Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Bảy, 23 tháng 11, 2013

Hành trình thơ" Đánh thức tiềm lực"


Nguyễn Duy
Ảnh bên: Từ trái qua phải: Nguyễn Duy, Nguyễn Quang Sáng, ông Sáu Dân, Trịnh Công Sơn

1.Hồi này, thời thế “dễ thở hơn” rồi. Thẫn thờ nhớ một “thời khó thở”, thời hậu chiến gian khổ, kéo dài hơn một thập kỷ sau 1975.
30.4.1975 – cả dân tộc thở phào nhẹ nhõm trút gánh nặng 30 năm máu lửa khốc liệt.
Một thằng lính làm thơ là tôi, không chỉ thở phào mà còn nhảy dựng lên, hát tóang lên:

“…Tôi đi tìm thân nhân qua rừng già nguyên thủy/ tôi đi tìm thân nhân qua rừng kẽm gai Mỹ/… Hỡi ai không gặp thân nhân/ xin cùng tôi chung mái nhà ấm áp/ là nguyên vẹn Nhân Dân - Tổ Quốc/ ta hành hương trên đất đai sum họp/ nơi nào cũng có thân nhân!...” ( Tìm Thân Nhân – 1975).
Phơi phới vui hòa bình, thống nhất. Và hi vọng xanh rờn. Trên đất đai này chỉ còn người Việt Nam với nhau. Đã có người tếu táo rằng: “ Từ nay sẽ không còn kẻ ngọai bang nào dám đụng đến cái lông chân của người Việt Nam !”.Vậy mà, đáng tiếc thay, chính người Việt Nam với nhau lại đưa nhau vào một thời ngạt thở mới.

Thời đó, sau 1975, bạt ngàn lính giải ngũ, trở lại nơi xóm làng xơ xác sau chiến tranh. Triệt để hợp tác hóa ở nông thôn. Đánh tư sản, triệt nhà giàu ở thành thị. Kẻ vào trại học tập cải tạo, không bản án, không thời hạn. Người ra biển vượt biên không hẹn ngày về, phó mặc sinh mạng cho sóng gió và ma quỉ. Đất nước liền một dải mà lắm nhà lại lâm cảnh li tán. Mà cõi lòng lại đau nỗi cắt chia mới. Lương thực viện trợ của ngọai bang như hồi chiến tranh không còn nữa. Nạn đói hòanh hành khắp nước. Đột ngột lính Pôn-pốt tràn sang, thảm sát dã man dân lành suốt một dải biên giới tây-nam. Lại đột ngột súng nổ, lại chết người, lại cháy nhà, suốt tòan tuyến biên giới phía bắc. Một thằng lính làm thơ là tôi đã cởi áo lính rồi, lại cùng lính ra mặt trận phía Nam, lên mặt trận phía Bắc. Lại đột ngột làm thơ trận mạc: “…Biên ải xưa giặc dã mới tràn vào / máu lửa ngỡ cũ rồi mà vẫn mới / gian truân xưa cứ tưởng đã cũ rồi…” (Lên mặt trận ngày đầu – Lạng Sơn 17.2.1979).

Nền kinh tế quốc gia “tụt dốc theo chiều rơi thẳng đứng” (chữ của nhà thơ Tố Hữu -Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng lúc bấy giờ). Lại thiếu gạo. Lại đứt bữa. Lại thấy người ăn mày đầy đường. Lại ăn độn đủ cả sắn, ngô, khoai, bo bo, mì sợi, mì bột, mì hột. Nhà tôibắt đầu nuôi lợn trên lầu ba, nâng con lợn lên ngang tầm thời đại…

2.
Thời đó, gia đình tôi ở trong khu tập thể Hội Văn Nghệ thành phố:…lầu ba, nhà 190 Nam Kỳ Khởi Nghĩa/ tiếng tắc kè nhỏ giọt trong đêm/ tiếng mưa rừng nhỏ giọt trong trí nhớ/ vết đạn trên tường dù trát lại vẫn có màu vôi khác… Nghe tiếng tắc kè kêu trong thành phố, nhìn thấy ánh trăng một đêm cúp điện, lại nhớ về những cánh rừng xưa, những bạn lính cũ. Lại thương đến nhão lòng những ước mơ đơn sơ, mộc mạc một thời. Về với mẹ. Về với vợ con. Về với thanh bình vườn ruộng. Về để làm cho dân giàu nước mạnh. Sắp về!...Sắp về!... Con tắc ke, trên rừng cây “giơ xương trắng lên trời” do chất độc khai quang hồi đo, nó nói thế. Nó nhắc thế. Nó cứ điệp khúc thế. Cái điệp khúc mơ của người lính trận.

Đến lúc nghe tiếng tắc kè kêu trong thanh phố, một cựu binh là tôi lại bắt đầu mơ một điệp khúc mơ đơn sơ mộc mạc khác: “Hãy thức dậy, đất đai/ cho áo em tôi không còn vá vai/ cho phần gạo mỗi nhà không còn thay bằng ngô, khoai, sắn…”.

Và, bắt đầu một nỗi day dứt khác: “…Khóang sản tiềm tàng trong ruột núi nonchâu báu vô biên dưới thềm lục địarừng đại ngàn bạc vàng là thếphù sa muôn đời sữa mẹsông giàu đằng sông và bể giàu đằng bểcòn mặt đất hôm nay – em nghĩ thế nào?lòng đất rất giàu, mặt đất cứ nghèo sao?...”

Đó là nỗi day dứt của một thường dân. Kèm theo, là nỗi day dứt của một thừơng dân làm thơ:…Lúc này ta làm thơ cho nhauđưa đẩy mà chi mấy lời ngọt lạtta ca hát quá nhiều về tiềm lựctiềm lực còn ngủ yên…

Từng chút, từng chút, ý tứ bài thơ Đánh Thức Tiềm Lực (ĐTTL) tượng hình dần trong tâm trí tôi, đến đầu năm 1980 mới ngọ nguậy nở thành từng con chữ trên giấy. Những dòng chữ nặng nề và chậm chạp chở lênh đênh tâm sự trầm buồn và chân thật như bọt bèo, như rều rác bập bềnh trôi trên dòng sông tuổi thơ.

Khởi hành từ bờ bãi sông Hồng/ trong màu mỡ phù sa máu lõang/ mương máng, đê điều ngổn ngang chiến hào/ điệu múa cổ cũng chậm buồn như đói… tôi đi qua những chặng đường miền Trung bỏng rát và dai dẳng/ đất nứt nẻ ngỡ da người nứt nẻ/ hạt thóc ở đây cũng chết đi sống lại/ hạt gạo cũng kết tinh như hạt muối/ cây lúa đứng lên cũng đạp đất đội trời… rồi vào tới phương Namchâu thổ mới bồi/ sông Cửu Long tự giãn mình ra biển/ cây mắm cây tràm lặn lội mở đường đi… Ở đâu tôi cũng thấy đất nước của ba miền cày ruộng/ chưa đủ no cho đều khắp ba miền/ ta ca hát quá nhiều về tiềm lực/ tiềm lực còn ngủ yên…Tôi định viết chừng vài ba chục dòng như vậy.

Thêm rồi bớt, viết rồi sửa, đến giữa năm 1982 bài thơ dài ra thành vài trăm dòng. Tôi tự thấy nó còn nôm na lắm, ngôn ngữ thơ chưa được. Nhưng cái được ở đây là cái tâm tình thật của tôi. Thôi, cứ để thế. Tôi dừng bài thơ lại với đọan kết: Tôi muốn được làm tiếng hát của em/ tiếng trong sáng của nắng và gió/ tiếng dẻo dai đòn gánh nghiến trên vai/ tiếng trần trụi lưỡi cuốc/ lang thang khắp đất nước/ hát bài hát Đánh Thức Tiềm Lực!

3.
Bài thơ đi từ trong lòng ra nên tôi thuộc lòng nó ngay từ lúc vừa viết vừa sửa, cứ lẩm bẩm một mình như lên cơn thần kinh. Thời đó, thơ như thế là “gai góc” quá, thậm chí là “phản động”, không những bị cấm in mà còn bị cấm đọc. Cái thời, hễ có ai phát ngôn khác đi so với công thức phát ngôn chính thống thì đều bị qui là “phản động”, bị “kiểm thảo”, bị “kỷ luật”, nặng hơn thì bị bắt giam. Những “tấm gương tày liếp” mà tôi nhìn thấy còn sờ sờ ra đó, nhiều người trong nhóm Nhân Văn Giai Phẩm, thực chất họ là những người lính xung kích, những nhà tiên phong của thời đại, hăng hái “nói thẳng, nói thật” hoặc “cầm đèn chạy trước ô-tô”… đã bị kết tội chính trị, bị bỏ tù, bị “cải tạo lao động”, bị đuổi việc, bị cấm viết… Còn những “tấm gương tày trời” mà tôi chỉ nghe đồn thôi thì nhiều lắm lắm.

Bản thân tôi, năm 1973-1974 ở Hà Nội, cũng đã từng khốn đốn, lao đao vì mấy bài thơ “có vấn đề”( Thơ tặng người ăn mày – cóvấn đề: bôi nhọ miền Bắc Xã Hội Chủ Nghĩa, Đứng lại: chủ nghĩa nhân đạo chung chung, Đối thọai trước khi đổi chỗ: hàm ý nổi lọan…) bị viết bản “tự kiểm” (14 trang giấy khổ lớn, hồi ấy gọi là “giấy năm hào hai”), bị an ninh quân đội thẩm vấn, bị xếp vào đám “hậu Nhân Văn” (chữ của nhà thơ Chế Lan Viên trong một cuộc họp tại Hội Nhà văn VN lúc bấy giờ) cùng với những Hòang Cát (truyện ngắn Cây táo ông Lành), Phạm Tiến Duật (bài thơ Vòng trắng), Ngô Văn Phú (bài thơ Sẹo đất), Võ Văn Trực (bài thơ Chim báo bão),v.v… May thay, cuộc Tổng tấn công mùa xuân 1975 bùng nổ, rồi thống nhất đất nước… Sự kịên lịch sử lớn lao xóa phăng đi cuộc sát phạt nhỏ mọn trong làng văn tù túng, lũ chúng tôi bỗng tự nhiên thóat nạn.

Thế mà, ngay khi tôi vừa viết xong bài ĐTTL, đột ngột được tin lão thi sĩ Hòang Cầm bị tống ngục Hỏa Lò chỉ vì tội tự ý tán phát bản chép tay tập thơ Kinh Bắc của chính ông, trong đó có bài Lá Diêu bông “ám chỉ Chủ Nghĩa Xã Hội là không tưởng”. Tiếp đó, tin bạn thơ Hòang Hưng cũng bị tóm cổ (và sau này tôi mới biết anh bị đưa đi tù không án 3 năm) vì trọng tội làm một số bài thơ chưa in nhưng có “vấn đề”, cộng với tội lưu giữ thơ Kinh Bắc của họ Hòang. Tin dữ khiến tôi không khỏi chột dạ. Tự xem xét lại mình, thơ của tôi rõ ràng là có “ rất nhiều vấn đề”. Xin nhớ cho, lúc đó là giữa năm 1982.

“… Lời nói thật thà có thể bị xử tội/ lời nịnh hót, dối lừa có thể được tuyên dương/ Có cái miệng làm chức năng cái bẫy/ sau nụ cười là lởm chởm răng cưa/ có cái môi mỏng ráp hơn lá mía/ hôn má bên này bật máu má bên kia/ có trận đánh úp nhau bằng chữ nghĩa/ khái niệm bắn đi không biết lối thu về…/ Cần lưu ý có lắm nghề lạ lắm/ nghề mánh mung cứa cổ bóp hầu nhau/ nghề chửi đổng, nghề ngồi lê, nghề vu cáo/ nghề ăn cắp lòng tin và chẹt họng đồng bào/ có cả nghề siêu nghề gọi là nghề không làm gì cả/ thọc gậy bánh xe cũng một thứ nghề…”( ĐTTLđoạn viết năm 1980).

Viết thế ấy thì in ở đâu, và đọc cho ai? Chỉ dám đọc chơi với vài bạn rượu tri kỷ. Được đọan nào “rỉ tai” đọan nấy, từng đọan, từng đọan rời rạc. Nhà văn Nguyễn Quang Sáng an ủi tôi: “ Cứ đợi đấy, rồi sẽ đến hồi có người nghe và có người in”. Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn thì “triết” hơn: “ Sự chân thành tự nó hóa giải bế tắc. Hãy xem lại cái cây mình có thật ngay thẳng không. Cây ngay chẳng sợ chết đứng”. Tôi đã thấy những “cây ngay” mà vẫn bị “chết đứng”, nên lòng cứ thấp thỏm một nỗi lo ngại không xác định, tự nhủ mình phải giữ gìn, chớ hớ hênh mà rước vạ.

4.

Khốn nỗi, cũng giống như có ghẻ phải gãi, có thơ không thể không đọc. Không được in thì cứ đọc, mai sau dù có ra sao cũng đành… (một câu hát của Trịnh Công Sơn). Oái oăm thay, lần đầu tiên tôi công bố ĐTTL, đọc liền mạch hòan chỉnh tòan bài thơ, lại là đọc tặng một người thuộc lớp người “đáng sợ” nhất lúc bấy giờ: ông Sáu Dân, tức Võ Văn Kiệt – Uỷ viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy thành phố Hồ Chí Minh.

Hồi đó, khỏang đầu thu năm 1982, ông Sáu chuẩn bị thôi giữ chức Bí thư Thành ủy để ra Hà Nội làm Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng kiêm Chủ nhiệm Ủy ban Kế họach Nhà nước. Ông Nguyễn Quang Sáng chợt nảy sáng kiến họp mặt vài anh em bạn ruột (ngay tại căn hộ lụp xụp của ông trong khu tập thể 194 B. Nam Kỳ Khởi Nghĩa) để mời ông Sáu đến…chơi! “Quí trọng ông Sáu thì tụi mình mới mời ổng uống li rượu đế. Trước, để coi ổng có chịu chơi không. Sau, để nói thẳng nói thật với ổng chút ít tâm sự của tụi mình về tình hình thế sự”. Ông Sáng xác định “mục đích và ý nghĩa” cuộc gặp như vậy, rồi gọi điện thọai “thử ” xin nói trực tiếp với ông Sáu. Ông Sáu nhận lời ông Sáng.

Cuộc “chơi” hôm đó thật thoải mái và vui vẻ. “Phe văn nghệ” có nhà văn Nguyễn Quang Sáng, nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, Trần Long Ẩn, nhà thơ Nguyễn Bá (từ Cần Thơ lên) và tôi. “Phe chính trị” có mỗi ông Sáu.

Với nét cười hồn hậu, cởi mở, ông Sáu nói rất ít, không một lời “huấn thị”, chỉ kể một kỉ niệm vui vui hồi chiến tranh, rồi chăm chú lắng nghe chúng tôi hát và “tự do ngôn luận”. Nguyễn Quang Sáng nói chuyện viết và lách, viết đã khó, lách còn khó hơn.Trịnh Công Sơn vừa hát tình ca vừa góp ý với lãnh đạo thành phố về vấn đề…ẩm thực. Trần Long Ẩn trổ tài “ca bài ca cà chớn”, những ca khúc lời nhại hài hước diễu cợt cả thời đại. Còn tôi, không biết nói gì hơn là “xin đọc tặng anh Sáu một bài thơ vừa ráo mực, bài “Đánh Thức Tiềm Lực”…

5.

[ Xin chèn ngang một mẩu chuyện cũ…Tôi chỉ mới được gặp ông Sáu có mỗi một lần, khỏang giữa năm 1981, trong buổi tổng kết cuộc sinh họat chính trị (do nhà thơ Bảo Định Giang điều hành) chuẩn bị thành lập Hội Nhà văn TP.HCM. Thấy nhiều người đọc thơ tặng ông Sáu, tôi cũng đọc, bài Ông già Hậu Giang ngang tàng ( bản in sau đó đổi ra Ông già Nam Bộ), và bài Bán vàng – để “báo cáo” với Bí thư Thành ủy về đời sống thực của số đông thi sĩ lúc bấy giờ. Khúc dạo đầu còn e ngại lắm, nơm nớp lo có người ngăn cản: “…Tâm hồn ta là một khối vàng ròng/ đành đem bán bớt đi từng mảnh nhỏ/ Ta mơ màng, ta uốn éo, ta lả lơi/ để mặc kệ mái nhà xưa dột nát/ mặc kệ áo quần thằng cu nhếch nhác/ mặc kệ bàn tay mẹ nó xanh xao/ ta rất gần bể rộng với trời cao để xa cách những gì thân thuộc nhất”…
Không bị ai chặn lời, tôi mạnh dạn “làm tới”: “…Cái ác biến hình lởn vởn quanh ta/ tai ách đến bất thần không báo trước/ tờ giấy mong manh che chở làm sao được/ một câu thơ chống đỡ mấy mạng người/ Vợ chồng ngủ với nhau đắn đo như vụng trộm/ không cái sợ nào bằng cái sợ sinh con/ hạnh phúc lớn vòng tay ôm không xuể…”.

Vẫn không thấy ai chặn lời. Phòng họp lặng ngắt. Tôi bình tâm kết thúc bài thơ:

Thì bán bớt đi một ít vàng ròng / để sống được qua ngày gian khổ đã/ phải sống được qua cái thời nghiệt ngã/ để khối vàng đây chỉ đổi lấy mây trời!

Sau cuộc họp đó, tôi không những không bị “ búa ” như dự đoán của tôi và của nhiều người khác, mà lạ thay, còn được người thư kí của Bí thư Thành ủy tìm gặp: “ Anh Sáu nhắn cậu chép tặng anh ấy bài Bán vàng và bài Ông già Hậu Giang để làm kỉ niệm tình cảm”. Tôi hơi ngại, hỏi lại Nguyễn Quang Sáng: “ Liệu có phải ông Sáu cần văn bản chứng cớ để xử lý?...”. Ông Sáng nói: “ Chắc không phải. Nếu muốn xử , ổng chỉ cần ra lệnh”. Tôi bèn chép hai bài thơ và không quên ghi cẩn thận dưới tên mỗi bài: Tác giả chép tặng anh Sáu Dân để làm kỉ niệm tình cảm.

Ít lâu sau, tại cuộc gặp gỡ nhân dịp Đại hội thành lập các Hội nghệ thuật chuyên ngành của thành phố, với tư cách Bí thư Thành ủy, ông Sáu nói chuyện với đông đảo văn nghệ sỹ. Trong bài nói không dài đó của ông Sáu Dân có một đoạn tôi không bao giờ quên: “Vừa qua, tôi đã nghe và đã đọc bài thơ Bán Vàng của nhà thơ Nguyễn Duy. Theo tôi, đó là một bản án nhân tình đối với chế độ của chúng ta. Đau, nhưng là sự thật. Chúng ta cần chân thành nhìn nhận sự thật, để cùng nhau vươn lên, vượt qua giai đọan khó khăn. Muốn vượt lên thì phải có niềm tin. Mà cốt lõi của niềm tin là tin ở con người…”

Lần đầu tiên tôi trực tiếp nghe một bài huấn thị chính trị như thế, trực tiếp thấy một nhà lãnh đạo chính trị ứng xử như thế. Đó là khỏang giữa năm 1981. Quả là bất ngờ. Tự nhiên tôi xúc động, vì một cái gì đó mà tôi chưa biết gọi nó là cái gì, hình như nó chỉ là cái lẽ nhân tình bình thường mà sao ta ít thấy ở những vị quan lớn. Và, tự nhiên tôi cảm thấy tin ông]…

6.

Lúc này, với tất cả nỗi niềm “ tin ở con người”, tôi lại trang trọng kính tặng ông Sáu một “rừng gai góc” mới: “…Tôi trót sinh ra nơi làng quê nghèo/ quen cái thói hay nói về gian khổ/ dễ chạnh lòng trước cảnh thương tâm/ Thuở tới trường cũng đầu trần chân đất/ chữ viết loằng ngoằng củ sắn ngọn khoai/ thầy giáo giảng rằng; nước ta giàu lắm/ lớp lớp trẻ con cứ thế học thuộc bài…”

Tôi đứng ngay ngắn, nhìn thẳng ông Sáu mà đọc, thấy ông không cười cười nữa, hơi cúi đầu đăm chiêu với gương mặt bình thản không phơi lộ cảm xúc. Tôi cũng bình tâm làm phận sự của mình:

“…Xưa mẹ ru cho ta ngủ yên lành/ để khôn lớn ta hát bài đánh thức/ có lẽ nào người lớn cứ ru nhau/ ru tiềm lực ngủ vùi trong thớ thịt…/ Tiềm lực còn ngủ yên trong quả tim mắc bệnh đập cầm chừng/ Tiềm lực ngủ yên trong bộ óc mang khốu u tự mãn/ Tiềm lực ngủ yên trong con mắt lờ đờ đục thủy tinh thể/ Tiềm lực ngủ yên trong lỗ tai viêm chai màng nhĩ/ Tiềm lực ngủ yên trong ống mũi khò khè không nhận biết mùi thơm/ Tiềm lực ngủ yên trong lớp da biếng lười cảm giác…”
Không ngắc ngứ, không ngừng nghỉ, tôi kéo một lèo khỏang mười phút cho đến hết bài thơ. Thấy ai nấy ngồi lặng. Ông Sáu cũng im lặng chốc lát, mới chậm rãi: “ Nặng lắm. Nhưng chịu được”. Hình như ông vừa trải qua một cuộc tra tấn. Rồi ông tiếp: “ Nếu kể về cái tiêu cực thì tôi kể một tuần lễ không hết. Còn nếu kể về cái tích cực thì tôi kể một tháng cũng không hết. Nhưng vấn đề ở đây không phải là chống tiêu cực hay biểu dương tích cực. Vấn đề ở đây là con người, là văn hóa. Con người có thức dậy thì đất đai mới thức dậy được…”.

Nghe ông Sáu, tôi thở phào nhẹ nhõm, trút bỏ nỗi lo ngại không xác định lâu nay vốn nặng trĩu lòng. Thì ra, những câu thơ “khó chịu” thế kia không phải chờ đến mai sau mới có người lắng nghe và chia sẻ. Những người “chịu nghe” và “chịu được” lọai thơ “nặng lắm” ấy đã hiện diện quanh tôi ngay từ “thời khó thở” đó.

7.

Sau cuộc đọc thơ đó, tôi bèn đem ĐTTL đi đọc và “tán phát” ở nhiều nơi. Có nơi “hoan hô nhiệt liệt”, mời đọc, cho phát hành bài thơ bằng băng ghi âm hoặc bản in rô-nê-ô. Lại có nơi cấm đọc, cấm lưu hành cũng bài thơ đó. Nó xuất hiện muộn hơn trên mặt báo và sách. Lần đầu tiên ĐTTL được in là in trên tờ Văn Nghệ Đồng Nai do nhà thơ Xuân Sách làm tổng biên tập, số tháng 12.1984. Nhưng tờ báo văn tỉnh lẻ này chỉ ra mỗi tháng một kì, mỗi kì mấy trăm bản, loanh quanh trong “xóm” Đồng Nai, ít ai biết đến.

Mãi cuối năm 1986, sau nghị quyết “Đổi Mới” của Đại hội VI Đảng Cộng sản VN – được coi là đại hội “mở cửa” và “cởi trói” - bài ĐTTL mới được đăng nguyên văn trên báo Tuổi Trẻ, được phát hành khắp trong nước và ngòai nước. Năm 1987, ĐTTL có mặt đàng hòang trong tập thơ Mẹ và Em cùng với bài viết Đi tìm tiềm lực trong thơ Nguyễn Duy của Nguyễn Quang Sáng (Nhà xuất bản Thanh Hóa). Và từ đó nó đã được chọn vào nhiều tuyển tập. Có một dòng đề từ ngay dưới tên bài thơ, tôi viết thêm sau cuộc đọc thơ vừa kể, để ghi nhớ một kỉ niệm sâu sắc thời kì trước đổi mới: “Tiễn đưa anh Sáu Dân đi làm kinh tế”. Chính nhờ có những người-đánh-thức-tiềm-lực không biết mệt mỏi, những người dám “xé rào cơ chế”, dám “chịu nghe” những gì khác đi, thậm chí là ngược lại cái công thức phát ngôn chính thống, dám hành động vừa quyết đóan vừa nhân tình… như ông Sáu Dân, chúng ta mới có được một con đường đổi mới với những ngày “dễ thở hơn” như hôm nay.

Nguyễn Duy – Tháng Tám. 2005.


Tác giả gửi cho Quê Choa

-------------------------------

ĐÁNH THỨC TIỀM LỰC

Tiễn đưa anh S.D. đi làm kinh tế

Hãy thức dậy đất đai !
cho áo em tôi không còn vá vai
cho phần gạo mỗi nhà không còn thay bằng ngô, khoai, sắn...
xin bắt đầu từ cơm no áo ấm
rồi hãy đi xa hơn - đẹp và giàu, và sung sướng hơn

Khoáng sản tiềm tàng trong ruột núi non
châu báu vô biên dưới thềm lục địa
rừng đại ngàn bạc vàng là thế
phù sa muôn đời sữa mẹ
sông giàu đằng sông và bể giàu đằng bể
còn mặt đất hôm nay em nghĩ thế nào ?
lòng đất rất giàu, mặt đất cứ nghèo sao ?
* * *
Lúc này ta làm thơ cho nhau
đưa đẩy mà chi mấy lời ngọt lạt
ta ca hát quá nhiều về tiềm lực
tiềm lực còn ngủ yên...
* * *
Tôi lớn lên trên bờ bãi sông Hồng
trong màu mỡ phù sa máu loãng
giặc giã từ con châu chấu con cào cào
mương máng đê điều ngổn ngang chiến hào
trang sử đất ngoằn ngoèo trận mạc
giọt mồ hôi nào có gì to tát
bao nhiêu đời mặn chát các dòng sông

Bao nhiêu thời vỡ đê trắng đất mất đồng
thuyền vỏ trấu mỏng manh ba chìm bảy nổi
khúc dân ca cũng bèo dạt mây trôi
hột gạo nõn nà hao gầy đi vì thiên tai
đói
đói thâm niên
đói truyền đời
điệu múa cổ cũng chậm buồn như đói ...
* * *
Tôi đã qua những chặng đường miền Trung bỏng rát và dai dẳng
một bên Trường-sơn-cây-xanh
bên còn lại Trường-sơn-cát-trắng
đồng bằng hình lá lúa gầy nhẳng
cơn bão chưa qua, hạn hán đổ tới rồi
ngọn cỏ nhọn thành gai trốn không khỏi úa
đất nứt nẻ ngỡ da người nứt nẻ
cơn gió lào rát ruột lắm em ơi

Hạt giống ở đây chết đi sống lại
hạt gạo kết tinh như hạt muối
cây lúa đứng lên cũng đạp đất đội trời.
* * *
Tôi về quê em - châu thổ mới bồi
sông Cửu Long giãn mình ra biển
đất cuồn cuộn sinh sôi và dịch chuyển
cây mắm cây tràm lặn lội mở đường đi

Đất tân sinh ngỡ ngọt ngào trên mặt
lòng còn chát chua nào mặn nào phèn
má sung sức và ba cường tráng thế
man mác âu sầu câu hát ru em

Đã qua đi những huyền thoại cũ mèm
những đồng lúa ma không trồng mà gặt
những ruộng cá không nuôi mà sẵn bắt
những ghểnh cẳng, vuốt râu mà làm chơi ăn thật
miếng ăn nào không nước mắt mồ hôi !

Ruộng bát ngát đó thôi, và gạo đắt đó thôi
đất ghiền phân vô cơ như người ghiền á phiện
con rầy nâu khoét rỗng cả mùa màng
thóc bỏ mục ngoài mưa thiếu xăng dầu vận chuyển
phà Cần Thơ lê lết người ăn xin
cây đàn hát rong não nề câu vọng cổ
quán nhậu lai rai - nơi thừa thiếu trốn tìm
* * *
Này, đất nước của ba miền cày ruộng
chưa đủ no cho đều khắp ba miền
ta ca hát quá nhiều về tiềm lực
tiềm lực còn ngủ yên.
* * *
Lúc này, tôi làm thơ tặng em
em có nghĩ tôi là đồ vô dụng ?
vô dụng lấy đi của cuộc sống những gì ?
và trả lại được gì cho cuộc sống ?

Em có nghĩ tôi là con chích chòe
ăn và gại mỏ ?

Em có nghĩ tôi là tay chuyên sản xuất hàng giả ?

Em có nghĩ tôi là kẻ thợ chữ đục đẽo nát cả giấy
múa võ bán cao trên trang viết mong manh ?
tình nghĩa nhập nhằng với cái hư danh ?...
tờ giấy chép văn thành tờ giấy bạc ?

Em có nghĩ...
mà thôi !
* * *
Xin em nhìn kia - người cuốc đất
(tôi cũng từng chai tay cuốc đất)
cái cuốc theo ta đời này, đời khác
lưỡi cuốc nhỏ nhoi liếm sạch cánh đồng rồi
dướn mình cao
chĩa cuốc lên trời
bổ xuống đánh phập
đẹp lắm chứ cái tạo hình cuốc đất !

Xin em nhìn kia- người gánh phân, gánh thóc
(tôi cũng từng mòn vai gánh phân, gánh thóc)
kẽo kẹt hai vai một nhịp cầu vồng
đẹp lắm chứ cái tạo hình gồng gánh

Những cái đẹp kia... em có chạnh lòng không ?
cái đẹp gợi về thuở ngày xưa ngày xửa
nhịp theo tiết tấu chậm buồn
cái đẹp ấy lẽ ra không nên tồn tại nữa !

Em có chạnh lòng chăng
giữa thành phố huy hoàng năm một chín tám mốt
bỗng hiện lù lù cụ xe hơi chạy than
vệt than rơi tóe lửa mặt đường

Em có chạnh lòng chăng
xích lô đạp càng ngày càng nghênh ngang
xích lô máy và xe lam chạy dầu vừa nã đại liên vừa phun khói độc
người đi bộ vừa đi vừa nghĩ về tiềm lực
tiềm lực còn ngủ yên...
* * *
Tôi trót sinh ra nơi làng quê nghèo
quen cái thói hay nói về gian khổ
dễ chạnh lòng trước cảnh thương tâm

Làng tôi xưa toàn nhà tranh vách đất
bãi tha ma không một cái mả xây
mùa gặt hái rơm nhiều thóc ít
lũ trẻ chúng tôi vầy đất tối ngày

Thuở tới trường cũng đầu trần chân đất
chữ viết loằng ngoằng củ sắn ngọn khoai
thầy giáo giảng rằng
nước ta giàu lắm !...
lớp lớp trẻ con cứ thế học thuộc bài
* * *
Lúc này
tôi và em không còn là lũ trẻ con nữa
ta biết buồn để biết lạc quan
để nhắn lại sau ta cho lớp lớp trẻ con
(dù sau này dầu mỏ đã phun lên
quặng bôxít cao nguyên đã thành nồi thành soong
thành tàu bay hay tàu vũ trụ
dù sau này có như thế... như thế... đi nữa
chúng ta vẫn cứ nên nhắn lại)
đừng quên đất nước mình nghèo !

Lúc này
tôi và em không còn là lũ trẻ con nữa
tuổi thanh xuân trọn vẹn cuộc chiến tranh
sau lưng ta là kỷ niệm bi tráng
trước mặt ta vẫn con đường gập ghềnh
vẫn trang trọng tấm lòng trung thực
dù có thể lỗi lầm - làm thế nào mà biết trước
dù có sao thì cũng phải chân thành.

Xưa mẹ ru ta ngủ yên lành
để khôn lớn ta hát bài đánh thức
có lẽ nào người lớn cứ ru nhau
ru tiềm lực ngủ vùi trong thớ thịt.
* * *
Tiềm lực còn ngủ yên
trong quả tim mắc bệnh đập cầm chừng

Tiềm lực còn ngủ yên
trong bộ óc mang khối u tự mãn

Tiềm lực còn ngủ yên
trong con mắt lờ đờ đục thủy tinh thể

Tiềm lực còn ngủ yên
trong lỗ tai viêm chai màng nhĩ



Tiềm lực còn ngủ yên
trong ống mũi khò khè không nhận biết mùi thơm

Tiềm lực còn ngủ yên
trong lớp da biếng lười cảm giác

Năng động lên nào
từ mỗi tế bào từ mỗi giác quan
cố nhiên cần lưu ý tính năng động của cái lưỡi
* * *
Cần lưu ý
lời nói thật thà có thể bị buộc tội
lời nịnh hót dối lừa có thể được tuyên dương
đạo đức giả có thể thành dịch tả
lòng tốt lơ ngơ có thể lạc đường

Cần lưu ý
có cái miệng làm chức năng cái bẫy
sau nụ cười là lởm chởm răng cưa
có cái môi mỏng hơn lá mía
hôn má bên này bật máu má bên kia
có trận đánh úp nhau bằng chữ nghĩa
khái niệm bắn ra không biết lối thu về

Cần lưu ý
có lắm sự nhân danh lạ lắm
mượn áo thánh thần che lốt ma ranh
nhân danh thiện tâm làm điều ác đức
rao vị nhân sinh để bán món vị mình

Cần lưu ý
có lắm nghề lạ lắm
nghề mánh mung cứa cổ bóp hầu nhau
nghề chửi đổng, nghề ngồi lê, nghề vu cáo
nghề ăn cắp lòng tin và chẹt họng đồng bào
có cả nghề siêu nghề gọi là nghề không làm gì cả
thọc gậy bánh xe cũng một thứ nghề...

Bộ sưu tập những điều ngang trái ấy
phù chú ma tà ru tiềm lực ngủ mê
* * *
Tôi muốn được làm tiếng hát của em
tiếng trong sáng của nắng và gió
tiếng chát chúa của máy và búa
tiếng dẻo dai đòn gánh nghiến trên vai
tiếng trần trụi của lưỡi cuốc
lang thang
khắp đất nước
hát bài hát
ĐÁNH THỨC TIỀM LỰC...



Phần nhận xét hiển thị trên trang

Đồng dao?

Sốc với sách cho trẻ em
Một hôm, đứa cháu ngoại của tôi được mẹ dẫn đi chơi về. Tôi hỏi cháu:  Cháu đi đâu về vậy? Cháu trả lời:  Dạ, con đi thăm bà về ạ. Tôi lại hỏi:  Cháu thăm bà nào vậy? Cháu liền trả lời một tràng dài: “Bà gì?/ Bà ngoại/  Ngoại gì?/ Ngoại xâm/ Xâm gì?/ Xâm lăng/ Lăng gì?/ Lăng Bác/ Bác gì?/ Bác Hồ/ Hồ gì?/ Hồ ao/ Ao gì?/ Ao cá/ Cá gì?/ Cá quả/ Quả gì?/ Quả đấm”. Tôi ngỡ ngàng, hỏi: Cháu đọc cái gì vậy? Ai dạy cho cháu? Cháu trả lời: Con đọc trong sách mà...
Rồi cháu lấy trong cặp cuốn sách đưa cho tôi xem. Bài đồng dao cháu vừa đọc nằm ở trang 8 của sách “Đồng dao dành cho trẻ mầm non” do Nhà xuất bản Mỹ thuật ấn hành năm 2012 (số đăng ký KHXB: QĐ.87-2011/CXB/36-04/MT ngày 12.10.2011). 

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thứ Sáu, 22 tháng 11, 2013

TRƯ CUỒNG



Thiên chi đạo: tổn hữu dư bổ bất túc
(Đạo trời: bớt chỗ thừa bù chỗ thiếu)

Phản giả Đạo chi động
(Quay trở lại  (cái Quân Bình), đó là cái Động của Đạo)

                                                           Lão Tử

                                       L’homme n’est ni ange ni bête,
             et le malheur veut que qui veut faire l’ange fait la bête
(Con người chẳng thiên thần cũng không thú vật,
song khốn thay ai đó muốn làm thiên thần
thì thành ra lại là thú vật)

                                                         Pascal

Phần I

Nhật ký này là của ông Nguyễn Hoàng; ông Nguyễn Hoàng làm nghề viết báo, kiêm nghề nuôi lợn.
          Có lẽ, khi làm nghề cầm bút, ông đã phạm một cái ”húy” gì đó nên bị thất sủng, phải về nghỉ hưu, tuy chưa đến tuổi. Ông là người tỉ mỉ, lại vì mắc bệnh nghề nghiệp nên thích ghi chép. Ông đã ghi lại khá tường tận, thú vị công việc chăn nuôi của mình.
          Xét thấy nhật ký này có điều hay hay, nên cố sưu góp lại để các bạn cùng đọc.

Ngày… Tháng…
         Nhà tôi đã có ba chú lợn ỉn khoảng 10 cân mỗi con rồi, hôm nay tôi lại mua thêm một chú lợn rất đặc biệt: Chú Lợn Bò.
Chú lợn này chỉ nhỉnh hơn cái phích lít rưỡi một chút. Lông nó mầu hung vàng, có một chút óng ánh, giống như mầu cỏ tranh vàng khô vào mùa lá rạc ở Tây Bắc. Mắt nó như thơ dại, ngơ ngác như mắt bò, đôi mắt có vẻ đần đần, nhưng đẹp. Người chủ bán hàng giới thiệu với tôi một cách hoang đường: Các nhà khoa học đã làm thí nghiệm thành công, họ đem tinh trùng của bò thụ tinh cho lợn; kết quả thu được một con thú nửa bò nửa lợn.(1)    
Nó biết ăn cả cỏ, ăn cả cám. Giống này được các nhà chăn nuôi sành sỏi và tài ba rất mê, bởi vì nó tăng trọng rất nhanh, có thể nói phi thường, và nó có thể đạt tới trọng lượng ba trăm ki lô gam, thậm chí năm trăm … Nghe lời giới thiệu có vẻ siêu khuếch đại tôi liền vỗ tay đánh đốp vào tay ông lái lợn và cười hơ hớ. Cả chủ hàng và khách hàng đều có chút khoái nhau, cái tiếng cười hơ hớ ấy, và cái bắt tay ròn rã ấy, cái kiểu giới thiệu hoang đường ấy cộng hợp với nhau làm cho cuộc mua bán trở nên dễ dàng thoải mái. Tôi hí hửng suốt dọc đường từ chợ tỉnh Phúc Yên về Hà Nội; hí hửng vì vớ được con lợn tốt bằng một giá rất hời.
Thậm chí tôi còn dám tự khen thưởng mình bằng cách sà vào một quán nhậu ở bến đò Chèm để uống một chén rượu với dăm củ lạc.
        Khi tôi định thả con Lợn  Bò vào chuồng, vợ tôi theo ra xem, cô ta nói rất mê tín:
- Ông không được thả. Người ông gày đét, ăn uống cảnh giả, tay ông không mát. Để tôi thả cho, lợn mới hay ăn chóng lớn.
      Tôi lắc đầu sốt ruột, đưa cho bà vợ lắm điều của tôi chiếc bao tải dứa trong đó đựng con Lợn Bò quí giá. Khi chú lợn lông vàng sợ hãi ngơ ngác từ cái bao chui ra, vợ tôi tròn mắt ngạc nhiên:
- Lợn gì mà kì quái! Lông đỏ như con sâu dóm!
       Cơn hứng của tôi như bị dội một gáo nước lạnh; tôi cáu kỉnh vặc lại:
- Lợn quí đấy! Bà biết gì chăn nuôi hiện đại mà dẻo miệng chê bai.
- Hiện đại! – Vợ tôi bĩu môi, nhưng biết tính tôi khi đã thích cái gì là lập tức lên cơn như mê như dại, nên cô ta chẳng dám dây với tôi.
       Còn tôi, thực sự lúc này tôi đang lên cơn mê lợn. Đời tôi đã khối lúc lên cơn: cơn bộ đội, cơn viết báo, cơn gác đêm, cơn lý tưởng, cơn mê gái, cơn thợ may, cơn đọc sách…
Vậy thì, giờ đây tôi lên ”cơn mê lợn” cũng chẳng có gì lạ. Mà chẳng cứ gì tôi, có thể nói, hiện nay cả Hà Nội lên cơn mê lợn. Cao trào nuôi lợn đang dâng; giới nuôi lợn dạo này rất vinh dự, bởi vì không những chỉ có người nghèo nuôi lợn, mà có cả những vị quyền cao chức trọng nuôi lợn. Người ta kể ra: ông bí thư nhà máy gạch N mới bán đôi lợn đại bạch trên hai tạ; ông thứ trưởng bộ X cũng nuôi bốn con lợn F1, lai giống Landrat, to như bốn con bê; ông T thành ủy viên, cứ đi làm về là vội thay ngay quần áo và cởi trần trùng trục, chỉ mặc độc chiếc quần đùi và xông thẳng vào mê say cùng đàn lợn đẹp như tranh của mình; rồi cả ngài chủ tịch K, hễ mỗi lần đánh xe con đi công vụ nông thôn là khi về thể nào trong cốp xe cũng lỉnh kỉnh những bao ngô, bao gạo, bao thức ăn gia súc, và những rọ lợn giống buộc đằng sau xe mốt cô vích thì tấu lên một khúc nhạc eng éc, rền rĩ, rùng rợn, nhưng vui tai đối với người Hà Nội.  

Ngày …  tháng …
       Con Lợn Bò đúng như một con sâu dóm so với đàn lợn cũ của tôi. Nó đứng ở một xó chuồng, sợ sệt, lủi thủi, ngơ ngác, hèn mọn. Trông mà thương! Lũ lợn ỉn, khi tôi đổ thức ăn vào máng, liền xông ra, tranh nhau sốc lấy sốc để. Còn chú Lợn Bò thì đứng im đần độn bọt mép sùi ra thèm thuồng. Khi quá thèm, nó cố vượt qua nỗi sợ, và mon men đến gần máng; lập tức cả đàn ba con lợn ỉn ngừng ăn xông ngay lại, con cắn tai, con húc bụng, con đấm mõm. Chú Lợn Bò run lập cập, vội vã rút lui trở về xó chuồng, cái xó tối tăm nhất, bẩn thỉu nhất, nơi đọng phân rác, nơi hôi thối, một thứ chuồng xí của các chú lợn ỉn; và cũng chỉ đến lúc ấy, lũ lợn ỉn mới buông tha Lợn Bò. 
       Tôi vốn là tay hiệp sĩ, thấy sự bất bằng chẳng tha; tôi tức giận vì lũ lợn ỉn cậy mạnh hiếp yếu; sẵn cái chổi tre trong tay, toi vụt cho mỗi chú ỉn mấy quất vào mông. Nhưng kết quả chẳng ăn thua gì; lần thứ hai, chú Lợn Bò lại mon men đến gần máng, lần này ba chú lợn ỉn có lẽ vì tức giận bị tôi trừng trị nên đã tấn công Lợn Bò dữ dội hơn. Rút kinh nghiệm đợt trước, chú Bò vội vã rút ngay vào nơi hang ổ tối tăm của mình để thoát hiểm. Hỡi ôi! Nơi tối tăm bao giờ cũng là nơi cư ngụ của những kẻ hèn mọn. Cái qui luật người ấy cũng đúng cả với loài lợn.
       Tôi ngẫm nghĩ, định trừng trị lũ lợn ỉn một lần nữa, nhưng đầu óc tôi bỗng dưng lóe sáng: hãy cứ để mặc cho lũ lợn hục hặc với nhau, cuối cùng thể nào đôi bên cũng thích ứng được với nhau. Ha ha! Tuyệt! Chí phải! Hãy để cho triết học tâm lý học thấm nhuần đến tân chuồng lợn. Triết học thích ứng, thực dụng nguồn gốc tận bên Mỹ; tâm lý học ứng xử của ông Watson cũng mang nguồn gốc Mỹ, nay đang được chiêm nghiệm ở cái xó chuồng lợn của một nhà báo thất thế đi vào nghề chăn nuôi ở một hẻm nghèo Hà Nội. Thú vị thật!
       Nghĩ vậy, nên tôi buông chổi, quay vào bếp, tìm một lỗ hổng kẽ vách, để quan sát đàn lợn.
       Kìa! Lũ lợn ỉn đã no nê phè phỡn, con nào bụng cũng căng tròn như trống. Chúng rời khỏi máng, ủn ỉn, đủng đỉnh đi về ổ, tức là nơi cao ráo sạch sẽ nhất trong chuồng lợn, chỗ đó tôi đặt một chiếc tải và một ôm rơm thơm tho ấm áp. Và chúng ngủ, mắt nửa hé nửa nhắm; chúng vừa ngủ vừa ì ạch thở.
       Chú Lợn Bò lấm lét nhìn bọn ỉn, rồi từ từ, ngập ngừng tiến lại máng ăn. Con ỉn lang chợt ho, chú Bò lùi phắt lại, nhưng sau đó, thấy im ắng, lại tiếp tục mon men đến máng, chú khẽ khàng liếm láp chỗ cám thừa, vừa ăn vừa liếc nhìn lấm lét.
       Vẫn im lặng! Tốt quá! Chú vội tranh thủ sốc lấy sốc để. Tộp! Tộp! Tộp! Con ỉn lang choàng mở mắt khi nghe tiếng chú Bò gia tốc ăn hối hả. Nó định đứng dậy, nhưng có lẽ no quá hóa lười, nên nó lại thả người nhắm mắt. Tộp! Tộp! Tộp! Chú Lợn Bò lúc này chẳng cần giữ ý tứ nữa, nó ăn xả láng, nó  ” vét đĩa ”  xả láng, nó háu ăn đến mức một cọng rau trong máng cũng chẳng còn. tôi nghĩ: có lẽ nên đặt cho con lợn mới cái tên  ” Bò - Vét - Đĩa“.


Ngày … tháng …
      Tôi ra thư viện đọc sách về lợn. tôi đi sưu tầm, mua, mượn hàng chồng sách về nhà để đọc. Có thể kể tên các cuốn sách: Giải quyết thức ăn cho lợn; Đạm và sự tăng trưởng của lợn; Những biện pháp trong chăn nuôi gia súc; Hỏi và đáp về nuôi lợn lai kinh tế; Những nguyên tố vi lượng trong chăn nuôi; Chuyên đề lợn ỉ; Chuyên đề lợn Móng Cái v.v …
      Có thể nói không gian, thời gian của tôi đang bão hòa chất lợn. Tôi sai con đi mua nứa về làm chuồng bèo; tôi phá hoang mấy đám đất đầu trâu mõm bò ở tận cuối hẻm để gơ dây khoai lang; tôi đi xin cô em tận nhà máy gỗ cầu Đuống một số tấm gỗ bìa bắp, và hai cha con tôi vất vả hì hục thồ cả ngày mới đem được hết gỗ bìa về nhà, để chuẩn bị làm một cái chuồng lợn thật đúng qui cách. Tôi phân công cả nhà vào chiến dịch nuôi lợn của tôi. tôi đảm nhiệm việc chăm sóc, cho lợn ăn, quét dọn chuồng lợn hàng ngày. Thằng con lớn là sinh viên đại học, thi thoảng phụ giúp tôi. Thằng con thứ hai đảm nhiệm bèo bã rau xanh. Thằng con thứ ba hàng ngày đi nhặt nước gạo. Thằng con thứ tư và bà mẹ hàng ngày thái bèo. Còn vợ tôi, đi làm suốt ngày nên được miễn việc sưu dịch cho lợn. Tôi nói đùa với cả nhà:
- Chúng ta là những anh hùng nuôi lợn.
       Nghe oai chưa!


Ngày … tháng …
       Giá cả  hàng hóa của Hà Nội leo thang vùn vụt. Tôi ghi chép lại đây những con số đày ý nghĩa với cuộc sống gia đình tôi:
       Su hào, một đồng một củ – Khoai lang, 22 đồng một yến – Mỳ 85 đồng một yến – Rau muống lợn 1 đồng 5 hào một mớ – Bèo Nhật bản 4 hào một mớ – Bèo tấm 5 hào 5 nắm tay – Cá giếc 12 đồng một cân – Bơm xe 2 hào một bánh – Trà chén 2 hào một chén…
       Ôi chao! Toàn tiền là tiền. Tiền tiêu như rác. Một nắm bèo cũng có giá. Trong khi đó, lương tôi được hơn 60 đồng, lương vợ tôi 70 đồng. tôi mê sảng đi vì lo tiền. Trong nửa năm, hai vợ chồng tôi đã bán dần bán mòn các vật dụng: cái quạt máy, chiếc xe đạp Phượng Hoàng, cái quần lụa, hai mét si mi li, cái phiếu vải của con, ba chục trứng gà…
       Chỉ những con số ấy cũng đủ biện hộ cho công việc nuôi lợn, mê say lợn của tôi. Có thể nói ”cơn lợn” của tôi là tất yếu, nó là con đường cứu sống gia đình tôi.


Ngày … tháng …
       Tôi còn có thể nói: lợn đã mở rộng thêm quan hệ con người. Nhờ nuôi lợn, đời tôi đã thêm những người bạn mới.
       Hôm nay, buổi sáng, khi cho lợn ăn xong, tôi thay quần áo, đủng đỉnh sang nhà Lân uống nước.
       Nhà Lân là một túp lều, một thứ nhà ổ chuột bên dòng cống đen sì của Hà Nội, mà người ta đã đặt cho một cái tên mĩ miều: sông Kim Ngưu (Trâu vàng), còn tôi, tôi gọi nó là dòng suối đen. Lân là một thương binh, anh sinh viên trường đại học tổng hợp đó đã xung phong vào bộ đội vào những năm đầu của thập kỷ 60. Lân đã nằm trong chiến trường miền Nam suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ, năm 1975 anh mới chuyển ngành về một cơ quan. Cuộc sống cơ quan quá bon chen, bê bối làm anh chán ngán, xin về nghỉ ở nhà nuôi lợn. Có lúc, anh đã chua chát nói:
- Sống với lũ lợn còn thấy vui hơn.
       Những ngày gian khổ còn lưu lại cho anh một kỉ niệm quá ư vật chất, một cơ thể ốm yếu gày gò, và một bộ óc lúc nào cũng như lửa đốt. Con người anh, lúc cởi trần, giống như một bộ xương được bọc một lần da mỏng, bộ xương quá mảnh dẻ để chống đỡ một cái đầu to quá kích cỡ, ở đó ta bị hút  ngay vào một đôi mắt rất sinh động. Đôi mắt hơi to, hơi sếch; có lúc cảm giác như thứ mắt bị ma ám. Khi anh cất giọng nói một điều gì sôi nổi, lúc ấy đôi mắt như mở rộng thêm và bị nhiễm điện, một dòng điện nhấp nháy khi tăng khi giảm làm cho ánh mắt lúc rực rỡ lúc dịu dàng; thứ mắt mang nhiều sắc độ ấy là thứ mắt không dấu diếm, thứ mắt trực cảm của những con người đã quá ê hề cuộc sống, thấy không cần phải mặc một chiếc áo khoác ngụy trang nào dù sặc sỡ, dù nhiệm mâu đến đâu …
Căn lều của anh sặc sụa mùi lợn, mùi lợn toát ra từ một đàn lợn cả to cả nhỏ gần chục con; mùi lợn còn toát ra từ những bộ lòng lợn mà sáng nào, chiều nào anh cũng kiên nhẫn vớt từ dòng cống đen sì lên. Anh nói:
- Cái dân Việt Nam mình thật kì dị. Nghèo khổ nhất mà cũng lãng phí nhất. Từ Lò Lợn, mỗi ngày người ta đổ xuống cống hàng tạ lòng lợn. Lòng lợn nối đuôi nhau lều bều diễu hành bơi trên dòng nước đen sì trông vừa thảm thương vừa man rợ …
       Một người đàn bà nghèo khổ ở cuối hẻm đã lén lút vớt những cỗ lòng về, rửa sạch đi bằng xà phòng, rồi đem luộc lên, mang ra quán bia bán cho những con ma men cùng với những bát mắm tôm tím biếc, những quả ớt đỏ chót và những cọng húng nhổi thơm lừng…
      Lân đã thở dài khi kể với tôi chuyện đó với một ánh mắt run run hấp hối. Và từ phát hiện ấy, anh đã nghĩ ra một cách nuôi lợn độc đáo: nuôi lợn bằng những cỗ lòng phế thải lều bều trên sông. Từ hôm ấy, Lân dựng thêm một túp lều nhỏ sát ngay dòng cống; đó là nơi sản xuất thức ăn gia súc của anh; ta bắt gặp ở đây một bếp lò than và những thùng phuy, những vại, những hố đào xuống lòng đất và lát bằng những mảnh nilông rách.
      Qua Lân, tôi mới hiểu dòng cống cũng có qui luật nước chảy của nó, nước cống cũng dâng lên hạ xuống theo giờ trong ngày, cũng như  nước thủy triều dâng lên hạ xuống theo qui luật sức hút. Hàng ngày, nước cống cao nhất vào lúc 10 giờ sáng và 4 gìơ chiều, đó là giờ các bà nội trợ rửa rau vo gạo, và người Hà Nội giặt giũ làm vệ sinh thân thể; cũng vào giờ đó những cỗ lòng từ Lò Lợn ra bị mắc kẹt vì nước cạn nay được giải phóng; những cỗ lòng phả phê nước tung tăng bơi lội như những con rắn trắng lặn ngụp, ve vẩy trong dòng nước đen sì. Đúng vào giờ ấy, Lân hăm hở như một chiến sĩ phục kích chờ giặc, anh cởi trần, mặc quần đùi, lội đứng ở chỗ nông gần bờ, tay cầm một chiếc vợt đan bằng dây sắt, cán bằng cây nứa dài, và anh cắm cúi kiên nhẫn vớt…
      Công việc vớt lòng của anh vất vả nhất vào dịp những ngày lễ lớn, hội lớn như mồng một tháng năm, mồng hai tháng chín và tết nguyên đán; vào những ngày ấy người Hà Nội ăn thịt nhiều và Lò Lợn cũng lãng phí nhiều. Những ngày nhiều phế thải ấy, Lân hậm hụi làm việc như một người tù khổ sai bẩn thỉu, hôi thối, quần quật từ sáng cho đến tận đêm. Đầu tiên, anh tháo phân, rửa sạch lòng ngay trong dòng nước đen, sau đó để vào những rổ sồng cho dóc nước. Những thứ dễ hủy như gan, phổi anh đưa lên bếp đun ngay, còn những thứ lâu bị hủy như lòng già lòng non anh đem muối, muối nghĩa là đem trộn nó với bã rượu rồi đem đổ đầy những thùng phuy, những vại, những hố có lót ni lông. Khi một ngọn khói đen bốc lên từ túp lều, tức là xong việc. Lân xin những chiếc lốp xe đạp hỏng về đun; cái thứ cao su hỏng ấy khi cháy tạo ra một ngọn khói đen nhánh, đặc quánh, chỉ cần một thoảng gió khẽ tạt làm nghiêng ngọn lửa là một con rắn khói đen đã quấn ngay vào mặt vào ngực tạo nên những vết đen khó kỳ cọ trên da. Những lúc chui ở bếp chế biến ra, Lân trông thật thảm hại anh như một con quỉ bẩn thỉu, với làn da đen xỉn nhễ nhại mồ hôi; nhưng trái lại, sao lúc ấy đôi mắt anh người đến thế nồng ấm đến thế, đôi con mắt với tia nhìn long lanh, đôi con mắt thỏa mãn, sung sướng. Những khi ấy, nếu tôi sang, anh vội vàng cầm búi giẻ rách khéo léo lau mặt, lau tay, lau ngực và anh rủ tôi ra chuồng lợn, ngắm lũ ỉn; những lúc ấy, chúng tôi thường im lặng, đốt thuốc lên hút; và khi những điếu thuốc phì phèo trên môi đã cháy quá nửa, anh mới ngẩng đầu lên nhìn tôi rồi cười.Trên khuôn mặt vàng sạm của anh, một nụ cười hiếm hoi phô bầy hai hàm răng trắng đều và đẹp. Nụ cười khắc kỉ ấy nhìeu khi làm tôi bối rối.
       Lân suốt ngày ở trong lò chế biến thức ăn, hoặc ở bên chuồng lợn, ít khi thấy anh ló mặt ra đường, đến nỗi có lúc tôi phải bỡn:
- Anh say mê lợn quá. Phải tặng cho anh danh hiệu ”Nghệ sĩ lợn” mới đúng.
       Lân hóm hỉnh:
- Có lúc vợ tôi phát ghen lên đấy. Một đêm, bà ấy bảo: ”Ông nên kê giường ra ngủ với lợn có lẽ hơn”. Thật oan cho tôi. Bởi vì tôi mê bà ấy quá nhiều nên mới phải lăn lưng ra nuôi lợn chứ. Từ khi tôi ở chiến trường về, năm năm ở với bà ấy thì đẻ luôn một mạch năm cô con gái…
       Hôm nay, trông thấy tôi , Lân đã reo to mừng rỡ:
- Cứ mong mãi. Có trà ngon đãi ông đấy. Trà Thái, loại cực kỳ.
       Lân nhóm bếp dầu đun nước, anh hâm ấm chén cho nóng khi chờ nước sôi. Anh xoa tay, vui thú:
- Tôi đã bán được con lợn ”Tên lửa” rồi. Con này tăng trọng vượt mức. Mỗi tháng tăng 25 cân.
       Tôi mỉm cười. Mỗi con lợn của Lân đều mang một cái tên rất chiến tranh: con ”Tên lửa” là con tăng trọng nhanh, con ”Lính thủy đánh bộ” là con ưa ăn loãng, con ”Thần sấm” là con rú gào suốt ngày đòi ăn, con ”Xung kích” là con phàm ăn … tôi trìu mến nhìn người bạn hiền lành cả đời làm lính ấy. Ngoài một mảnh đạn còn nằm trong phổi làm anh hay ho túc tắc, cuộc đời chiến trận còn theo anh kéo dài dấu vết vào đàn lợn. tôi vẫn nói đùa Lân:
- Đàn lợn của cậu sặc mùi thuốc súng.
       Hôm Lân sang xem tướng cho con lợn Bò, con lợn sâu dóm của tôi, anh bảo:
- Con lợn này rồi sẽ có một tương lai rất huy hoàng. Sau vài tháng nữa, anh thử chiêm nghiệm lời nói của tôi xem sao. Bây giờ nó còn nhỏ bé, nhưng nó sẽ có một tiền đồ rất vẻ vang – Lân cười - Đáng lẽ ra, anh phải đặt tên cho nó là ”Xe tăng cọp” mới đúng. Cái tên ”Bò vét đĩa” của anh nghe sặc mùi dân sự …
       Lân chế nước sôi vào ấm trà. Anh rót thứ nước thơm phức, vàng quánh ấy vào chén cho tôi, rồi mời mọc ân cần:
- Uống đi. Uống mừng thắng lợi của tôi. Con ”Tên lửa” chỉ trong ba tháng đã tăng từ 25 đến 100 cân. Chưa lứa nào tôi nuôi được con lợn tăng trọng nhanh như thế. Tính ra sau ba tháng, trừ chi phí còn lãi hơn hai nghìn bạc. Có khoái không anh? tôi đã sắm cho các cháu mỗi đứa một bộ quần áo.                                                                                                                    
     
Lợn còn dẫn tôi đén với người bạn thứ hai độc đáo không kém gì Lân. Đó là Tám Bách Khoa. Tám là một giáo viên cấp ba, dạy sinh vật. Anh này nuôi lợn ít thôi, nhưng lại say mê nghiên cứu về lợn. Tám nói với tôi:
- Ở nước ta, hiện nay, ai nuôi lợn là người đáng quí trọng, bởi vì nuôi lợn là một công việc kiếm sống lương thiện nhất. (Ngay cả những ông lớn, dù lợi dụng đặc quyền mua rẻ con giống và thức ăn, thì việc nuôi lợn của họ cũng đáng khuyến khích hơn chuyện ăn cắp trắng trợn hoặc tham nhũng). Anh biết không, ngày xưa, nghề dạy học của tôi vẫn được suy tôn là nghề cao quí nhất, lương thiện nhất, nhưng thực ra ngày nay những điều đó thay đổi rồi. Có lẽ ta phải cần rộng lượng, bởi vì quan niệm của con người về nghề dạy học đã bị thực tế làm biến đổi, bởi vì tri thức đang dần dần biến thành hàng hóa. Người có tri thức cũng giống bà bán thịt, cô bán gạo, chị bán bách hóa. Một bài toán, một ý tưởng cũng giống như một miếng thịt bò, một cân gạo, một chiếc áo. Thịt tăng giá ư? Gạo tăng giá ư? Vải tăng giá ư? Vậy thì một bài toán đại số của tôi, một bài văn làm mẫu của tôi, một đề luyện thi tủ của tôi cũng phải tăng giá, nếu không, các thầy cô sống bằng gì? Đấy bây giờ người ta lập luận về nghề thầy giáo như vậy đó.
       Tôi thầm nghĩ về Tám: ”Anh chàng này hơi gàn, nhưng đáng yêu”. Lân bảo, hồi còn là học sinh Tám rất ít nói, và vẫn bị anh em cho là gàn. Hồi ở chiến trường B, Tám đã bị bom B52 của Mỹ chôn sống, lúc được anh em moi lên, Tám chết luôn cho một ngày một đêm. Vì bận đánh giặc, người ta chưa kịp chôn anh, khi Tám sống lại bò ra giao thông hào tiếp đạn, anh em sợ hãi hét lên tưởng Tám là quỉ nhập tràng. Từ đó Tám ít nói hơn trước, và nhiều khi kì dị hơn trước. Có người bảo Tám tâm thần, song những hành vi của Tám trong những phút gay cấn nhất ngoài chiến trận lại tỏ ra vô cùng sáng suốt. Và một điều kì lạ nữa đã xảy ra khi Tám từ chiến trường trở về trường đại học, luận án ”Những cây cỏ có tính kháng sinh ở vùng Trường Sơn” của anh đã được công nhận loại ưu. Và hiện nay, đề tài nghiên cứu khoa học của Tám là cuốn ”Bách Khoa Toàn Thư về Lợn”. Lân nói với tôi rằng Tám đang định dùng một cách tiếp cận rất mới mẻ đối với đề tài lợn, đó là một cách tiếp cận vừa khoa học vừa văn học. Nói theo ngôn ngữ của Tám thì đó là cách tiếp cận nằm trên giao tuyến của hai phương pháp khoa học và văn học. Có ý kiến cho rằng ý nghĩ của Tám là độc đáo, tài năng; nhưng cũng có ý kiến cho rằng Tám là một thằng điên.


Ngày … tháng …
       Tôi hỏi Tám:
- Tại sao anh lại dùng cách tiếp cận Khoa học – Văn học?
- Tôi thích những đường nét rõ ràng rứt khoát, nhưng tôi hiểu trong tôi còn có những vết nhòe mờ. Tôi thích một giai điệu đẹp, uyển chuyển, rực rỡ như một vườn hoa mùa xuân, nhưng thú thật có lúc nghe một tiếng u ơ trẻ nhỏ lòng tôi chợt run rẩy sung sướng. Một âm thanh chưa thành âm thanh ấy có khi còn đẹp hơn cả một giai điệu đẹp. 
- Tôi chưa hiểu …
- Cần dè dặt với cái kì bí – Tôi biết mãi mãi trong óc tôi vẫn có những miền bóng mờ và cả một vương quốc tối lòa mà tôi như người mù bước đi dò dẫm.
- Sao ý anh bồng bềnh khó nắm? Cách tiếp cận mới… Định nghĩa của nó…
- Đó là bước đi dè dặt, bước đi của người.
- Có lẽ tôi đã loé hiểu một chút gì.
- Những con số, đó là ân nhân của chúng ta hôm nay; nhưng còn ngày mai? Có khi nào một ân nhân lại biến thành kẻ chôn vùi chúng ta không? Có khi nào miếng cơm ta ăn lại trở thành thuốc độc tàn hại đời ta? Có khi nào người yêu ta mê đắm lại trở thành kẻ thù và đôi tay ngọc ngà lại như chiếc thòng lọng siết quoanh cổ ta mỗi ngày một chặt? Có khi nào nọc độc rắn lại trở thành tiên dược?
       Ôi! Định nghĩa! Một định nghĩa làm đầu óc tôi phải sưng tấy lên để tìm ra những đường nét lẩn trốn của nó. Phải chăng cách định nghĩa của người điên?


Ngày … tháng…
       Sáng sớm, vợ tôi bảo:
- Anh ơi! Hết gạo rồi. Anh cố xoay hai chục để em mua yến sắn cho con ăn.
       Tôi gắt um lên:
- Ăn gì mà như thuồng luồng! Tháng này đã đong thêm hai yến mì mà vẫn thiếu. Giết ai ra tiền bây giờ?
       Vợ tôi cũng cáu kỉnh:
- Ai ăn? tôi ăn à? Anh hỏi con anh ấy: đứa nào ăn? Nếu anh không muốn cho con ăn thì khâu mồm chúng nó lại.
       Nghe tiếng vợ chồng tôi vặc nhau, lũ lợn tưởng đến giờ ăn, bỗng rít lên cả đàn. Giọng đồng ca lợn nghe mà nẫu ruột. Tôi còn chục bạc, hôm qua đã đi mua năm đồng bạc cua về làm mắm cho lợn ăn rồi. Vậy bây giờ xoay tiền ra sao? Vặc với tôi xong, vợ tôi hầm hầm dắt xe ra cửa. Tôi nhẫn nhục, quay ra sân, pha cám lợn. Và trong khi tôi cho lợn ăn, thì thằng con lớn của tôi cầm đàn ghi ta, hát một bài dân ca Pháp:
       ... Xa em rồi, tim tôi sầu úa …
       ... Xa em rồi, chìm trong biển nhớ …
       Tiếng lợn đòi ăn, hòa với tiếng ghi ta nỉ non, nghe mới thật nẫu lòng. Tôi cho lợn ăn xong, vào nhà, thì thấy thằng con của tôi đã nằm dài đọc một cuốn sách triết học Ấn Độ: ”Nhất nguyên thế giới“; một cuốn sách rất siêu linh nói rằng ta và thế giới là một; có thể nói cuốn sách là một vết cắt rạch đôi sơn hà, nói lên cái khác giữa triết phương đông và triết phương tây, nói rằng triết phương tây băm vằm thế giới ra làm muôn mảnh để soi để ngắm; à… cũng có thể nói cuốn sách muốn ngụ ý tôi với lợn chẳng qua là một … Nhưng mà … Tôi còn đâu bụng dạ để suy ngẫm tới những lẽ đời thâm thúy đến như thế. Lòng tôi như đang trong cơn bải hoải. Tôi mệt mỏi bước vào nhà, nói như van xin với thằng con:
- Linh ơi! Mày không thấy sốt ruột sao? Giờ này, mà mày vẫn nằm dài đọc triết học sao?
       Linh uể oải:
- Bố cứ yên chí.
- Yên chí! – tôi đai lại một cách chán ngắt.
       Tôi bỗng buồn thiu, trèo lên gác xép, kéo chăn đắp, nằm dài để cho lòng dịu xuống để cho khuất mắt, để cho những bực bội lắng đọng, rồi hòa tan trong im lặng. Và tôi chập chờn, nửa mơ, nửa ngủ. Trong phút chập chờn đó, tai tôi bỗng vẳng nghe như thấy tiếng của Tám nói trầm trầm:
- Ta hãy sống như con lợn ỉ … Hãy chỉ biết ăn  - Ăn toàn bèo cũng được.
Cứ ăn cho đến lúc cái bụng ta to bằng cái thúng, và thế là cảm giác no nê, thỏa mãn, hạnh phúc sẽ đến. Tuyệt đối chớ nên suy nghĩ, vì suy nghĩ là mầm tai ương … Đấy, lý thuyết sống bây giờ là thế.
- Anh định nói mỉa tôi sao? Thôi câm lặng đi hỡi anh chàng bẻm mép, hỡi triết gia lợn.
        Và tôi bực dọc, ngồi nhỏm dậy. Không trông thấy thằng Linh đâu. Chắc nó cũng chán đọc sách rồi, và lại đi chơi rông dài với bọn bạn. tôi buồn. Buồn thì ra xem lợn ngủ - đó là thú giải trí của tôi.
        Trong chuồng, ba con lợn ỉn mỡ màng, bụng căng như ba cái trống, đang cưỡi lên nhau mà ngủ. Ba con lợn dáng thỏa thuê phè phỡn, nằm tênh hênh ngáy pho pho. Ba con lợn đen và loang, nhưng lông thưa để lộ làn da bóng, mọng và hồng lên như quả bồ quân … Còn con lợn Bò – vét- đĩa thì thảm hại, răn rúm, lông xù vàng quạch, đang nằm phía dưới gần chỗ cứt đái, nó cố ghếch mõm vươn tới cái ổ rơm, mong hưởng một chút hơi ấm thừa.
        A! Khá thật! Chú Bò – vét - đĩa đã quỵ luỵ và lân la để được phép nằm dưới chân bọn lợn ỉn rồi. Con lợn Bò dạo này đã có tí chút da thịt. Bụng nó bụng ngựa nhưng đã to phinh phính. Nó chịu khó ”vét đĩa” thật. tôi quan sát và nhẩm ước lượng. Này đừng coi thường, có lẽ nó đã ”vét đĩa” được mmột lượng thức ăn gấp đôi lần những chú lợn ỉn. Thức ăn thừa ở máng, trước khi nó về, mỗi bữa còn thừa rất nhiều, nay sạch sành sanh.
Tôi đang mải say sưa ngắm đàn lợn, bỗng thấy tiếng thằng Linh nói phía sau. tôi quay lại. Cậu sinh viên của tôi, từ dưới hồ lướt thướt bước lên, giọng tươi tỉnh:
- Này, bố xem … Con đã bảo là bố cứ yên chí. Bố tính, chừng này cua và ốc, có đáng giá hơn chục bạc không? Bốn cân ốc, mỗi cân đồng rưỡi, vị chi là sáu đồng. Gần trăm con cua cũng ngót nghét mười đồng.                              
       Tôi lặng im, cúi đầu. Còn thằng Linh, sau khi thay quần áo, lại tiếp tục leo lên giường và quần nhau với ông triết học.


Ngày … tháng …
        Ngày mồng một tết, vợ tôi đánh đổ nước mắm; mẹ tôi bảo đó là điềm xấu, quả nhiên dạo này vợ chồng tôi hay cãi nhau. Mẹ tôi thỉnh thoảng cứ hay nhắc lại, cho rằng nguyên nhân chính của những vụ lộn xộn eo óc là do Tết đổ nước mắm. Thằng Linh thì hài hước hơn bà, nó bảo năm nay là năm khỉ, loài nhăn nhó, năm của những gia đình lủng củng bê bối.
        Vợ tôi đi làm suốt ngày, chiều tối về, lại sắn quần vào cuốc đất ở những chỗ đầu trâu mõm bò cuối hẻm, nơi có những ao tù  đặc quánh nước cống, và những đàn muỗi vo ve như ong ngay cả ban ngày. Ở ruộng về, khi cả nhà ngồi vào mâm, thì vợ tôi lại đủng đỉnh gánh nước giặt rũ. Thành thử hôm nào cũng phải phần cơm bà ấy. tôi rất bực về chuyện này. Đi làm cả ngày chẳng nhìn thấy mặt chồng, mặt con; có bữa cơm là lúc gia đình tụ họp, lại còn đủng đỉnh, chẳng thèm ăn. Hết con lớn mời, lại con bé mời… Có lẽ cô không thiết đến cái gia đình này nữa?
- Tôi lăn xương, sả thịt ra đến thế này mà anh còn bảo tôi không thiết đến gia đình. Còn anh  anh thiết đến ai? Lúc nào cũng lợn, lợn, lợn. Anh thử ngẫm xem, anh còn coi lợn hơn cả vợ anh nữa chứ.
        Cái giọng dài ra của cô ấy, rồi khuôn mặt tái lại, rồi ánh mắt sáng lên lạnh ngắt làm không gian nhà tôi bỗng nhiên ắng lại rồi như sưng tấy lên. Nỗi bực bội bỗng nhiên dâng lên trong tôi. Nỗi bực bội làm lòng tôi run rẩy nhưng tôi cố kìm giữ, tôi cảm thấy nó nghẹn ngào trong họng. tôi lại leo lên gác xép nằm dài, mắt trừng trừng mở to nhưng chẳng thấy gì hết. Mẹ tôi im lặng, vợ tôi cũng im lặng, con tôi cũng im lặng. Không gian đầy quá, đầy ứ - đầy một cái gì đó mà tôi không hiểu, nhưng tôi cảm thấy nó rất vật chất. Có lẽ cả nhà tôi đều cảm thấy nó nên không ai dám cất lời. Có lẽ ai cũng sợ tiếng nói của mình, âm thanh của mình sẽ như một giọt nước, và chỉ cần một giọt nước nhỏ xíu ấy thôi là cái đầy ứ đó sẽ tràn. tôi thức trắng đêm, mắt trừng trừng nhìn vào miền tăm tối nhất của đêm đen bên trong tôi. Phải chăng tôi đang đi tìm tên gọi của cái ứ đầy đó. Tên ngươi là chi? Đêm đen trả lời tôi bằng tiếng rì rầm như sóng biển ru rím tôi vào giấc ngủ dịu dàng. Và tôi thở dài, nhắm mắt …


Ngày … tháng …
Tám, ông triết gia lợn đến thăm. Nhà nghiên cứu về lợn ngồi uống nước, trầm ngâm  thỉnh thoảng lại liếc mắt nhìn quanh quẩn như suy ngẫm về một điều gì đó. tôi cũng ngồi trầm ngâm như anh. Bỗng nhiên, hình như Tám phát hiện được một điều gì đó. Thấy anh gật gù. Rồi anh nói một mình:
- Đúng rồi!
        Tôi giật mình:
- Anh bảo đúng cái gì?
        Tám ghé vào tai tôi, thì thào:
    - Ô nhiễm!
- Anh bảo sao?
- Ô nhiễm – Tám vẫn nói khẽ.
- Tôi vẫn chưa rõ … - tôi nhíu mày hỏi lại. Còn giọng Tám thì có vẻ buồn rầu. Lần này anh nói với tôi rõ ràng hơn:
- Tôi bảo nhà anh bị ô nhiễm.
        Tôi sửng sốt vì ý nghĩ có vẻ điên của Tám. Tám ngồi trầm ngâm thêm một phút, rồi hỏi như tra khảo:
- Nhà ta, có ai bị ốm không?  
- Không.
- Quái thật! phải có chuyện gì đó …xảy ra mới đúng chứ. Anh nghĩ kỹ xem, ít lâu nay trong nhà có chuyện gì lạ không?
        Tôi cười:
- Vợ chồng có chút to tiếng … nhưng ổn rồi.
        Tám lắc đầu:
- Không phải chuyện ấy. Ý tôi hỏi có ai ốm không?           
- Không – tôi ngạc nhiên về sự gặng hỏi của Tám. Tôi trả lời rứt khoát – Cả nhà đều khỏe cả
- Quái nhỉ!
        Tám vẫn có vẻ không tin. Anh kéo tôi đứng dậy, xuống bếp rồi ra thăm chuồng lợn. Anh chê bai:
- Chuồng lợn của anh sát nhà quá.
- Đất hẹp, ai chả làm thế.
- Không có lợi đâu – Tám nhìn tôi, cầm tay tôi rồi nói ra vẻ quan trọng – Hoàng nên nghe mình. Nên chuyển chuồng lợn ngay ra chỗ khác.
        Tôi cười mỉm:
- Anh định đặt hướng, tìm đất cho chuồng lợn như kiểu thầy địa lý tìm đất để mả?
- Chứ sao?
        Tôi ngạc nhiên nhìn Tám không hiểu anh đùa hay thật. Vẻ mặt nghiêm túc của Tám làm tôi không thể nào nói đùa được nữa. tôi hiểu Tám đang quan tâm tới gia đình tôi thực sự tôi phải tìm lời giải thích cho bạn tôi yên tâm:
- Đã đành nuôi lợn sát nhà không vệ sinh, nhưng anh thử nhìn chuồng lợn của tôi … Sạch sẽ đấy chứ? Làm gì có mùi hôi vào nhà … Lúc nãy, anh nói ô nhiễm làm tôi sợ hãi quá … Anh cho rằng … mùi lợn ô nhiễm … nguy hiểm …
- Chứ sao! Nguy hiểm! Tám gật đầu công nhận.
        Nhìn đôi mắt kì lạ của Tám, tôi lắc đầu không dám tranh cãi tiếp với anh chàng gàn dở ấy nữa.


Ngày … tháng …
        Lĩnh lương hưu được trăm tám, tôi cắt ra một trăm đong cám bã cho lợn. Vợ tôi bảo - Con mấy hôm nay phải ăn sắn trừ bữa đấy. Phải để tiền đong thêm mì sợi cho chúng. Ăn sắn mãi là bủng beo ra đấy.
        Tôi giảng giải:
- Em đừng lo. Chả mấy chốc đâu, chỉ ba tháng nữa sẽ có tiền bán lợn. Nuôi lợn phải cho nó ăn, thì cuối cùng mới có tiền em ạ.
        Vợ tôi bĩu môi:
- Lúc nào cũng chỉ lợn với lợn. tôi nói thật, anh nên bán ngay cái lũ lợn quỉ quái ấy đi. Lúc nào cũng rú rít đòi ăn … Ôi! tôi nhức đầu … Mà không chừng nó lăn quay ra cả lũ … là đi đời bao nhiêu vốn liếng chắt bóp …
- Cô không tin tôi …
- Tôi tin anh ư? Cái ngữ học trò dài lưng tốn vải như anh mà nuôi lợn có lãi, thì xin cứ chặt đầu tôi đi.
        Tôi mềm dẻo:
- Cô đừng nên bàn ngang. Người như tôi mà không nuôi nổi mấy con lợn thành công hay sao?
        Vợ tôi có vẻ bực bội:
- Thế … anh định treo mồm lũ trẻ lên hết hay sao?
        Giảng giải mãi không xong, tôi đâm bực nói ngang:
- Ừ! Cứ treo mồm hết chúng nó lên.
        Vợ tôi lắc đầu:
- Anh điên rồ rồi! Anh quí lợn hơn con anh sao?
        Mặt nóng bừng, tôi nói bừa:
- Đúng! Lợn quí hơn người.          
       Thế là vợ chồng tôi lại giận nhau. Cả ngày hôm nay, vợ tôi không thèm nói với tôi nửa lời. Cả lúc đêm xuống, vợ tôi cũng nằm quay lưng lại. Khi bóng đêm sụp xuống, đó là thời gian xoa dịu những cay cực đời người, đó là thời cơ để vá víu những rách nát vợ chồng. Nhưng đêm nay, bóng tối đôn hậu dịu dàng cũng chẳng xóa nổi giận dỗi vợ tôi.
        Tôi nằm thừ, vắt tay lên trán. Rồi nghĩ miên man; rồi tự nhủ thầm: ”Có thể ta thô lỗ quá chăng? Cục cằn nữa? Trước kia, có lúc nào ta như thế? Cái anh chàng thanh niên thanh nhã xưa kia đã biến mất tự lúc nào chẳng hay. Cái tế nhị xa xỉ đã hàng ngày đánh vật cùng cái thô nháp cường tráng để cuối cùng thua trận, nó lùi dần và chết chìm trong đêm dài vô thức, để thỉnh thoảng u ơ cựa dậy bằng những câu mỉa mai bất lực, hoằc bằng những trắng đêm thao thức sám hối, như tiếc nuối một cái gì đó không tên, không diện mạo, hoặc bằng những cơn rồ dại phi lý ngớ ngẩn …”
       Tôi tự phân tích mình, tự đào sâu vào những kẽ nứt tâm hồn, tự nậy mở những vết thương mà thời gian đã cố đắp những mảnh da non mỏng manh vốn có hiệu lực phủ lên mắt ta một màng mờ giấc ngủ.
       “Sao tôi cứ trong mắt ra như thế này hở trời! Sao tôi cực đến thế này hở trời? Hình ngục nan đào! tôi đã bị giam cầm bơ vơ trong một thế gian đông đúc. Chẳng ai thông cảm với tôi lúc này hay sao? Ngay cả vợ tôi, người bạn đường cũng quay lưng lại.“
        Từ những suy nghĩ toan tính xa vời, đầu óc của tôi bay tới những đám mây mung lung chua chát, rồi cuối cùng trở về với những lo toan thường nhật.
        “Ta trách vợ ta ư? Ta có lỗi, hay cô ta có lỗi, hay chẳng ai có lỗi? Người ta cho ta về hưu sớm. Thực ra, người ta chẳng muốn dùng ta nữa. Thời buổi đói kém, sáu chục đồng bạc hưu gày còm ấy, ta nuôi sao nổi bốn đứa con với một mẹ già. Nhìn đứa con út vêu vao, sớm đi học không cả bát cơm nguội, sao mà sót xa. Muốn kiếm tiền lắm chứ. Đã hết mọi sĩ diện. Hết mọi ảo tưởng, hết cả những ý nghĩ viển vông trong óc. Rất muốn làm một điều gì đó có ích, thiết thực. Muốn làm một nghề gì đó bằng trí óc; nhưng viết thì chẳng được, dịch cũng chẳng ai giao. Muốn làm một nghề gì đó bằng chân tay, nhưng sau ba mươi năm trời làm anh bộ đội và làm cán bộ, sự khéo léo của đôi tay đã hết rồi, mà bắt đầu học nghề thì quá muộn. Cũng có lúc muốn xuống đường, nghĩa là đi buôn, chạy áp phe, nhưng ba mươi năm trời ấy cũng biến ta thành một con người sơ cứng, ngây ngô quá đỗi, mình không còn đủ mềm dẻo, thớ lợ để thích ứng với một cuộc sống cạnh tranh, giành giật từng giây phút. Vậy thì nuôi lộn là kế sách cuối cùng. Người ta bảo những người thanh cao, càng lúc khốn khó càng biểu hiện sự thanh cao một cách toàn vẹn. Còn tôi, lúc khốn khó này, tôi đã trở nên thô tục, cục cằn. tôi không phải kẻ thanh cao; điều đó là hiển nhiên …
       Trong giấc ngủ, vợ tôi bỗng thở dài. Tội nghiệp! Sao sống với anh, đời em lắm thở dài?
       Đêm hôm ấy, tôi có một giấc mơ rất đẹp: giấc mơ lợn. tôi mơ thấy con lợn Bò của tôi biết nói. Nó lớn rất nhanh. Nó sừng sững trước mặt tôi như con bê. Nó chồm hai chân trước bíu lên cái gióng tre cũi lợn. Nó nói:
- Ông đừng lo. Ta ăn một miếng cám, ta trả một cục vàng. Ta sẽ lớn nhanh không thể tưởng tượng. Rồi ông xem. Ta sẽ đem lại cho ông nhiều tiền của … Và nhiều điều lạ.
- Sao lại điều lạ?
       Tôi ngạc nhiên – Còn con lợn thì cuời. Giấc mơ lợn kỳ cục thật. Thật vô lý và ngây ngô, nhưng chí ít giấc mơ ấy cũng đem lại cho tôi một chút hy vọng, cũng xoa dịu được lòng tôi đôi phần.


Ngày … tháng …
       Ai cũng khen con Bò - vét - đĩa lớn nhanh như thổi. Bao giờ nó cũng ăn đến phút cuối cùng và cũng ” vét đĩa ” sạch sành sanh. Và đặc biệt, thỉnh thoảng, mắt nó lại nhìn lấm lét. tôi chúa ghét lấm lét, nhưng tôi lại yêu con lợn Bò lấm lét của tôi. tôi yêu nó vì cảm thấy có lẽ nó là cứu tinh của gia đình tôi. tôi chăm chú quan sát cái sự lấm lét ấy, và phát hiện ra nhiều điều mới lạ. Mắt con lợn này đúng là loại mắt bò, thứ mắt lơ đãng, thơ ngây, có thể là dại dột nữa. Người Ấn Độ thường nói khen: ”Cô con gái ấy có đôi mắt đẹp như mắt bò”. Vậy thì theo phép suy luận lô gích tam đoạn luận, mắt con lợn Bò của tôi ắt là phải đẹp. Thật là một nghịch lý, một đôi mắt đẹp mà lại biết lấm lét! à! Ghê thật! Con mắt lấm lét ấy cũng biết hận thù đấy. Có lúc tôi đã ghi nhận được những ánh căm thù trong mắt con Bò – vét - đĩa; là lúc tôi bắt đầu đổ thức ăn vào máng và ba con lợn ỉn hả hê tranh nhau nốc thức ăn, lúc ấy Bò - vét - đĩa đứng lặng im trong xó sỉnh tăm tối của mình và giương đôi mắt bò mở to ra mà nhìn, đồng thời rãi rớt trều ra quanh mõm. Những chú lọn ỉn cũng quái ác. Khi chúng đã no phềnh, và con Bò bắt đầu vét đĩa, thì mỗi chú ỉn, trước khi vào chỗ nằm, thể nào cũng phải đấm, dúi, cắn vài cái vào bụng, vào đầu hoặc vào tai con lợn Bò. Có thể đó chỉ là sự ra oai, sự cho biết lễ độ, sự phân rõ đẳng cấp, vì vậy, những cú đánh ấy thường không đau, ít tác hại. Vả lại, Bò ta cũng hiểu rõ thân phận của mình nên không bao giờ chống trả, do đó cuộc chung sống hòa bình trong đàn lợn của tôi vẫn tốt đẹp.


Ngày … tháng …
        Người hàng xóm hơi xa của tôi là ông chủ lò (tiếng xưa), còn nói theo ngôn ngữ ngày nay, anh ta là ông quản đốc lò sát sinh. Một con người cao lớn, to béo như tây, đeo kính dâm mầu phớt hồng, mắt kính Pháp, gọng vàng tây chính hiệu, nói chung một cái kính rất mốt rất đắt. Anh ta ưa mặc quần soóc, mặc thế để khoe cặp đùi nhẵn nhụi, trắng hồng, mỡ màng. Anh ta đi một chiếc xe máy Pháp kiểu mới nhất. Lẽ dĩ nhiên anh ăn nói đàng hoàng, đối xử với hàng xóm rất đàng hoàng.
        Anh đến chơi, đề nghị thằng Linh con tôi, giúp anh việc kèm cặp học hành cho đứa con thứ hai sắp sửa thi vào cấp 3. Anh rộng rãi bảo cùng tôi:
- Bác có cần mua tóp mỡ bồi dưỡng cho lợn không? Giá cung cấp. Chỉ vài đồng bạc một cân thôi. Ăn tóp mỡ, lợn sẽ lớn rất nhanh … Mà, nếu cần, tôi sẽ giúp bác mua cả phổi lợn nữa …
        Thằng Linh hay tếu, nó cười to:
- Chú Hợi ạ, tóp mỡ thì cháu cũng thèm, chứ chả nói đến lợn.
        - Được rồi! Nếu mày giúp chú, chú sẽ giả công bằng tóp mỡ.   
        Con tôi cười to.  Và Hợi chìa tay ra:
- Thế nào? Xong chứ?                         
- Cháu xong ngay.
        Hai chú cháu bắt tay. Cả nhà tôi cười ròn, đúng là ròn như tóp mỡ.
       Thật tuyệt. Căn nhà của tôi lại sắp sặc mùi tóp mỡ lợn. Đêm nay, đi ngủ tôi còn mơ thấy mùi ngầy ngậy của những tảng tóp mỡ. Cuộc đời kỳ lạ thật! Ngày xưa, tôi đã làm nghề thầy giáo tư gia. Ngày đó, cậu gia sư phải đạo mạo nghiêm trang; đầu tháng, khi trả tiền, người chủ nhà khi xưa vẫn đặt tiền trong chiếc phong bì thơm phức và nói bằng một giọng thật khách sáo: ”Gọi là có một chút ít để cậu tiêu vặt.”
        Còn ngày nay, cuối tháng ông chủ sẽ đem chiếc cân ra, bốc nắm tóp mỡ lợn và cười nói oang oang:
- Tháng này chú trả công cho cháu ba cân tóp mỡ nhé. Thế nào? Muốn trả làm một kỳ hay hai kỳ?
        Hoặc:
- Tháng này ít tóp mỡ quá. Thay thế một cân tóp mỡ bằng ba cân phổi tưoi nhé? Xong chứ?
        Cứ tưởng tượng ra cái cảnh đặc biệt, kỳ dị ấy, đã thấy thú vị, và nụ cười đã bất giác nở trên môi.


Ngày … tháng …
        Tôi đọc những trang bản thảo còn tản mạn, cuốn ”Bách Khoa Lợn” của Tám. Đó là cuốn từ điển viết theo chủ đề. Tám đã tạo ra những chữ hoàn toàn mới lạ như: Bái- trư - giáo, Trư luận, Trư học. Có lẽ vào thời buổi đói khát nên chữ Thịt lợn được tôi đọc trước tiên. Đây là một bữa cỗ ngôn ngữ, bữa cỗ trên giấy. Chúng ta gặp ở đây những chế phẩm của thịt lợn từ đông sang tây: những pa tê, dăm bông, xúc xích của người châu âu; rồi đến giò, nem, ninh, mọc của tổ tiên ta. Riêng giò chả đã có giò lụa, giò hoa, giò xào, giò chả cầy, chả quế, chả rán, chả nướng, chả băm viên, chả bì … tôi thật không ngờ riêng thịt lợn mà con người đã có hơn một trăm cách chế biến. Cái món tiết canh,thứ chế phẩm độc đáo có một không hai trên thế giới, thứ thức ăn Việt đã được nhiều người ưa thích nhất và cũng bị nhiều người lên án và ghê tởm nhất, đã được giáo sư Tám dùng bút xem xét kỹ lưỡng: ”Có lẽ đây là món ăn sống nguyên thủy nhất, cổ sơ nhất của loài người từ thời hồng hoang còn sót lại chỉ riêng trên đất Việt. Tổ tiên chúng ta ngày xửa ngày xưa, khi săn bắt được con thú, đã biết sử dụng triệt để; có lẽ việc đầu tiên, khi con thú ngã xuống, là cắt cổ con vật và toàn thể bộ tộc thay nhau xô tới, áp mồm vào cổ con vật mà hút, mà nuốt cái dòng nước đỏ loè, mằn mặn, ngòn ngọt, âm ấm. Rồi việc đó được áp dụng cho cả con người, những tù binh, những kẻ bị hiến tế. Tổ tiên ta đã đốt lửa lên, đánh trống bập bùng, rồi nhảy nhót, rồi cắt cổ một tên tù binh nào đó và tất cả bộ tộc cũng xô vào mồm bám chặt lấy cổ tên giặc mà hút, mà rít, mà nuốt cho đến khi tên địch đờ đẫn và ngoẹo đầu xuống. Người Việt ta vốn là dân sành ăn, tinh tế trong ăn uống. Cái món ăn kiểu hút cổ họng đó chắc chắn bất tiện và thiếu đàng hoàng. Ra chốn đình trung, các cụ cần khề khà, cần rung đùi, cần chậm chạp vừa ăn cỗ vừa nghĩ mưu, nghĩ mẹo. Chính vì vậy nên nhân tiết canh, rồi lá húng, rồi lạc rang giã nhỏ được ra đời, để tạo ra món ăn có một không hai trên toàn vũ trụ.”
        Khi đọc môn tâm lý học quản lý của người Nhật, tôi biết ở bên đó, ở nhiều xí nghiệp đều có ”phòng hả giận” (desagressivity hall). Nguyên do là thế này, môn tâm lý học phương tây cho rằng trong mỗi con người đều có một bản năng thô bạo cuồng điên. Nếu không giải quyết, chất cuồng điên ấy sẽ tích tụ, và sẽ gây nhiễu loạn; vậy thì mỗi xí nghiệp, đều cần phải có “phòng hả giận” , đó là gian phòng trong đó có những găng bốc, những đao kiếm, những bao cát, những hình nhân; và người công nhân, sau giờ làm việc, hãy vào đấy mà đâm, mà chém, mà đánh bốc vào những bao cát, những con nộm để đến cuối cùng mồ hôi toát ra và tất cả nỗi bực bội của kiếp nhân sinh cũng hả theo.
        Người Nhật quá sùng phương tây, họ quên mất ở phương đông, cụ thể là ở Việt Nam, còn có món tiết canh, một món ăn giải nhiệt, hả giận cực kỳ. Đông y có nói: Tiết vị hàn, mát, có thể giải nhiệt, chữa được chứng phong cuồng. Tôi khuyên người Nhật nên mở những quán tiết canh thay cho ”phòng hả giận”. Sau giờ làm, người công nhân vào quán, ăn món ăn hả giận đó, mồm sẽ nhoe nhoét đỏ, và nỗi phiền muộn tích tụ cũng sẽ được tiêu tan…”
       Tôi đọc xong mục tiết canh lợn, thấy ngồ ngộ, môi chợt nở nụ cười không cưỡng nổi. Và tôi bị hút vào cuốn Bách Khoa.

(Còn tiếp)

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Tình lỡ - NS Thanh Bình - Ca Sĩ Mai Khôi

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Đừng có bắt nhau bội thực thịt mỡ thế chứ



Cảm giác có cái gì đó không ổn. Hôm trước thì thấy người ta lo bảo vệ mộ Đại tướng khỏi bão, đến hôm qua, lại đọc >>> “Truyền thuyết dân gian” mới về sự khuất phục lạ kỳ của bão Haiyan.

Chứng kiến cảnh đổ nát, hoang tàn, chết chóc của Philippines sau trận cuồng phong mang tên Haiyan mới thấy đất nước mình thật có hồng phúc.

Sức mạnh vô hình ấy ở đâu?... Chúng tôi tin rằng nó tỏa ra từ Vũng Chùa – nơi yên nghỉ của vị Đại tướng đã thành huyền thoại, đã hiển Thánh trong lòng dân. Nhìn trên bản đồ nước Việt, khu mộ Đại tướng nằm trên một vùng đất nhô ra biển, tựa lưng vào núi, án ngữ vị trí tiền tiêu, che chắn cho biển trời Tổ quốc”.

Mình mà là con cháu họ Võ, sẽ quỳ xuống vái 3 vái cái bác viết bài này, mong bác tha cho ông cụ.

Đừng có bắt nhau bội thực thịt mỡ thế chứ.

Nguồn: FB Đào Tuấn

Phần nhận xét hiển thị trên trang