Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Năm, 16 tháng 1, 2014

Vì Mẽo bán đứng chớ vì sao nữa!

Vì sao VNCH bỏ kế hoạch trả đũa TQ sau Hải chiến Hoàng Sa

Xem thêm: Không quân VNCH lên kế hoạch giành lại Hoàng SaLịch sử: Không quân VNCH và cuộc chiến Hoàng Sa
Về chuyện VNCH hủy bỏ kế hoạch trả đũa quân Trung Cộng sau Hải chiến Hoàng Sa
Phạm Trần: Tôi thấy chuyện VNCH hủy bỏ kế họach phái phi cơ đánh trả đũa quân Trung Cộng sau ngày Hoàng Sa bị TC đánh chiếm ngày 19/01/1974 đã "biến thành tranh cãi" sau tuyên bố (không bằng chứng) của Nguyên Trung Úy Phi công "của Việt Cộng nằm vùng trong Không quân VNCH" Nguyễn Thành Trung: "Một kế hoạch phản công được chuẩn bị công phu với khả năng chiến thắng là 100%, nhưng rốt cuộc đã không thể diễn ra do Mỹ cảnh báo tổng thống Thiệu không được hành động."
Ông Nguyễn Thành Trung
Sự thật theo 2 người "có thẩm quyền" lúc bấy giờ là Tư lệnh Hải quân Vùng I Chiến thuật, Phó Đề Đốc Hồ Văn Kỳ Thoại và Nguyên Bí Thư của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, ông Hoàng Đức Nhã đã xác nhận với tôi như sau:

Phó Đề đốc Hồ Văn Kỳ Thoại nói với Nhà báo Phạm Trần:

"Từ khi tôi biết được có sự xuất hiện bất thường của quân Trung Cộng ở vùng bán đảo Hoàng Sa, cố vấn Mỹ bên cạnh tôi không một phút nào tán đồng lệnh của tổng thống Thiệu và các biện pháp tôi dùng trước và trong cuộc chiến. Khi tôi cho tăng viện thêm chiến hạm thì chính ông ta là người hăm dọa tôi là sẽ có phản lực cơ Trung Cộng tấn công chiến hạm của Hải Quân Việt Nam do đó tôi mới xin Không Quân Việt Nam tại Đà Nẵng ra nghênh chiến. 

Các phi vụ không thực hiện được vì theo tư lịnh Sư Đoàn 1 Không Quân (Chuẩn tướng Nguyễn Đức Khánh) cho biết chỉ chiến đấu dược có 15 phút vì quá xa, quá nguy hiểm. Kể từ 1973 Hoa Kỳ không còn dính líu với miền Nam VN về quân sự nên tôi không có xin Hoa Kỳ tiếp viện. Việc xin cứu người trôi giạt cũng không được Mỹ giúp."

Ông Hoàng Đức Nhã, Cựu Tổng trường Dân vận-Chiêu hồi, Nguyên Bí thứ của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu xác nhận với Nhà báo Phạm Trần: 

"Sau phiên họp tại Bộ Tư lệnh hành quân ở Tiên Sa (Đà Nẵng) có sự tham dự của Đại tướng Cao Văn Viên và các tư lệnh Quân đoàn I, Tư lệnh Hải Quân và Không quân vùng I chiến thuật, chính Tổng thống Thiệu đã quyết định không dùng Phi cơ F-5 oanh tạc các tầu chiến và lính Trung Cộng ở Hoàng Sa ví quá nguy hiểm cho các Phi công trong hoàn thiếu nguyên liệu và không có yểm trở của Hoa Kỳ."

Đây là điều cần trình bày lại với bạn đọc để làm sáng tỏ một biến cố lịch sử.

Ông Đại tá Nguyễn Thành Trung (của Không quân CSVN sau 1975), lúc bấy giờ ở cấp bậc Trung Úy Phi công của Không quân VNCH, không thể nào biết được chuyện "Mỹ cảnh báo TT Thiệu" (!) như ông đã nói mà không chứng minh được.


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Tượng vàng không cứu nổi quan tham!


Trung tướng tham nhũng, 20 người đếm tài sản 2 đêm mới xong
Tài sản tịch thu tại "Phủ tướng quân" của Cốc Tuấn Sơn có 1 bức tượng Mao Trạch Đông bằng vàng ròng, một chậu rửa tay bằng vàng.
Cốc Tuấn Sơn, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần quân đội Trung Quốc.
Bưu điện Hoa Nam ngày 15/1 đưa tin, phải mất 20 quân nhân chuyên nghiệp trong 2 đêm liên tục kê biên tài sản tịch thu được của một Trung tướng hậu cần quân đội và số của cải tịch thu được chất đầy trên 4 xe tải.

Tại Bộc Dương, Hà Nam, trong số các tài sản tịch thu tại "Phủ tướng quân" của Cốc Tuấn Sơn có 1 bức tượng Mao Trạch Đông bằng vàng ròng, một chậu rửa tay bằng vàng, một chiếc thuyền mô hình cũng bằng vàng ròng và 1 thùng rượu Mao Đài quý.

Hai anh em Cốc Tuấn Sơn cũng sở hữu các biệt thự, sân vườn và 3 ngôi nhà được liên kết với nhau bởi 1 tầng hầm dài hơn 30 mét, nơi cất giữ các thùng rượu đắt tiền chồng lên nhau.

Vụ điều tra Cốc Tuấn Sơn, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần quân đội Trung Quốc làm sáng tỏ thêm về một trường hợp tham nhũng lớn trong quân đội được bắt đầu từ ngày 19/1/2012.

Các tháng tiếp theo, tên tuổi và thông tin của Cốc Tuấn Sơn đã biến mất khỏi trang web của Bộ Quốc phòng Trung Quốc. Cùng năm đó, tờ Tin tức Tài chính Trung Quốc dẫn nguồn tin riêng giấu tên nói rằng các cuộc điều tra tham nhũng nhằm vào Cốc Tuấn Sơn đã bắt đầu ở Bộc Dương.

Ông Sơn sở hữu hàng chục căn hộ với tổng diện tích hơn 1800 mét vuông xung quanh đường vành đai 2 Bắc Kinh và các cựu sĩ quan hậu cần đã khai với các nhà điều tra, Cốc Tuấn Sơn đã lên kế hoạch sử dụng những ngôi nhà này làm "quà tặng".



Phần nhận xét hiển thị trên trang

Mỗi màn mỗi hay!


(Đại án Bầu Kiên) - TAND TP Hà Nội vừa quyết định trả lại hồ sơ để điều tra lại vụ án “kinh doanh trái phép, cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng” xảy ra tại Ngân hàng TMCP Á Châu (ACB) nhằm làm rõ vai trò đồng phạm của ông Phạm Trung Cang và 4 người khác.

Sự việc bất ngờ trên gây xôn xao dư luận, nhưng bất ngờ hơn khi hay tin ông Phạm Trung Cang đã trốn khỏi Việt Nam từ ngày 24/12/2013 qua cửa khẩu Hàng không quốc tế Tân Sơn Nhất (TP.HCM). Vậy ai chịu trách nhiệm việc Phạm Trung Cang bỏ trốn?
Để trả lời câu hỏi này rất dễ, chỉ cần xác định Cơ quan nào, cá nhân nào đã ký quyết định đình chỉ vụ án đối với bị can Phạm Trung Cang, tạo điều kiện cho ông ta bỏ trốn? Người trình ký, người ký và kể cả người đứng đầu cơ quan này sẽ phải chịu trách nhiệm trước pháp luật.
Thực tế, không cơ quan nào khác mà chính là Viện KSND Tối cao (đứng đầu là ông Viện trưởng Nguyễn Hòa Bình) đã quyết định đình chỉ vụ án đối với bị can Phạm Trung Cang vào ngày 12/12/2013, ngay sau đó ông này đã trốn khỏi Việt Nam.
Ông Phạm Trung Cang đã trốn khỏi Việt Nam từ ngày 24/12/2013 qua cửa khẩu Tân Sơn Nhất
Phạm Trung Cang và con đường phạm tội
Theo cơ quan điều tra, ngày 22/3/2010, Thường trực HĐQT ACB triệu tập cuộc họp có sự tham gia của các thành viên Thường trực HĐQT và Hội đồng sáng lập Ngân hàng ACB là ông Trần Mộng Hùng (Chủ tịch) và ông Nguyễn Đức Kiên (Phó Chủ tịch). Sau đó các thành viên Thường trực HĐQT là Trần Xuân Giá, Trịnh Kim Quang, Phạm Trung Cang, Lê Vũ Kỳ, Lý Xuân Hải đã thống nhất ký vào biên bản cuộc họp đề ra chủ trương dùng tiền huy động của dân ủy thác cho nhân viên gửi tiền VND và USD vào các tổ chức tín dụng để hưởng lãi suất cao hơn, ăn chênh lệch. Đây là hành vi cố ý làm trái pháp luật khi hưởng lãi suất cao hơn trần lãi suất do Ngân hàng nhà nước quy định.
Ngày 24/1/2011, Ngân hàng ACB bổ sung thành viên HĐQT là ông Huỳnh Quang Tuấn thay cho ông Phạm Trung Cang. Tuy nhiên, ông Cang sau đó vẫn giữ các chức vụ là thành viên Hội đồng Tín dụng, Phó Chủ tịch Hội đồng Đầu tư của ACB, vì thế mà ông Cang vẫn ký tên vào văn bản ủy thác cho nhiều cá nhân gửi tiền vào các tổ chức tín dụng, khi chưa có hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước.
Thực hiện chủ trương này, từ ngày 26/1 đến 22/9/2011, Ngân hàng ACB đã ủy thác cho nhân viên gửi hơn 28,3 nghìn tỷ đồng vào 22 ngân hàng khác với lãi suất 7,5%/ năm đến 22%/năm và hơn 71,258 triệu USD với lãi suất 3%/năm đến 6%/ năm. Số tiền gửi VND đã thu được lãi là hơn 1.162,5 tỷ đồng, trong đó lãi vượt trần là hơn 243,6 tỷ đồng; số tiền lãi gửi USD là hơn 1,2 triệu USD.
Trong đó, từ 27/6 đến 5/9/2011, Lý Xuân Hải đã chỉ đạo và ủy quyền cho Kế toán trưởng thực hiện ủy thác 718,9 tỷ đồng cho 19 nhân viên ACB gửi tiết kiệm vào ngân hàng Vietinbank Chi nhánh Nhà Bè và Vietinbank Chi nhánh TP. Hồ Chí Minh, thời hạn từ 3 đến 6 tháng với lãi suất trong hợp đồng 14%/năm; lãi suất thỏa thuận ngoài hợp đồng từ 3,7% đến 13%/ năm. Tuy nhiên, toàn bộ số tiền này sau đó đã bị Huỳnh Thị Huyền Như, quyền Trưởng phòng giao dịch Điện Biên Phủ thuộc Vietinbank Chi nhánh TP Hồ Chí Minh chiếm đoạt.
Hành vi của ông Phạm Trung Cang đã đủ yếu tố cấu thành tội “cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng”, quy định tại điều 165 Bộ Luật Hình sự với vai trò đồng phạm.
Chiều 27/9/2012, Cơ quan CSĐT Bộ Công an đã công bố việc khởi tố 4 bị can, nguyên là lãnh đạo cao cấp của Ngân hàng ACB với tội danh “Cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng” (điều 165 BLHS). Các bị can gồm Trần Xuân Giá (nguyên Chủ tịch HĐQT ngân hàng ACB), Phạm Trung Cang, Lê Vũ Kỳ, Trịnh Kim Quang (đều nguyên là Phó Chủ tịch HĐQT ngân hàng ACB).
Một vụ án, ACB mất cả dàn lãnh đạo cao cấp
Ngày 12/12/2013, Viện KSND Tối cao đã ra quyết định đình chỉ vụ án đối với bị can Phạm Trung Cang vì theo Viện KSND Tối cao: “Ngày 31/12/2010, ông Cang có đơn xin từ nhiệm chức danh thành viên HĐQT Ngân hàng ACB khi Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010 chưa có hiệu lực thi hành và đã được ngân hàng chấp nhận. Do đó, ông Cang không phải chịu trách nhiệm về hậu quả làm thất thoát số tiền 718,9 tỷ đồng”.
Làm rõ vai trò đồng phạm
Chỉ sau hơn 20 ngày tiếp nhận hồ sơ (ngày 18/12/2013), TAND TP Hà Nội đã quyết định hoàn trả hồ sơ vụ án Nguyễn Đức Kiên cùng đồng phạm cho cơ quan truy tố để làm rõ vai trò của một số cá nhân liên quan. Theo TAND TP Hà Nội, hành vi của ông Phạm Trung Cang và Huỳnh Quang Tuấn có dấu hiệu đồng phạm về tội cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng.
Ngoài ra, theo TAND TP Hà Nội, thường trực HĐQT ACB đã họp ra chủ trương cấp tín dụng cho Công ty chứng khoán ABC để mua cổ phiếu của ACB. Chủ trương nêu trên của HĐQT về đầu tư cổ phiếu dẫn đến ACB bị thiệt hại hơn 687,723 tỉ đồng. Tuy nhiên, kết luận tại bản cáo trạng ngày 12/12/2013 của Viện KSND tối cao chỉ truy tố Lê Vũ Kỳ, Nguyễn Đức Kiên là bỏ lọt hành vi có dấu hiệu phạm tội của bị can Trần Xuân Giá, Trịnh Kim Quang, Lý Xuân Hải và Phạm Trung Cang.
Từ các phân tích này, TAND TP Hà Nội đã ra quyết định trả hồ sơ nhằm làm rõ vai trò đồng phạm đối với hai ông Phạm Trung Cang và Huỳnh Quang Tuấn về tội “Cố ý làm trái quy định Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng”, do đã tham gia vào quyết sách ủy thác cho nhân viên gửi tiền tiết kiệm. Cùng với đó, xác định lại vai trò, mức độ của Trần Xuân Giá, Phạm Trung Cang, Trịnh Kim Quang và Lý Xuân Hải vì có dấu hiệu đồng phạm với Lê Vũ Kỳ, Nguyễn Đức Kiên ở hành vi đầu tư cổ phiếu.
Liệu có việc chạy án?
Dư luận đang cho rằng có vụ chạy án liên quan đến nhóm Nguyễn Đức Kiên và đồng phạm, các cơ quan bảo vệ pháp luật cần điều tra, làm rõ, nếu có, cần phải khởi tố vụ chạy án này, xử lý kẻ chủ mưu và các đồng phạm nghiêm minh trước pháp luật.
Đề nghị Chủ tịch nước Trương Tấn Sang, với vai trò là Trưởng Ban Chỉ đạo cải cách tư pháp Trung ương yêu cầu Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao giải trình rõ lý do ra quyết định đình chỉ vụ án đối với bị can Phạm Trung Cang!
Bạn đọc Bảo An
* Bài viết thể hiện văn phong và quan điểm riêng của tác giả

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thứ Tư, 15 tháng 1, 2014

Những tư duy cản lực phát triển


CHÂU PHONG: Thế giới đổi thay từng ngày. Cuộc sống thay đổi từng giờ. Đổi mới ngày càng sâu rộng. Nhận thức của người dân thay đổi nhiều. Tư duy bị cầm tù, đất nước không thể phát triển.
I.Đổi mới tư duy là đặc tính của cách mạng, xu thế tất yếu của thời đại
Đổi mới và đổi mới tư duy không có gì mới. Điều này đã được các bậc thầy về cách mạng đề cập từ sớm. V.I Lênin nói: “Người cộng sản phải có dũng khí nhìn vào sự thật, phải có gan vứt bỏ những nhận thức của ngày hôm qua không phù hợp với tình hình diễn biến của ngày hôm nay, phải biết “thay đổi sách lược, chọn một con đường khác để đi tới đích của chúng ta, nếu con đường cũ, trong một thời gian nhất định nào đó, xem ra không thích hợp nữa, không đi theo được nữa” (Hội đồng Trung ương chỉ đạo biên soạn Giáo trình quốc gia các bộ môn khoa học Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh: Giáo trình tư tưởng Hồ Chí Minh, Nxb. CTQG, H, 2003, tr.474-475). Và sau đây là những lời nói, lời dạy vàng ngọc của Chủ tịch Hồ Chí Minh:

“Phải biết rằng tình hình khách quan thay đổi hàng giờ hàng phút, một chủ trương của ta hôm nay đúng, hôm sau đã không hợp thời, nếu ta không tỉnh táo kiểm điểm những tư tưởng hành vi của ta để bỏ đi những cái quá thời, sai hỏng, nhất định ta sẽ không theo kịp tình hình, ta sẽ bị bỏ rơi, bị các bạn tỉnh táo nhanh nhẹn hơn vượt đi trước... Không chịu tự phê bình, không chỉ trích thì không bao giờ tấn tới được” (Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. CTQG, H, 1995, t.4, tr.26).

“Xã hội bây giờ ngày một phát triển. Tư tưởng hành động cũng phát triển. Nếu cứ giữ lấy cái kẹp giấy cũ không thay đổi là không đi đến đâu cả” (Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.7, tr.35).

“Khiến cho cán bộ cả gan nói, cả gan đề ra ý kiến... Nếu cán bộ không nói năng, không đề ý kiến, không phê bình, thậm chí lại tâng bốc mình, thế là một hiện tượng rất xấu. Vì không phải họ không có gì nói, nhưng vì họ không dám nói, họ sợ. Thế là mất hết dân chủ trong Đảng. Thế là nội bộ của Đảng âm u, cán bộ trở nên những cái máy, trong lòng uất ức, không dám nói ra, do uất ức mà hóa ra oán ghét, chán nản... Nếu đào tạo một mớ cán bộ nhát gan, dễ bảo “đập đi, hò đứng”, không dám phụ trách. Như thế là một việc thất bại cho Đảng” (Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.5, tr.280-281).

“Ta có thể đi con đường khác để tiến lên chủ nghĩa xã hội’ (Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.8, tr.227).

“Xã hội ngày càng tiến, công tác của ta cũng phải ngày càng tiến... Vì vậy, năng lực của ta, sáng kiến của ta, tiến bộ của ta cũng phải luôn luôn phát triển, tiến lên không ngừng. Không tiến, tức là thoái” (Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđ d, t.7, tr.259).

Đảng ta, cách đây gần 30 năm, với Đại hội VI, đã đánh dấu sự đổi mới của Đảng về tư duy. Đảng ta nhấn mạnh rằng “đó là đòi hỏi bức thiết của đất nước. Đó cũng là đặc tính của cách mạng, nhất là cách mạng xã hội chủ nghĩa, là bản chất sâu xa của chủ nghĩa Mác-Lênin, là xu thế tất yếu của thời đại”. Nhận rõ đổi mới tư duy là quy luật nhất định, tất yếu của cách mạng, của công cuộc đổi mới, Đảng ta khẳng định rằng chỉ có đổi mới tư duy thì mới thấy đúng và thấy hết sự thật, thấy hết những nhân tố mới để phát huy, những sai lầm để sửa chữa. Muốn thế, “phải đấu tranh chống cái cũ, chống bảo thủ trì trệ, chống giáo điều rập khuôn, chống chủ quan nóng vội, chống tha hóa biến chất, chống những thói quen lỗi thời dai dẳng. Đây là cuộc đấu tranh cách mạng gian khổ diễn ra trên mọi lĩnh vực và trong bản thân từng người chúng ta” (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb. Sự thật, H, 1987, tr.8).

II. Những tư duy trở lực phát triển

1.Chỉ chịu trách nhiệm trước Đảng, không chịu trách nhiệm trước dân

Gần đây, trên một số diễn đàn lớn, chúng ta thường nghe một số quan chức nói rằng họ giữ chức vụ là do Đảng giới thiệu, Quốc hội bầu.Vì vậy, họ chỉ chịu trách nhiệm trước Đảng và không thể từ chức. Điều này nghe qua thì đúng vì đảng viên thì phải chịu trách nhiệm trước Đảng và muốn từ chức thì phải được Đảng đồng ý và Quốc hội phê chuẩn. Nhưng xét kỹ thì đó làm trái tư tưởng Hồ Chí Minh.

Trước hết phải nhận thức đúng đắn mối quan hệ giữa Đảng lãnh đạo với vai trò của nhân dân. Cách mạng trước hết phải có Đảng. Sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định thắng lợi của cách mạng. Bác Hồ dạy: “Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, chứ không phải là sự nghiệp của cá nhân anh hùng nào. Thành công của Đảng ta là ở nơi Đảng ta đã tổ chức và phát huy lực lượng cách mạng vô tận của nhân dân, đã lãnh đạo nhân dân phấn đấu dưới lá cờ tất thắng của chủ nghĩa Mác-Lênin”.

Khi bàn về những điều kinh nghiệm trong lãnh đạo - vì ai mà làm? Đối ai phụ trách?, Hồ Chí Minh nói rõ: “Có người nói rằng mọi việc họ đều phụ trách trước Đảng, trước Chính phủ. Thế là đúng, nhưng chỉ đúng một nửa. Họ phụ trách trước Đảng và Chính phủ, đồng thời họ phải phụ trách trước nhân dân. Mà phụ trách trước nhân dân nhiều hơn phụ trách trước Đảng và Chính phủ, vì Đảng và Chính phủ vì dân mà làm các việc, và cũng phụ trách trước nhân dân. Vì vậy nếu cán bộ không phụ trách trước nhân dân, tức là không phụ trách trước Đảng và Chính phủ, tức là đưa nhân dân đối lập với Đảng và Chính phủ” (Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.5, tr.294).

Tư duy chỉ phụ trách trước Đảng mà không phụ trách trước nhân dân tức là chỉ thấy Đảng mà không thấy nhân dân, những người làm nên thắng lợi của cách mạng. Chỉ thị 03 nói phải học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh về phong cách quần chúng, trong đó có nội dung phải chịu trách nhiệm trước nhân dân. Tư duy nói trên đi ngược lại tư tưởng và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Đúng như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nói tại phiên bế mạc Hội nghị cán bộ toàn quốc quán triệt, thực hiện Nghị quyết Trung ương 4: “... Thế mà cứ hô khẩu hiệu là học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” (Tạp chí Cộng sản số 834, tháng 4-2012). Phê phán tư duy chỉ chịu trách nhiệm trước Đảng, không phụ trách trước nhân dân cũng có nghĩa là phải bảo đảm quyền tham gia và dự phần của mọi người dân, thực hiện chế độ trưng cầu dân ý theo Hiến pháp và lời dạy của Bác Hồ là “xin đồng bào hãy phê bình, giúp đỡ giám sát công việc Chính phủ”.

2. Chỉ chịu trách nhiệm trước Đảng nên không có tư duy từ chức

Liên quan đến tư duy chỉ chịu trách nhiệm trước Đảng nên một số quan chức cho rằng “không nên nghĩ rằng cứ mỗi một vụ việc cụ thể thì một Bộ trưởng phải nghĩ ngay đến việc từ chức hay không từ chức”.

Đúng rằng việc từ chức không phải anh muốn là được. Phải được Quốc hội bãi nhiệm. Nhưng tư duy về việc từ chức thì Đảng và Quốc hội không cấm. Nhân dân càng không cấm. Mà không nghĩ đến việc từ chức là làm trái lời Bác. Bác nói việc Người phải gánh chức Chủ tịch là do đồng bào ủy thác. Bao giờ đồng bào cho tôi lui thì tôi rất vui lòng lui. Đồng bào cho lui tức là đồng bào không tín nhiệm anh nữa. Anh phải biết điều đó. Phải biết xấu hổ. Phải biết tự trọng. Phải có trách nhiệm với dân. Không nên ỷ vào Đảng để không nói được trước đồng bào mấy chữ “tôi xin từ chức”.

Mặt khác, nếu nói rằng “không nên nghĩ cứ có một việc cụ thể thì một bộ trưởng phải nghĩ ngay đến việc từ chức hay không từ chức” thì sẽ không bao giờ có việc từ chức xảy ra. Và như vậy sẽ “hòa cả làng”. Vì cái gì mà chẳng là việc cụ thể. Nhưng xin thưa, vấn đề là ở chỗ không phải là một việc cụ thể mà là cả một chuỗi vụ việc liên hoàn, ngay cả khi vụ việc trước đang nóng thì vụ việc sau lại đến, liên tục, liên tục, không dứt, không ngớt. Những vụ tham nhũng đâu có phải một việc? Những sai phạm trong ngành y đâu có phải một việc? Những thủy điện, phá rừng đâu có phải một việc? Những tai nạn giao thông đâu có phải một việc? V.v.. Với cách tư duy này thì chẳng ai chịu trách nhiệm cả, ngoại trừ kẻ gây ra tội. Và nếu nói rằng người phải chịu trách nhiệm lớn nhất, duy nhất là kẻ phạm tội thì mọi việc coi như đã an bài, chẳng còn gì để nói nữa.

Tư duy này cũng trái với với tư tưởng Hồ Chí Minh. Thời Bác Hồ cũng có những vụ việc cụ thể như vụ án Trần Dụ Châu, sai lầm trong cải cách ruộng đất. Sau khi y án tử hình kẻ tham nhũng và kiểm điểm những sai lầm trong cải cách ruộng đất, Bác Hồ cũng nhận trách nhiệm về mình. Tại Hôi nghị Trung ương 10 mở rộng, ngày 25-8-1956 bàn về cải cách ruộng đất và chấn chỉnh tổ chức, Hồ Chí Minh nói: “Vì ta thiếu dân chủ nên nghe ít, thấy ít, nên bây giờ ta phải dân chủ. Tôi nhận trách nhiệm trong lúc sóng gió này. Tất cả Trung ương phải nghe, thấy, nghĩ, làm như thế. Bài học đau xót này sẽ thúc đẩy chúng ta” (Hồ Chí Minh: Biên niên tiểu sử, Nxb. CTQG, H, 1995, t.6, tr.333). Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng tỏ thái độ nghiêm khắc đối với những đồng chí phạm sai lầm trong cải cách ruộng đất. 


Sau việc thi hành kỷ luật một số cán bộ cao cấp của Đảng[1] liên quan đến trách nhiệm trong sai lầm cải cách ruộng đất, tại Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 10 (mở rộng) khóa II, ngày 15-9-1956, Người nói: “Vấn đề kỷ luật của Đảng là chung cho Đảng từ trên xuống dưới. Việc thi hành kỷ luật đối với các đồng chí Trung ương nói trên chứng tỏ với nhân dân là kỷ luật của Đảng nghiêm minh, điều đó giáo dục cho cán bộ, đảng viên ta biết tôn trọng kỷ luật” (Hồ Chí Minh: Biên niên tiểu sử, Nxb. CTQG, H, 1995, t.6, tr.341).

Tư tưởng và tấm gương Hồ Chí Minh cho thấy Đảng, Chính phủ và cá nhân những vị đại diện phải bảo đảm pháp quyền, bảo đảm trách nhiệm giải trình, bảo đảm minh bạch thể hiện ở chỗ không những không giấu giếm khuyết điểm, mà có khuyết điểm thì phải xử lý nghiêm minh, bất kể người mắc khuyết điểm giữ chức vụ gì. Công cuộc đổi mới hiện nay không thể chấp nhân tư duy mà Hồ Chí Minh đã phê phán: “Nhiều nơi các đồng chí phạm lỗi, nhưng không bị trừng phạt xứng đáng, có đồng chí bị hạ tầng công tác nơi này, đi nơi khác lại ở nguyên cấp cũ hay chỉ bị hạ tầng công tác theo hình thức nhưng vẫn ở cấp bộ cũ làm việc” (Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.5, tr.73).

3. Khó nói chữ “tôi” trách nhiệm trước dân

Thời bao cấp, phê phán tư duy không dám chịu trách nhiệm cá nhân, đổ lỗi cho khách quan, có ca dao:

“Mất mùa là do thiên tai
Được mùa là do thiên tài Đảng ta”.


Phê phán tư duy dựa dẫm, ỷ lại, rập khuôn, bảo thủ, có thơ rằng: “Trăng Trung Quốc tròn hơn trăng nước Mỹ. Đồng hồ Liên Xô tốt hơn đồng hồ Thụy Sĩ”.

Các kỳ họp Quốc hội truyền hình trực tiếp những năm qua đem lại cho người dân nhiều cảm nhận, cảm xúc, trong đó có một cảm nhận rõ nét là các vị đại diện của dân, do dân cử ra mới nói được nhiều đến hai chữ “chúng tôi” mà không thấy nói đến chữ “tôi” trách nhiệm trước dân. Hầu hết trả lời chất vấn của các chính khách về các sai lầm, khuyết điểm đều dẫn nguyên nhân khách quan, liên quan bộ này bộ kia, ngành này ngành nọ mà không nói đến trách nhiệm quản lý của bộ mình, ngành mình, cá nhân mình. Trong lý thuyết và thực tiễn quản trị quốc gia, đây là vấn đề thuộc trách nhiệm giải trình. Anh giải trình quanh co, lạc đề, đổ lỗi khách quan, cơ chế, thể chế (cơ chế, thể chế do con người xây dựng), hết thời gian chưa giải trình hết để Chủ tịch phiên họp nhắc nhở nhiều lần... (có người gọi là “cháy giáo án”) mà không thấy nguyên nhân chủ quan là tư duy cũ kỹ của 30 năm trước. Tư duy hư hỏng, lạc hậu đó hiện vẫn đang ngự trị trong đời sống chính trị-xã hội của đất nước, là một cản lực trên con đường phát triển của đất nước. Mà đổi mới là phải “chống lại những gì đã cũ kỹ, hư hỏng, để tạo ra những cái mới mẻ tốt tươi” (Di chúc của Bác)

4.Lầm lẫn sự ủy quyền của nhân dân với quyền lực cá nhân

Một trong những khía cạnh chủ yếu của nhà nước pháp quyền là nhà nước của dân mà điều căn cốt là quyền lực thuộc về nhân dân. Điều này đã được Hiến pháp quy định và nhiều lần Hồ Chí Minh nói đến. Khi giữ chức Chủ tịch, Bác Hồ nói đó là do đồng bào ủy thác mà tôi phải gắng sức làm cũng như một người lính vâng mệnh lệnh của quốc dân ra trước mặt trận. Quyền lực của dân thể hiện ở hình thức dân chủ trực tiếp mà rõ nhất là trưng cầu ý dân và dân chủ gián tiếp. Bảo đảm pháp quyền có nghĩa dân là chủ và dân làm chủ. “Nhân dân có quyền bãi miễn đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân nếu những đại biểu ấy tỏ ra không xứng đáng với sự tín nhiệm của nhân dân” (Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.9, tr.591). “Nếu Chính phủ làm hại dân thì dân có quyền đuổi Chính phủ” (Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.5, tr.60). Hồ Chí Minh viết: “Đảng ta là Đảng lãnh đạo, nghĩa là tất cả các cán bộ, từ Trung ương đến khu, đến tỉnh, đến huyện, đến xã, bất kỳ ở cấp nào và ngành nào - đều phải là người đày tớ trung thành của nhân dân” (Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.10, tr.323). 


Vì sự nhầm lẫn nhân dân ủy quyền với quyền lực cá nhân nên: “Cái gì cũng dùng mệnh lệnh. Ép dân chúng làm. Đóng cửa lại mà đặt kế hoạch, viết chương trình rồi đưa ra cột vào cổ dân chúng, bắt dân chúng theo” (Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.5, tr.293). Sự nhầm lẫn nêu trên mà căn nguyên sâu xa là cơn khát quyền lực đã đẻ ra biết bao nhiêu chuyện đau đớn mà Bác Hồ từng phê phán, nay vẫn đang diễn ra: “Cậy thế mình ở trong ban này ban nọ, rồi ngang tàng phóng túng, muốn sao được vậy, coi khinh dư luận, không nghĩ đến dân. Quên rằng dân bầu mình ra để làm việc cho dân, chứ không phải để cậy thế với dân” (Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.4, tr.57). 

Trong chế độ dân chủ “dân làm chủ thì Chủ tịch, bộ trưởng, thứ trưởng, ủy viên này khác là làm gì? Làm đày tớ. Làm đày tớ cho nhân dân, chứ không phải là làm quan cách mạng” (Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.8, tr.375). Tất nhiên, “khi dân dùng đày tớ làm việc cho mình, thì phải giúp đỡ Chính phủ. Nếu Chính phủ sai thì phải phê bình, phê bình nhưng không phải là chửi” (Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.5, tr.60).

5.Tư duy về lợi ích nhóm

Phải ghi công lao của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng vì ông nói nhiều đến một quốc nạn là lợi ích nhóm. Điều này không có gì mới. Cái mới là dám nói ra để nhân dân phanh phui, nhận diện. Có vị đại diện còn nói rằng không nên nói lợi ích nhóm mà chỉ nên nói lợi ích cục bộ. Ông ta không hiểu gì hay cố tình không hiểu. Hai loại lợi ích này có mối quan hệ nhưng lợi ích nhóm nguy hiểm hơn nhiều. 

Ở đây có sự móc ngoặc giữa chính trị với kinh tế, thậm chí cả xã hội đen và các nhóm lợi ích. Đằng sau và ẩn chưa bên trong các sai phạm, tiêu cực, tham nhũng vừa qua người dân có thể nhận diện bóng dáng của lợi ích nhóm. Bởi vì, một cơ sở kinh doanh trái phép, không phép ngang nhiên tồn tại mà không bị xử lý mà báo chí gọi là “con voi chui lọt lỗ kim” thì phải khẳng định có sự bảo kê, nghĩa là lợi ích nhóm. Một vụ tham nhũng, thất thoát hàng trăm, hàng nghìn tỷ đồng không thể là câu chuyện của một cá nhân, thậm chí một nhóm người (theo nghĩa lợi ích cục bộ) mà đây là có sự móc ngoặc, liên minh ma quỷ. Tư duy và hành động về lợi ích nhóm đang đục khoét nền kinh tế nước nhà, làm băng hoại đạo đức xã hội, trở lực của phát triển.

[1]Tại Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 10 (mở rộng) khóa II, ngày 15-9-1956, đồng chí Trường Chinh không giữ nhiệm vụ Tổng Bí thư nữa vì trách nhiệm trong sai lầm cải cách ruộng đất, các đồng chí Lê Văn Lương, Hoàng Quốc Việt ra khỏi Bộ Chính trị, đồng chí Hồ Việt Thắng ra khỏi Trung ương Đảng. 

http://www.vanhoanghean.com.vn/goc-nhin-van-hoa3/nh%E1%BB%AFng-g%C3%B3c-nh%C3%ACn-v%C4%83n-h%C3%B3a/nhung-tu-duy-can-luc-phat-trien

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Cứ tưởng hay!

Quyết liệt là... tan vỡ

Có lẽ ý của người gần đây tái phát minh ra từ "Quyết liệt" là từ ghép hai cụm từ "Kiên quyết" và "Mãnh liệt". Trước đây đã có một số người dùng: "Bất cứ một cuộc chuyên chính nào cũng phải là một cuộc đấu tranh giai cấp quyết liệt" (Trường Chinh). "Những câu nói quyết liệt của những đại biểu" (Nguyên Hồng). Quả thực người ấy hiểu "Quyết liệt" là "kiên quyết và mãnh liệt giữ chức theo sự phân công của Đảng" để đất nước tiếp tục "Liệt".
Quyết liệt là... tan vỡ
LTD: Gần đây hai chữ này có tần suất sử dụng hơi bị cao. Hình như được dùng trong trạng thái tinh thần của người nói đang… bí, có vẻ hơi… cuống, nhất là trong việc giải quyết tệ nạn xã hội. Làm không được thì quyết tâm, quyết tâm vẫn chưa được thì phải… quyết liệt. Và tự nhiên người ta thấy thực tế là….. đúng như thế, nghĩa là cái gì quyết liệt là sắp …. liệt.
Chả hiểu ai phát minh ra cái từ này mà bây giờ thành thương hiệu “sáng giá” và… nhàm chán của một người. Đó là từ chữ hán chăng? Chả phải. Chữ hán chỉ có một từ QUYẾT LIỆT mang nghĩa hoàn toàn khác, đó là sự tan vỡ (khi nói về đàm phán, về mối quan hệ, về tình cảm…).

Riêng chữ Quyết ở trong cụm từ này có nghĩa là thủng (gần nghĩa với chữ khuyết); chữ Liệt có nghĩa là nứt, rách ( thuộc bộ Y, là áo) hàm nghĩa rạn nứt, chia tách ra (phân liệt, sự phân liệt của tế bào, bệnh thần kinh phân liệt…).

Vậy QUYẾT LIỆT là gì thì rõ rồi, là tan vỡ, là nứt toác, là ai đi đường nấy, là … thôi rồi Lượm ơi.

“Cuộc đấu tranh chống tham nhũng là phải được thực hiện một cách QUYẾT LIỆT“. Không hiểu người nói muốn nói theo nghĩa nào, chỉ thấy so với lời nói thì thực tế xã hội trật lấc cả .

Thôi thì ai muốn hiểu thế nào thì hiểu. Vì suy cho cùng cái người ta cần là một thực tế sáng sủa, một xã hội tử tế chứ những ngôn từ, nhất là ngôn từ vừa sai vừa rỗng tuếch mà làm gì.

“Rượu nhạt uống lắm cũng say
Lời khôn nói lắm dẫu hay cũng nhàm…”

Huống hồ, lời chả khôn, chả hay, mà lại… nói lắm thì chả… ra làm sao.

Nguồn: Blog Nguyễn Trọng Tạo


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thầy phong thủy đoán chuyện tình duyên năm Ngựa


Giáp Ngọ được dự đoán là năm may mắn cho tình yêu, hôn nhân và sinh nở, nhưng cũng cần cẩn trọng vì khi sao Đào hoa phát huy tác dụng quá mạnh thì sẽ nảy sinh những cuộc tình ngoài hôn nhân. 
Một khách hàng chọn mua con thú hình ngựa tại một khu chợ ở Kualar Lumpur, Malaysia, trước Tết Giáp Ngọ. Ảnh: Thestar


Năm Giáp Ngọ hay năm Ngựa Gỗ sẽ bắt đầu trong vài tuần nữa, với ngày 4/2 (mùng 5/1 âm lịch) là ngày Lập xuân. Năm nay là năm chủ của sao Đào hoa, dự đoán "sẽ có nhiều đám cưới và nhiều trẻ em ra đời hơn", Louis Loh, thầy phong thủy ở Singapore, nói.

Không giống như năm Quý Tỵ 2013 có sự thay đổi chậm rãi, giống như rắn từ từ lột da, năm Giáp Ngọ sẽ chứng kiến những sự bùng nổ mạnh mẽ và tràn đầy năng lượng.

Theo Shelly Wu, nhà nghiên cứu về phong thủy ở Los Angeles, Mỹ, những hạt giống được gieo từ năm rắn sẽ nảy mầm và thu được kết quả trong năm nay. "2014 có thể đồng nghĩa với nhà mới, bạn bè mới, mọi thứ rất tích cực, mọi việc đều có thể diễn ra", bà Wu dự đoán.

Nhà nghiên cứu phong thủy nổi tiếng khác của Singapore, Kenny Hoo, người có 15 năm kinh nghiệm, cũng đồng ý với quan điểm trên. Hoo nói rằng "nhiều cặp đôi sẽ đi tới hôn nhân, chuyển nhà mới và có con hoặc sẽ có những sự kiện đặc biệt trong đời".

"Tuy nhiên, những người mẹ cố gắng tránh sinh con vào tháng 5 hoặc tháng 8 nếu có thể. Vì những tháng này nguyên tố hỏa mạnh nhất trong năm, em bé sinh ra vào mùa hè có thể có xu hướng quá tích cực và nóng tính", Hoo nói.

Ngoài ra, sao Đào hoa chiếu mạnh nên các cá nhân đã kết hôn cũng nên cẩn trọng và tránh ảnh hưởng của sao này đối với gia đình mình, tránh chuyện tình cảm ngoài hôn nhân.

"Các chính trị gia và các doanh nhân có thể mất địa vị và tiền tài vì những mối tình đi quá giới hạn, thậm chí nổ ra bê bối", Hoo dự đoán.

Nhà phong thủy Malaysia Datuk Alan Kou thì cho rằng năm nay đặc biệt tốt đối với những người tuổi Sửu, Dậu, Hợi, Mùi, mọi việc của họ đều tốt, đặc biệt là chuyện tình cảm.

Nhưng với những tuổi Tý, Ngọ, Tuất và Dần thì không được tốt như vậy. "Hãy cẩn thận để tránh những rắc rối không cần thiết. Đừng xen vào chuyện tình cảm của người khác. Hãy tập trung vào bản thân và vượt qua năm nay". Những người tuổi khác thì trung bình, ông Alan Kou dự đoán.

Tổng thể, các nhà phong thủy cho rằng năm Ngọ là một năm phát triển và tiến tới. Chú ngựa luôn muốn chạy, muốn phi nước đại, vậy hãy đặt những mục tiêu và mang những hy vọng cháy bỏng xứng đáng với sức mạnh chiến mã. Điều đó sẽ dẫn bạn tới thành công, không chỉ trong chuyện tình cảm.

Vũ Hà (tổng hợp)

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Hiệu ứng điên tập thể đẻ ra cá thể quái chiêu:

Cận cảnh đôi gà Đông Tảo giá

hơn 1 cây vàng

Thứ Ba, ngày  14/01/2014 21:05 PM (GMT+7)
Trang trại gà Đông Tảo của anh Giang Tuấn Vũ ở thôn Hiệp  Tiến (Đông Tảo, Khoái Châu, Hưng Yên) tên là Ông Phúc vừa bán một cặp gà "khủng"  với giá gần 40 triệu đồng.
Tin TứcTin HOT trong ngày  cập nhật từng giờ tại Tin Tức Trong Ngày  
   Cụ thể, con gà trống có trọng lượng 5,9kg được bán với giá 28 triệu đồng và  con gà mái bán giá 9 triệu đồng, đều được xếp vào đôi gà giống Đông Tảo cực quý  hiếm ở thời điểm hiện tại. Trại gà Ông Phúc của anh Vũ cũng vừa bán 10 cặp gà có  kích thước lớn cuối cùng trong dịp Tết, nhiều  khách tới hỏi mua nhưng đã hết hàng, hiện trong trại chỉ còn gà cỡ nhỏ.Theo anh Vũ, gà Đông Tảo một thời chỉ dành cúng tế, hội hè hoặc tiến vua, giờ  trở thành món ăn ưa chuộng của những thực khách có điều kiện. Càng gần 30 Tết,  giá càng tăng (lên tới hơn nửa triệu đồng mỗi kilôgram) và hầu hết người mua gà  này để làm quà biếu.
Gà Đông Tảo với đặc điểm nổi bật là cặp chân to, thô, xấu xí, nhưng thịt  chắc, giòn và thơm ngon... đã trở thành một thương hiệu đặc sản nên vào dịp Tết  này, giá đã tăng từ 200.000 đến 2.000.000 đồng/kg. Nếu mua theo con, giá cũng  tăng thêm vài triệu đồng. Cá biệt, có một số con có giá lên tới hơn 1 cây vàng  được các “đại gia” mua trong dịp Tết này. Có người bán một con gà Đông Tảo, lợi  nhuận bằng những hộ nuôi khoảng 2.000 con gà bình thường. XEM ẢNH
Cận cảnh đôi gà Đông Tảo giá hơn 1 cây vàng - 1
Con gà mái  Đông Tảo được bán với giá 9 triệu đồng.
Cận cảnh đôi gà Đông Tảo giá hơn 1 cây vàng - 2
Con gà trống  "khủng" 5,9kg được bán với giá 28 triệu đồng.
Cận cảnh đôi gà Đông Tảo giá hơn 1 cây vàng - 3
Cận cảnh đôi gà Đông Tảo giá hơn 1 cây vàng - 4
Cận cảnh đôi gà Đông Tảo giá hơn 1 cây vàng - 5
Cận cảnh đôi gà Đông Tảo giá hơn 1 cây vàng - 6

Theo Thanh Xuân (Dân Việt)

Phần nhận xét hiển thị trên trang