Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Tư, 15 tháng 1, 2014

Ngẫm về “tủ rượu” của người Việt và “tủ sách” của người Do Thái

Ngẫm về “tủ rượu” của người Việt và “tủ sách” của người Do Thái
Giới trọc phú chuộng tủ rượu để khoe mẽ hơn là tủ sách để thể hiện sự hiểu biết.
Câu chuyện về cái “tủ sách” và cái “tủ rượu”
Hôm rồi tôi có dịp ghé nhà một ông tá hải quân cùng quê chơi. Ông hiện phụ trách quân lực của cả một vùng. 
Ông vừa cất xong ngôi biệt thự và sắm xe hơi mới. Bước vào phòng khách ngôi nhà, ập vào mắt tôi chính là chiếc tủ rượu hoành tráng choán gần nửa bức tường chính diện. 
Thôi thì đủ thương hiệu rượu danh tiếng: từ Chivas, Hennessy, Napoleon, Johnnie Walker cho tới Vodka xịn tận bên Nga… được gia chủ bày khá ngay ngắn trên kệ.
Ông đi giới thiệu cho chúng tôi xuất xứ từng chai rượu: chai này thằng bạn đi nước ngoài về tặng, chai kia đồng nghiệp cho, chai nọ do cấp dưới biếu với giọng khá hào hứng cũng như thể hiện sự am hiểu về rượu ngoại.
Sau khi dẫn chúng tôi đi tham quan quanh khuôn viên nhà, cùng với mấy câu chuyện hỏi thăm nhạt thếch, ông tá nhanh chóng nhập sòng oánh “phỏm” với mấy “thằng đệ”. 
Trong lúc mấy vị đang say sưa sát phạt, chúng tôi cũng đang ngó nghiêng thứ này thứ kia của căn nhà thì xảy ra một chuyện. 
Thằng con đầu tầm 8 tuổi của ông, tranh thủ lúc mọi người trong nhà đang tập trung chuyên môn, lén vào phòng lục túi bố nó lấy mấy tờ 500 ngàn và bị bà nội tóm cổ xách ra báo với phụ huynh. 
Một điều khiến chúng tôi khá bất ngờ, đó là lòng “vị tha” của quý phụ huynh.
Ông chỉ đánh nó mấy cái nhè nhẹ (chắc sợ thằng bé đau) và mắng nó mấy câu quen thuộc rồi lại tiếp tục lao vào sòng, cách xử lý của ông khiến tôi có lý do để tin thằng bé thực hiện hành động này không phải lần đầu và chắc chắn không bao giờ là lần cuối.
Câu chuyện thứ hai tôi muốn đề cập với các bạn thói quen đọc sách của người Do Thái. “Trong mỗi gia đình Do Thái luôn luôn có 1 tủ sách được truyền từ đời này sang đời khác. Tủ sách phải được đặt ở vị trí đầu giường để trẻ nhỏ dễ nhìn, dễ thấy từ khi còn nằm nôi. 
Để sách hấp dẫn trẻ, phụ huynh Do Thái thường nhỏ nước hoa lên sách để tạo mùi hương cho các em chú ý”. (Theo bài viết “Người Việt ít đọc sách: Cần những chính sách để thay đổi toàn diện” của tác giả Nguyễn Hương đăng trên trang tin điện tử Cinet.com của Bộ VH-TT-DL).
“Mặc dù chỉ có 8 triệu dân nhưng ở Israel có tới hơn 1.000 thư viện công cộng với nhiều sách quý. Bên cạnh việc hình thành, xây dựng thói quen đọc sách từ khi nằm nôi cho trẻ nhỏ, người Do Thái hiện vẫn sử dụng hình ảnh con lừa thồ sách để dạy các con mình: Nếu chỉ dừng ở việc đọc mà không biết ứng dụng thì trí tuệ đó cũng chỉ là trí tuệ chết. Và để có thể ứng dụng, trẻ em Do Thái không ngừng đọc sách và tích lũy kiến thức từ nhiều ngành, lĩnh vực khác nhau.”
Đó là hai câu chuyện về “tủ rượu” của người Việt và “tủ sách” của người Do Thái, hay nói khác hơn là câu chuyện về “văn hóa đọc” của hai dân tộc cách xa nhau cả về địa lý lẫn khoảng cách văn minh.
 Mối tương quan giữa “văn hóa đọc” và sự phát triển
Trong một lần nói chuyện với Giáo sư Chu Hảo, một học giả gạo cội của Việt Nam và đang là Giám đốc Nhà Xuất bản Tri Thức, tôi đưa ra câu hỏi: “Trên cương vị một học giả và một người làm sách, ông có cảm nhận như thế nào khi người Việt hiện đang chuộng chưng ‘tủ rượu” hơn là ‘tủ sách’ cũng như xin ông cho nhận xét về văn hóa đọc của người Việt hiện nay?”
Giáo sư trả lời: “Đó là tư duy của "trọc phú" - ham chuộng vật chất, khoe mẽ hơn là hiểu biết, tri thức,” về văn hóa đọc của người Việt, ông nhấn mạnh hai chữ “đau lòng”.
Ở các nước Âu - Mỹ, lấy ví dụ ở Pháp hiện nay, trung bình một người dân Pháp đọc tới 20 cuốn sách/năm, đối với người dân sống ở thành phố, tầng lớp tri thức, con số đó lên tới 30-50 cuốn/ năm (Nguyễn Hương, bài “Người Việt ít đọc sách: Cần những chính sách để thay đổi toàn diện”).
Ở Nhật, ngay từ thời Cải cách Minh Trị, chỉ với 30 triệu dân mà tiêu thụ tới hàng trăm ngàn cuốn sách dạng tinh hoa, “khó nhằn”.
Ở một quốc gia gần hơn trong cộng đồng ASEAN, đó là Malaysia, số lượng sách được đọc trên đầu người là 10-20 cuốn/người/năm (2012, số liệu từ ông Trần Trọng Thành, công ty sách điện tử Aleeza).
Và ở Việt Nam, theo con số do Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch công bố ngày 12/04/2013 ngay trước thềm sự kiện “Ngày hội Sách và Văn hóa Đọc”, số lượng sách một người Việt đọc trong một năm là… 0,8 cuốn, nghĩa là người Việt Nam đọc chưa đầy 1 cuốn sách trong 1 năm.
Có sự tương quan rõ ràng giữa văn hóa đọc và sự phát triển của một quốc gia. Với những con số ở trên, dễ hiểu vì sao nước Pháp lại có một nền kinh tế, văn hóa và nghệ thuật rạng rỡ như vậy.
Nước Nhật có thể đứng dậy thần kỳ sau Thế chiến 2 cũng như vươn lên quật khởi sau bao thiên tai liên miên, hiện đang là nền kinh tế đứng thứ 2 thế giới với nền khoa học - công nghệ tiên tiến bậc nhất.
Malaysia đang là ngôi sao mới ở khu vực ASEAN với những chính sách đổi mới và mở cửa đột phá gần đây.
Và người Do Thái với câu chuyện ở đầu bài, “Một dân tộc 13 triệu dân nhưng sinh ra gần 40% chủ nhân của các giải Nobel; 1/3 trên tống số các nhà triệu phú đang sống và làm việc tại Mỹ là người Do Thái; 20% giáo sư tại các trường đại học hàng đầu hiện nay; 3 nhân vật sau Công nguyên cho đến hiện tại có tác động lớn nhất đến lịch sử nhân loại là Chúa Jesus, Karl Marx và Alber Einstein…là người Do Thái.”
Mỗi người Việt chưa đọc nổi 1 cuốn sách/năm, ai có thể khẳng định không liên quan đến tình trạng suy thoái toàn diện từ kinh tế, giáo dục, văn hóa, xã hội cũng như nhân cách con người hiện nay ở Việt Nam?
 Thái độ của người trẻ Việt với “văn hóa đọc”
Thế hệ trẻ chính là những người kế thừa và phát triển, là tương lai của đất nước. Tuổi trẻ cũng là khoảng đời mà con người có tinh thần học hỏi và sáng tạo nhất, là thời kì hoàn thiện về chất, vì vậy là thời kì đòi hỏi con người phải đọc sách nhiều nhất. Với số liệu Bộ VH-TT-DL đưa ra ở trên, người trẻ Việt hiện đang làm gì?
Tiến sĩ Alan Phan, người có hơn 25 năm làm việc ở nhiều quốc gia trên thế giới, người Việt đầu tiên đưa một công ty lên sàn chứng khoán, nhận xét: “Ở các nước Âu - Mỹ, thời gian rảnh sinh viên họ thường ngồi trước máy tính đọc tin tức, tìm thông tin hay đọc sách.
Còn sinh viên Việt Nam, họ đang bận “ngồi đồng” chém gió tại các quán cà phê, trà đá”. Tại các nước phương Tây hoặc Nhật Bản, hình ảnh chúng ta thường thấy trên xe buýt, tàu điện ngầm hay ngay cả trên đường phố là hình ảnh các bạn học sinh, sinh viên say sưa với cuốn sách trên tay.
Mỗi lần theo dõi các cuộc tranh luận của giới trẻ Việt Nam về các vấn đề “hot” trên các diễn đàn, mạng xã hội, chúng ta sẽ thấy rõ sự thiếu hiểu biết, thiếu văn hóa cũng như trình độ… ngụy biện bậc thầy của các bạn trẻ.
Các bạn không tự trang bị được cho mình một nền tảng kiến thức, tư duy độc lập, lập luận thuyết phục cũng như kĩ năng, văn hóa tranh biện. Tâm lý bầy đàn luôn thể hiện rõ nhất ở những sự kiện như vậy. Sự kiện cô bạn trẻ Huyền Chip và cuốn “Xách ba-lô lên và đi”, một trong những sự kiện nóng và được giới trẻ tranh luận nhiều nhất trong năm 2013, là một ví dụ điển hình.
Trước mỗi sự kiện truyền thông đưa ra, các bạn trẻ không thể phân biệt được đâu là tin thật, đâu là tin giả, đâu là chiêu PR. Một bộ phận như những con cừu ngoan ngoãn, họ chỉ biết bám đuôi nhau và gật đầu. Bộ phận còn lại nghe cái gì cũng kêu “bậy” dù chẳng có dẫn chứng, cơ sở nào để phản biện lại.
Ai có thể phủ nhận đó không phải là hậu quả của việc lười đọc sách và học hỏi?
Thay lời kết
Câu chuyện về cái “tủ rượu” của ông tá hải quân trong câu chuyện đầu bài và cái “tủ sách” của người Do Thái, hay câu chuyện “văn hóa đọc” của người Việt Nam có mối liên hệ chặt chẽ với khoảng cách phát triển hiện tại giữa chúng ta với thế giới.
Để đất nước và con người Việt Nam phát triển về mọi mặt, bền vững, việc đầu tiên là phải làm sao để “văn hóa đọc” của người Việt lan tỏa và thăng hoa, tạo thói quen đọc sách và yêu sách. Muốn phát triển như Âu - Mỹ, Nhật hay người Do Thái, trước hết phải học hỏi văn hóa đọc từ họ.
Phải làm sao nhà nhà đều có “tủ sách” để tự hào và gieo hạt, chứ không phải là “tủ rượu” để khoe mẽ vật chất và phô trương cái tư duy trọc phú. 
Mọi thay đổi phải bắt đầu từ thế hệ trẻ.
Bài đã được đăng trên Triết học đường phố

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Nghiệm chuyến tàu đầu năm


Khởi hành chuyến tàu đầu năm
Lặn sâu vào giấc mơ huyền hoặc
Đánh mất ngôn ngữ thường ngày
Chỉ còn lại gương mặt trắng bệch
Trăng. Hai giờ khuya. Sương mù lạnh buốt
Bánh sắt nghiến đau từng hơi thở
Hun hút đường ray mở ra mê lộ mới
Khi anh quay về tất cả biến dạng
Căn phòng, người thân, những ảo ảnh điên loạn
Loáng thoáng những đốm lửa bên đường
Điều gì đó không thể nói ra
Hai giờ khuya. Cơn đau thấu tim
Con tàu rùng rùng chuyển động
 
 
 
 
Phần nhận xét hiển thị trên trang

THƠ CON NHÁI!

(Thân tặng các nhà thơ bất đắc dĩ, bất đắc kỳ tử)

Em ơi đừng nhắc lòng anh buồn
Ngày mai  anh trở về đi buôn
Buôn bấc, buôn chì, buôn muối mặn
Văn nghệ văn gừng..
mình quên luôn!

Đã dại thôi đành
già vẫn dại
Tin cậy người ta chẳng thể khôn.
Thời ấy gọi vui rằng mở cửa
Trắng đen hai cửa khó khăn luồn

Không biết cúi đầu, không uốn gối
Chữ để mà chi – Nghĩa không còn?
Xưa trách tệ “thằng Tây, con đĩ”?
Giờ trách ai đây,
dép đã mòn!

Béo bở gì đâu đồng bạc vụn
Đổi bằng tim óc, đổi bằng yêu!
Văn đã chẳng thành
Quên xừ nó
Sắm gánh sắm gồng về non cao!

Thôi em đừng nhắc
nhìn thêm bực
Ta lại như xưa, có làm sao?
Đi bán đi buôn, lo cày cấy
Thân khổ mà chi, chuyện tào lao!

Lâu lắm mới vần vè thơ thẩn..
Lết mấy đường quê
quên tình sầu!


                                                                                      

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thứ Ba, 14 tháng 1, 2014

Lý Quang Diệu viết về Đông Nam Á và Việt Nam


Nguồn: Lee Kuan Yew (2013). “Southeast Asia”, in L.K Yew, One Man’s View of the World (Singapore: Straits Times Press), pp. 159-203.

Biên dịch và Hiệu đính: Trương Thị Thanh Hiền & Vũ Thị Hương Giang[1]
INDONESIA: Dịch chuyển khỏi trung ương
Sự phát triển quan trọng nhất trong nền chính trị Indonesia kể từ cuối thời kỳ cầm quyền của Tổng thống Suharto là một sự phát triển không ấn tượng một cách đáng ngạc nhiên. Nó không liên quan đến các cuộc biểu tình đường phố ồn ào kêu gọi những thay đổi sâu rộng hay các kế hoạch táo bạo của chính phủ để thay đổi nền kinh tế đất nước. Bạn không thể tạo ra một bom tấn Hollywood từ điều đó. Tuy nhiên, tôi tin rằng các sử gia, những người nhìn lại nhiều năm trước, sẽ nhận ra bản chất rất quan trọng của nó. Sự phát triển mà tôi đang đề cập đến chính là sự khu vực hóa, còn được gọi là sự phân quyền (hay phi tập trung hóa – NHĐ).
Năm 1999, người kế nhiệm cương vị Tổng thống của Suharto, ông B.J. Habibie, đã lặng lẽ ký thành luật việc chuyển giao quyền lực từ Jakarta đến khoảng 300 huyện vốn hợp thành đất nước rộng lớn này. Các đạo luật bắt đầu có hiệu lực trong năm 2001 và kết quả mang lại đầy ấn tượng. Với việc mỗi khu vực tự chịu trách nhiệm về những hoạt động của mình thông qua các quan chức được bầu ở địa phương, đất nước như được hồi sinh. Sự phát triển kinh tế hiện nay được trải rộng một cách đồng đều hơn. Quyền tự chủ địa phương cũng đã làm dịu đi những áp lực từ chủ nghĩa ly khai và giúp đất nước đoàn kết như một. Một Indonesia được phân quyền thịnh vượng hơn và có khả năng đạt đến tiềm năng đầy đủ của mình hơn.
Trước khi ban hành các đạo luật này, Indonesia đã có một trong những hệ thống chính trị tập trung nhất trên thế giới. Những quyết định quan trọng về kinh tế được đưa ra tại Thủ đô bởi Tổng thống và Nội các của ông và được thực hiện trên khắp đất nước bởi các quan chức và đại diện của chính quyền trung ương. Tất cả mọi thứ đều được tổ chức thông qua Jakarta. Những nhà đầu tư nước ngoài, kể cả những người đến từ Singapore, đã hiểu được các quy tắc của trò chơi. Họ biết rằng lệ phí ban đầu để đầu tư thậm chí là cho những khu vực xa xôi của đất nước đều được chi trả ở Jakarta. Tất nhiên, các khoản thu thuế và lợi nhuận phát sinh từ việc khai thác những nguồn tài nguyên phong phú của đất nước đã chảy ngược trở về Thủ đô, nơi mà sau đó đã quyết định cách thức những lợi ích sẽ được tái phân bổ như thế nào.
Trong nhiều năm, hệ thống này đã có hiệu quả khá tốt dưới sự lãnh đạo của Suharto. Là một quân nhân, Suharto đã kế nhiệm cương vị Tổng thống của Sukarno năm 1968 và nắm quyền trong 3 thập kỷ kế tiếp. Thành tựu của ông phải nói là ngoạn mục. Suharto kế thừa một đất nước khó khăn bởi lạm phát phi mã và đang suy tàn với các điều kiện kinh tế nghiêm trọng. Ông đã thay đổi tình thế bằng việc tập trung các nguồn lực của đất nước cho sự phát triển. Trong khi Sukarno dành hết sức lực cho việc đấm vào mặt bàn trong các hội nghị quốc tế và cố gắng làm cho Indonesia – và bản thân ông – trở thành người lãnh đạo của các quốc gia đang nổi lên, Suharto hiểu rằng Indonesia không thể cất tiếng nói trên sân khấu toàn cầu nếu không thành công trước tiên trong việc giải quyết các vấn đề trong nước. Khi Liên bang Malaysia ra đời, Sukarno đã đưa ra khẩu hiệu Ganyang Malaysia, có nghĩa là Đánh tan hay Nuốt chửng Malaysia. Suharto, với quyết tâm ổn định các mối quan hệ quốc tế của đất nước, đã hạ khẩu hiệu này, chấp nhận Malaysia như một nước láng giềng và công nhận rằng Sabah và Sarawak thuộc về Malaysia.
Indonesia đã có những bước phát triển quan trọng trong khoảng 30 năm dưới thời Suharto, ông đã bổ nhiệm các nhà quản trị có trình độ và những nhà kinh tế học nghiêm chỉnh để điều hành đất nước. Phải so sánh Myanmar và Indonesia để có thể hiểu được tầm quan trọng của những đóng góp của Suharto. Hai quốc gia đã có xuất phát điểm giống nhau về mức độ phát triển. Cả hai đều là những đất nước trù phú và được điều hành bởi những nhà lãnh đạo quân sự. Tuy nhiên, Tướng Ne Win của Myanmar, hay Miến Điện thời bấy giờ, đã đi theo con đường Xã hội Chủ nghĩa. Nếu không có những chính sách cứng rắn nhằm thúc đẩy phát triển của Suharto, Indonesia đã giống Myanmar. Suharto có thể đã thất bại vì tham nhũng và chủ nghĩa gia đình trị. Nhưng lịch sử cũng sẽ đánh giá ông vì những thành quả đã đạt được, tự chúng đã minh chứng điều đó: mang lại giáo dục cho người dân, phát triển kinh tế và xây dựng giao thông và cơ sở hạ tầng.
Tuy nhiên, hệ thống tập quyền mà Suharto dựa vào không phải là lựa chọn tốt nhất để thống nhất một đất nước đa dạng như vậy. Đất nước Indonesia được hình thành bởi 17.500 hòn đảo trải dài trên 5.000 km và là nơi sinh sống của hơn 200 nhóm sắc tộc khác nhau. Trong những năm 1960, Goh Keng Swee đã nhấn mạnh rằng sự tan rã cuối cùng của Indonesia gần như là “không thể tránh khỏi”. Ông đã nhận ra các lực lượng đang hoạt động trên quần đảo này khó có thể được mô tả như là đang chia sẻ một nhận thức bản sắc chung, dù là về khía cạnh văn hóa hay lịch sử.
Ngôn ngữ là một nhân tố giúp ngăn chặn sự tan rã, và Sukarno, dù có những sai lầm và hạn chế, có thể được khen ngợi về điều này. Sukarno đã chọn tiếng Malay là quốc ngữ, không phải tiếng Java. Nếu muốn chọn tiếng Java, ông đã có thể dẫn ra nhiều lý do thỏa đáng cho lựa chọn đó. Người Java là nhóm sắc tộc chiếm đa số ở Indonesia. Ngôn ngữ của họ tinh tế với một nền văn học lâu đời. Bản thân Sukarno cũng là người Java và Jakarta, thủ đô đồng thời cũng là trung tâm kinh tế và văn hóa của đất nước, được đặt tại đảo Java. Tuy nhiên, Sukarno hiểu rằng tiếng Java sẽ không liên kết đất nước, bởi vì nó đã bị xem là tiếng nước ngoài ở nhiều nơi trên đất nước Indonesia. Những đảo khác sẽ xem nó là một gánh nặng và điều này sẽ chia cắt đất nước. Mặt khác, tiếng Malay đã được sử dụng rộng rãi như là ngôn ngữ thứ hai vì nó là ngôn ngữ của các thương nhân và các thủy thủ, những người không chỉ đã đi khắp đất nước mà còn cả khu vực Đông Nam Á. Ông đã chọn tiếng Malay và quyết định tất cả các trường học sẽ dạy nó như tiếng mẹ đẻ, còn tiếng địa phương hay phương ngữ là ngôn ngữ thứ hai. Kết quả là bất kỳ người nào phát ngôn ở Jakarta ngày nay đều được hiểu bởi người dân ở khắp đất nước. Đó là một hành động đúng đắn và là món quà lớn nhất mà Sukarno dành cho Indonesia.
Tuy nhiên, một ngôn ngữ chung duy nhất là không đủ. Suharto còn duy trì đất nước thông qua một lực lượng quân sự hùng hậu, ví dụ ông đã từng sử dụng quân đội để đàn áp các cuộc nổi dậy ở Aceh. Điều này chỉ mang lại ổn định chừng nào việc sử dụng vũ lực còn có thể được duy trì. Nhưng vai trò của quân đội đã thay đổi. Trong những ngày cuối cùng của nhiệm kỳ Tổng thống, Suharto muốn vị Tổng tư lệnh của mình, Tướng Wiranto, đàn áp cuộc nổi dậy của sinh viên và công nhân. Tuy  nhiên, Tướng Wiranto đã từ chối vì ông hiểu những giới hạn của hành động quân sự. Khi Habibie kế nhiệm cương vị Tổng thống của Suharto, đã có một nỗi lo sợ thật sự rằng hàng loạt các phong trào ly khai trên khắp đất nước có thể lợi dụng tình hình chính trị thay đổi để đòi độc lập.
Chính quyền Habibie đã quyết định rằng khu vực hóa là con đường phải đi. Tuy nhiên, thay vì chuyển giao quyền lực cho khoảng 30 tỉnh, một điều mà theo thời gian có thể khuyến khích một số tỉnh đòi độc lập, giới lãnh đạo Jakarta đã đi tắt đón đầu bằng cách tuyên bố 300 huyện và khu tự trị là những đơn vị chính quyền cơ sở. Sau đó, trong năm 2004, chính phủ đã công nhận rằng phương pháp tiếp cận này không thể tránh khỏi những vấn đề và đã ban hành các đạo luật để tái thiết lập quan hệ thứ bậc giữa tỉnh và huyện. Tuy nhiên, sau năm 2001, mỗi khu vực đã lấy lại toàn quyền quyết định trong nhiều vấn đề địa phương, như y tế, giáo dục, công trình công cộng, nông nghiệp, giao thông vận tải, thương mại, môi trường, lao động, v.v… Thẩm quyền cấp giấy phép đầu tư cũng đã được giao lại cho chính quyền địa phương, ngoại trừ các lĩnh vực dầu hỏa, khí đốt và nguyên liệu phóng xạ. Việc ông Habibie không xuất thân từ Java mà từ Nam Sulawesi hẳn đã tạo nên sự khác biệt. Nếu một người Java kế vị ông Suharto thì hệ thống bánh xe và nan hoa có thể sẽ vẫn tiếp tục tồn tại ít nhất là một khoảng thời gian nữa. Việc ông Habibie đã trải qua 20 năm học tập và làm việc tại Đức, nước có hệ thống liên bang thay vì hệ thống đơn nhất, có thể cũng đã đóng vai trò nhất định. Ngoài ra, ông Abdurrahman Wahid, người kế nhiệm cương vị Tổng thống của ông Habibie vào cuối năm 1999, đã tôn trọng các đạo luật mà ông Habibie đã ký và tạo điều kiện để chúng được thực thi đầy đủ. Báo cáo của Ngân hàng Thế giới về quá trình khu vực hóa của Indonesia đã nói rằng, sau năm 2001, hai phần ba công chức trước đây làm việc cho chính quyền trung ương giờ chịu trách nhiệm báo cáo trước các chính quyền địa phương, và trên 16.000 cơ sở dịch vụ, bao gồm trường học và bệnh viện, đã được chuyển đổi tương tự.
Sự chuyển đổi có tính rủi ro khá cao, nhưng đã diễn ra thành công. Ngày nay, mỗi khu vực quản lý các nguồn tài nguyên của chính mình và trực tiếp giao dịch với các công ty nước ngoài. Bơ đã được trét đều ra xung quanh và cục diện của toàn quần đảo đã thay đổi. Một số quy trình đã được tăng tốc bởi vì các doanh nghiệp đã không còn phải đối phó với nhiều lớp chính quyền nữa. Chính quyền địa phương quen thuộc hơn với các sự kiện trên thực địa, điều này cho phép họ có thể phản ứng với những hoàn cảnh đang thay đổi. Các cuộc khảo sát hậu phân quyền cũng cho thấy nhiều người dân Indonesia tin rằng các dịch vụ công đã được cải thiện từ năm 2001. Không còn nghi ngờ gì nữa, điều này ít nhất một phần là kết quả của việc những nhà làm chính sách quan trọng đã không chỉ báo cáo lên trên, về Jakarta, mà còn xuống dưới, đến những người dân đã bầu cho họ và đến các cơ quan lập pháp địa phương.
Quần đảo Riau là một ví dụ về việc một khu vực đã được hưởng lợi từ những thay đổi như thế nào. Trước đó, quần đảo này thuộc sự quản lý của Jakarta, tuy nhiên hiện nay, họ trực tiếp làm việc với các nhà đầu tư từ Singapore và Malaysia – điều này hết sức hợp lý, vì Batam, thành phố lớn nhất của tỉnh, nằm gần Singapore hơn là Jakarta. Đầu tư nước ngoài đã tăng đáng kể, đồng thời có nhiều cơ hội việc làm cho người dân địa phương.
Nhưng quan trọng nhất, sự phân quyền đã giữ Indonesia thành một đất nước thống nhất. Không khu vực nào có thể tuyên bố rằng nó đang bị Trung ương áp bức hay đối xử không công bằng, vì số phận của mỗi khu vực giờ đây nằm trong tay của chính người dân khu vực đó. Lợi nhuận từ các nguồn tài nguyên thiên nhiên đang được quản lý bởi chính quyền địa phương. Giải pháp quân sự đối với chủ nghĩa ly khai dưới thời Tổng thống Suharto đã biến Indonesia thành một nồi áp suất. Mối quan hệ giữa Trung ương và các tỉnh thường xuyên căng thẳng và người ta phải đảm bảo rằng nắp đậy được giữ chắc chắn, hoặc sẽ có một vụ nổ xảy ra. Giải pháp trao lại sự tự chủ cho các địa phương của Tổng thống Habibie đã giải thoát hơi nước từ nồi áp suất và làm cho tình hình được duy trì trong một thời gian dài.
Quá trình khu vực hóa là không thể đảo ngược. Một khi bạn đã đưa cho các khu vực quyền sở hữu trực tiếp cộng đồng của họ, thì không thể đặt sự kiểm soát trở lại. Sẽ có những điều chỉnh khi đất nước tìm kiếm sự cân bằng tự chủ phù hợp, ví dụ giữa các tỉnh và các huyện, nhưng Indonesia sẽ không quay trở lại hệ thống tập quyền như thời Tổng thống Suharto.
Tuy nhiên, sẽ là quá bất cẩn khi tin rằng con đường phát triển của Indonesia, nhờ những phát triển tích cực này, không còn những khó khăn và bấp bênh nữa. Sự khu vực hóa có thể là một điều rất tốt cho đất nước, những nó không phải là một hạt đậu thần kỳ. Những thách thức truyền thống cũng như những thách thức mới gần đây, bao gồm sự bế tắc chính trị tại Trung ương, cơ sở hạ tầng nghèo nàn và tham nhũng tràn lan, tiếp tục đe dọa làm chệch hướng Indonesia. Do đó, việc liệu Indonesia có đối mặt với những thách thức này, với cách thức và vào thời điểm như thế nào, sẽ quyết định vận mệnh của người dân đất nước.
Singapore đã nếm trải mùi vị của vấn đề gây nên bởi bế tắc chính trị khi chúng ta cùng lúc ký Hiệp ước Dẫn độ và Hiệp định Hợp tác Quốc phòng với Indonesia. Tổng thống rõ ràng đã tin rằng hiệp ước là vì lợi ích của đất nước ông, nếu không ông ta đã không ký nó. Tuy nhiên, cơ quan lập pháp quốc gia, hay Dewan Perwakilan Rakyat (DPR), đã chặn hiệp ước lại với lý lẽ bề ngoài có vẻ là do nó đe dọa chủ quyền của Indonesia. Bất kỳ nhà phân tích chính trị nào cũng có thể nói với bạn nguyên nhân thật sự mà họ muốn tạm dừng thỏa thuận: Một cuộc bầu cử sẽ diễn ra vào năm 2009, và các nhà lập pháp, mà phần lớn trong số họ không thuộc đảng của Tổng thống, muốn tăng các cơ hội cho đảng của họ bằng cách hạ thấp vị thế của Tổng thống. Có thể nào mà Tổng thống, vốn là một vị tướng quân đội, Bộ trưởng Quốc phòng, Bộ trưởng Ngoại giao và Tổng chưởng lý, lại không hiểu các quyền chủ quyền của Indonesia là gì? Binh sĩ của Singapore đã huấn luyện hơn 20 năm ở Indonesia trong suốt thời kỳ của Thống thống Suharto mà không có bất kỳ lời phàn nàn nào. Tuy nhiên, đó là một phần của cái gọi là wayang kulit, hay sân khấu chính trị, và nó vẫn tiếp tục gây tai họa cho Indonesia, xuất phát từ cách thức các thể chế được tổ chức tại Trung ương như thế nào.
Hiến pháp Indonesia được sửa đổi vào năm 2002 nhằm tạo điều kiện cho Tổng thống được bầu cử trực tiếp bởi người dân. Trước đó, Tổng thống được bầu gián tiếp bởi các nhà lập pháp. Do đó, Tổng thống đương nhiên nhận được sự ủng hộ của cơ quan lập pháp và không phải lo lắng về việc các chính sách của mình sẽ bị cản trở. Nhưng hệ thống mới tạo ra khả năng Tổng thống sẽ xuất thân từ các đảng khác chứ không phải từ đảng đang chiếm đa số trong cơ quan lập pháp, điều này đến lượt nó lại có khả năng gây nên bế tắc. Nếu những nhà sửa đổi Hiến pháp Indonesia đã nghiên cứu hệ thống của Pháp, họ sẽ xem xét việc trao cho Tổng thống quyền kêu gọi tổ chức các cuộc bầu cử lập pháp, hoặc ngay sau khi đắc cử, hoặc có thể sau đó một thời gian, để Tổng thống có thể thu hút toàn bộ cử tri nhằm tạo ra một sứ mệnh cầm quyền rõ ràng hơn.
Cấu trúc được thiết kế năm 2002 có xu hướng tạo nên sự bế tắc và cản trở việc ra quyết định tại Trung ương. Hơn nữa, cải cách khó có thể diễn ra vì bất kỳ dự thảo luật nào cũng phải được thông qua bởi DPR, mà cơ quan này không có động cơ để từ bỏ bất cứ quyền lực nào của mình. Duy trì khả năng cản trở Tổng thống phù hợp với mục tiêu của DPR. Nhìn từ góc độ này, khu vực hóa là sự cứu cánh, bởi vì nhiều quyết định quan trọng đã được trao lại cho các khu vực.
Cản trở lớn thứ hai đối với Indonesia là cơ sở hạ tầng. Khi bạn sở hữu 17.500 hòn đảo, khả năng kết nối những hòn đảo này trở nên rất cần thiết đối với sự phát triển kinh tế, bởi vì những trung tâm dân cư quan trọng cần được kết nối với nhau để cho sự tăng trưởng trong một khu vực sẽ tạo thuận lợi cho khu vực khác. Nhiều bến phà tốc hành và chuyến bay nội địa hơn sẽ giúp ích đáng kể. Việc xây dựng những cây cầu nối các đảo cũng sẽ vô cùng có lợi. Không có điều nào đang được thực hiện đủ. Cầu bắc qua eo biển Sunda, vốn sẽ là cây cầu dài nhất của đất nước nối đảo Sumatra và Java, hai đảo quan trọng nhất Indonesia, đã được nói đến trong nhiều năm rồi. Nếu được xây dựng, cây cầu này sẽ biến hai đảo này thành một đảo lớn, tạo ra nhiều tiềm năng kinh tế. Nhưng không may, lời nói đã không được biến thành hành động.
Các nhà phân tích Indonesia thấy rằng sự cải thiện cơ sở hạ tầng đã chậm lại so với thời kỳ Tổng thống Suharto. Chính phủ hiện tại đã tổ chức một loạt hội nghị cấp cao về cơ sở hạ tầng và đã lên những kế hoạch lớn nhằm nâng cấp đường giao thông và các hình thức liên kết khác, nhưng vẫn thiếu những dự án thực tế. Sự thất vọng càng lớn hơn bởi sự thật rằng rất nhiều người trong tầng lớp tinh hoa Indonesia thích tận hưởng kỳ nghỉ cuối tuần của mình tại Singapore. Cuối mỗi kỳ nghỉ ngắn, họ trở về với một ý thức mạnh mẽ rằng giao thông và các sân bay của chính họ đang cần sự đầu tư và phát triển rất lớn.
Cuối cùng, đất nước phải giải quyết với tình trạng tham nhũng tràn lan. Sự khu vực hóa đã không làm được gì để giảm thiểu tình trạng này, vì các tỉnh trưởng cũng đang đòi hỏi phần của họ trong chiếc bánh. Tham nhũng là kết quả của những kẽ hở ở tất cả các cấp chính quyền. Một đô la được chi ra, nhưng 10 xu bị rút ra ở đây và 20 xu ở kia, và đến lúc nó tới được người công nhân bình thường, hay nhà đầu tư nước ngoài đang cố gắng thu lợi nhuận, thì chỉ còn lại rất ít. Tổng thống Yudhoyono hiểu rằng phá bỏ tham nhũng khó khăn như thế nào một khi nó đã được cho phép hình thành. Việc đó sẽ cần sự hành động hết sức quyết đoán và lâu dài, và phải bắt đầu từ Trung ương. Nếu tham nhũng có thể được giảm xuống đáng kể, khi đó một tương lai mới có thể được tạo ra và một Indonesia mới là có thể.
Indonesia đã đạt thành tích không làm quá tệ trong thập kỷ vừa qua, liên tục tăng trưởng từ 4% đến 6%. Đất nước hầu như đã không bị ảnh hưởng bởi cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu. Họ đang thu hút đầu tư lớn từ Trung Quốc và Nhật Bản, nhờ vào sự giàu có về tài nguyên thiên nhiên. Tuy nhiên, trong khoảng 20 đến 30 năm tới, tôi sẽ rất ngạc nhiên khi nhìn thấy đất nước chuyển mình.  Malaysia có khả năng tạo ra những bước tiến lớn hơn. Họ nhỏ gọn hơn về mặt địa lý. Họ có hệ thống giao thông tốt hơn và một lực lượng lao động có khát vọng hơn.
Mặc dù sự phát triển tích cực đang diễn ra ở Indonesia, nhưng họ vẫn là một nền kinh tế dựa vào tài nguyên với lối suy nghĩ của những người muốn kiếm sống thông qua những gì mà thiên nhiên cung cấp hơn là những gì bạn có thể tạo ra bằng chính đôi tay của mình. Họ tin rằng họ có những nguồn tài nguyên đủ cho họ dùng trong một thời gian dài. Và họ có thể đúng. Họ có những vùng lãnh thổ lớn chưa được khai thác. Họ có dầu và khí đốt, chúng có thể bị cạn kiệt, nhưng họ cũng có gỗ và dầu cọ, không bị cạn kiệt, bởi vì đây là những sản phẩm nông nghiệp có thể được trồng lại nhiều lần. Những nguồn tài nguyên mà họ sở hữu có xu hướng tạo ra văn hóa an nhàn để nói rằng: “Đây là đất của tôi. Anh muốn những gì bên dưới đó phải không? Hãy trả tiền cho tôi để có nó”. Theo thời gian, điều này đã nuôi dưỡng một đặc tính không dám làm vốn sẽ không dễ dàng để khắc phục.
Hỏi:   Indonesia tiếp tục có những tham vọng quyền lực lớn và vì sự tăng trưởng của họ trong những năm qua, họ đã cải thiện được hình ảnh quốc tế của mình. Ấn tượng của ông đối với những tham vọng đó và tác động của chúng đối với Châu Á cũng như đối với một nước láng giềng nhỏ như Singapore là gì?
Đáp: Nhìn chung, Indonesia hy vọng Singapore ủng hộ họ trên vũ đài quốc tế. Tôi cho rằng nếu điều đó không chống lại lợi ích của chúng tôi, chúng tôi sẽ ủng hộ họ. Ở ASEAN, họ vẫn là nhà lãnh đạo trên thực tế. Họ có 240 triệu dân. Tất nhiên, nếu là 240 triệu dân trên một hòn đảo lớn, điều đó sẽ khác. Nhưng dù vậy, họ vẫn là quốc gia lớn nhất.
Hỏi:   Người ta cho rằng Indonesia trước đây đã làm cho ASEAN phát triển bằng cách cho phép các quốc gia khác, như Singapore và Malaysia, gây được sự chú ý. Họ không hống hách, không giống như Ấn Độ trong SAARC (Hiệp hội Hợp tác Khu vực Nam Á). Một Indonesia tự tin hơn có muốn tiếp tục giữ vị trí trung tâm ở ASEAN không?
Đáp: Chúng ta sẽ phải đợi xem. Nhưng ngay cả khi họ làm điều đó, tôi không thấy làm thế nào họ có thể lấy đi được những gì chúng tôi đã thiết lập cho chính mình, đó là một trung tâm thông tin, hậu cần, thương mại và đầu tư.
Hỏi:   Khi ông là Thủ tướng, một trong những đặc điểm rõ ràng trong quan hệ giữa Indonesia và Singapore là mối quan hệ gần gũi của ông với Tổng thống Suharto. Vì vậy, hai quốc gia đã phát triển sự hiểu biết lẫn nhau. Ông có thấy những khó khăn hay những vấn đề phía trước hay không khi mà mối quan hệ đó không còn nữa?
Đáp: Dù không còn sự qua lại như ngày xưa, nhưng Thủ tướng Lý Hiển Long thỉnh thoảng vẫn gặp Tổng thống Yudhoyono. Sự trao đổi thương mại thường xuyên được tiến hành thông qua những người Indonesia gốc Hoa. Điều này cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của việc Singapore phát triển một nhóm nòng cốt không phải là người Malay nhưng có thể nói tiếng Malay lưu loát để chúng tôi có thể duy trì những mối quan hệ này. Điều này là quan trọng nhằm xây dựng mối quan hệ tốt đẹp với cả Malaysia và Indonesia.
Hỏi:   Với sự thống trị của Trung Quốc ở phần này của thế giới, ông thấy mối quan hệ Indonesia-Trung Quốc sẽ phát triển như thế nào?
Đáp: Người Trung Quốc sẽ đối xử tôn trọng và lịch sự đối với họ. Họ muốn nguồn tài nguyên thiên nhiên mà Indonesia sở hữu và tôi thấy rằng mối quan hệ đó đang phát triển. Họ đã dỡ bỏ lệnh cấm, được áp đặt dưới thời Tổng thống Suharto, về việc dạy tiếng Trung và việc kỷ niệm những ngày lễ của người Trung Quốc. Vì vậy, sự tương tác với Trung Quốc sẽ lớn mạnh. Họ đang khuyến khích người Hoa của họ đến Trung Quốc để kinh doanh.
Hỏi:   Một vấn đề khác mà những nhà đầu từ nước ngoài, trong đó có Singapore, đã chú ý là việc gia tăng chủ nghĩa dân tộc kinh tế ở Indonesia. Các công ty bị áp lực phải tăng cổ phần của chủ  sở hữu địa phương. Ông nghĩ điều này sẽ diễn ra nhiều hơn hay ít đi?
Đáp: Nhiều hơn, tôi nghĩ vậy. Họ muốn có một phần bánh lớn hơn.
Hỏi:   Ông có thấy Indonesia vẫn còn là nơi ươm mầm của chủ nghĩa khủng bố không? Và sự gia tăng của lực lượng dân quân Hồi giáo có phải là một mối đe dọa đối với sự ổn định của Indonesia?
Đáp: Nếu bạn đọc các báo cáo, bằng cách nào đó Tổ chức Jemaah Islamiyah đã tuyển thêm một số tân binh ở Indonesia và họ đã tiến hành các vụ đánh bom ở Bali và khách sạn Marriott. Tuy nhiên, tôi thấy Indonesia khác với Malaysia. Malaysia là chủ nghĩa Hồi giáo cởi mởi hơn. Có những thay đổi quan trọng đang diễn ra ở Indonesia do ảnh hưởng của Ả-Rập Xê-út. Mô hình chủ nghĩa Hồi giáo của họ được lấy làm tiêu chuẩn vàng vì họ đã tổ chức những cuộc họp và chi trả chi phí cho những người Hồi giáo từ những khu vực khác của thế giới đến tham dự. Điều này dẫn đến  sự gia tăng của các nhóm chủ nghĩa Hồi giáo gây sức ép ở Indonesia. Tuy nhiên, những điều này không thay đổi đột ngột – đặc biệt là nếu nói về văn hóa của người dân.
*** 
THÁI LAN: Tầng lớp dưới gây khuấy động
Sự xuất hiện của Thaksin Shinawatra đã thay đổi vĩnh viễn nền chính trị Thái Lan. Trước khi ông ta nổi lên, Bangkok thống trị mọi mặt trong cạnh tranh chính trị và chủ yếu cai trị theo hướng vì quyền lợi của thủ đô của đất nước. Nếu trước đó có bất đồng nào trong giới tinh hoa Bangkok thì cũng không có điểm nào khủng khiếp như những bất đồng sắp xảy ra. Cũng không có bất hòa nào gây chia rẽ như những bất hòa nổi lên trong và sau nhiệm kỳ của Thaksin. Những gì Thaksin đã làm chính là đảo lộn tình hình nguyên trạng chính trị Thái Lan bằng cách chuyển cho các vùng nghèo hơn của đất nước những nguồn lực từng bị Bangkok và các cư dân trung, thượng lưu của nó chiếm phần lớn. Nền chính trị của Thaksin là kiểu chính trị mang tính hòa nhập hơn, cho phép nông dân từ phía bắc và đông bắc được chia sẻ tăng trưởng kinh tế của đất nước. Một hố sâu ngăn cách đã tồn tại từ trước khi ông xuất hiện trên chính trường, do các chính sách tập trung cho Bangkok của các vị tiền nhiệm gây ra. Tất cả những gì ông làm là thức tỉnh người dân về hố sâu này cùng sự bất công của nó, và đưa ra các giải pháp chính sách để vượt qua hố sâu ấy. Nếu ông không làm như vậy, tôi tin rằng ai đó khác cũng sẽ đến và làm điều tương tự.
Khi nhậm chức Thủ tướng năm 2001, Thaksin đã là một doanh nhân thành công và là một tỷ phú. Nhưng nếu người Thái giàu có trông chờ ông chứng tỏ tinh thần đoàn kết giai cấp, họ sẽ nhanh chóng bị thất vọng. Ông đã thực hiện các chính sách ưu đãi người nghèo nông thôn với một mức độ chưa từng có tiền lệ. Ông đã nới hạn các khoản vay cho nông dân, dành học bổng du học cho sinh viên con nhà nông thôn và cung cấp nhà ở được chính phủ trợ giá cho người nghèo đô thị, mà nhiều người trong số đó đã di cư ra thành phố để tìm việc làm và chỉ đủ tiền để sống trong các khu ổ chuột. Kế hoạch chăm sóc sức khỏe của ông – nhằm vào những ai không tự trả được bảo hiểm y tế – giúp người dân chỉ phải trả 30 baht (khoảng 1USD) cho mỗi lần khám bệnh.
Với những đối thủ của Thaksin, ông đã làm đảo lộn đất nước. Họ không muốn để ông yên thân với điều đó. Họ gọi ông là một kẻ dân túy và tuyên bố rằng các chính sách của ông sẽ khiến quốc gia phá sản. (Đáng chú ý là điều này không ngăn cản họ tiếp tục nhiều chính sách như vậy và tạo ra nhiều chính sách tương tự khi họ cầm quyền từ tháng 12-2008 đến tháng 8-2011.) Họ buộc ông phạm tội tham nhũng và ưu đãi công việc kinh doanh của gia đình, những cáo buộc mà ông đã bác bỏ. Họ cũng không vui vẻ với việc ông xử lý cứng rắn – mà một số người nói là độc tài –đối với truyền thông, cũng như cuộc chiến chống ma túy gây tranh cãi của ông ở miền nam đất nước, mà trong quá trình đó quy trình chuẩn mực và nhân quyền đôi khi có thể bị lơ là. Tuy nhiên, nông dân, với số lượng áp đảo, đã phớt lờ các chỉ trích và bầu lại ông năm 2005. Giới tinh hoa Bangkok cuối cùng đã không thể chịu đựng nổi con người này. Ông bị lật đổ trong một cuộc đảo chính quân sự năm 2006.
Kể từ đó, thủ đô của Thái Lan đã trải qua nhiều biến động. Từ năm 2008, cảnh hỗn loạn xảy ra nhiều lần trên đường phố Bangkok, với các cuộc biểu tình ồ ạt liên quan đến hoặc là phe Áo Vàng – những người phản đối Thaksin nhân danh bảo vệ chế độ quân chủ, hoặc là phe Áo Đỏ – gồm những người ủng hộ Thaksin nồng nhiệt. Nhưng cuộc tổng tuyển cử gần đây nhất – được tổ chức năm 2011 và trao chức Thủ tướng cho em gái của Thaksin là Yingluck – chứng minh cho sự ủng hộ của cử tri Thái đối với con đường mới mà Thaksin đã chọn cho Thái Lan. Những nông dân ở miền bắc và đông bắc sau khi đã được hưởng lợi từ việc tiếp cận vốn sẽ không từ bỏ điều đó. Thaksin và các đồng minh hiện đã chiến thắng năm lần tổng tuyển cử liên tiếp, trong các năm 2001, 2005, 2006, 2007 và 2011. Với các đối thủ của Thaksin, việc gắng sức đấu lại là vô ích.
Bất chấp những náo động gần đây trong xã hội Thái Lan, vẫn còn lý do để lạc quan về dài hạn. Áo Đỏ sẽ tiếp tục đông hơn Áo Vàng trong một thời gian dài vì nhóm sau hình thành từ một nhóm đang teo tóp. Thế hệ trẻ hơn đã không còn quan điểm kính trọng như trước đối với hoàng gia. Hơn nữa, mặc dù Vua Bhumibol Adulyadej là một nhân vật được kính trọng nhưng phần lớn uy tín và phép thuật liên quan đến ông sẽ không còn khi ông qua đời.
Quân đội luôn có vai trò trung tâm trong chính trị Thái Lan. Nó đảm bảo rằng không một phong trào nào chống lại chế độ quân chủ – nguồn gốc sức mạnh của quân đội – được phép ngóc đầu dậy. Tuy nhiên, cả quân đội cũng không còn lựa chọn nào ngoài việc chấp nhận và thích nghi với tình hình đã thay đổi. Suy cho cùng, họ cũng không thể trụ vững trước ý chí của giới cử tri trong một thời gian kéo dài. Qua thời gian, các cấp bậc cũng sẽ vào tay những binh lính thuộc thế hệ trẻ, ít say mê chế độ quân chủ hơn. Các nhà lãnh đạo quân đội sẽ tiếp tục bám lấy các đặc quyền và sẽ không hài lòng với việc bị giáng xuống thành một đội quân bình thường. Nhưng họ cũng sẽ học cách sống với một chính phủ do các đồng minh của Thaksin lập nên. Thậm chí quân đội còn có khả năng chấp nhận sự quay trở lại Thái Lan của Thaksin nếu ông có thể hứa hẹn sẽ hòa thuận với họ và không đòi trả thù.
Thái Lan không thể quay trở lại nền chính trị cũ, trở lại thời đại tiền-Thaksin khi giới tinh hoa Bangkok nắm độc quyền quyền lực. Thái Lan sẽ tiếp tục đi theo con đường mà Thaksin lần đầu dẫn đất nước bước vào. Khoảng cách về mức sống trên toàn đất nước sẽ thu hẹp lại. Nhiều nông dân sẽ được gia nhập tầng lớp trung lưu và sẽ giúp thúc đẩy tiêu dùng nội địa của đất nước. Thái Lan sẽ ổn.
Hỏi:   Một số nhà phân tích Thái Lan không lạc quan lắm về các thay đổi trong chính trị Thái Lan từ khi Thaksin xuất hiện. Họ nói về chuyện trong những năm 1960, các thủ tướng có thể phát triển kinh tế Thái Lan bằng các chính sách dài hạn, nhưng từ khi Thaksin nắm quyền năm 2001, chính phủ đã dùng đến các biện pháp dân túy ngắn hạn và phân phát cho người nghèo.
Đáp: Không, đó là quan điểm rất một chiều. Thaksin khôn khoan và sắc sảo hơn các nhà phê bình của ông ta nhiều. Đó là lý do tại sao ông ta cải thiện quan hệ với vùng đông bắc để vượt qua phản kháng từ họ.
Hỏi:   Nhưng tôi nghĩ người ta lo ngại về cuộc đua tới đáy, để gắng sức giành càng nhiều phiếu của nông thôn càng tốt.
Đáp: Thế anh lấy tiền đâu cho các trợ cấp?
Hỏi:   Vấn đề là ở chỗ ấy.
Đáp: Không thể, để trợ cấp được, anh phải có nguồn lực. Nó chỉ đến từ ngân sách. Và nếu anh muốn cho đi nhiều hơn mà ngân sách đã cân bằng rồi thì anh buộc phải tăng thuế.
Hỏi:   Hoặc cũng có thể đến từ vay mượn.
Đáp: Ai sẽ cho vay? Với tài sản thế chấp gì?
Hỏi:   Vậy ông không cho rằng Thái Lan sẽ trải qua một đợt tê liệt dài hạn vì sa vào nền chính trị dân túy?
Đáp: Tôi nghi ngờ điều đó. Sao họ lại thỏa mãn quá mức cho người nghèo làm gì?
Hỏi:   Ấn tượng của ông về Thaksin là gì?
Đáp: Ông ta là nhà lãnh đạo thực tiễn, tích cực làm việc chăm chỉ để đạt kết quả nhanh chóng. Ông tin tưởng vào kinh nghiệm kinh doanh và bản năng của mình hơn các lý thuyết kinh tế. Ông ta từng nói với tôi rằng ông ấy đã đi xe khách suốt từ Bangkok tới Singapore và ông ấy xác định là đã biết điều gì khiến Singapore thành công. Vì thế ông ấy sẽ làm theo cách tương tự. Tôi không biết liệu một chuyến đi có cho ông ấy hiểu được hộp đen của chúng ta chính là giáo dục, kỹ năng, đào tạo và một xã hội cố kết với các cơ hội bình đẳng cho tất cả hay không. Đừng quên rằng ở đông bắc có nhiều người dân tộc Lào hơn người Thái.
Hỏi:   Từng có một thời gian, ít nhất cách đây một thập niên, khi các lãnh đạo Singapore nói về Thái Lan như một đối thủ ghê gớm của Singapore với tư cách là một trung tâm giao thông, chế tạo và du lịch y tế. Điều đó còn đúng không?
Đáp: Hãy xem địa lý của họ. Anh có thể đi vòng qua Bangkok nhưng không thể nào đi vòng qua Singapore nếu đi bằng tàu biển.
Hỏi:   Thế còn đường không?
Đáp: Kỹ năng và giáo dục của họ cao ở mức nào? Họ phải giỏi hơn chúng ta [đã].
Hỏi:   Họ có tiềm năng để giỏi hơn chúng ta không?
Đáp: Trước tiên, chúng ta có lợi thế tiếng Anh. Thứ hai, chúng ta có cơ sở hạ tầng giáo dục đã đang tạo ra những sinh viên tốt nghiệp chất lượng cao, những người từ các trường bách khoa tới các viện giáo dục công nghệ (ITEs). Không ai là không có kỹ năng nào đó. Liệu họ có thể phát triển điều này cho 60 triệu dân rải khắp các vùng nông thôn không?
Hỏi:   Chúng ta có thể thảo luận địa chính trị của khu vực không? Thái Lan là đồng minh của Hoa Kỳ. Nơi đây từng được dùng làm một căn cứ của Hoa Kỳ trong suốt Chiến tranh Việt Nam. Liệu họ có tiếp tục làm đồng minh không?
Đáp: Điều đó không tạo khác biệt gì. Câu hỏi thật sự là : Liệu lợi ích của họ có trùng nhau? Anh có thể có một liên minh và liên minh đó sẽ vững chắc chỉ khi nào các lợi ích còn song trùng. Cũng giống như NATO. Họ đoàn kết khi còn Liên Xô. Khi Liên Xô tan rã, NATO trở nên vô hiệu.
Hỏi:   Có một quan điểm là thời điểm bước ngoặt xuất hiện khi Thái Lan gặp khó khăn với cuộc khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997 và người dân nhận ra là Hoa Kỳ đã không tới giải cứu họ. Và từ khi đó họ đã quyết định là Trung Quốc có thể là một người bạn còn đáng tin cậy hơn nhiều.
Đáp: Bởi vì giá trị của Thái Lan đối với Hoa Kỳ đã rớt xuống cùng với sự chấm dứt của Chiến tranh Việt Nam.
Hỏi:   Ông nhìn nhận thế nào về phản ứng của người Thái trước sự thống trị và ảnh hưởng ngày càng tăng của Trung Quốc tại khu vực này của thế giới?
Đáp: Anh biết lịch sử của người Thái rồi. Khi người Nhật còn mạnh và chuẩn bị tấn công Đông Nam Á, họ cho phép quân đội Nhật vào Thái Lan, giúp họ dễ dàng tiến vào Malaysia và Singapore. Bởi vậy hễ ai là phe đang thắng, ai là bên mạnh hơn, thì đó sẽ là bên họ liên minh cùng.
***
VIỆT NAM: Mắc kẹt trong tư duy xã hội chủ nghĩa
MYANMAR: Các vị tướng thay đổi phương hướng
Xem phần còn lại của văn bản tại đây: Ly Quang Dieu viet ve Dong Nam A va Viet Nam.pdf
- See more at: http://nghiencuuquocte.net/2014/01/14/ly-quang-dieu-ve-dna-va-vn/#sthash.a0CVXjRc.dpuf

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thế nữa!


SIM rác tứ quí 0975.00.8888

Sim rác số đẹp
Sim rác số đẹp
Từ khi tôi biết về cell phone (năm 1997) tới nay, lần đầu tiên biết có loại SIM rác. Trên mạng có hẳn những diễn đàn chuyên rao bán, trao đổi SIM rác. Bạn thử vào trang Mua rẻ sẽ thấy SIM bán như rác http://muare.vn/threads/20/2114494/.

Nói chuyện dùng điện thoại di động phải kể đến dân Hải Phòng. Nhớ thời cái Nokia mới xuất hiện ở Việt Nam những năm 1990, có tay buôn đá đỏ ở thành phố cảng lên Hà Nội mua một cái điện thoại di động, hồi đó giá cỡ cây vàng, to bằng nửa củ gạch.
Cứ vài hôm anh lại lên Hà Nội mua pin. Tay chủ cửa hàng thấy lạ, hỏi, sao thế. Bảo, tôi thấy hết pin nên vứt đi rồi. Hóa ra tay chơi giầu có không biết sạc pin.
Dân Hải Phòng chơi cell phone thuộc về đẳng cấp. SIM rác cũng phải số xịn, tứ quí. Như Tiền phong Online đưa tin, SIM rác tứ quí 0975.00.8888 chính là SIM mà anh Dương Chí Dũng dùng nghe cuộc gọi điện từ “ông anh Phạm Quí Ngọ – Thứ trưởng Bộ CA” báo tin sẽ bị khởi tố, bắt giam.
Báo online mà biết cả số SIM của Dương Chí Dũng thì làm sao bên cảnh sát điều tra không biết.
Là người thỉnh thoảng giúp mua bán, đôi khi trực tiếp lắp đặt tổng đài cho văn phòng nên tôi biết hệ thống phone hoạt động như thế nào. Thông thường, tổng đài có một phần mềm tính tiền (billing system), ghi lại tất cả các cuộc gọi đến, gọi đi, ngày, giờ, chính xác đến từng phút, từng giây vào máy tính.
Dù là SIM rác nhưng hệ thống billing vẫn có khả năng ghi lại hết các chi tiết các cuộc gọi như các SIM bình thường vì cần phải tính tiền khi nào hết số phút có trong SIM.
Đây là câu chuyện cảnh sát điều tra có muốn làm hay không thôi. Họ có quyền sờ đến thì các hệ thống tổng đài thứa sức cung cấp, ngày nào, giờ nào, số tứ quí kia đã gọi vào số nào, hoặc ai gọi đến số này. Chưa chừng số 0975.00.8888 hiện vẫn đang thuộc về sở hữu của ai đó.
Chống tham nhũng không có vùng cấm thì sẽ tìm ra số tứ quí kia, lịch sử các cuộc gọi, sang tên đổi chủ ra sao. Nhưng có vùng cấm thì ta sẽ nghe được thông báo, số điện thoại quí khách gọi hiện không liên lạc được, có thể ngoài vùng phủ sóng, xin hẹn đến vụ Vinalines sau.
HM. 14-01-2014
PS. Xin mời các bác đối: SIM rác quý gọi ngựa quý sinh ra Chí 
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Biển Nóng!

Lệnh cấm mới của Bắc Kinh tại Biển Đông: Cần sự phản đối tập thể của ASEAN


Nhà cầm quyền Trung Quốc mới công bố lệnh cấm đối với tàu các nước vào Biển Đông (xem sơ đồ vùng cấm bên). Theo sơ đồ này, đường cấm mới áp sát lãnh thổ các nước ven Biển Đông, chỉ cách Đà Nẵng của Việt Nam khoản 50 km. Đây là một bước leo thang mới có tính toán kĩ lưỡng của nhà cầm quyền Trung Quốc.  Bước leo thanh "đòi chủ quyền"này đang bị đầu  dư luận khu vực và quốc tế lên án. Ngày 9-1 người phát ngôn Bộ Ngoại giao Mỹ Jen Psaki tuyên bố: “Việc hạn chế hoạt động đánh cá của các nước khác trên vùng biển tranh chấp ở biển Đông là hành vi khiêu khích và có thể gây nguy hiểm. Trung Quốc không hề đưa ra lời giải thích hay cơ sở luật pháp quốc tế nào đối với những yêu sách này. Quan điểm của chúng tôi luôn là các bên cần tránh những hành động đơn phương gây căng thẳng và hủy hoại cơ hội giải quyết tranh chấp bằng các biện pháp ngoại giao và hòa bình”.
Ôn này cũng cho biết các quan chức ngoại giao Mỹ ở Bắc Kinh đã lên tiếng phản đối đến Chính phủ Trung Quốc.
Trong khi đó, báo Manila Standard Today đưa tin Chính phủ Philippines khẳng định sẽ bảo vệ chủ quyền lãnh thổ nước này trước sự đe dọa của Trung Quốc. Bộ Quốc phòng Philippines nhấn mạnh nước này sẵn sàng đối phó với việc tàu Trung Quốc xâm nhập lãnh thổ Manila. “Chúng tôi sẽ bảo vệ nguồn tài nguyên của nước mình” - một người phát ngôn Bộ Quốc phòng Philippines cho biết.
Bộ Ngoại giao Philippines khẳng định quy định mới của Trung Quốc là hành vi vi phạm nghiêm trọng luật pháp quốc tế. “Các quy định này vi phạm tự do hàng hải và quyền đánh bắt cá trên biển theo UNCLOS - Bộ Ngoại giao Philippines nhấn mạnh - Hành vi của Trung Quốc sẽ làm leo thang căng thẳng, khiến tình hình biển Đông thêm phức tạp, đe dọa hòa bình và ổn định khu vực”.
Giáo sư Renato C. De Castro thuộc ĐH De La Salle (Philippines) nói với Báo Tuổi Trẻ (Việt Nam):"Hành động của Trung Quốc không chỉ để khẳng định chủ quyền trên biển Đông và gây sức ép với các nước láng giềng mà còn là bài thử đối với quyết tâm “tái cân bằng lực lượng” của Mỹ tại châu Á". Ông cảnh báo tàu cá các nước Đông Nam Á như Việt Nam và Philippines sẽ phải đối mặt với các tàu cảnh sát biển Trung Quốc và cả tàu hải quân nước này.
Trước đó, Giáo sư Carl Thayer thuộc Học viện Quốc phòng Úc khi trả lời Tuổi trẻ nhận định đây là hành vi leo thang căng thẳng nghiêm trọng của chính quyền Trung Quốc. “Trung Quốc có quyền quản lý trong vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) 200 hải lý tính từ đường bờ biển đảo Hải Nam. Tuy nhiên với quy định này Bắc Kinh đã hành động bất hợp pháp, vượt ra ngoài phạm vi hợp pháp của nước này”.
Giáo sư Thayer bình luận: "Quy định mới này nhằm tạo cơ sở pháp lý cho những gì chính quyền Trung Quốc đã làm từ nhiều năm nay. Đó là quấy rối tàu cá nước ngoài trên biển Đông, thu giữ lượng cá đánh bắt được và các thiết bị, phạt tiền thủy thủ... “Hành động của chính quyền tỉnh Hải Nam sẽ làm leo thang căng thẳng và gây phương hại, nếu không muốn nói là phá hủy các cuộc đàm phán giữa ASEAN và Trung Quốc về Bộ quy tắc ứng xử trên biển Đông (COC)”.Ông cũng cho rằng vụ việc này một lần nữa cho thấy chiến lược của Trung Quốc là dùng luật pháp trong nước để thúc đẩy việc đòi chủ quyền. “Phải nhấn mạnh một lần nữa rằng vùng biển trên là vùng biển quốc tế. Với hành động này, Bắc Kinh thể hiện rõ ý đồ buộc các nước phải thừa nhận việc nước này đòi chủ quyền trên biển Đông. Tuy nhiên biển Đông rất rộng và chính quyền Trung Quốc sẽ khó có thể thực thi quy định này ở khắp mọi nơi trên vùng biển này”.
Tiến sĩ Ian Storey của Viện nghiên cứu Đông Nam Á tại Singapore thì xác định: "Trung Quốc chỉ có quyền buộc tàu bè nước ngoài xin phép hoạt động trong EEZ của nước này tính từ bờ biển đảo Hải Nam. Việc quy định mới áp dụng bên ngoài phạm vi EEZ của Trung Quốc là hành vi sai trái, có thể gây căng thẳng với các nước láng giềng trong khu vực. “Các nước có thể phản ứng bằng cách điều động tàu bảo vệ các đoàn tàu cá, nhưng đây là biện pháp tốn kém và làm tăng nguy cơ đụng độ trên biển”.
Trước việc này, ngày 10-1, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Lương Thanh Nghị đã lên tiếng phản đối hàng loạt hành động mà Trung Quốc thực hiện gần đây nhằm hiện thực hóa những yêu sách phi pháp của mình ở biển Đông. Ông Nghị đã yêu cầu Trung Quốc hủy bỏ những việc làm sai trái đó để đóng góp thiết thực vào việc duy trì hòa bình, ổn định tại khu vực. “Những hoạt động nêu trên của phía Trung Quốc là bất hợp pháp và vô giá trị, xâm phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam ở biển Đông theo Công ước Luật biển Liên Hiệp Quốc (UNCLOS), không phù hợp với Thỏa thuận về những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển giữa Việt Nam và Trung Quốc, trái với tinh thần Tuyên bố về ứng xử của các bên ở biển Đông (DOC) giữa ASEAN và Trung Quốc, làm phức tạp thêm tình hình biển Đông”.

Trao đổi với Tuổi Trẻ, ông Đinh Hoàng Thắng - nguyên đại sứ Việt Nam tại Hà Lan - cho biết đây không phải là việc Trung Quốc nhắc lại lệnh cấm thường niên từ tháng 5 đến tháng 8 mà là lần đầu tiên Trung Quốc đưa ra yêu cầu pháp lý rõ ràng đối với ngư trường tranh chấp mà Việt Nam, Philippines, Malaysia, Brunei và các nước khác trong khu vực cùng tuyên bố chủ quyền. “Các nước lớn và các thành viên ASEAN, trong đó có Việt Nam, nếu làm ngơ hay phản ứng không đúng mức đối với cái lệnh phi pháp này thì Bắc Kinh sẽ lấn tới và hậu quả là khôn lường. Nhưng nếu tất cả các nước có chung tiếng nói, lấy UNCLOS làm hệ quy chiếu, lấy chính những tuyên bố và cam kết song/đa phương của Trung Quốc để đấu lại thì vấn đề sẽ khác” .
Nhìn toàn cảnh thấy rằng, sau vụ Bắc Kinh công bố Vùng nhận dạng hàng không ADIZ (thực chất là vùng kiểm soát bay) trên biển Hoa Đông đã làm dấy lên sự phản đối rất quyết liệt từ Nhật Bản, Hàn Quốc, Mĩ, Úc và nhiều nước khác. Dư luân cho rằng sớm muộn Trung Quốc cũng sẽ công bố ADIZ  trên Biển Đông. Biện pháp cấm tàu mới đây có thể là một phép thử để căn cứ vào mức độ phản đối quốc tế Bắc Kinh sẽ tính bước tiếp theo. Trong bối cảnh này, một sự phản đối tập thể của khối ASEAN là rất cần thiết. Tuy nhiên liêu ASEAN có thể thống nhất với nhau đưa ra một tuyên bố phản đối tập thể hay không còn phụ thuộc vào nội tình của khối này./.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Năm lý do tại sao người Nga chết sớm hơn người châu Âu

 

Пять причин, почему россияне умирают раньше европейцев


Kichbu theo: finmarket.ru

Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã tiến hành nghiên cứu quy mô lớn về mức  sống và sức khỏe của người dân châu Âu.

Nga là một trong những nước có tuổi thọ thấp nhất - đàn ông Nga sống trung bình 63 năm, còn phụ nữ - 75 năm. Để so sánh, ở nước lành mạnh nhất của châu Âu - Tây Ban Nha - người dân sống trung bình 85 năm. Nếu tin những kết luận của WHO, thì người dân Nga  tự mình có lỗi trong việc sớm tử vong.

1) Nga tiêu diệt những thay đổi kinh tế ...

Tình hình kinh tế ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe của người dân. Nga trong ý nghĩa này trong 20 năm qua đã không gặp may. Trong hai thập kỷ qua, Nga đã trải qua những cú sốc lớn - sự sụp đổ của Liên Xô, giá cả tăng chóng mặt, default. Danh sách này có thể còn tiếp tục một thời gian dài và rất dài. Những sự kiện này đã ảnh hưởng xấu đến sức khỏe của người dân.

2) ... và tham nhũng

Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng giữa môi trường xã hội và sức khỏe con người có mối liên hệ chặt chẽ. Nga cho đến nay vẫn đang trong tình trạng tương tự như hội chứng sau chấn thương làm suy yếu sức khỏe của người dân.

Trong nước này có một trong những mức thấp nhất của niềm tin vào xã hội trong khu vực.Ngoài ra, ở Nga một trong những mức cao nhất của nạn tham nhũng trên thế giới. Theo nghiên cứu của một tổ chức quốc tế Transparency International chống nạn hối lộ, Nga đứng thứ 133 trong số 174 nước.

Nghi kỵ  và kỳ vọng muôn thủa  đánh lừa người khác đã trở thành một trong những yếu tố làm giảm tuổi thọ của người Nga trong những năm 90. Vào những những năm 2000, tình hình bắt đầu được cải thiện đôi chút: vào năm 2009, tuổi thọ của đàn ông tăng lên đến 63 năm, phụ nữ - 75 năm.

Nhưng còn lâu Nga mới đạt được những chỉ số của Liên Xô - vào năm 1965, tuổi thọ trung bình của nam giới là 64,5 năm. Bản thân người Nga tự đánh giá sức khỏe của họ là rất tồi tệ.Nga chiếm vị trí thứ tư theo tỷ lệ  người dân cho rằng sức khỏe của họ rất yếu. Ở Latvia, Ba Lan và Ukraina người dân còn cảm thấy sức khỏe của họ kém hơn.

3) Học kém - chết  sớm

Các chuyên gia của WHO phát hiện ra rằng trình độ học vấn ảnh hưởng đến tỷ lệ tử vong.Trình độ học vấn thấp bao nhiêu, con người sống ít năm bấy nhiêu. Nga xác nhận số liệu thống kê này.

Từ năm 1989 đến năm 1993 tại Nga tỷ lệ tử vong ở nam giới có học vấn thấp tăng 57%, trong số nam giới có trình độ đại học - 35%. Ở phụ nữ, con số này  tăng lên 30% và 8% tương ứng.

Vào năm 2000, trình độ học vấn của người Nga giảm sút. Theo hệ thống kiểm tra kiến ​​thức quốc tế PISA vào năm 2000, học sinh phổ thông 15 tuổi đến từ Nga chiếm vị trí 25 trong số 32 nước. Theo kết quả kiểm tra trong năm 2009, người Nga bị xếp thứ 41 trong số 65 nước.Điều này cho phép lập luận rằng tỷ lệ tử vong ở Nga sẽ tiếp tục phát triển.

4) Nga: hút thuốc ở đây

Ở Nga, tỷ lệ người dân hút thuốc lá lớn nhất  châu Âu (trên 60%), WHO xác định. Đồng thời các nhà nghiên cứu nhận thấy một quy luật thú vị -  tấng lớp giàu nhất và nghèo nhất hút thuốc lá nhiều hơn cả, trong khi đó tầng lớp trung lưu ít bị tổn hại hơn vì thói quen này.

Nhưng bù lại, các nhà nghiên cứu không xác nhận về việc người Nga say rượu muôn thủa.Theo mức độ tiêu thụ rượu Nga có thể so sánh với Bồ Đào Nha, Croatia và Pháp – người Nga uống ít hơn 15 lít rượu mỗi năm. Thật vậy, nếu các nước châu Âu công dân tiêu thụ rượu đắt tiền như bia, thì ở Nga họ thường uống rượu lậu, và đồ uống độc hại đối với sức khỏe.

5) Người Nga đang hủy hoại môi trường tự nhiên, còn môi trường tự nhiên tiêu diệt họ

Nga đang có vấn đề lớn với môi trường sinh thái. Hai trong mười điểm ô nhiễm nhất trên thế giới là ở Nga: đó là Norilsk và Dzerzhinsk.

Ở một số vùng của Nga (ví dụ, ở vùng Cavkaz) có vấn đề với việc tiếp cận nước uống. Ngoài ra trong những năm gần Nga bị bao phủ bởi "sóng nhiệt", như nắng nóng chưa từng thấy mùa hè năm 2010. Biến đổi thời tiết gây ra một số lượng lớn các trường hợp tử vong bổ sung. Tuy nhiên, chính phủ hiện vẫn không làm bất cứ điều gì để chuẩn bị đối phó với chúng.

-----

Phần nhận xét hiển thị trên trang