước và đề cao thế liên kết Mỹ-Nhật từ các năm 1970, chẳng khác gì Thủ tướng Nobosuke Kishi.

Việc Thủ tướng Abe lãnh giải Herman Kahn còn khiến các sử gia nhớ đến chủ trương của Tổng thống Theodore Roosevelt trăm năm về trước, còn trước Thế chiến II và cuộc chiến Mỹ-Nhật trên biển Thái Bình. Đó là sự lớn mạnh của Nhật Bản tại Đông Á phù hợp với quyền lợi của Hoa Kỳ. Đấy là chủ thuyết Monroe được hiện đại hóa. (Xin đọc lại bài về Chiến tranh Hoa-Nhật năm Giáp Ngọ 1894).

Cần nhắc lại rằng vào đầu Thế kỷ 19, Hoa Kỳ có "Chủ thuyết Monroe": Tây bán cầu – khu vực Trung Nam Mỹ - là đất cấm của Mỹ chứ không thể là vùng tự do bành trướng của Âu Châu. Trăm năm sau, cường quốc hải dương Nhật Bản cũng có "Chủ thuyết Đại Đông Á" nhằm mở rộng quỹ đạo bằng quân sự. Kết quả thì bị Hoa Kỳ giải giới và phải mở rộng ảnh hưởng bằng kinh tế trong mấy chục năm liền, cho đến khi tranh chấp với cường quốc mới nổi là Trung Quốc.

Sau Hoa Kỳ và Nhật Bản, lãnh đạo Bắc Kinh muốn tinh vi hóa chủ thuyết Đại Đông Á với màu sắc Trung Hoa của mình: Châu Á là của người Á, không của Hoa Kỳ, và việc Mỹ đòi "chuyển trục" là không chấp nhận được. Nhưng chưa chắc là "người Á" theo định nghĩa của Bắc Kinh lại chịu thần phục Trung Quốc. Trong năm Ngọ, thế giới sẽ chứng kiến nhiều chuyện lạ tại Đông Á với "Chủ thuyết Monroe" được hiện đại hóa - đúng hơn, Nhật Bản hóa - nhờ lực đẩy của Shinzo Abe.

Loại sự kiện thứ hai, thuộc về võ, là Nhật Bản dưới thời Shinzo Abe đã khai triển sức mạnh kinh tế và thực lực kỹ thuật của mình qua lãnh vực quân sự.

Sau khi là cường quốc hải dương bị Hoa Kỳ tước võ khí, Nhật trở thành cường quốc kinh tế có tiến bộ vượt bậc về kỹ nghệ, kể cả hàng hải, cơ khí và điện tử. Nhật đã từng dẫn đầu thế giới về kỹ nghệ hàng hải với loại tầu dầu vĩ đại trước khi nhường lãnh vực đó cho Đại Hàn.

Đến khi hữu sự là trong năm qua, người ta mới thấy nhiều loại mẫu hạm tân kỳ của Nhật lại có cái dạng của... tầu dầu. Mặt phẳng ở trên là nơi trực thăng hạ cánh, ruột gan ở dưới là kho quân vận. Không chỉ có vậy, từ chiến đấu cơ đến kỹ nghệ không gian và tiềm thủy đĩnh hay hoả tiễn, nhiều loại chiến cụ cho thời hiện đại đều nằm sẵn trong bộ nhớ lẫn bộ máy sản xuất của Nhật. Cho nên, năm Giáp Ngọ là khi ta thấy Shinzo Abe nói và làm.

Mà hơi khác với Tập Cận Bình, sẽ làm được những điều đã nói.

Lúc đó, người ta mới để ý tới bóng hồng ở đằng sau Thủ tướng Nhật, Đệ nhất Phu nhân Akie Abe, nhũ danh Akie Matsuzaki. Phía bên kia là một bà tướng.



Hai bà đệ nhất, Akie Abe và Bành Lệ Viên


Sinh năm 1962, học trường đạo Thánh Tâm từ bé đến lớn, bà Akie Abe là khuôn mặt phụ nữ độc lập, giỏi võ, có cá tánh riêng và làm việc trong một công ty quảng cáo. Rồi trở thành người dẫn nhạc, "disk jockey", rất nổi tiếng trên đài phát thanh. Nổi tiếng nhất, nàng "Akkie" của giới trẻ Nhật Bản lại là người thân thiết với văn hóa và dân chúng Đại Hàn. Nàng hâm mộ các nghệ sĩ trẻ của Nam Hàn và là nhịp cầu Hàn-Nhật trong giới thanh niên. Ở nhà, đấy là một phụ nữ hiền thục nhưng dám nói không với ông chồng khi có bất đồng quan điểm!

Nàng Akie Abe giỏi đánh thương, có đường thủ rất kín.

 

Khi Nhật chuẩn bị tái võ trang, Đại Hàn Dân quốc ở bên kia biển Nhật Bản bỗng giật mình nhớ lại chuyện xưa.

Bán đảo Triều Tiên bị quân Nhật tấn công năm 1910 là bàn đạp tiến vào Mãn Châu rồi từ đó đi vào Hoa lục từ năm 1937. Sau Thế chiến II, Nhật bị khuất phục, nhưng Đại Hàn bị chiến tranh và chia hai. Bắc Hàn học theo Liên Xô và Trung Quốc, Nam Hàn học theo Nhật Bản và Hoa Kỳ, với kết quả ngày nay đã rõ....

Ngày nay, khi con ngựa chiến Shinzo Abe xuất chiêu, Nam Hàn tất nhiên là e ngại. Nhưng có người đã rỉ tai nữ Tổng thống Nam Hàn Phác Cận Huệ, rằng cái nghề DJ của dick jockey Akie Abe cũng được gọi là 'kỵ sư", chuyên về cưỡi ngựa. Nam Hàn sẽ được trấn an rằng con ngựa chiến Abe đã có người đẹp lèo lái!

Chẳng hóa là ngoài những chiến cụ tinh vi của Nhật, Thủ tướng Shinzo Abe còn có một võ khí hạng nặng về giao tế, chính là Đệ nhất Phu nhân Akie Abe. Khi so sánh với người đẹp của Chủ tịch Tập Cận Bình là nàng Bành Lệ Viên, người ta cũng thấy vài điểm khác giữa hai "Đệ nhất Phu nhân" Hoa Nhật. 

Thiếu tướng Bành Lệ Viên của Tập Cận Bình

Cũng sinh năm 1962 như Akie Abe, nàng họ Bành là ca sĩ loại nhạc phổ thông, đăng lính và là binh nhì ở tuổi 18, nàng nổi tiếng từ khi ca hát cho quân đội sau vụ tấn công Việt Nam vào năm 1979. Mười năm sau, nàng còn nổi tiếng hơn nữa khi cổ động các đơn vị đã ra tay trong vụ thảm sát Thiên An Môn 1989. Với chiến công đó, nàng được lên lon và ngày nay đeo quân hàm Thiếu Tướng!

Báo chí khắp nơi đã từng một thời tiên đoán Bành Lệ Viên sẽ trở thành tay trợ lực đáng nể cho Tập Cận Bình, nhưng khi họ Tập đến Mỹ hội đàm tay đôi với Barack Obama thì cũng chẳng thấy Đệ nhất Phu nhân Mỹ gặp bà Bành. Có khi nàng chỉ là sản phẩm cho thị trường nội địa. Riêng trong thế trận Á Châu, rõ ràng là Akie Abe đã tới rất nhiều nơi mà Bành Lệ Viên còn vướng và chưa thể tới được, từ Việt Nam, Thái Lan, Indonesia tới Cam Bốt. Hình ảnh bình dị của Akie khi đi tranh cử cho chồng, ngồi giữa các phu nhân ASEAN như một nữ sinh, hoặc uý lạo các tiểu ni cô trong một ngôi chùa Miên là những ấn tượng khó phai trong khung cảnh Giáp Ngọ....

___________________

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Chuyện thịt thà của Trung Quốc

 

 * Những miếng ngon của Chúng Quở * 


Tết đến, trẻ nhỏ trong nhà đều nghe ông bà nói câu "thịt mỡ, dưa hành, câu đối đỏ", và gắp cho miếng thịt kho ăn với bánh chưng, loại món ngon không thể thiếu trong một ngày lễ đầu năm. Người ra vẻ uyên bác còn dạy món thịt heo kho này là một đặc sản của đất Hàng Châu, xưa kia là một phát minh của Tô Đông Pha, danh gia đời Tống bên Tầu, cách nay đã 900 năm....

Láo cả!

Các tay đầu bếp trứ danh của Trung Quốc ngày nay không xác định được xuất xứ của loại thịt lợn kho vuông vức từng miếng rất thơm. Họ ngờ rằng vì Tô Đông Pha quá nổi tiếng lại thích ăn món thịt này nên đời sau mới dùng tích đó để quảng cáo. Nhưng vì sao trong một bài về kinh tế, người viết lại phiếm về thịt ông Tô?

Chỉ vì theo dõi thị trường chứng khoán và nhớ đến lời các cụ, "miếng ăn là miếng nhục". Câu nói ứng vào Trung Quốc!


***

Trung Quốc có lãnh thổ rộng bằng Hoa Kỳ, mà ăn heo gà nhiều hơn các loại thịt bò hay dê cừu của nhiều dân tộc lân cận. Vì họ hiếm đất khả canh, chỉ 14% diện tích, bằng 1/3 của trung bình thế giới, nên thiếu đồng cỏ bạt ngàn cho loại gia súc kia. Mà nuôi heo gà trong nhà hay trong trại thì cũng phải có mễ cốc, sản phẩm không mọc trong rừng mà phải trồng trọt mới có. Trồng trọt tức là canh tác, trên đất khả canh và phải có nước, là tài nguyên khan hiếm khác.

Ngày xưa, khi đòi tiến nhanh tiến mạnh tiến vững chắc lên xã hội chủ nghĩa kiểu Mao thì họ chỉ đủ vặt mũi bỏ mồm. Khi Mao Trạch Đông đòi nhảy vọt vào công nghiệp thì trong có bốn năm từ 1958 đến 1961 đã có gần 40 triệu người chết đói giữa mùa gặt.

Sau thời cải cách, đời sống khá hơn nên nhà nhà đều thèm ăn thịt, nhưng muốn có một ký thịt thì phải mất từ năm đến tám ký ngũ cốc.... Cho nên nhu cầu lương thực vẫn nguyên vẹn là bài toán sinh tử. Dù lãnh đạo xứ này đã đặt ra chỉ tiêu "tự túc về lương thực" là phải sản xuất được 95% của nhu cầu tiêu thụ nội địa về gạo, mì và bắp, theo lượng định gần đây của hai cơ quan Lương nông Quốc tế FAO và OECD thì trong cả chục năm tới Trung Quốc phải tiếp tục nhập cảng ngô bắp và đậu nành.

Trung Quốc có thể đe dọa an ninh xứ khác qua nhiều biện pháp huê dạng ngoài Đông hải mà vẫn phải nhập cảng miếng ăn nên chưa thấy an toàn về lương thực vì chỉ sợ bị thiên hạ điểm huyệt vào cái bao tử. Điều ấy mới giải thích chiến lược "lấn đất giành cơm", là ào ạt đầu tư vào các nông trại Á Phi để có lúa từ gốc, rồi trò "chặn biển giữ cá" gần đây của tỉnh Hải Nam.

Trò chơi nhuốm mùi thực dân mới khiến nhiều nước giật mình báo động - trừ nước Nam bốn tốt đen, được đóng đai bằng 16 chữ vàng....


***


Vì kinh tế cũng là chính trị - và cũng là nhiều chuyện khác nữa – ta nên nhìn qua xứ khác....

Nhật Bản có lãnh thổ rất hẹp, mật độ dân số quá cao (340 người một cây số vuông, hơn gấp đôi Trung Quốc) và đất canh tác chỉ bằng 12% diện tích lãnh thổ. Dù khan hiếm đủ loại tài nguyên, dân Nhật chưa than đói, vẫn duy trì chế độ bảo hộ nông sản để giữ giá cho nông dân và còn biểu diễn món thịt bò Kobe đắt hơn nem công chả phượng.

Hoa Kỳ may mắn có lãnh thổ vuông vức và phì nhiêu hơn Trung Quốc. Nhưng may nhất là họ có cái đầu.

Hai trăm năm trước, đến 90% dân Mỹ còn phải phơi lưng cấy lúa, ngày nay, dân số ngồi xe khoác áo nông dân chỉ còn chừng 1,6% mà canh tác dư thừa để nuôi xứ khác. Họ được hối lộ bạc tỷ để giảm sản lượng và giữ giá lương thực. Không chỉ xuất cảng ngô bắp, xứ này còn xuất cảng mọi loại nông cơ nông cụ.... và đang là nguồn sống cho Trung Quốc.

Chuyện ấy dẫn ta về thị trường tài chánh.

Cơ xường Song Hối bên Tầu














Thời sự nức nở loan tin là Tập đoàn Song Hối (Shuanghui hay Shineway) sắp yết giá cổ phiếu trên thị trường Hong Kong để huy động năm tỷ vốn, tính bằng đô la. Tư bản Trung Quốc khôn thật!

Song Hối là doanh nghiệp chế biến thực phẩm số một của Trung Quốc, năm ngoái gây sôi nổi khi dạm mua hãng bán thịt heo lớn nhất của Mỹ là Smithfield Foods, Inc. với giá gộp là hơn bảy tỷ đô la, kể cả hơn hai tỷ nợ và 4,7 tỷ cổ phiếu. Sôi nổi vì tại sao phải mua heo của Mỹ với đắt như vậy – thay vì nuôi heo ở nhà?

Có chứ! Song Hối cũng vừa mua tinh trùng của heo tại Anh quốc. Chuyện gây giống thì ai mà chẳng biết....

Nhưng có 13 hãng xưởng trên toàn quốc, một năm Song Hối ngả thịt 15 triệu con heo để chế biến ra gần ba triệu tấn thịt, mà chỉ nuôi được 400 ngàn con nên phải tìm nguồn cung cấp ở nơi khác. Nơi khác không nhất thiết là nơi khác tại Trung Quốc.

Đất canh tác vốn có hạn, lại bị đảng viên các tỉnh cướp sống cho nhu cầu kỹ nghệ hoá, nhân tiện gây ra cả triệu thảm họa môi sinh linh tinh không đáng kể. Hậu quả là tháng trước, nhà nước Bắc Kinh đã báo động là 2% diện tích canh tác đã bị ô nhiễm nên không thể trồng trọt được gì nữa. Lúc đó ta mới nhớ đến cả ngàn xác heo nhiễm độc đã làm nghẹt sông Dương Tử vào năm ngoái.

Khi thấy truyền thông Mỹ ca ngợi việc Trung Quốc bỏ bạc tỷ ra mua thịt ngoài chợ của mình thì ta có hai cách nhìn.

Bi quan thì sợ là ăn phải heo độc của Tầu bán trên đất Mỹ. Hơi lo xa! Các cơ quan hữu trách của Mỹ đều biết mối nguy này và còn biết rằng miếng thịt tại Trung Quốc còn đắt hơn ở Hong Kong. Ưu tiên là cái bao tử ở nhà.

Bi quan hơn nữa thì nên sợ là Trung Quốc gieo họa cho người dân khi gây ra nạn khan hiếm lương thực vì chính sách quái đản của họ. Tai họa kinh tế cũng là chính trị.


***

Từ thời "lập quốc" của Mao, xứ này tập trung thu mua và phân phối lương thực mà không có chính sách khuyến nông để tăng gia sản xuất. Lại còn trưng thu lợi tức nông dân tại thôn quê để nâng đỡ giai cấp công nhân tiên tiến tại thành thị trong nỗ lực công nghiệp hoá và xây dựng xã hội chủ nghĩa. Hậu quả là sản lượng sụt và dân bị đói trong bước nhảy vọt vào cơ hoang.

Khi tiến hành cải cách từ năm 1979, Đặng Tiểu Bình áp dụng chế độ khoán nông nghiệp cho các hộ gia đình: khuyến khích sản xuất, sau khi đạt chỉ tiêu thu mua của nhà nước ở cấp tỉnh thì cho bán sản lượng dư thừa. Trong 20 năm sau đó, Bắc Kinh lập thêm kho dự phòng để thu mua lương thực hầu đáp ứng cung cầu ở từng nơi. Từ năm 1995, họ mở rộng chế độ khoán cho từng tỉnh: các tỉnh có nhiệm vụ kiểm soát lấy hạn ngạch để cân bằng cung cầu. Nhưng chỉ dăm ba năm sau thì Bắc Kinh bãi bỏ chế độ khoán cho cấp tỉnh để trung ương kiểm soát và giải quyết việc cung cấp cho các tỉnh bị khan hiếm lương thực.

Đến năm 2001, khi gia nhập Tổ chức WTO thì Trung Quốc phải giải phóng các thị trường, kể cả thị trường nông sản, lương thực. Mà vẫn chưa giải quyết được nhu cầu của mình.

Việc cải cách từ 1979 đến nay có giúp Trung Quốc nâng sản lượng ngũ cốc từ hơn 300 triệu tấn lên tới 600 triệu tấn và giảm được tỷ lệ "suy dinh dưỡng" là thiếu ăn theo tiêu chuẩn của FAO, từ 21% dân số xuống 12%. Nhưng dù có sản lượng lương thực lớn nhất thế giới nhờ cải tổ chánh sách và cải thiện phương tiện sản xuất, xứ này vẫn chưa đủ ăn vì đất đai có hạn mà sai lầm thì vô hạn. Khá hơn trước, ngày nay người dân thèm ăn thịt.

Hèn gì mà tư bản Mỹ vỗ đầu khen bốn tốt cái đám tư bản đỏ thiếu thật thà đi mua thịt Mỹ. 

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thâm khảo tư liệu:

Giới chóp bu và cải cách ở Lào, Campuchia và Việt Nam

Nguồn: Martin Gainsborough (2012). “Elites vs. Reform in Laos, Cambodia, and Vietnam”, Journal of Democracy, Vol. 23, No. 2 (April), pp. 34-46.>>PDF
Biên dịch và Hiệu đính: Trần Anh Phúc
 Nếu xem xét cùng với nhau, Việt Nam, Campuchia và Lào mang lại một điều gì đó khó hiểu. Trong khi Việt Nam và Lào vẫn duy trì chế độ nhà nước cộng sản độc đảng, thì Campuchia trải qua quá trình chuyển đổi dân chủ vào năm 1993 dưới sự giám sát của cộng đồng quốc tế. Nhưng cả ba nước cuối cùng đều có cùng một nền chính trị rất tương đồng với đặc trưng là sự thiếu cam kết đối với các giá trị tự do. Khi nỗ lực giải thích cho điều này, chúng ta nên cân nhắc tầm quan trọng của văn hóa chính trị và “chính trị tiền bạc”, trong khi cũng chú ý đến một thực tế là sự năng động của xã hội dân sự và biểu tình tự phát đang dần trở nên phổ biến hơn.
Việt Nam, Campuchia và Lào thường được xếp cùng một nhóm để phục vụ các mục đích phân tích. Điều này bắt nguồn từ một số lý do rõ ràng. Cả ba nước đều là các thuộc địa cũ của Pháp, từng được biết đến dưới cái tên chung là khu vực Đông Dương thuộc Pháp, có vị trí địa lý nằm giáp biên nhau trên lục địa Đông Nam Á. Cả ba đều chứng kiến sự nổi lên nắm quyền trên toàn quốc của các đảng cộng sản giữa những năm 1970. Một điều khác cũng có liên quan đó là nỗ lực bất thành của Việt Nam trong thời Chiến tranh Lạnh nhằm duy trì vai trò lãnh đạo đặc biệt ở Đông Dương, hợp nhất với Campuchia và Lào sau khi Việt Nam đưa quân vào Campuchia năm 1978. Từ khi Chiến tranh Lạnh kết thúc, ba nước này được phân cùng một nhóm bởi vì đều nằm trong nhóm các nước nghèo nhất Đông Nam Á, được lên kết với nhau thông qua Tiểu vùng sông Mê Kông mở rộng, và là những thành viên non trẻ nhất của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN). Ba nước cũng đã chứng kiến sự tăng trưởng kinh tế nhanh chóng và tình trạng nghèo đói ngày càng giảm kể từ những năm 1990 và được nhìn nhận là đang trải qua quá trình “cải cách” chuyển từ kế hoạch hóa tập trung sang kinh tế thị trường.
Tuy nhiên, Việt Nam, Campuchia, Lào hiện là các quốc gia độc lập có chủ quyền với những ảnh hưởng tiền thuộc địa và nền lịch sử khác nhau. Mỗi nước có sự trải nghiệm khác nhau dưới ách đô hộ thực dân Pháp và đặc điểm tình hình hậu thuộc địa ở mỗi nước cũng khác nhau, thường khá khó nhận thấy. Ba nước cũng không đi theo cùng một quỹ đạo từ sau Chiến tranh Lạnh. Việt Nam và Lào không trải qua sự chuyển đổi dân chủ và duy trì các nhà nước cộng sản độc đảng. Ngược lại, Campuchia đã thực sự trải qua quá trình chuyển đổi đó (được giám sát bởi cộng đồng quốc tế) vào năm 1993, dầu rằng sau đó đa phần những tiến bộ dân chủ của nước này đã bị đảo ngược.
Hơn nữa, khi ba nước này đã hội nhập đầy đủ hơn vào nền kinh tế khu vực Đông Nam Á cũng như toàn cầu, những điều kiện hoàn cảnh mỗi nước khác nhau đang khiến các nước này phản ứng trước các tác động về văn hóa, chính trị và kinh tế từ bên ngoài theo những cách khác nhau. Những điều kiện này bao gồm cả các vấn đề về quy mô và vị trí địa lý. Việt Nam với 86 triệu dân vượt trội so với một nước Campuchia với 15 triệu dân và một nước Lào có nhiều đồi núi và được bao bọc bởi đất liền chỉ với 7 triệu dân (nước nghèo nhất và nhỏ nhất trong 3 nước). Nền kinh tế Việt Nam cũng lớn hơn gấp 8 lần so với Campuchia và gấp 15 lần so với Lào. Tóm lại, ba nước này dù có thể so sánh với nhau nhưng vẫn khác biệt, với hướng đi đã và sẽ không trùng khớp nhau.
Các chuyên gia khu vực quen với ý nghĩ rằng cả 3 nước (dựa trên quyết định có chủ đích của nhóm chóp bu) đều ủng hộ chính sách kinh tế quốc gia (định hướng thị trường) mang tính “cải cách”. Việt Nam và Lào thường được cho là đã làm vậy tại các đại hội đảng toàn quốc do các đảng cộng sản cầm quyền lần lượt tổ chức ở mỗi nước vào năm 1986. Việt Nam thông qua chính sách “đổi mới” và Lào thì thông báo một “cơ chế kinh tế mới” dựa trên “lối tư duy mới”.1 Campuchia nhìn chung cũng đi theo con đường đó vào năm 1989 sau khi quân đội Việt Nam rút lui.
Nếu xét những gì mà giới chóp bu được cho là đã làm, quan điểm thống nhất chung là những thay đổi ở mỗi nước đã đạt được những mức độ đáng kể về cả kinh tế và chính trị, dầu rằng khía cạnh kinh tế dần hiện hữu rộng lớn hơn khía cạnh chính trị. Tuy nhiên, sự thống nhất này quá nhấn mạnh sự thay đổi, chính sách chính thống, và các sáng kiến của giới chóp bu, trong khi lại đánh giá thấp tầm quan trọng của tính kế tục về kinh tế – chính trị và mức độ mà các tác nhân bên ngoài các sáng kiến chính sách được dẫn dắt bởi nhóm chóp bu đã góp phần định hình nên các sự kiện ở 3 nước này.
Vấn đề đáng quan tâm ở đây là mức độ mà giới chóp bu ở cả ba nước thường chỉ chính thức hóa các thử nghiệm hoặc sáng kiến “từ dưới lên”, mang tính tự phát, có thể  của các công chức, giám đốc doanh nghiệp, cư dân thành thị hay các nông dân. Nói chung, giới chóp bu thích tỏ vẻ như họ là người phụ trách và sẽ không thừa nhận rằng họ đang đối phó hơn là đang hành động (chủ động). Tuy nhiên, như đã đề cập về trường hợp Trung Quốc có liên quan, bất cứ một giải thích nào mà bỏ lơ vai trò của các sáng kiến không do chính quyền dẫn dắt hoặc không chính thức đều là những giải thích đã “được thanh lọc kỹ”. Nó “khiến chúng ta không chú ý đến những động lực thật sự của quá trình cải cách”.2 Điều này không phải để phủ nhận việc giới chóp bu đã khởi xướng các đổi mới mà chỉ để lập luận cho một đánh giá cân bằng hơn, trong đó ghi nhận vai trò của cả sáng kiến chính thức và không chính thức, cũng như cân nhắc cả sự kế tục và sự đổi mới. Hơn nữa, sự cân bằng này là quan trọng khi cân nhắc sự thay đổi về mặt chính trị (ngay cả khi chưa đạt đến một sự chuyển đổi dân chủ toàn diện) hay khi xem xét những cải cách đối với nền kinh tế. 
Những giới hạn của cải cách chính trị chính thức
Trong phạm vi của các chế độ độc đảng ở mỗi nước, Việt Nam và Lào đã tiến hành những bước đi tương tự nhau để cải tổ hệ thống chính trị của mình. Con đường của Campuchia thì lại khác, dù nước này rốt cục có nhiều điểm tương đồng về mặt chính trị với các nước láng giềng, bất chấp đã trải qua sự chuyển đổi dân chủ vào đầu những năm 1990.
Mặc dù các cải cách khởi xướng tại đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ 6 và đại hội Đảng Nhân dân Cách mạng Lào vào năm 1986 thường được cho rằng chủ yếu là về mặt kinh tế, nhưng trong cả hai trường hợp này, các cải cách cũng có một phần chính trị rõ ràng. Ở Việt Nam, tuyên bố chính sách mấu chốt từ năm 1986 nhấn mạnh các vấn đề, trong đó bao gồm sự phối hợp kém giữa đảng cộng sản và chính quyền, cũng như khuynh hướng các đảng viên hoạt động ngoài vòng pháp luật và chà đạp lên các quy trình bầu cử. Sự phê bình này khởi đầu cho những bước đi chính thức của đảng nhằm xây dựng một nhà nước “pháp quyền”, tăng cường vai trò của Quốc hội và vạch rõ mối quan hệ giữa Đảng, chính quyền và người dân. Những vấn đề này vẫn còn mang tính thời sự: chính xác thì Đảng cộng sản nhìn nhận như thế nào về nền “pháp quyền”, cũng như mối quan hệ “đúng đắn” giữa người dân và nhà nước vẫn còn là những câu hỏi mở.
Những cải cách ở Lào cũng tập trung vào nền pháp quyền và bao gồm việc ban hành hiến pháp đầu tiên thời hậu thuộc địa vào năm 1991 cùng với việc nhấn mạnh tăng cường hệ thống hành chính quốc gia. Ở cả hai nước trên cũng đã có một sự cởi mở về không gian xã hội thông qua quá trình “phi stalin hóa đời sống hàng ngày”.3 Những hạn chế về đi lại trong nội địa và thậm chí ở nước ngoài được nới lỏng; sự giám sát hàng ngày trở nên ít tràn lan và bớt hà khắc hơn; và các đầu mối truyền thông mới đã được cấp phép thành lập cùng với các hội nhóm phi chính thức gồm cả các nhóm tôn giáo. Dầu rằng những điều này không đưa đến một sự chuyển đổi dân chủ ở Việt Nam hay Lào– nơi mà Đảng cộng sản vẫn nắm quyền và các lực lượng an ninh vẫn áp đảo – thì bầu không khí ở cả hai nước đã thật sự trở nên tự do hơn một cách đáng kể.
Vào cuối những năm 1980 và đầu những năm 1990, khi các cuộc biểu tình rầm rộ tại quảng trường Thiên An Môn cùng với việc phá dỡ bức tường Béclin và sự sụp đổ của chủ nghĩa cộng sản ở Trung – Đông Âu và Liên Xô cũ đã làm chấn động thế giới, thì cuộc tranh luận về tương lai hệ thống chính trị của Việt Nam và Lào cũng nổ ra. Tuy nhiên, hầu hết các cuộc thảo luận trên diễn ra sau hậu trường của những chính quyền khép kín này, vì vậy khó mà biết được chính xác điều gì đã được bàn thảo. Nhưng bản kết luận cơ bản thì rõ ràng. Đầu những năm 1990, cả Việt Nam và Lào đã dập tắt lời kêu gọi của nhóm thiểu số về đa nguyên chính trị. Ở Lào, hai cựu thứ trưởng và một nhân viên Bộ Tư pháp bị bỏ tù vì bị cáo buộc có âm mưu lật độ chế độ.4 Ở Việt Nam, một thành viên Bộ Chính trị bị sa thải ngay trước đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 7 năm 1991, rõ ràng vì ông công khai ủng hộ nền chính trị đa đảng.
Tăng cường phản đối chính trị dân chủ, cả 2 đảng cầm quyền tuyên bố kiên quyết bác bỏ cái mà họ cho là “những đòi hỏi tự do quá mức” (ở Việt Nam) hay “một hệ thống đa đảng” (ở Lào).5 Từ đó về sau, không một đảng nào thay đổi quan điểm cả. Họ tiếp tục nói về phát huy “dân chủ”, nhưng điều này không có nghĩa họ ủng hộ dân chủ tự do, mà thay vào đó là những điều như mở rộng số lượng đảng viên được phép có vai trò trong việc bầu chọn các nhà lãnh đạo cấp cao, gia tăng số lượng vị trí cấp chính quyền địa phương được bầu cử trực tiếp, và đảm bảo rằng đảng cộng sản quan tâm lắng nghe hơn nữa ý kiến của các cán bộ nhà nước, các nhà lập pháp và người dân.
Từ đầu những năm 1990, Việt Nam và Lào đều mở cửa đối với một loạt các tổ chức tài trợ song phương và đa phương, cũng như các tổ chức phi chính phủ quốc tế (NGOs), nhờ đó đã nhận được nhiều nguồn viện trợ và hỗ trợ kỹ thuật. Các nhà tài trợ bao gồm cả từ châu Á và phương Tây. Ở Lào có sự hiện diện mạnh mẽ của Việt Nam, Trung Quốc và Thái Lan. Nhà tài trợ lớn của Việt Nam đến từ châu Á là Trung Quốc, nhưng sự hiện diện của Trung Quốc bị quản lý cẩn trọng (giữa hai nước này đã nổ ra cuộc chiến tranh trong thời gian ngắn nhưng rất gay gắt vào đầu năm 1979 và tiếp tục có các cuộc đụng độ vũ trang khu vực biên giới cho đến năm 1990). Các nhà tài trợ phương Tây đã làm việc với các chính phủ Việt Nam và Lào về những lĩnh vực liên quan đến quản trị nhà nước như là quản lý hành chính công, cải cách hệ thống pháp lý, chống tham nhũng, phát triển xã hội dân sự. Tuy nhiên, những điều này hầu như không có nhiều ảnh hưởng đối với nền chính trị hai nước.
Quỹ đạo phát triển của Campuchia thì lại hơi khác. Sau cuộc đưa quân vào Campuchia của Việt Nam năm 1978 nhằm lật đổ chế độ diệt chủng Khơme đỏ, một chính quyền được sự bảo trợ của Việt Nam và từ năm 1985 do Hunsen đứng đầu đã nắm quyền điều hành Campuchia. Trong suốt những năm 1980, cuộc nội chiến tiếp tục diễn ra ác liệt khi liên minh những người bảo hoàng và phe Khơme đỏ đối chọi với chính quyền Campuchia do Việt Nam bảo trợ. Hòa bình trở nên khả dĩ chỉ khi Việt Nam vì những lý do chính trị trong nước của mình đã quyết định không thể duy trì hiện diện quân sự tại Campuchia nữa. Theo sau hiệp định hòa bình được ký tại Paris năm 1991, một sứ mệnh hoạt động đáng kể của Liên Hiệp Quốc được triển khai, dẫn đến các cuộc bầu cử vào năm 1993 với sự tham gia tranh cử của 19 đảng phái.
Ít nhất là trong ngắn hạn, Liên Hiệp Quốc đã có ảnh ưởng đáng kể. Campuchia đạt được những nền tảng chính thức của chủ nghĩa hiến pháp tự do, bao gồm một đạo luật cơ bản mới nhất quán với các nguyên tắc của nó. Ngoài ra, các hoạt động xã hội dân sự cũng tăng nhanh; các phương tiện truyền thông đa dạng và có tiếng nói hơn cũng nổi lên. Nhưng sự tự do đang đơm hoa này lại sớm bắt đầu lụi tàn. Các cuộc bầu cử vẫn tiếp tục được tổ chức đều đặn, nhưng những kết quả đạt được trong những năm đầu thập niên 1990 đã bị đảo ngược dần dưới bàn tay của Hunsen và Đảng Nhân dân Campuchia (CPP) cầm quyền vốn vẫn cố duy trì kiểm soát quyền lực chặt chẽ. Điều này đã dẫn đến sự suy yếu mang tính hệ thống của phe chính trị đối lập bao gồm đảng bảo hoàng FUNCINPEC (từng là đối tác liên minh của CPP) và đảng Sam Rainsy. Những người chỉ trích chính phủ thuộc giới truyền thông, các tổ chức công đoàn hay xã hội dân sự nhìn chung thường bị mua chuộc hoặc bị dập tắt bởi sự kết hợp của các biện pháp như quan hệ ô dù bảo trợ, đe dọa, bạo lực, thay đổi luật bầu cử, hoặc vin vào những phiên tòa thiên về mặt chính trị.6
Trong cuộc bầu cử gần đây nhất tổ chức vào tháng 7 năm 2008, đảng CPP, với việc giành được 90 trong số 123 ghế, lần đầu tiên từ năm 1993 đã có thể tự đứng ra thành lập một chính phủ mới. CPP cũng kiểm soát 90% các xã hoặc các ủy ban cấp chính quyền địa phương.7 Đây là bước chuyển biến đáng kể đối với một đảng mà từng chỉ về thứ hai sau đảng FUNCINPEC trong cuộc bầu cử năm 1993, điều mà nhiều người có khuynh hướng lãng quên.
Giống như các chính phủ Việt Nam và Lào, Campuchia cũng cho phép hoạt động và cùng làm việc với cộng đồng tài trợ quốc tế về một loạt những cải cách quản trị nhà nước. Các nhà tài trợ cũng đến từ cả các nước châu Á và phương Tây, trong đó Việt Nam và Trung Quốc chiếm ưu thế trong số các nước châu Á. Tương tự Việt Nam và Lào, ảnh hưởng từ các nhà tài trợ bên ngoài đối với đường hướng chính trị cơ bản của Campuchia đã bị hạn chế một cách rõ rệt. 
Những lực lượng đáng kể duy trì sự tiếp nối
Tại sao ba nước láng giềng của nhau này – riêng Campuchia thì từ sau quá trình chuyển đổi năm 1993, trong khi hai nước Việt Nam và Lào thì gần như liên tục – lại bám chặt lấy con đường phi dân chủ như vậy? Câu trả lời có thể nằm ngay trong các nền văn hóa chính trị của giới tinh hoa tương tự nhau một cách đáng chú ý ở cả 3 nước này. Truy nguyên nguồn gốc của sự tương đồng này nằm ngoài phạm vi của bài viết,8 nhưng chúng tôi có thể chứng minh những đặc điểm chung mà các nền văn hóa chính trị nói trên chia sẻ, đồng thời vạch ra những ảnh hưởng của chúng.
Chủ nghĩa tinh hoa và chủ nghĩa gia trưởng ăn sâu vào cốt lõi của các nền văn hóa chính trị rất tương đồng ở 3 nước nói trên. Dưới ảnh hưởng của những yếu tố này, các giả định văn hóa về mối quan hệ thích hợp giữa nhà nước và công dân, giữa người cai trị và tầng lớp bị trị hoàn toàn trái ngược với những gì được cho là hiển nhiên ở phương Tây. Trong xã hội 3 nước Đông Nam Á này có một niềm tin ngầm định mạnh mẽ rằng thiện chí và phẩm chất đạo đức cao của những người cầm quyền – chứ không phải là sự phân chia và kiểm soát quyền lực một cách khách quan thường được ưa thích bởi truyền thống tự do – mới là những sự kiềm chế then chốt đối với quyền lực.9 Sự phù hợp của định kiến văn hóa này có thể được thoáng thấy trong việc nhấn mạnh vai trò của gia đình (hay chính xác hơn là của những người làm cha làm mẹ) ở cả 3 nước.
Cân nhắc các yếu tố văn hóa chính trị giúp chúng ta dễ hiểu hơn lý do tại sao cả 3 đảng cầm quyền đều bác bỏ chủ nghĩa đa nguyên và cảm thấy rất khó chịu về xã hội dân sự hoặc bất cứ một hình thức tổ chức nào hoạt động ngoài các khuôn khổ của nhà nước hoặc đảng cầm quyền. Trên khía cạnh này, điều đáng chú ý là các quy định hợp pháp hóa các tổ chức phi chính phủ và hoạt động của các tổ chức này đã tiến bộ một cách chậm chạm và thường gắn với nhiều tranh cãi ở cả 3 nhà nước nói trên.
Sự tập trung vào văn hóa chính trị cũng giúp làm sáng rõ đặc trưng của các cuộc bầu cử ở Việt Nam, Campuchia và Lào. Ở những nước này, giới cầm quyền xem bầu cử là cơ hội để người dân khẳng định những công lao đích thực của các nhà lãnh đạo hơn là một cuộc cạnh tranh giữa những lựa chọn khác nhau.10 Vì vậy, ở Việt Nam và Lào, Nhà nước luôn tìm cách kiểm soát những người được bầu vào quốc hội, còn ở Campuchia, Hunsen đã hành động như thể theo bản năng nhằm dập tắt bất kỳ quan điểm nào coi bầu cử như một cuộc cạnh tranh nghiêm túc.
Hơn nữa, việc cân nhắc đúng mức vấn đề văn hóa chính trị đặt ra những câu hỏi sâu sắc về điều gì đang diễn ra khi mà các đảng cầm quyền làm việc với cộng đồng tài trợ quốc tế trong các lĩnh vực như cải cách hành chính công hay chống tham nhũng. Những cải cách mà các nhà tài trợ thúc đẩy thường lên quan đến sự phân chia và kiểm soát quyền lực mang tính thể chế, điều mà giới lãnh đạo các nước tiếp nhận tài trợ nhìn nhận với sự hoài nghi sâu sắc. Bất kể các nhà tài trợ nghĩ gì về những việc họ đang làm, trên thực tế giới lãnh đạo địa phương hoặc là thiếu nghiêm túc về việc thể chế hóa các cải cách tự do, hoặc là khăng khăng giải thích hay áp dụng chúng theo những cách phi tự do. Cuối cùng, sự tập trung vào văn hóa chính trị giúp dễ hiểu hơn (dầu không phải để tha thức cho) khuynh hướng các nhà cầm quyền đối xử một cách gay gắt với các nhà bất đồng chính kiến và những người chỉ trích khác. Các quyền, theo lối tư duy của những người cầm quyền, bắt nguồn từ việc phải tuân theo nếp suy nghĩ gia trưởng, lấy giới tinh hoa làm trung tâm này. Vì vậy, không có sự tuân thủ cũng đồng nghĩa với không có quyền.11
Ngoài một nền văn hóa chính trị không thân thiện, một trở ngại lớn khác mà nền chính trị tự do đang vấp phải tại Việt Nam, Campuchia và Lào có thể được quy cho sự trỗi dậy của “chính trị tiền bạc” cùng với kết quả kéo theo của nó là sự thương mại hóa nhà nước. Cải cách ở Đông Nam Á thường được cho là gắn liền (một cách ngấm ngầm hoặc rõ ràng) với tự do hóa kinh tế và sự thoái lui của Nhà nước. Nhưng đó không phải là những gì đã diễn ra. Những năm tháng cải cách ở Việt Nam, Lào, Campuchia đã thực sự chứng kiến quá trình thị trường hóa, cùng với đó là một dạng thăng tiến của nhà nước hơn là sự thoái lui, khi mà các chính trị gia, các quan chức và những người có quan hệ mật thiết với họ đã tranh thủ lợi dụng những người trong cuộc tiếp cận các cơ hội kinh doanh gắn liền với quá trình thị trường hóa và toàn cầu hóa để làm giàu cho bản thân.
Ở Việt Nam, quá trình này được ghi nhận lần đầu liên quan đến sự gia tăng của các nhóm lợi ích doanh nghiệp nhà nước từ những năm 1980, khi mà những người có các mối quan hệ chính trị bắt đầu tích lũy tư bản thông qua việc tham gia vào các giao dịch thị trường, ngay cả trong thời kỳ kế hoạch hóa tập trung. Ở Lào, sự thương mại hóa nhà nước là rõ ràng có liên hệ khá thường xuyên đến các chính trị gia và họ hàng của họ, được biết đến như những người nắm giữ các vị trí cao đầy uy quyền của nền kinh tế Lào. Ở Campuchia, quá trình này bắt đầu vào cuối những năm 1980 với việc bán tháo các tài sản nhà nước, chủ yếu bởi đảng CPP, khi mà Hunsen cố lôi kéo thêm đồng minh và gây ảnh hưởng đối với người dân nhằm chuẩn bị cho những thay đổi được dự báo sẽ diễn ra trong môi trường chính trị nước này.
Những đặc trưng của nền kính tế chính trị trong “kỷ nguyên cải cách” này đều tương đồng nhau ở cả Việt Nam, Campuchia và Lào. Trước hết, như đã được đề cập thì các mối liên kết hoặc quan hệ chính trị thường đóng vai trò cốt yếu. Đây là những điều cần thiết cho sự bảo đảm về mặt chính trị cũng như tiếp cận nguồn đất đai, vốn, các hợp đồng, hoặc có được (nếu không né tránh) những giấy phép cần thiết. Xung đột lợi ích là phổ biến, với việc các cán bộ công chức (thường thực hiện các hành động thông qua bạn bè hoặc họ hàng) hoạt động trong các lĩnh vực của nền kinh tế mà họ chịu trách nhiệm điều hành. Hoạt động đầu cơ trục lợi dựa trên các thông tin tay trong có được nhờ làm việc trong các cơ quan nhà nước là khá thường xuyên. Đầu cơ đất – hay việc thâu tóm đất trực tiếp ở Campuchia – rất phổ biến ở cả 3 nước và đã chứng tỏ là con đường màu mỡ để giàu có nhanh chóng đối với các quan chức, nhất là kể từ khi đất đai bắt đầu khôi phục lại thành hàng hóa có thể chuyển nhượng vào cuối những năm 1980.
Trong tâm trí nhiều người ở cả 3 nước tồn tại một sự liên kết chặt chẽ giữa việc nắm giữ các chức vụ nhà nước với việc vun vén tài sản cá nhân. Giống như trường hợp về nền văn hóa chính trị của giới tinh hoa, trường hợp này cũng có nguồn gốc lịch sử lâu đời, đồng thời tiếp nhận những động lực mới từ những hoàn cảnh mới – trong trường hợp này, đó là những yếu tố mà gắn liền với cải cách kinh tế dựa theo thị trường. Ở Việt Nam, Campuchia và Lào, lương công chức đều thấp, nhưng những người có tham vọng sẽ trả nhiều tiền để có được chức vụ và qua đó tiếp cận dễ dàng đến các lợi ích cá nhân mà chức vụ đó mang lại. Vì vậy, đối với người đưa hối lộ, lượng tiền hối lộ để được đề bạt dường như là một khoản đầu tư mà có thể dễ dàng thu lại được nhờ những khoản tiền tô (rents) và các cơ hội khác mà một quan chức ở cương vị tốt có thể nhận được.12
Ở cả 3 nước trên, nền kinh tế chính trị này đang có những tác động sâu sắc đối với chính trị. Sự bất bình đẳng cao không chỉ về mặt thu nhập mà cả về sở hữu đất tập trung. Ví dụ như ở Campuchia, nơi mà quá trình tích lũy đất đai là kinh khủng nhất, thì chỉ một phần mười dân số thường sở hữu đến gần hai phần ba diện tích đất và một phần mười giàu nhất trong số đó – tương đương một phần trăm dân số nước này – được ước tính sở hữu từ 20% đến 30%. Cứ năm hộ gia đình ở nông thôn thì có một hộ là không có đất và con số này tiếp tục gia tăng 2% mỗi năm.13 Các lợi ích kinh doanh đang có ảnh hưởng ngày càng lớn lên chính trị, đôi khi đến mức thâu tóm nhà nước. Vận động hành lang sau hậu trường đối với chính phủ tăng mạnh khi mà các doanh nghiệp cố định hình các luật lệ theo hướng có lợi cho mình. Các đảng cộng sản cầm quyền hiện cho phép những người kinh doanh, các nhân vật có tiếng thuộc thành phần kinh tế tư nhân tham gia vào quốc hội. Sự gắn kết ngày càng chặt chẽ giữa chính phủ và các doanh nghiệp đang thúc đẩy khuynh hướng thiên vị của nhà nước đối với giới tư bản khi các tranh chấp thương mại phát sinh, đồng thời khiến cho giới tinh hoa chính trị gia tăng thái độ thù địch bản năng đối với các công đoàn độc lập.
Cuối cùng, có mối liên hệ trực tiếp giữa nền kinh tế chính trị của “kỉ nguyên cải cách” này với việc nền quản trị tự do không thể đạt được nhiều tiến bộ. Trong lĩnh vực cải cách hành chính công, vốn từ lâu đã là một trụ cột chính trong các nỗ lực tài trợ cho các nước Việt Nam, Lào, Campuchia, nỗ lực nhằm loại bỏ các thủ tục hành chính rườm rà thường không đạt được những cắt giảm toàn diện, bởi vì các chức vụ hoặc cơ quan bị loại bỏ ở nơi này lại được thay thế bởi những chức vị hoặc các vụ cục mới ở nơi khác. Điều này thường gây khó hiểu đối với những người bên ngoài, nhưng nó hoàn toàn có lý đối với những người nào hiểu được việc nắm giữ các chức vụ công và việc thu vén cá nhân gắn kết với nhau như thế nào trong xã hội các nước nói trên. Việc dừng hoạt động các bộ ngành hoặc làm rõ các mô tả công việc sẽ trực tiếp đánh vào cách cư xử tùy tiện mà các quan chức thường dựa vào đó để kiếm thêm thu nhập, và vì vậy những biện pháp này phải bị lãng tránh.
Biểu tình tự phát và xã hội dân sự
Hướng đến tương lai
Chú thích
Xem phần còn lại của nội dung văn bản tại đây: Gioi chop bu va cai cach o Lao, CPC va VN.pdf
- See more at: http://nghiencuuquocte.net/2014/01/19/cai-cach-lao-cpp-vn/#sthash.UBcWBC2w.dpuf

Phần nhận xét hiển thị trên trang