Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Bảy, 18 tháng 1, 2014

Khát nước!

Đằng sau sức mạnh quân sự của TQ
Hầu hết ý kiến chuyên gia đều tin rằng tất cả là do lỗi từ động cơ. Hệ thống động cơ đã không tắt tức thì khi tàu trồi lên khiến oxy bị "hụt" và gây tử vong cho toàn bộ thủy thủ đoàn. Sau sự kiện trên, Trung Quốc không dám mạo hiểm chế tạo động cơ tàu ngầm. Vậy là bắt đầu từ tàu ngầm lớp Tống tự đóng, Trung Quốc phải nhập động cơ MTU, mang về ráp tại xưởng đóng tàu Vũ Xương bên bờ Dương Tử. 

Hải quân Trung Quốc ngày nay vẫn không thể so với 
Hải quân Nhật cách đây hơn nửa thế kỷ về khả năng tự lực.
Với ngân sách quốc phòng khổng lồ khoảng 200 tỉ USD/năm (chỉ sau Mỹ), Trung Quốc đang dồn hết “công lực” cho hiện đại hóa quân đội. Tàu chiến, máy bay, máy bay không người lái (UAV)… xuất xưởng ào ạt như người ta sản xuất xúc xích! Tuy nhiên, nếu nghĩ rằng kỹ thuật quân sự Trung Quốc đã đạt đến trình độ cao thì thật lầm. Hầu hết máy bay, tàu chiến của họ chỉ có cái vỏ, còn ruột bên trong thì toàn “hàng ngoại”!


Phóng sự của Reuters (ngày 19/12/2013) cho biết, Đức, Pháp và Anh là những nước đang cung cấp thiết bị quân sự nhiều nhất cho Trung Quốc, nếu không kể Nga. Hầu hết tàu chiến hiện đại của Trung Quốc hiện chạy bằng động cơ diesel của Pháp và Đức. Khu trục hạm Trung Quốc trang bị giàn sonar, trực thăng diệt tàu ngầm và hỏa tiễn đất đối không của Pháp.

Trong khi đó, chiến đấu cơ và máy bay diệt hạm chạy bằng động cơ Anh. Thế hệ máy bay do thám mới nhất được trang bị hệ thống radar cảnh báo sớm của Anh. Và một số trực thăng vận tải lẫn trực thăng chiến đấu được đánh giá là tốt nhất đều dựa vào thiết kế của Eurocopter, chi nhánh thuộc Tập đoàn Hàng không quốc phòng khổng lồ EADS của châu Âu.

Đặc biệt, loại thiết bị chiến lược mà Trung Quốc đến nay vẫn không thể tự làm mà phải mua là động cơ tàu ngầm. Trong các tàu lớp Tống và lớp Nguyên do Trung Quốc tự đóng, người ta thấy có động cơ diesel của Hãng MTU Friedrichshafen GmbH (Đức). Cùng với 12 chiếc tàu ngầm lớp Kilo nhập từ Nga, sức mạnh hải quân Trung Quốc tập trung ở 21 chiếc tàu ngầm chạy bằng động cơ Đức này.


Theo dữ liệu các thương vụ vũ khí mà Viện Nghiên cứu hòa bình quốc tế Stockholm (SIPRI) thu thập, tính đến cuối năm 2012, MTU đã cung cấp 56 động cơ diesel cho tàu ngầm Trung Quốc…


This modern Chinese submarine packs a diesel engine by MTU of Germany. The People’s Liberation Army has purchased much key hardware from Europe. REUTERS

Về lý thuyết, Trung Quốc vẫn nằm dưới luật cấm vận vũ khí của phương Tây từ sau sự kiện Thiên An Môn năm 1989, nhưng trong khi Mỹ kiểm soát chặt chẽ các thương vụ chuyển giao kỹ thuật quân sự cho Trung Quốc thì châu Âu lại lỏng lẻo hơn.

Trong 10 năm (tính đến năm 2011), theo số liệu chính thức, giới sản xuất châu Âu đã được cấp phép xuất khẩu số vũ khí trị giá gần 3 tỉ euro (4,1 tỉ USD) cho Trung Quốc, trong đó không chỉ có các thiết bị quân sự mà còn cả máy bay, tàu chiến, thiết bị chụp ảnh, xe tăng, hóa chất quân sự và đạn dược. Pháp và Anh là hai nước "chịu chơi" nhất trong các thương vụ vũ khí với Trung Quốc.

Riêng Pháp, nước này chiếm gần 2 tỉ euro giá trị các thương vụ được cấp phép. Anh đứng hạng nhì với gần 600 triệu euro và theo sau là Ý với 161 triệu euro. Giá trị các thương vụ thật ra khó kiểm chứng trong thực tế, vì một số nước, trong đó có Anh và Pháp, không công bố những con số này.

Ngoài ra, thống kê thương vụ vũ khí châu Âu lại không bao gồm các thiết bị kỹ thuật kép (dùng trong dân sự lẫn quân sự); và trong nhiều trường hợp, những thiết bị này bán không cần giấy phép, chẳng hạn một số động cơ tàu ngầm, tương tự với trường hợp phần mềm thiết kế hàng không mà trong thực tế có thể được dùng cho chiến đấu cơ, oanh tạc cơ và UAV.

Tại sao Trung Quốc phải nhập?

EU không có cơ chế nhất quán để kiểm soát và theo dõi những thương vụ chuyển giao kỹ thuật kép. Do đó, trong tổng giá trị hàng hóa trị giá 143,9 tỉ euro xuất từ EU sang Trung Quốc năm 2012, khó có thể biết đâu là hàng kỹ thuật kép. Với giới sản xuất vũ khí châu Âu, Trung Quốc là thị trường béo bở và họ tận dụng khai thác. Vậy thôi.

Một trong những ví dụ là trường hợp MAN Diesel & Turbo (Đức). Năm 2012, MAN loan bố họ cung cấp động cơ cho hai tàu vận tải thuộc Cơ quan Kiểm soát -theo dõi hàng hải vệ tinh Trung Quốc (trực thuộc Bộ tổng quân trang, nơi giám sát các cuộc nghiên cứu và phát triển vũ khí cũng như quản lý mọi hoạt động quân sự lẫn không gian Trung Quốc). Phát ngôn viên MAN cho biết hãng đã sản xuất khoảng 250 động cơ cung cấp cho hải quân Trung Quốc…


Kỹ thuật hạn chế khiến Trung Quốc gần như chỉ có thể đóng được vỏ tàu ngầm.

Quả thật kỹ thuật quân sự Trung Quốc vẫn còn kém quá xa so với trình độ thế giới hiện nay và nếu không sắm đồ ngoại thì có lẽ 100 năm nữa Hải quân Trung Quốc vẫn chỉ có thể quanh quẩn ở vùng cận duyên. Họ đã nếm mùi thương đau từ kinh nghiệm riêng. Đầu năm 2003, một chiếc tàu ngầm hỏng được phát hiện trôi lềnh bềnh nửa chìm nửa nổi tại biển Bột Hải ở duyên hải Bắc Trung Quốc. Khi vớt nó lên, người ta nhận thấy tất cả 70 người trong thủy thủ đoàn đều thiệt mạng.

Nguyên nhân gây nên thảm kịch chỉ được thông báo ngắn gọn là "lỗi kỹ thuật". Điều gì đã thật sự xảy ra với con tàu lớp Minh mang số 361, một phiên bản mà Trung Quốc sao chép từ tàu ngầm Nga?

Hầu hết ý kiến chuyên gia đều tin rằng tất cả là do lỗi từ động cơ. Hệ thống động cơ đã không tắt tức thì khi tàu trồi lên khiến oxy bị "hụt" và gây tử vong cho toàn bộ thủy thủ đoàn. Sau sự kiện trên, Trung Quốc không dám mạo hiểm chế tạo động cơ tàu ngầm. Vậy là bắt đầu từ tàu ngầm lớp Tống tự đóng, Trung Quốc phải nhập động cơ MTU, mang về ráp tại xưởng đóng tàu Vũ Xương bên bờ Dương Tử.

http://www.quehuongngaymai.com/forums/showthread.php?p=1259839#post1259839
Reference article: The Chinese military machine’s secret to success: European engineering

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Chuyện Hứa Do từ chối ngai vàng


Soạn giả: MỘC NHIÊN
Vua Nghiêu được xem là vị vua tài đức vẹn toàn ở thời thượng cổ, thường được hậu thế xem là mẫu mực điển hình để noi theo, còn Hứa Do cũng được sử sách ghi nhận là ẩn sĩ tài năng. Nhưng Nghiêu rất khiêm nhường, tự nhận mình kém cỏi, muốn nhường ngôi báu cho Hứa Do vì cho rằng tài Hứa Do ngời sáng như mặt trăng mặt trời, đức thấm nhuần thiên hạ như mưa tưới đất cằn. Hứa Do không nhận, bảo rằng thiên hạ đã thái bình rồi, nếu ông nhận ngôi báu thì tựa hồ vì lý do khác chứ không phải vì hạnh phúc người dân. Trang Tử cho Hứa Do trả lời vua như thế này :

Hứa Do viết : “ Tử trị thiên hạ, thiên hạ ký dĩ trị dã. Nhi ngã do đại tử, ngô tương vi danh hồ ? Danh giả, thực chi tân dã, ngô tương vi tân hồ ? Tiêu liêu sào ư thâm lâm, bất quá nhất chi; Yển thử ẩm hà, bất quá mãn phúc. Quy hưu hồ quân, dô sở dụng thiên hạ vi! Bào nhân tuy bất trị bào, thi chúc bất việt tôn trở nhi đại chi  hĩ ”

Dịch nghĩa :
Hứa Do nói: “ Ngài trị vì thiên hạ thì thiên hạ đã thái bình rồi. Nếu tôi thay chỗ ngài, chẳng phải vì tôi háo danh sao? Danh chỉ là vẻ ngoài của điều chân thật, chẳng lẽ tôi vì cái vẻ ngoài sao? Chim ri làm tổ trong rừng sâu không cần nhiều hơn một cành; chuột chũi đi uống nước sông không cần đầy hơn một bụng. Thôi nhà vua hãy về nghỉ đi, tôi chẳng biết dùng thiên hạ để làm gì ! Đầu bếp nấu nướng mà không rành thì thầy cúng cũng không thể bỏ chỗ để thế hắn được. ”

Vua cai trị mà dân chúng thái bình thì quá tốt rồi. Nếu như thiên hạ không thái bình thì Hứa Do cũng đành chịu, vì dù Hứa Do có tài đức đến đâu cũng không thể ngồi thế vào cái chỗ vua Nghiêu được, bởi vì bản tính hai người khác nhau chứ không phải vua cao sang hơn Hứa Do hay Hứa Do hèn mọn hơn vua. Người này không thể làm giống hệt người kia được, chỉ vì thiên tính mỗi người mỗi khác. Nếu như cố cưỡng lại bản tính thực sự của mình, có tham vọng sống theo cái mà thiên hạ ai cũng cho là cao quí đáng ước mơ, thì  không khác gì sống cho cái bề ngoài của mình thôi. Chẳng lẽ Hứa Do vì tham vọng sao ?

Tham vọng trở thành nhân vật nào đó hay làm được điều gì cao cả xuất phát từ sự lẩn tránh cô đơn, lẩn tránh thực tại hay, như Krishnamurti thường gọi, cái đang là. Tham vọng như thế chỉ nuôi dưỡng và tăng cường thêm cho nỗi buồn và sự khốn khổ vốn có.

Trong khi làm tốt cho đời, chúng ta cũng đồng thời nuôi dưỡng chiến tranh và nỗi thống khổ khôn xiết. Tham vọng có phải là tiến bộ ? Ví sao chúng ta có tham vọng ? Vì sao chúng ta muốn thành công, muốn trở thành nhân vật nào đó ? Tại sao chúng ta nỗ lực để giành thế thượng phong ? Tại sao phải cố gắng hết sức để khẳng định mình, dù trực tiếp hoặc thông qua một ý thức hệ hay quốc gia ? Không phải sự tự khẳng định mình như thế này là lý do chính cho sự xung đột và hỗn loạn của chúng ta sao ? Nếu không có tham vọng thì chúng ta có chết không ? Thân xác chúng ta có thể tồn tại mà không cần đến tham vọng không ?… Tại sao chúng ta lại tinh ranh và đầy tham vọng như thế ?

Không phải tham vọng này là do sự thôi thúc lẩn tránh cái đang là sao ? Không phải sự tinh ranh này thực ra chỉ là sự ngốc nghếch mà chúng ta đang có sao ?

Tại sao chúng ta lại sợ hãi cái đang là ? Chạy trốn thì có ích lợi gì khi mà những gì chúng ta đang là luôn luôn hiện diện ở đó ?

Chúng ta có thể thành công trong việc chạy trốn, nhưng những gì chúng ta đang là vẫn ở đó, nuôi dưỡng thêm cho xung đột và khốn khổ.

Tại sao chúng ta lại quá sợ hãi sự cô đơn, sự trống rỗng của mình ? Bất kỳ hành động nào lẩn tránh cái đang là hẳn nhiên sẽ mang đến nỗi buồn và khốn khổ. Xung đột là sự phủ nhận thực tại, hay nó chính là sự chạy trốn cái đang là; không có loại xung đột nào khác hơn.

Sự xung đột của chúng ta đang trở nên ngày càng phức tạp và vô phương giải quyết bởi vì chúng ta không đối mặt với cái đang là. Không có sự phức tạp nào trong trong cái đang là cả, chỉ có phức tạp trong các cách chạy trốn mà chúng ta đang đeo đuổi thôi.

Cái đang là chính là “ Chim ri làm tổ trong rừng sâu không cần nhiều hơn một cành; chuột chũi đi uống nước sông không cần đầy hơn một bụng. ” Sự phức tạp sẽ trở nên nghiêm trọng khi chim ri có tham vọng đặt tổ trên nhiều cành và chuột chũi uống nước mãi quên thôi.

Đối với người lý tưởng hóa, bình đẳng là một ý niệm, đối với người biết quan sát, nó là một sự kiện. Có sự bất bình đẳng thế này : Ngài khôn khéo hơn tôi, ngài có nhiều khả nặng hơn, ngài biết yêu còn tôi thì không; ngài biết vẽ, biết sáng tạo, biết suy nghĩ, còn tôi chỉ là kẻ bắt chước; ngài giàu có còn tôi nghèo khổ. Sự bất bình đẳng đó đang tồn tại, đó là một sự kiện, dù chúng ta có thích hay không. Lại có sự bất bình đẳng về năng lực, nhưng thật đáng buồn là chúng ta biến sự bất bình đẳng đó thành bất bình đẳng trong thân phận con người.

Chúng ta không xem năng lực như là năng lực, mà dùng năng lực để chiếm quyền lực, địa vị, uy danh, và rồi các thứ ấy trở thành danh phận.

Và vì chúng ta quan tâm đến danh phận nhiều hơn năng lực, chúng ta tiếp tục duy trì bất bình đẳng. Không chỉ có sự bất bình đẳng bên ngoài mà rõ ràng còn có bất bình đẳng bên trong tâm lý. Tất cả điều này là sự thực. Chẳng có pháp chế nào xóa tan được sự bất bình đẳng này.

Nhưng nếu người ta có thể hiểu rằng phải có tự do nội tâmđể thoát khỏi mọi quan điểm độc đoán, lúc đó bình đẳng sẽ có một ý nghĩa khác hẳn. Nếu người ta có thể xóa sạch sự bất bình đẳng tâm lý mà họ tự tạo qua danh phận, qua khả năng, qua ý tưởng, qua mong muốn, qua tham vọng, nếu xóa tan được sự phấn đấu tâm lý để trở thành gì đó, lúc đó có thể có tình yêu.

Nhưng khi nào tôi còn nỗ lực, dùng năng lực về mặt tâm lý để trở thành ai đó, khi nào còn sự trở thành của cái tôi, sự bất bình đẳng trong tâm lý sẽ tồn tại. Khi đó sẽ có sự khác biệt giữa tôi và đấng cứu rỗi, sẽ luôn luôn có một khoảng cách giữa người biết và người không biết, và sẽ luôn luôn có sự vươn đến trạng thái cao hơn.

Như thế nếu không có tự do thì mọi sự trở thành này bị lợi dụng để tăng lực cho sự bất bình đẳng đang có, và đó chính là hủy diệt.

Làm sao một người đầy tham vọng biết được bình đẳng hay biết được tình yêu ? Tất cả chúng ta đều có tham vọng và chúng ta nghĩ rằng đó là đức tính đáng kính. Từ thuở nhỏ chúng ta được huấn luyện để có tham vọng, để thành công, để trở thành ai đó, và vì thế trong tâm chúng ta mong mỏi sự bất bình đẳng.

Hãy nhìn cách chúng ta đối xử với con người, cách chúng ta kính trọng người này và khinh miệt người kia. Nếu nhìn vào nội tâm mình chúng ta sẽ thấy rằng chính cảm thức bất bình đẳng này tạo ra giáo chủ, đạo sư, và chúng ta trở thành đệ tử, tín đồ, người bắt chước, người mong muốn trở thành.

Bên trong thâm tâm chúng ta xây dựng sự bất bình đẳng và lệ thuộc vào người khác, do đó không có tự do. Luôn luôn có sự phân hóa giữa người và người bởi vì mỗi chúng ta đều muốn thành công, muốn trở thành ai đó.

Chỉ khi nào trong nội tâm chúng ta chẳng là gì cả vì chúng ta tự do, chúng ta mới không lợi dụng sự bất bình đẳng để thăng tiến cá nhân, và mới có thể mang lại bình yên và an lành.

Lời bàn của HG: Không ai nằm đêm cùng lúc trên hai cái giường. Ngày đi cùng lúc trên hai cái xe.. Khi chết quan tài cũng không cạp thêm cái túi đựng vàng nào. Khổ nhọc đánh mất tự do, tự tại trời phú cho mình để cố cho được một chỗ ngồi, một danh vọng hão huyền.. Thật không đáng! Huống hồ được chỗ ấy rồi lại làm rất dở bổn phận, gây tai ương cho người khác, càng không nên và đáng khinh bỉ!

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Vỡ nợ dây chuyền ở “thánh địa” vàng


Vỡ nợ dây chuyền ở “thánh địa” vàng: Khi Chủ tịch thị trấn thành con nợ!
Thanh Hải Báo Lao Dộng 9 Jan 2014
Những ngày này, cuộc sống, sinh hoạt của hàng trăm hộ dân ở “thiên đường vàng” Phước Sơn (Khâm Đức, Phước Sơn, Quảng Nam) bị đảo lộn, rối ren, nhiều người đã có ý nghĩ tiêu cực khi rơi vào thế đường cùng do vỡ nợ dây chuyền.
Và, mọi chuyện bắt đầu từ Besra – tập đoàn khai thác vàng với 2 Cty nổi tiếng là Bồng Miêu và Phước Sơn ở Quảng Nam bỗng dưng “trở mặt”, “xù nợ” tiền tỉ không những của Cty Quảng An – đối tác hơn 10 năm nay của mình, mà còn cả với những tư thương chỉ bán từng ổ bánh mì, từng lọn rau, ký bún ngoài chợ…
“Thiên đường vàng” sụp đổ
Phước Sơn từng được biết đến là “thánh địa vàng”. Từ những năm 90, trung tâm huyện lỵ Khâm Đức được ví như một thị trấn miền viễn tây nước Mỹ đầu thế kỷ 19.
Bấy giờ, Phước Sơn là nơi quần tụ của hàng vạn người khắp nơi trong nước. Con đường mòn từ thị trấn Khâm Đức vào các bãi vàng Phước Đức, Phước Thành, Phước Kim, Phước Chánh… lúc nào cũng ken kín dòng người nối đuôi nhau, với giấc mộng đổi đời.
Thuở đó, Phước Sơn còn trong tình trạng mất kiểm soát với nạn khai thác vàng trái phép. Tình hình an ninh trật tự rối ren, “chiến sự” liên tục nổ ra với những vụ trọng án thanh toán nhau bằng dao chém, mìn nổ.
Người chết gần như xảy ra liên tục trong những vụ tranh giành lãnh địa, hầm mỏ. Hiện còn cả một nghĩa địa phu vàng với hàng chục nấm mồ hoang ngay tại sân bay dã chiến Khâm Đức. Nhưng bất chấp tất cả, dòng người tứ chiếng vẫn ùn ùn đổ về Phước Sơn.
Với địa phương, thị trấn miền núi Khâm Đức trở thành một “thiên đường”. Từ thuốc phiện, mại dâm cho đến những thứ xa xỉ tưởng chừng chỉ có ở đô thị phồn hoa thì tại đây, phẩy tay là có. Hàng loạt kẻ tha phương cầu thực bỗng chốc thành đại gia tiền tỷ, tên tuổi lẫy lừng. Hàng vạn dân thị trấn có công ăn việc làm, thu nhập cao, đến nỗi giá cả thị trường ở Phước Sơn đắt đỏ hơn ở thành phố loại 1 như Đà Nẵng lúc bấy giờ…
Thế rồi, nhà nước siết chặt quản lý, trong vòng 10 năm lại đây, việc khai thác vàng đi vào quy củ, chỉ những công ty khai thác vàng có giấy phép mới được hoạt động, và trong tầm kiểm soát của chính quyền.
Người dân thay vì “chém”, “chặt” trong buôn bán, kinh doanh bát nháo những dịch vụ thương mại, giải trí cho dân tứ chiếng giang hồ, cho phu vàng bạt mạng… đã góp vốn vào những công ty, nhà thầu phụ, các đối tác kinh doanh của những công ty khai thác vàng có giấy phép như Cty vàng Phước Sơn (Besra).
Nhưng, đó là chuyện trước khi xảy ra vụ vỡ nợ dây chuyền đang khiến cả thị trấn Khâm Đức – “thiên đường vàng” – có nguy cơ sụp đổ và trở về như thời hỗn mang trước đó.
Trái bom nổ chậm
Chuyện Cty Quảng An của ông chủ tịch thị trấn Khâm Đức, với hàng trăm cổ đông góp vốn là người dân trong thị trấn vỡ nợ, khiến cho chợ Khâm Đức những ngày cuối năm, thay cho cảnh rộn ràng tấp nập mua sắm Tết là sự tan tác hiu quạnh. Các vụ đòi nợ nhau to tiếng xảy ra khắp nơi, suốt ngày.
Bà Nguyễn Thị Thu Sương – người bán hàng vải – cho biết: “Tui đã ky cóp, vay mượn người thân, bạn bè, thậm chí cầm cố căn nhà, vay ngân hàng 450 triệu đồng để có số tiền 4 tỉ đồng, góp vốn vào Cty Quảng An. Bây giờ công ty này vỡ nợ, bạn hàng đòi thanh toán cuối năm, ngân hàng doạ niêm phong nhà cửa, người thân nghi ngờ khả năng trả tiền, 5 đứa con nhỏ có nguy cơ thất học…
Tôi không biết xoay xở kiểu gì, nếu không được chính quyền can thiệp giải quyết thì chỉ còn nước tìm đến cái chết”. Những bà Trang, bà Thọ, bà Thắng, bà Tú Anh…, hàng chục tư thương buôn bán nhỏ lẻ trong chợ miền núi này đều rơi vào hoàn cảnh “góp vốn” cho Cty Quảng An như bà Sương.
Đáng nói là phía sau số tiền vài trăm triệu đến ba, bốn tỉ đồng của mỗi “cổ đông” này là tài sản, nhà cửa bị cầm cố, là nợ nần dắt dây, là vốn liếng ky cóp cả đời người của người thân, bạn bè, giáo viên, công chức…
Trước mắt tôi là ông Đỗ Ngọc Thắng – Chủ tịch UBND thị trấn Khâm Đức – với gương mặt ủ dột, vô hồn. Ông nói, cứ nghĩ mình có điều kiện kinh doanh, đang làm ăn thuận lợi nên mở rộng sản xuất, kêu gọi thêm người dân, bạn bè, người thân cùng góp vốn cũng để giúp họ, nào ngờ có ngày thảm bại hôm nay.
“Tôi đã nộp đơn xin từ chức chủ tịch UBND thị trấn, vì sợ ảnh hưởng đến uy tín của tổ chức chính quyền, phần muốn dành thời gian đi đòi nợ, giải cứu cho bà con nhân dân”.
Theo ông Thắng, Cty Quảng An (Doanh nghiệp tư nhân – Xí nghiệp Khai thác vật liệu – Xây dựng công trình Quảng An) do bà Nguyễn Thị Mai – em vợ ông – đứng tên làm giám đốc, nhưng thực chất là công ty của ông. Quảng An thành lập trên cơ sở làm đối tác chính với Cty vàng Phước Sơn (Besra) để xây dựng cơ sở hạ tầng, giao thông, xây dựng nhà máy, đập xử lý thải, vận chuyển quặng, cho thuê máy móc thiết bị, cung ứng dịch vụ lưu trú…
Ngoài vốn tự có, vay ngân hàng, Quảng An đã huy động góp “cổ phần” của nhiều người dân địa phương rồi ăn chia với phương thức tín chấp với nhau. Trong hơn 10 năm hoạt động tại huyện Phước Sơn, Cty vàng Phước Sơn đã giao dịch, thanh toán sòng phẳng đối với các đối tác gồm Quảng An và các hộ tư thương cung ứng lương thực, thực phẩm, lưu trú, dịch vụ xây dựng, vận chuyển…
Tuy nhiên, từ cuối 2012, đầu năm 2013, khi Besra thay đổi Tổng giám đốc điều hành mới, họ viện cớ khó khăn vì giá vàng hạ, việc thanh toán công nợ, hợp đồng kinh tế với các đối tác bắt đầu chậm trễ… để chậm trả nợ cho chúng tôi và bây giờ đang có biểu hiện quỵt nợ – chỉ riêng Quảng An đã hơn 18 tỉ đồng.
Quá bức xúc vì nhiều lần không đòi được tiền, ngày 26/12/2013 hàng trăm người dân Phước Sơn đã vây nhà máy vàng tại xã Phước Đức đòi nợ. Nhiều người đã chặn xe khiến nhà máy phải tạm ngừng hoạt động 1 ngày. Trong đó, Cty Quảng An của ông Thắng là chủ nợ lớn nhất với hơn 18 tỉ đồng cũng có công nhân tham gia chặn đường… Nhưng kết quả đều ra về trắng tay.
Chiều 3/1/2014, ông Thắng với tư cách chủ Cty Quảng An đã đến trụ sở Cty Besra tại Đà Nẵng để tiếp tục đề nghị thanh toán nợ. Tuy nhiên, thay vì thương thảo, tìm giải pháp thanh toán nợ hợp lý thì Cty Besra lại “chìa” ra một công văn soạn sẵn, đơn phương (do ông Paul Seton – Tổng giám đốc Cty TNHH vàng Phước Sơn – ký), cho rằng Cty Quảng An đã tổ chức chặn đường và khuyến khích những người khác cùng chặn đường, dẫn đến việc dừng sản xuất tại mỏ vàng Phước Sơn, gây ra thiệt hại sản xuất, ước tính 850.000 USD…
Từ viện dẫn đơn phương này, Cty vàng Phước Sơn kết luận sẽ khấu trừ toàn bộ vào số nợ gần 18 tỉ đồng của Cty Quảng An!
Gạt nợ kiểu luật rừng
Ông Thắng khẳng định công ty ông không hề tổ chức chặn đường, làm ngừng trệ sản xuất của nhà máy vàng. Việc nhiều người dân chặn đường Cty vàng Phước Sơn để đòi nợ, trong đó có nhiều chủ nợ không phải là “cổ đông” của Quảng An, là hộ bán bánh mì (40 triệu), hộ bán rau (25 triệu), bún (60 triệu), chủ khách sạn (420 triệu)…
Có thể số tiền vài chục đến hàng trăm triệu đồng là “nhỏ” đối với Cty vàng Phước Sơn, nhưng là cả gia tài lớn, đồng thời là gánh nợ của các hộ buôn bán nhỏ ở một huyện miền núi hẻo lánh như Phước Sơn. Việc bị chậm trả nợ, quỵt nợ gây bức xúc, dân đã tự phát đi đòi, không thể là cớ để Cty vàng Phước Sơn cấn trừ nợ của Cty Quảng An – một đơn vị làm ăn bài bản, có hợp đồng kinh tế nhiều năm với họ.
Mặt khác, trong văn bản mà Besra trả lời Cty Quảng An, khẳng định 1 ngày ngừng sản xuất, thiệt hại của họ đến 850.000USD. Ông Thắng bức xúc: “Làm việc với tôi, Besra cũng cho biết, “cơ sở để cáo buộc Cty Quảng An tổ chức chặn xe và gây thiệt hại 850.000USD là dựa vào… báo chí và hình ảnh hiện trường!”.
Cả Phước Sơn đang trong bầu không khí căng thẳng của vấn nạn nợ chéo, dắt dây. Những cuộc to tiếng cãi vã đòi nợ, những cảnh niêm nhà, xiết của bắt đầu xuất hiện. Đặc biệt bối cảnh thiếu “tiền tháng chạp” dịp cận Tết nguyên đán. Nếu chính quyền không có giải pháp hữu hiệu, tháo ngòi nổ của trái bom nổ chậm thì hậu quả sẽ khó lường ở xứ sở vàng Phước Sơn này.

Theo Thanh Hải
Lao động


Phần nhận xét hiển thị trên trang

TRẠNG TRÌNH NGUYỄN BỈNH KHIÊM - NHÀ TIÊN TRI LỖI LẠC

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Haizz! Chép chèm chẹp... ( Phẹt cóp về )



Để gió cuốn đi...


Thiên thần đoạt mệnh.


Nườm cái ...


Chó hóng tát ao.


Bờ xôi ruộng mật.


Đậu má há há...


..Tí Thì Phòi.


Chim đại bàng trong hang ..


Con anh Bín bần nông.


Phát kiến vĩ đại.


Chúa tể của những ...con lợn.


Đái có phong cách.


Nền giáo dục tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.

Ị có phong cách.


 trâu làm thước ngắm.


Thời trang chảo - lưới.


Nghê đá há há há...


Quyết tử cho bao tử quyết sinh.


Bú đi, làm khách mãi.


Cẩu chầu thánh cô hố hố...


Nhà có điều kiện.


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Hở tí là thu luôn!

Đọc lại “Ở lưng chừng  nhìn xuống đám đông”

TẠ DUY ANH
Trong bản giám định biên tập trình Tổng biên tập, tôi cho rằng tác phẩm của Nguyễn Vĩnh Nguyên còn nặng về tính đánh đố người đọc và đó bị coi là điểm yếu của tác phẩm này. Giờ đây, khi có ý kiến của sở Thông Tin Truyền Thông TPHCM, yêu cầu thu hồi cuốn sách (không hiểu cơ quan cấp sở có cái quyền này không, bởi vì Sở Thông Tin Truyền Thông TPHCM không phải là nơi cấp phép cho in cuốn sách?) tôi đã đọc lại tập truyện bằng con mắt “săm soi”, vừa của một biên tập viên (phát hiện những chỗ phải cắt bỏ theo thẩm quyền, thực tế khi đưa duyệt, tôi đã bỏ đi hẳn một truyện ngắn liên quan đến xác chết vì ngại bị suy diễn, thói quen còn nặng trong đọc thẩm định ở ta) vừa bằng cách đọc không bị chi phối trước bất cứ điều gì của một độc giả có rất nhiều quyền tự do được nhà nước bảo hộ. Và tôi cần phải đính chính là nhận xét trên kia của tôi có phần hơi vội vàng.
 
Tôi đọc một mạch gần 300 trang sách, (trên thực tế lại rất hấp dẫn chứ không nặng nề như lần đọc đầu tiên) với số thời gian chỉ bằng một phần năm khi đọc biên tập. Phải nói ngay là Nguyễn Vĩnh Nguyên có hơi phô kiến thức, còn cầu kỳ khi thể hiện, đành rằng nó có dụng ý thẩm mỹ nhưng hơi lạm dụng, đặc biệt khi liệt kê kiến thức về triết học, tôn giáo, hay đôi chỗ còn lắt léo trong hành văn… nhưng không đến mức đánh đố như tôi từng cảm thấy.
Nguyễn Vĩnh Nguyên là thế hệ cầm bút trưởng thành khi đất nước chuyển sang thời kỳ đổi mới với thành tựu nhiều mặt về kinh tế, văn hoá, nhất là sự dân chủ, đa dạng khi tiếp cận kiến thức, tiếp cậoàthong tin cũng như các xu hướng tư tưởng và chúng thể hiện rất rõ trong nhiều cây bút thế hệ của Nguyên, cho thấy cả mặt tích cực và tiêu cực. Mặt mạnh của nó so với các thế hệ trước là họ không còn bị bó hẹp trong quan niệm về nghệ thuật là phải phục vụ các mục tiêu chính trị cụ thể mà mọi người thường gọi là văn học minh hoạ. Nghệ thuật với họ có đời sống riêng, với mục đích cao nhất là thượng tôn cái đẹp, cái thiện và cái thật, đề cao những giá trị của con người, làm đẹp con người như tự do, tình yêu…Do được tiếp cận đa dạng hơn với nhiều lĩnh vực kiến thức, họ có nền tảng học vấn tốt hơn, chắc chắn hơn. Thời của họ cũng phản ánh đời sống phong phú hơn, cả cái tích cực và tiêu cực. Mặt trái của kinh tế thị trường mà biểu hiện rõ nhất là tôn sùng tiền bạc, tôn sùng lối sống chỉ biết lợi ích của mình, những tệ nạn tham nhũng, bạo lực, lối sống và yêu hiện đại…đã khiến không ít người cầm bút cảm thấy bị tổn thương về mặt tinh thần. Và họ đã đưa tâm trạng đó vào trong sáng tác văn học khiến tạo ra nhiều trang viết cho cảm giác nặng nề, mang tính tố cáo… Nó phản ánh một hiện thực không còn thô sơ, đơn giản như vẫn quan niệm phải là những gì xảy ra trong đời sống và đã được sàng lọc, được coi là phổ biến. Đời sống hàng ngày, với họ, chỉ là một phần của hiện thực. Những ý nghĩ, những giấc mơ, những dự định, những đổ vỡ, sự thất vọng, nỗi lo âu…đều là hiện thực. Ngoài ra còn có hiện thực tâm linh, hiện thực vị lai, hiện thực hoang tưởng…Với họ, việc mô tả thế giới không quan trọng bằng việc chăm chú tạo ra một thế giới theo cách của họ. Ở đó con người (và rộng hơn là xã hội) có thể chiêm ngưỡng mình từ nhiều chiều hơn là chỉ thấy cái bóng mình đổ dài xuống lịch sử. Ở đó cái thiêng liêng và cái bị biếm hoạ không còn bị một đường vạch thô thiển đẩy sang hai phía giới tuyến theo kiểu trắng và đen. Trong cái tốt có cái xấu và ngược lại. Một chính khách nghiêm trang và một gã hề hoàn toàn có thể cùng tồn tại trong một con người. Đó là điều bình thường của đời sống văn học trong nhiều năm qua. Nó góp phần tạo ra những tác phẩm văn học có tư tưởng sâu sắc và một văn đàn dân chủ, phong phú hơn rất nhiều so với trước đây. Thành tựu này chính là thành quả của đổi mới dù ai có nói gì đi nữa.
Nhà văn Nguyễn Vĩnh Nguyên
Nguyễn Vĩnh Nguyên là người thừa hưởng thành quả đó một cách tự nhiên. Ngòi bút của anh có tự do hơn khi thám thính vào những lĩnh vực khác nhau của đời sống, không bị mặc cảm kị huý ngăn trở những nỗ lực tìm ra chân lý nghệ thuật. Tuy nhiên phải nói ngay rằng, con đường anh tự vạch ra còn rất dài nếu anh mong tới được đích. Để tiếp cận những tác giả này, phải có cách đọc khác cách thông thường. Cách đọc quen thuộc là tìm xem tác phẩm nói điều gì, ám chỉ ai, tiêu cực hay tích cực theo quan niệm chủ quan của mình? Cách đọc đó không còn phù hợp với hàng loạt tác giả mới, trong đó có Nguyễn Vĩnh Nguyên. Đọc họ là tìm một sự giải mã, không chỉ trên văn bản mà cả những thứ phi văn bản. Điều mà Nguyễn Vĩnh Nguyên làm rất tốt là anh khiến người đọc luôn phải động não suy nghĩ. Chỉ cần người đọc phải suy nghĩ, phải liên tục cật vấn mình, không yên tâm với những gì mình vẫn đinh ninh, tác phẩm đó đã có thể coi là thành công phần nào, nếu không muốn nói là thành công quan trọng nhất. Nhưng Nguyễn Vĩnh Nguyên còn làm được nhiều hơn thế. Điều dễ nhận thấy nhất là anh có lối viết rất ám gợi, kích thích trí tưởng tượng để có thể song hành sáng tác tiếp sau khi văn bản chấm dứt. Nguyễn Vĩnh Nguyên cũng chủ động đề xuất sự dân chủ trong ngôn ngữ, trong chi tiết đời sống. Mọi vùng ngôn ngữ như chính trị, tôn giáo, chợ búa đều bị xoá nhoà trong một tinh thần bình đẳng và không kiêng kỵ. Chỉ nói riêng về vấn đề tình dục. Nó là một phần quan trọng của đời sống, tạo nên phần hấp dẫn nhất của hiện thực. Nó đương nhiên phải có mặt ở mọi nơi, tham gia vào mọi hoạt động, tạo nên mọi sắc thái của đời sống vật chất và tinh thần trừ nơi nào đời sống bị tiêu diệt! Tình dục đã đang và sẽ còn vĩnh viễn ám ảnh mỗi con người, cần thiết với mỗi con người, chi phối mỗi con người, làm cho mỗi con người hạnh phúc hay đau khổ, khiến họ thanh cao tuyệt với hay tầm thường hàn mạt. Cá nhân hay toàn xã hội, dù có muốn chối bỏ cũng không được. Vấn đề tình dục là vấn đề nhạy cảm vì nó chi phối hành vi ở khía cạnh đạo đức và gắn với nhân phẩm của con người. Khiêu dâm, kích thích một đời sống tình dục thác loạn, đề cao sự nhầy nhụa trong quan hệ nam nữ luôn bị coi là vô luân, là đồi bại về văn hoá, thậm chí bị pháp luật nghiêm cấm, nhất là với một xã hội phương Đông.
Nguyễn Vĩnh Nguyên đưa đời sống tình dục vào tác phẩm như đưa một phần hiện thực tạo nên tính cách nhân vật. Ngoại trừ truyện ngắn Bản tường trình kèm theo những tra cứu khác nhau xoay quanh một sự cố không khớp số trang mô tả những chuyện có thể gợi đến tình dục khá nhiều nhưng đọc kỹ thì hoá ra đây lại là truyện ngắn mang hơi hướng mô phỏng triết học về tính Mẹ-Một-Duy Nhất, một quan niệm phổ biến về khởi nguyên của vũ trụ, còn lại tỉ lệ hiện thực tình dục trong hầu hết những truyện khác rất thấp, thậm chí là không đáng kể. Nó tuyệt nhiên không mang hơi hướng kích dục bởi nó chỉ là phương tiện để tác giả đạt đến mục đích khác, mục đích tư tưởng, tức là tinh thần. Phần nhiều những hành động dục tính của nhân vật trong cuốn sách là cách thức bộc lộ tâm trạng, là một trải nghiệm đời sống ở cấp thấp khi họ bế tắc hoặc phô diễn sự đểu cáng, chuẩn bị làm điều chả ra gì. Nó nhằm tới sự tố cáo, lột trần chứ không hề coi đó là mục tiêu tất yếu của hành động thẩm mỹ. Điều này rất rõ ở truyện Trò chơi biển-có thể coi như tuyên ngôn của tác giả về tình dục, rằng, tình dục phải xuất phát từ tình yêu mới có giá trị đạo đức và nhân tính.
 Một tác phẩm chỉ bị coi là khiêu dâm khi nó nhằm đến mục đích kích dục đơn thuần.
Những ý kiến cho rằng tác giả mượn chuyện tình dục, mô tả hiện thực một cách đen tối là để miệt thị xã hội, bôi xấu chế độ…là quá chủ quan. (Nếu định kết tội tác giả vi phạm luật theo hướng đó thì phải đưa ra được bằng chứng chứ không thể nói chơi). Những hiện thực được mô tả trong cuốn sách kém xa về độ nhếch nhác so với những gì đang diễn ra hàng ngày mà báo chí nêu trực tiếp mà mạnh mẽ hơn nhiều. Chỉ cần ngày nào cũng đọc Báo Pháp luật thành phố Hồ Chí Minh, báo Công an, báo Thanh niên…cũng thấy rõ điều đó. Với tư cách là một nhà văn và một biên tập, tôi đánh giá tập truyện của Nguyễn Vĩnh Nguyên là một tác phẩm văn học đáng chú ý, đáng biểu dương, trước hết ở nỗ lực tìm kiếm một hình thức thể hiện khác, một ngôn ngữ khác. Điều dễ thấy nhất là nó là sản phẩm của sự nghiêm túc cao độ, với một lối hành văn chính xác và ngôn ngữ hàm súc, đầy chất thơ. Thực cũng đáng coi là thứ của hiếm của văn chương thời gian qua.
.

Thanh tra Sở Thông tin và Truyền thông TP HCM quyết định tịch thu toàn bộ tập truyện ngắn ‘Ở lưng chừng nhìn xuống đám đông’ của Nguyễn Vĩnh Nguyên, vì cho rằng sách ‘truyền bá lối sống dâm ô đồi trụy’.
Ngày 2/11, công ty sách Phương Nam, đơn vị liên kết với NXB Hội Nhà văn thực hiện tập truyện ngắn Ở lưng chừng nhìn xuống đám đông của nhà văn Nguyễn Vĩnh Nguyên, nhận được quyết định từ Sở Thông tin và Truyền thông TP HCM xử phạt hành chính Phương Nam 7,5 triệu đồng. Ngoài ra, Sở yêu cầu thu hồi cuốn sách Ở lưng chừng nhìn xuống đám đông trong vòng 10 ngày tới. Quyết định do Bà Trần Thị Ngọc Hương, Chánh thanh tra Sở, ký.
Theo Sở này, cuốn sách trên “Truyền bá lối sống dâm ô đồi trụy, không phù hợp với thuần phong mỹ tục Việt Nam, vi phạm điều 2, khoản 10 Luật xuất bản; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật xuất bản”.
Sở Thông tin và Truyền thông TP HCM muốn tịch thu toàn bộ ấn bản tập truyện ngắn của Nguyễn Vĩnh Nguyên lưu hành trên thị trường hiện nay.
Văn bản này nêu rõ, nếu quá thời hạn 10 ngày, Phương Nam không “tự nguyện chấp hành quyết định” thì “sẽ bị cưỡng chế và phải chịu chi phí cho việc cưỡng chế theo điều 66 pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính”. Văn bản cho biết, công ty sách Phương Nam có quyền khiếu nại quyết định trên của Sở trong vòng 90 ngày, nhưng lại nhấn mạnh “việc khiếu nại không làm đình chỉ quyết định xử phạt”.
Đại diện công ty Phương Nam cho biết, đơn vị này đang chuẩn bị văn bản trả lời những yêu cầu của Sở Thông tin và Truyền thông TP HCM.
Tập Ở lưng chừng nhìn xuống đám đông của Nguyễn Vĩnh Nguyên gồm 13 truyện ngắn, được phát hành hồi tháng 4. Nhà văn Nguyễn Vĩnh Nguyên chia sẻ với VnExpress.net: “Với tư cách là một người viết, tôi xem họ (Sở Thông tin và Truyền thông TP HCM) cũng là một nhóm bạn đọc có quyền nhận định về tác phẩm của mình. Tôi tôn trọng mọi nhận định, dù có vài nhận định vượt quá dụng ý của tôi trên trang viết, cũng như vượt quá tầm tác phẩm của tôi”.
Anh nói thêm: “Nhưng ở góc độ người vừa làm nghề viết văn và viết báo, tôi thấy rằng, trước khi cơ quan chức năng đưa ra một quyết định với một tác phẩm văn học thì cần có một hội đồng thẩm định đầy đủ uy tín về chuyên môn để đánh giá tác phẩm đó. Như thế mới gọi là bảo vệ đời sống văn hóa lành mạnh”.
Theo Nguyễn Vĩnh Nguyên, nếu không có hội đồng thẩm định uy tín thì sẽ còn rất nhiều tác phẩm bị rơi vào tình trạng “chết” oan ức.
Còn nhà văn Tạ Duy Anh, người biên tập cuốn truyện ngắn, bức xúc: “Theo tôi, đây là một cuốn sách lành mạnh, thậm chí là rất đáng trân trọng khi tác giả có chủ ý đưa ra những sáng tạo mới. Nội dung cuốn sách không có vấn đề gì cả. Việc nói sách kích dục là hoàn toàn vô căn cứ và do đọc không kỹ. Tôi còn cho rằng cuốn sách này xứng đáng nhận giải của Hội nhà văn năm 2012.”
Nhà văn Tạ Duy Anh cho biết, dự kiến, vào tuần tới, NXB Hội nhà văn tổ chức một cuộc hội thảo giữa một số nhà văn, biên tập viên và nhà phê bình để đánh giá ở góc độ chuyên môn về cuốn sách trước khi có phản hồi chính thức. “Phải làm cho nó rõ ra, chứ kiểu như thế này thì ai dám in hay xuất bản cái gì nữa”, Tạ Duy Anh nói.
Mới đây, sau khi vừa xuất hiện trên thị trường sách, cuốn Sát thủ đầu mưng mủ – Thành ngữ sành điệu bằng tranh (NXB Mỹ Thuật và Nhã Nam liên kết phát hành) bị Cục xuất bản ban hành công văn yêu cầu thẩm định lại nội dung khi dư luận lên tiếng tranh cãi về việc liệu cuốn sách có làm phá hỏng sự trong sáng của tiếng Việt hay không. Sau văn bản của Cục, NXB đã yêu cầu thu hồi lại sách để thẩm định. Đây là một việc làm hết sức khó khăn, vì sách đã đến nhiều bạn đọc và không thể thu hồi.
“Những vụ việc thế này chỉ càng làm cho độc giả tò mò đổ xô đi tìm sách để đọc, cũng như là cơ hội cho giới sách lậu thu lợi”, anh Minh Chung, một độc giả ở quận Gò Vấp, TP HCM, nhận định. (Theo Vnexpress)


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Kỳ thư!

Thư cáo lỗi của Chủ tịch UBND huyện Hoàng Sa
Bất ngờ khi thấy thông báo này. Ủy ban nhân dân huyện Hoàng Sa có kế hoạch tổ chức "Chương trình ca nhạc hát về biển đảo quê hương" và "Lễ thắp nến tri ân hướng về Hoàng Sa" vào 19h ngày 18.1.2014. 
Đây rõ ràng là một sự kiện rất quan trọng, một nhiệm vụ chính trị, và thực tế đã được sự phối hợp, hỗ trợ, giúp đỡ rất tâm huyết và trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị, tổ chức có liên quan cũng như sự quan tâm ủng hộ của các tầng lớp nhân dân như trong thư cáo lỗi trên đây nêu rõ. Do đó không thể nói kế hoạch đã lập ra, tiền đã chi ra để chuẩn bị, giờ lại bảo làm được thì làm, chuẩn bị không kịp, chuẩn bị chưa chu đáo thì bỏ.


Vậy mà đúng phát chót, ngày hôm nay 18.1.2014 trang mạng của UBND huyện Hoàng Sa mới đăng thư cáo lỗi của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Hoàng Sa là không thể tổ chức theo kế hoạch vì "công tác chuẩn bị chưa được chu đáo".

Rõ ràng đây là một tin lạ. Ít nhất có hai khả năng:

1) Nếu đúng việc tổ chức "Lễ thắp nến tri ân hướng về Hoàng Sa" không thực hiện được theo kế hoạch vì "công tác chuẩn bị chưa được chu đáo" trong khi người dân khắp nơi đã và đang đổ về Đà Nẵng để tham dự và chứng kiến thì cần kiểm điểm trách nhiệm của Ban tổ chức và những người chịu trách nhiệm chính đã không hoàn thành được kế hoạch văn hóa có ý nghĩa lịch sử, chính trị và nhân văn này.

2) Nếu vì một lệnh bất ngờ từ cơ quan, cá nhân nào đó không cho phép tổ chức thì phải xem lệnh đó có phù hợp với quy định của pháp luật về tổ chức các chương trình ca nhạc cơ ngợi biển đảo quê hương và lê thắp nến tri ân những người hy sinh vì sự nghiệp bảo vệ biển đảo quê hương hay không ?


Phần nhận xét hiển thị trên trang