Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Năm, 17 tháng 1, 2013

Tin về nhà thơ Hoàng cát!

Đến thăm Hoàng Cát càng thấy đời bất công

Trần Nhương
Thứ bẩy ngày 15 tháng 12 năm 2012 11:45 AM
Sáng nay 15-12-2012, tôi đến thăm Hoàng Cát. Tôi đến bệnh viện thì anh vừa về nhà, mặc dù phẫu thuật ổ bụng vẫn chưa ổn định nhưng phải ra viện để đi trị xạ ung thư hạch cổ.
  Tôi được ủy nhiệm của các bạn VNS Huế và một bạn yêu văn chương trong SG và một chút của tôi. Tôi chuyển cho Hoàng Cát số tiền 7,2 triệu để anh thêm chút chi cho việc trị xạ.
Cát nằm trên giường, sắc diện chưa đến nỗi nào mặc dù sút 5 kg. Chơi với nhau nhiều lúc câu thơ tung tẩy mà ít khi nói với nhau về đời sống. Tính Cát lại không hay kêu ca. Hôm nay hỏi ra mới biết Hoàng Cát bị thương mất một cẳng chân ngày 20-12-1969 đúng dịp Tết âm lịch, tại Quảng Đà. Cát làm tại nhà máy Cơ khí Trần Hưng Đạo gần 20 năm. Do thương binh nên anh về mất sức năm 1980. Bây giờ hàng tháng anh chỉ có trợ cấp hơn 1 triệu đồng, nghe đâu sẽ chỉnh lên 1,5 triệu. Cát bảo đã được lĩnh chó đâu. Tôi ngạc nhiên hỏi thế không có trợ cấp thương binh à ? Cát nói đếch có gì “thương binh thật thì không trợ cấp, thương binh rổm thì nhận tiền. Đời nó chó thế mày ạ…”  Rồi vợ chồng Hoàng Cát bảo tôi họ xếp thương tật của Cát loại thấp nhất trong thứ bậc thương binh. Trời đất mất một cẳng chân mà chỉ ngang anh mất một ngón tay…”Tao đếch thèm phong bì chúng nó nên nó xếp cho mình loại bét, tao thương cái chân tao dại dột bỏ lại Quảng Đà…”
 Hoàng Cát còn bị nạn 16 năm vì thiên truyện ngắn nổi tiếng "Cây táo ông Lành". Tôi nhức buốt trong lòng khi nghe bạn nói. Tại sao lại bất công như thế nhỉ. Hy sinh cho đất nước để rồi bọn tham nhũng, bọn cường quyền, bọn sâu bọ ăn ngập miệng. Tôi thầm nghĩ chả nhẽ "Cây táo.." vẫn đang di căn theo đuổi đời Hoàng Cát ?
Thương bạn tôi mà chỉ biết kêu lên liệu có ai nghe thấu, hỡi những ông đầy tớ nhân dân .
Sắp tới trị xạ chắc Cát cần có tiền để lo mà vợ chồng Hoàng Cát quá nghèo. Rất mong các nhà hảo tâm giúp đỡ một nhà thơ, thương binh, tác giả thiên truyện ngắn nổi tiếng "Cây táo ông Lành".
Ảnh: 1- TN trao quà cho Hoàng Cát.
2- Chhan cụt của Hoàng Cát
3- Thẻ thương binh của Hoàng Cát


Nhà thơ Hoàng Cát đã gặp được người Cựu chiến binh tử tế

Thư ký Thời Đại
Thứ ba ngày 15 tháng 1 năm 2013 8:29 PM
Sau khi đọc loạt bài nói về anh Thương binh & Nhà thơ Hoàng Cát trên Trannhuong.com; thấy cảnh đời bất công, Đại tá, Tiến sĩ Lê Hoa nguyên Thư ký Đại tướng Văn Tiến Dũng rất xúc động, bức xúc và đã tìm đến gặp Cựu chiến binh Hoàng Cát thăm hỏi tặng quà và nói với Thương binh Hoàng Cát tôi sẽ làm Kiến nghị gửi Các cơ quan quản lý Nhà nước về vấn đề này và sẽ hỏi đến cùng cho ra lẽ phải.
Đại tá, Tiến sĩ Lê Hoa sinh năm 1931 bảo vệ  Luận án Tiến sĩ khoa học quân sự năm 1978( thời kỳ này việc học hành và chấm thi còn rất nghiêm túc). Mặc dù đã ngoài 80 tuổi nhưng trông đại tá vẫn lanh lợi, tiếng nói vẫn sang sảng, chiều nào  đại tá cũng đến Câu lạc bộ Ba Đình đánh bóng bàn và bơi lội. Tôi thực sự kính trọng Đại tá  Lê Hoa – anh bộ đội cụ Hồ mẫu mực và rất trách nhiệm với anh em bạn  bè đồng đội. Đại tá làm đơn kiến nghị hỏi cho anh Hoàng Cát gửi tới gần chục cơ quan và các Vị lãnh đạo, không muốn chuyển theo đường bưu điện sợ lâu và thất lạc, mặc dù mấy ngày vừa rồi giá rét như thế nhưng sáng sớm đã đi xe máy đến các Cơ quan để gửi trực tiếp đơn và xin lại biên nhận; một vài cơ quan anh còn xin trực tiếp gặp các Thủ trưởng đề trình bày thêm, anh rất mong các Vị lãnh đạo cũng như các Quý cơ quan sớm xem xét giải quyết mọi chế độ thương tật cho anh Hoàng Cát từ 1980 đến nay vì hoàn cảnh của anh Hoàng Cát cũng rất thương tâm.  Thương binh Hoàng Cát mới phải đi phẫu thuật ổ bụng sau khi ra viện được mươi ngày lại phải vào Viện chạy xạ vì anh Hoàng Cát mắc thêm bệnh ung thư hạch cổ nên số phận của  thương binh Hoàng Cát rất mong manh.
 Đồng cảm với những đau thương mất mát của anh Hoàng Cát; kính nhờ anh Trần Nhương chuyển tải kiến nghị của Đại tá Tiến sĩ Lê Hoa lên trang nhà để anh em bạn bè, những đồng đội năm xưa còn lại  của Nhà thơ Hoàng Cát biết  và cũng rất mong sự cưu mang về vật chất của bạn bè để anh Hoàng Cát chống chọi với căn bệnh hiểm nghèo trong lúc khó khăn này.
Trân trọng cảm ơn !
Hà Nội ngày 10/01/2013
Thư ký Thời Đại.
......................................................................................
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
ĐỘC LẬP TỰ DO HẠNH PHÚC
                 Hà Nội ngày 05 tháng 01  năm 2013

Kính gửi: -   UB Pháp luật của Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam;
- UB về các vấn đề Xã hội của Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam;
- Ông Bộ trưởng Bộ Quốc Phòng Việt Nam;
 - Bộ trưởng Bộ Lao động Thương binh xã hội;
- Ông Chủ tịch Hội cựu Chiến Binh Việt Nam;
- Ông chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam;
- Bà Chủ tịch Hội đồng Nhân dân thành phố hà Nội;
- Ô Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội.

Kính thưa Các Quý cơ quan và các Quý vị
Tôi tên là Lê Hoa  sinh năm 1931, Tiến sĩ,  Đại tá quân đội nhân dân Việt Nam, đã nghỉ hưu hiện thường trú tại số nhà 6 Ngách 5 – 34 A Trần Phú;Phường Điện Biên, Quận ba Đình, Hà Nội.
Tôi xin phản ảnh và kiến nghị với các Quý cơ quan và các Quý vị một việc như sau:
Cách đây hơn 30 năm khi tôi còn trong quân ngũ tôi đã nghe về nhà thơ Hoàng Cát và được biết anh cũng là một chiến binh  chiến đấu ở  chiến trường Khu 5  và bị thương mất một chân.
Tháng 12 năm 2012 nhân một buổi tình cờ tôi gặp một người bạn kể cho tôi nghe về nỗi oan trái đối với anh Hoàng Cát; Với tình cảm của người lính với nhau tôi đã đến thăm anh Hoàng Cát(anh Hoàng Cát sinh năm 1942 tại Nghệ An hiện tại là Hội viên Hội Nhà văn Hà Nội & Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam; anh đã được Hội Nhà văn Việt nam xuất bản nhiều tập Thơ và Truyện ngắn) anh cùng là Hội viên Hội Cựu chiến binh Việt Nam) tại nhà riêng Ngõ 103 Phố Nguyễn An Ninh; Quận Hoàng Mai, Hà Nội(trước kia thuộc Quận Hai Bà Trưng) và được anh kể về cuộc đời oan trái mà anh gặp phải: Anh nhập ngũ  01 tháng 5 năm 1965 và lên đường vào Nam chiến đấu; năm 1969 khi chiến đấu ở mặt trận Quảng Đà anh đã bị thương mất 01 chân, sau một năm chuyển dịch qua các binh trạm dọc đường Trường Sơn mới ra được miền Bắc để điều dưỡng và lắp chân giả. Năm 1972 anh được Hội Nhà văn Việt Năm triệu tập  đi học lớp “Bồi sáng tác của Hội Nhà văn ở Quảng Bá, Hà Nội đến tháng 12/1972 do máy bay Mỹ ném bom đánh phá ác liệt Hà Nội nên lớp học đã phải đi sơ tán. Sau khóa học những anh em thuộc Hội Nhà văn cử đi thì trở lại Hội Nhà văn, còn anh lại trở về Nhà máy cơ khí Trần Hưng Đạo Hà Nội  nơi trước kia anh đã từng làm cán bộ kỹ thuật. Tháng 01/1974 truyện ngắn “Cây táo ông Lành” viết cho Thiếu nhi được đăng trên báo Thiếu Niên thì anh bắt đầu bị cơ quan cho nghỉ mất sức nên cuộc sống gia đình anh lâm vào cảnh túng thiếu, anh đã phải bán nước chè ở Vỉa hè trong ngõ nhưng chính quyền cũng không cho hành nghề nên anh đã phải làm chiếc xe đẩy đi bán rong  ở các phố khác nhưng cũng có nhiều ngày không bán được hào nào. Tuy chỉ có một chân, anh đã xoay  xỏa đủ nghề để kiếm sống nuôi thân và nuôi đứa con gái đang tuổi học trò. Anh bị thương mất 01 chân ở chiến trường từ 1969, sau khi được điều chuyển ra miền bắc anh đã được cấp thẻ Thương binh và được hưởng trợ cấp 8% bậc lương đang hưởng(tại thời điểm đó 8% bậc lương là vô cùng nhỏ) nhưng từ năm 1980 anh anh  bị cắt toàn bộ chế độ trợ cấp thương tật cho tới tận ngày nay với một lý do đơn gản “đã về mất sức” đến năm 1997 khi khám xét để cấp lại thẻ mới người ta còn “gợi ý này nọ” nhưng vì hoàn cảnh quá khó khăn, không đáp ứng được  nên anh chỉ được xác nhận thương tật loại IV(loại thấp nhất). Một điều vô lý là tuy có thẻ thương binh nhưng anh không được nhận phụ cấp thương binh vì đã nghỉ mất sức(giải thích của Phòng Lao động thương binh xã hội Quận Hai Bà Trưng, Hà Nội). Và câu chuyện “Cây táo ông Lành”đã đưa anh vào vòng lao lý, sau này có sự nhìn nhận lại  thì chẳng qua do nhận thức của một thời ấu trĩ chứ nội dung câu chuyện chẳng có gì độc hại và ghê gớm như những người lãnh đạo giới Văn nghệ hồi ấy nhận định.
Là một quân nhân tôi thấy cách đối sử với một người thương binh như vậy là trái với đạo lý uống nước nhớ nguồn, trái với chính sách của Đảng và Nhà nước đối với người có công.
Từ thực tế sự việc trên tôi kính đề nghị các Quý cơ quan; các Qúy vị:
1/ Chỉ đạo các Cơ quan chức năng kiểm tra xem xét để giải quyết quyền lợi chính đáng cho anh thương binh Hoàng Cát đã có công chiến đấu vì sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc theo đúng cấp hạng thương tật;
2/ Phải truy trả tiền trợ cấp thương tật cho anh Hoàng Cát và anmh Hoàng Cát phải được truy lĩnh từ  năm 1980 đến nay.
Kính mong được sự quan tâm của các Quý Cơ quan và các Quý vị đố với các Thương binh đã chiến đấu hy sinh vì nền độc lập tự do của ngày hôm nay.
Trân trọng cảm ơn!
Đại tá, TS. Lê Hoa

================================
Trân trọng cảm ơn đại tá TS Lê Hoa về nghĩa cử của ông đối với đồng đội mình, với nhà thơ được bạn đọc ngưỡng mộ!
Các bạn CCB, bạn viết và bạn đọc xa gần nếu có tấm lòng chia sẻ với nhà thơ Hoàng Cát xin liên hệ với nhà thơ Trần Nhương, số điện thoại: 0903432232 để biết TK gửi hỗ trợ nhà thơ kém mắn trong lúc khó khăn này!
Xin trân trọng ghi nhận và cảm ơn!

 

Thứ Tư, 16 tháng 1, 2013

Chuyện cũ rán lại

 Anh Nhỡ.
                      
                          Truyện ngắn của Hồng Giang

Cô  Luân nhìn trước nhìn sau , đồng vắng tanh không một bóng người . Giữa tháng tư nắng như đổ lửa xuống cánh đồng. Chả ai còn ở đến giờ này ngoài bãi . Chả biết ma xui , quỷ khiến thế nào cô đã sắp gánh để về , lại đứng tần ngần trước nương ngô vừa chớm vàng bẹ . Cô nhìn trước nhìn sau chả thấy ai cả . Có chăng chỉ có ông mặt trời đang hừng hực trên cao , vài đám mây mỏng đang trôi rất nhah ngay giữa đỉnh đầu ..Cô nghĩ đến mấy đứa con mấy ngày nay toàn cơm độn sắn khô , đứa nào mặt cũng bủng beo , võ vàng . Ước gì chúng được nồi ngô luộc chúng sẽ mừng lắm . Mọi khi thỉnh thoảng cô cũng lấy dăm ba quả , giấu trong mớ cỏ về cho chúng nướng lên ăn. Vài quả ngô với đám con luôn đói thèm chả khác nào cho voi ăn thuốc gió . Chúng tranh giành , đánh nhau thâm tím cả mặt mày , nom đến tội ..
Cô đã định thế nào cũng có dịp cho chúng ăn chán một phen . Định thì định thế , nhưng chưa khi nào cô thực hiện được . Tính cô nhút nhát , xưa nay có trộm cắp của ai cái gì bao giờ ? Chẳng qua thương con mà làm liều !
 Ruộng hợp tác có mất vài quả ngô cũng chẳng thiệt riêng đến ai cả , chả sợ lương tâm cắn dứt như người ta nói .
Nhưng mấy lần định ra tay thì đều gặp người , lúc người ta sửa đường , khơi mương , khi gặp đám trẻ chăn trâu bò ngang qua . . Chỉ vội vàng vặt được đôi ba quả .
Đúng là hôm nay trời giúp cô rồi . Những quả ngô nần nẫn ngay trước mặt, cô nhìn quanh vẫn chỉ có nắng và làn gió nhẹ đang vờn nương ngô xanh mướt , tuyệt nhiên không có bóng dáng con người .
Cô lẩn nhanh vào đám ngô, lựa những quả to nhất đùm vào cái áo cánh vừa cởi ra . Trên người còn độc chiếc yếm son che được một phần trước ngực , cánh tay và lưng trắng loá dưới ánh mặt trời . Những lá ngô sắc lẻm cứa vào da son sót , cô  mặc kệ , nhanh nhẹn như thì con gái dù bây giờ đã ngoài ba mươi tuổi rồi .
 Đến khi không đùm được nữa , cô  vội vàng quay ra. Đến đầu bờ cô chột dạ , có bóng đen lù lù ngay trước mặt ! Người hay ma ? Đồng này người ta đồn là hay có ma , thỉnh thoảng vẫn hiện hình  giữa ban ngày . Cô đứng sững lại , đùm ngô trong tay rơi bịch xuống đất ..
Có tiếng cười khầng khậc nghe rợn người :
- Bắt được quả tang bẻ trộm ngô hợp tác rồi nhớ !
Cô định thần nhìn kỹ : Người chứ không phải ma, lại là lão hàng xóm nhà cô ,  lão ở tổ bảo nông của hợp tác xã làng này . Nhưng không vì thế mà cô  đỡ sợ hơn, thậm chí nỗi sợ hãi còn khiến cô  suýt nữa thì vãi ra quần . Hình ảnh mình đầu bù tóc rối , mặt xám ngoét , tay xách đùm ngô đi trước , lão Bạnh chân tay ngắn ngủn , cầm khúc gậy đi sau làm cô thấy nhói trong ngực , không còn hồn vía nào nữa . Lão sẽ đưa cô  về sân nhà kho , tống vào lò thúc mầm chờ ý kiến ban quản trị .. Cô chẳng còn đường nào mà chối cãi , tội trạng rành rành , có đủ tang vật , có mà chối đằng trời ! Còn mặt mũi nào để sống với dân với làng ở làng này nữa . Nỗi sợ khiến cô  choáng váng, cuống cuồng , cô vội vàng quỳ xuống như bản năng hèn hạ bẩm sinh của con người dẫn dắt , vái lão Bạnh lia lịa , miệng  nói không ra hơi :
- Em cắn rơm cắn cỏ em lạy ông , ông tha cho em lần đầu !
Bạnh cười hẹ hẹ :
- Ai biết là lần thứ bao nhiêu rồi ?
- Em xin thề đây là lần đầu ạ , nếu em nói sai ..
Lão Bạnh gắt :
- Thề cá trê chui ống , thôi tốt nhất cứ gánh cả gánh cỏ đi theo tôi , về ban quản trị giải quyết !
Cô Luân vẫn quỳ nguyên tại chỗ , mặt tái nhợt nom như người chết đuối vừa được vớt lên, miệng vẫn không ngớt van vỉ . Đôi mắt trắng dã to như hai cái ốc nhồi của lão Bạnh dừng lại ở cái yếm son cô đang mặc . Không biết lão thương tình hay vừa có ý nghĩ nào vừa vụt đến , giọng lão dịu hẳn đi :
- Thôi nào , ai làm gì mà van mới chả lạy mãi..
- Thế ông tha cho em chứ , em chót dại lần này , lần sau em không dám thế nữa .. Em đội ơn ông !
- Hừm ơn mới chả huệ , ơn huệ thì làm cái đếch gì ?
- Dạ ông muốn gì , em về sẽ mang đến tận nơi , tạ tội với ông , ông cho em về nhá ? cô  định với cái áo mặc vào , lão bạnh giật ngay lấy , nắm chặt trong tay , ghé vào sát tai cô :
- Đây chẳng dại , về nhà rồi đằng ấy đánh dắm cãi xoá , hoà cả làng à ? đồng ý thì giải quyết ngay ở đây.. kia !
Cô luận vẫn chưa hiểu :
- Là thế nào ạ ? Giải quyết gì ạ ?
- Còn giả vờ , là cái khoản .. Ta..  ấy !
Cô hiểu , vội xua tay :
- Em xin ông , nhà em biết nó giết em mất !
- Có ma nào ở đây mà biết được ? Mình tôi với cô .. sợ gì chứ ?
Cái dáng của lão Bạnh mới nom đã hãi rồi , lão tròn trùng trục như cái thùng phuy , đầu trơ trọc như gắn liền với ngực , không nhìn thấy cổ , hai mép nhờn những bựa , thấy kinh !
 Làm chuyện ấy với lão thì có khác gì bị tra tấn ? Cô hoảng hốt , bất ngờ vùng bỏ chạy. Nhưng mái tóc dài đen rưng rức làm hại cô , nó bị lão Bạnh túm lấy  , làm cô đau nhói đỉnh đầu , suýt nữa thì cô ngã ngửa ngưòi về đằng sau .. Lần này lão Bạnh chẳng nói chẳng rằng vồ lấy cô , lão ghì chắc trong vòng tay cứng như hai cái chổi bừa khiến toàn thân cô tê dại .Lão hôn lên mặt , lên cổ ,vạch cái yếm cũ ngấu nghiến như con thú bắt được mồi tươi . Đã lâu lắm rồi , kể từ ngày vợ lão bỏ đi , lão thèm hơi đàn bà ..
 Không một phụ nữ nào có thể chịu đựng nổi lão . Người lão ngắn một mẩu ,nhưng mà xấu dây , tốt củ , cái" của nợ"  của lão dài kinh người .. Chợt nhớ đến lời đàm tiếu về lão Cô Luân dùng hết sức bình sinh để vùng thoát ra , nhưng không kịp nữa rồi . Cô thấy nhói đau phần dưới cơ thể lúc này đã mềm nhũn của mình. Mặt , cổ , ngực cô lúc này nhầy nhụa bọt dãi của tên khốn nạn. Cô mê man không còn biết gì nữa ..
Lúc cô tỉnh dậy hoảng sợ thấy bốn bề vắng lặng . Mặt trời đã lên cao giữa đỉnh đầu , cái nắng nhức nhối da thịt , toàn thân cô lấm láp , đau đớn như vừa qua một cuộc tra khảo ghê gớm .. Cô bật khóc . Thương thân , tủi phận mình .
Sao lại ra nông nỗi này ? Vì vài quả ngô có đáng không ? Nếu cô không làm chuyện ấy , cho kẹo tên khốn cũng không dám giở trò ! Mà nếu mình kêu cứu thì chuyện gì sẽ xảy ra , cô thừa biết . Việc ấy còn đáng sợ hơn bị hãm hiếp mặc dù đến bây giờ mùi thối nồng nặc từ mồm lão , mùi hôi trên cái thân thô kệch,  xấu xa của lão vẫn còn ám lên da thịt cô ..

Không còn cách nào khác cô uể oải gánh gánh cỏ ra phía bờ sông , bỏ mặc những quả ngô lăn lóc trên đám cỏ gà mọc loe hoe đầu bờ ruộng .
Nước sông mát rượi như khoả lấp nỗi đau thân xác cô . Cô kỳ cọ như muốn rách da thịt , vò sạch quần áo dính đầy đất cát rồi cứ mặc quần áo ướt về làng . Cô thầm cầu mong không ai biết chuyện này , nó sẽ qua đi như một tai nạn ngoài ý muốn . Thế nào về nhà chồng cô cũng hỏi sao quần áo lại ướt như chuột lội đồng thế kia ? Cô sẽ nói bị bọ róm , ngứa nên phải tắm , chắc chồng cô sẽ tin . Có ai có thể ngờ được một việc như vừa rồi  vừa xảy ra ?

*
Ba bề bốn bên lau sậy um tùm .
Ngôi nhà của mẹ con cu Nhỡ như lọt thỏm giữa cỏ cây hoang dại . Bố nó vừa mất mấy năm nay do bệnh thổ huyết vì lao lực . Có người nói ông chết vì cuộc đời âm thầm mang những nỗi buồn phiền , không dám nói cùng ai .
Thằng Nhỡ ra đời , càng ngày nó càng không giống các anh chị nó . Nó ngắn ngủn tay chân , mới tý tuổi đã có cái u thịt nần nẫn sau gáy . Da nó đen cháy , nước da đen ấy như từ trong máu thịt lọt ra ngoài . Ngày xưa người ta có thể nghĩ và bảo nó là con lai vì nước da với mái tóc xoăn tít.
Nhưng hoà bình đã lâu rồi , người Pháp đã về nước họ mang theo đoàn Lê dương gốc gác Phi châu .
 Lai F2 ở vùng này cũng hiếm , độc nhõn đứa con gái sau này bỏ nhà đi đâu biệt tích .
Chẳng cần suy tính nhiều , người ta nghĩ ngay đến lão Bạnh , nó giống lão như hai giọt nước , không trộn vào đâu được !
Ông Luân âm thầm đau khổ vì miệng lưỡi thiên hạ . Nó còn sắc hơn gươm giáo , hàng ngày hàng đêm cứa vào lòng ông xót buốt . Ông không muốn tin là vợ mình là con người hư hỏng , ăn ở hai lòng . Nhưng ông không sao hiểu nổi vì sao lại có chuyện đứa con vợ mình đẻ ralại giống tên hàng xóm đáng ghét mà ông không ưa . Tuy ở gần nhau , hàng năm hàng đời hai bên không hề qua lại . Lão không đến nhà ông bao giờ , làm gì có chuyện vợ mình tư tình với lão ? Ông cũng chẳngmấy khi xa nhà để hở cơ là lợn ăn khoai ! Có đi đâu cũng chỉ chốc nhát rồi về , đi lâu ngày càng không . Giá như ông biết được nó đi một nhẽ , có thể đau đớn , tuyệt vọng một thời gian, rồi quên dần đi .
 Càng thắc mắc ông càng day dứt trong lòng . Hỏi thì vợ nói " Mình hay chửa , ngoài mình ra em có ăn nằm với ai đâu ? Đừng nghi oan cho em mà phải tội" 
Ông rất muốn lời vợ mình nói là sự thật , vợ ông xưa nay chẳng điều tiếng gì . Nhưng những lời đàm tiếu như những mũi tên nhắm vào ngực ông , mỗi ngày thêm nhức nhối , không thể chịu đựng  được nữa .
Một buổi sớm mùa đông , gió bấc rét căm căm , xóm làng còn chìm trong giấc ngủ , vợ chồng con  cái ông khăn gói , len lén ra đi ..
Ngày ấy kể như đi biệt xứ vì đường đi lối lại xa xôi cách trở , không phải như sau này chỉ vài giờ chạy xe là về làng cũ . Lúc đó mất cả mấy ngày, thậm chí mất cả tuần lễ chầu chực ở các bến xe . Người người rồng rắn nhích từng nửa bước chân theo những viên gạch nhẵn bóng vệt tay người ..
Nơi ở mới cách xa hàng trăm cây số , được cái gần kề bến sông . Tưởng đâu vợ chồng mình không bao giờ còn gặp người làng để khỏi nghe những lời xì xào đáng ghét .
Nhưng ông Luân nhầm . Làng quê ông là một làng tứ tán , chẳng có nơi nào mà không có người mò đến . Thôi thì trong nam , ngoài bắc , phố thị , hang sâu chả ở đâu mà không có người làng ông . Những câu chuyện xưa cũ hay có , dở có cũng theo miệng họ tứ tán khắp nơi một cách vô tình . Người ta không ác ý , nhưng câu chuyện làm quà , mua vui ở chỗ đông người để xua tan chuyện đời cơ cực của những con người kém may mắn và ít học .
Qua khứ là cái bóng nặng nề tròng lên cổ những ai bất hạnh . Dù muốn chối bỏ nó cũng thật khó lòng .. Nơi ở mới người ta lại biết niềm riêng cuộc đời ông , làm nỗi đau cũ tấy lên , đau hơn cả những năm tháng ở làng .
Một lần tình cờ lão Bạnh đi làm thuê cho bọn buôn bè ở gần đấy ghé vào nhà ông nhờ thổi cơm , thì ông gục hẳn . Lão không cố ý , mà chỉ tình cờ ghé vào ..
Ông ốm không biết mình mắc bệnh gì , chán cơm thèm đất , thổ huyết hàng tháng trời, rồi đi ..

***
Mới đấy với đây mà đã hơn hai chục năm trời .
 Anh Nhỡ đã đến tuổi trưởng thành . Khu đất hoang gần bờ sông đã thành làng đông đúc .
 Không biết  bao nhiêu nước đã trôi cùng ngày tháng trên bến sông này . Nhiều chuyện qua đi , chìm vào dĩ vãng . Nhưng cũng có những nỗi đau không bao giờ quên được , nó để lại di chứng suốt đời , vết thương luôn há miệng không bao giờ lành cho ai không may gặp phải .
Bà Luân lưng đã hơi còng , suốt ngày lặng lẽ , không ai thấy bà cười , cần lắm bà mới nói đôi ba câu , thật nhỏ , đủ nghe .
Chuyện về anh cu Nhỡ không ai còn để ý , hoặc giả nhìn mãi , nghe mãi quen tai , quen mắt cũng trở nên bình thường.
 Hơn nữa Nhỡ lại lém lỉnh , tán chuyện có duyên rất dễ gần gụi với mọi người .
Ngay từ nhỏ anh đã rất dễ nuôi , cứ lớn lên như củ chẳng biết nhức đầu sổ,  mũi là gì . Anh lại khéo tay , việc gì làm cũng giỏi , làm xong tít mắt cười , môi cong tớn lên , dễ thương một cách tội nghiệp .
 Chỉ mỗi cái tội học hành ít ( nghe đâu bị  bạn bè chế nhạo ở trường nên Nhỡ chán nản , rồi bỏ hẳn ).
 Mà ở cái làng này có học cũng kể như bằng thừa , mấy người có điều kiện cho con học lên cao ? Hay hết phổ thông vẫn cứ quanh quẩn ở nhà , vài năm quên hết , chữ thầy lại trả cho thầy ?
Nghe nói chuyện học hành Nhỡ nheo mắt mà rằng: " Văn hay chữ tốt , không bằng thằng dốt lắm tiền " ( Cái giống mắt ốc nhồi mà nheo thì trông buồn cười lắm ! )
Thực ra thì Nhỡ chưa phải là đã có tiền . Nhưng Nhỡ tin một ngày nào đó , sẽ kiếm được nhiều tiền bằng cái nhanh nhạy, tháo vát của mình . Tuy không nói ra mồm,  nhưng Nhỡ ngấm ngầm muốn bù đắp cho mẹ . Nhỡ biết mẹ khổ .

Miệng thế gian đã đành, vì không ai lấp được , nhưng đến ngay con đẻ của mình bà cũng bị chúng xem rẻ . Nhà có bốn anh chị em nhưng ba đứa lớn hay phân biệt đối xử , Nhỡ không bao giờ được các anh chị thân thiết . Chúng ghẻ lạnh ra mặt , lườm nguýt như kẻ khác máu tanh lòng .
Bà Luân chỉ còn biết âm thầm khóc lén những đêm khuya không ngủ hay lúc ở nhà một mình .
Chuyện ấy Nhỡ biết cả , càng thương mẹ hơn ..
Các anh chị lớn lấy chồng , lấy vợ ở riêng , nhà chỉ còn hai mẹ con . Không khí gia đình dễ chịu hơn vì bớt đi những lời dè bỉu ..

Ngay từ lúc đứng còn thấp hơn cái cày , chuyện ruộng nương Nhỡ đã thành thạo . Nhỡ cày thẳng tắp , luống đều như kẻ chỉ mà không lỏi đất bao giờ .
Anh chàng vừa làm vừa hát , lại hát hay, véo von cả cánh đồng ,làm các cô ả mới lớn cứ dỏng tai lên mà nghe .
Đêm về một mình bắc cái chõng ra đầu nhà với cái đàn bầu tự chế .
Gọi là đàn nhưng sơ sài lắm , một đoạn tre bương , một vỏ lon sữa bò với đoạn phanh xe đạp mà thành đàn .
Thôi thì cung bổng, cung trầm não nuột , có hôm bà Luân phải rên rỉ : " Mày có thôi đi không .."
Thì thôi , Nhỡ đi đào ao thuê cho ông giáo Thịnh , ông ấy gạ đổi cây đàn Măngđôlin mà ông ấy bảo : " Mua tận dưới Thái Bình , cậu thích thì tớ để cho , chứ tiếc lắm! " . Nhỡ biết thừa là ông ấy lợi dụng mình , ai lạ gì ông "Thịnh lọ" ở cái làng này . Mua của ai cái gì dìm cho rẻ thối rẻ nát , bán thì đắt chát , đắt chua . Nhưng mà mình thích thì mình cứ sài . Gì chứ phương tiện âm nhạc là không nên tính tiền , văn nghệ là thứ không tính tiền , tính còn gì là vui ?
Tiếng đàn Măngđolin của Nhỡ xốn xang cả xóm , đến là vui !
Đám thanh niên trong xóm tối nào cũng tụ tập ở nhà Nhỡ rất đông , trai có , gái có .
Bà Luân chắc mẩm thể nào sau này anh Nhỡ cũng rất dễ lấy vợ vì được nhiều người yêu mến .
Sau này bà mới biết bà nhầm . Cái câu"Tốt gỗ hơn tốt nước sơn"  không áp dụng cho con trai bà được . Thời nay câu đó người ta hiểu nó theo chiều hướng khác .
 Mà thế nào là tốt gỗ , thế nào là tốt sơn trong trường hợp này cũng khó xác định, như các anh các chị Nhỡ từng nói với mẹ về đứa em mình !

**
Nhỡ khó lấy vợ không hẳn vì ngoại hình kém  người ta .
Khiếm khuyết ấy được những tài lẻ của anh kéo lại . Vừa đen, vừa lùn ,cái u sau vai mà có khối cô mê . Cái nết đánh chết cái đẹp là vì nhẽ ấy . Đã nhanh nhẹn ,tháo vát lại khéo mồm dù có xấu thế chứ xấu nữa việc lấy vợ với Nhỡ chẳng có gì là khó . Người đẹp chẳng lấy được thì lấy cô tầm tầm , không đẹp nhưng cũng chẳng xấu . Nồi tròn thì úp vung tròn , nồi méo, vung méo chẳng có gì phải lăn tăn .
Anh khó lấy vợ là vì những lý do không đâu vào đâu , lại rất nặng nề .
Phần từ hoàn cảnh xuất thân , phần do mình tạo nên.

Chỉ còn hai hôm nữa là đi hỏi vợ thì xảy ra một chuyện bất ngờ .
Ở quê người ta đồn lão Bạnh từ hồi tan HTX bỏ làng đi đâu biệt tăm , khéo mất xác ở đâu rồi vì lão cũng đã già , lại không vợ không con . Lão không còn chỗ bám bíu vào cái chân bảo nông ở làng để HTX nuôi báo hàng chục năm trời như trước . Không còn bao cấp , thời bây giờ có làm có ăn .
Tổ bảo vệ vẫn có , nhưng là những chân nhanh nhẹn , khoẻ mạnh . Lão trở thành người thừa , chẳng biết bỏ đi từ khi nào ?

Đột nhiên một buổi chiều , gần nhá nhem tối lão xuất hiện trước cửa nhà       Nhỡ như một bóng ma với dáng hình tiều tuỵ .
 Mẹ anh Nhỡ sợ chết ngất khi nhận ra lão , phải đánh cảm mãi mới tỉnh .
Nhỡ lâm vào tình thế khó xử . Dù sao thì mình cũng là giọt máu của lão ấy , mặc dù là bất đắc dĩ . Nhưng để lão ở lại cũng không ổn . Còn dân làng , các anh chị em của Nhỡ không đời nào chịu cho lão ở lại . Mà đuổi đi thì nhẫn tâm quá , lão biết đi đâu , về đâu bây giờ ?
Bà Luân tỉnh lại , chỉ mặt lão Bạnh đuổi ra khỏi nhà . Uất hận nung nấu bao nhiêu năm trời làm bà tắc nghẹn trong cổ không nói hết câu . Nhỡ cứ đứng ngơ ra đấy cho đến khi lão Bạnh ôm cái tải rách lủi thủi đi ra ngõ .
Không hiểu tại sao lúc đó Nhỡ động lòng , chạy theo dúi cho lão mấy chục ngàn bạc .
Tưởng đâu chuyện đến đó là xong . Ai ngờ tối hôm đó lão Bạnh lò dò đi trên cái cầu tre sang xã bên , do yếu sức bị ngã xuống suối, va đầu vào đá , chết ngay .
Cũng có người nói lão phẫn chí , tự tử ..
Không biết tông tích của người bị nạn , dân làng đó cũng chôn cất lão tử tế , chỉ duy kèn trống là không . Đám tang chỉ có vài ba thanh niên được huy động chôn cất .
Cũng xong một kiếp người !
Lão chết mà chưa hết chuyện . Những lời độc địa từ lâu tạm lắng nay có dịp lại sôi lên .
Người ta bảo : " Cái thằng Nhỡ khéo mồm  thế mà là đứa bất nhân , đến bố đẻ ra mình còn xấu hổ , không dám nhận ! "
Bọn con gái bảo nhau :" Có thừa cái "ấy" cũng chả thèm , lấy chồng phải xem tông , nhà ấy có mà tông hốc !"
Đương nhiên đám ăn hỏi của anh Nhỡ bị huỷ bỏ .
Nhỡ chán đời , đập tan cây đàn , mua rượu về uống , rồi nát rượu ..
Bà Luân không khuyên nhủ được con sinh bệnh . Các anh chị Nhỡ như sợ nhà có hủi không ai ngó ngàng .
 Rượu say Nhỡ khóc nói với mẹ :" Sao mẹ không bóp chết ngay con đi từ lúc lọt lòng ? Mẹ sinh con ra làm gì cho con khốn nạn thế này !"  . Nghe con nói vậy bà luân cứ như dao cứa trong lòng !
Hình như rủi ro cứ nhằm nhà bà mà kéo đến .
Được một dạo , mọi chuyện tưởng nguôi ngoai . Một hôm Nhỡ đưa về nhà một người đàn ông cao lớn , râu quai nón , mắt xếch trông dữ tợn .
Nhỡ giục mẹ nấu cơm , còn anh ta thì thịt gà , mua rượu đãi khách . Bà Luân nghĩ con đang chán nản  nó cần có người bầu bạn, với ai cũng được , miễn là nó được khuây khoả.
Khách tự giới thiệu nhà anh ta ở tỉnh bắc , bố làm chức gì to lắm , nhưng bố con bất đồng nên anh ta quyết chí tự lập , không nhờ cha mẹ . Tên anh ta là Soóng , hiện đang đặt quan hệ với một cô giáo đang dạy học ở làng này .
 Cô giáo Hân thì bà Luân biết , thỉnh thoảng vẫn vào đây mua trứng gà , cũng có hôm đến chơi. . Cô trông xinh xắn nhưng lỡ thì , bao nhiêu năm dạy học ở vùng cao , giờ mới được chuyển về đây , nước da còn xanh màu lá . Giờ có lấy ai cũng là lấy cho xong !
Anh ta  muốn đặt cơ sở nhà bà để "Tấn công" cô giáo (Đó là cách nói của Soóng ! ). Bà nghĩ mình cũng chẳng mất gì , cũng là làm phúc giúp người may ra căn quả của mình nhẹ đi chăng ?
Tối nào cũng vậy , hai anh em rủ nhau ra bãi sông nói là để tập võ thuật, kéo theo mấy cậu choai choai mới lớn trong làng .
 Bà Luân đâu có biết con mình bập vào chuyện nghiện hút từ đó .
Mấy lần đi cai, về , Nhỡ lại mắc trở lại, tưởng chẳng còn cách nào ngăn cản được nữa ..
Bà Luân đã nghĩ đến cái chết để kết thúc cuộc đời . Chỉ có nó mới giải thoát cho bà khỏi những kiếp nạn dai dẳng suốt cuộc đời này ! Nhưng bà không muốn mang nợ trần gian để xuống suối vàng , có đi cũng không để nợ cho ai , nên mới còn nấn ná ..
***
Buổi tối lúc đi qua khu chợ , Nhỡ thấy có đám ồn ào như thể người ta đang đuổi bắt , hay tìm kiếm một ai đó . Những chuyện như thế gần đây như cơm bữa vì nạn đề đóm , cờ bạc . Người như mình thì quan tâm đến việc đó làm cái gì ? Bây giờ người ta đang truy đuổi , lớ vớ đứng đây , không phải đầu cũng phải tai ..

 Nhỡ nhằm hướng làng bên . Đi được một quãng , Nhỡ chợt nhớ chính chỗ này là mộ chôn lão Bạnh , tự nhiên thấy tơn tởn trong người . Cảm giác không ra sợ hãi , không ra tức bực cũng không ra chán ghét ,không biết nó là cái quái gì khiến mình như thể ngàn ngạt , rất khó chịu .
Quãng đường này người ta đồn có ma , đêm đêm một bóng lùn thù lù thường thoáng hiện trong bãi ngô nhằm người qua đường mà tương gạch , đá đuổi theo . Người ta bảo đó là âm hồn của lão Bạnh ,vì  không có người cúng vái nên  hiện lên quấy phá . Nhỡ chỉ cười thầm trong bụng .
Chẳng qua đấy là mánh lới của bọn ăn sương bày đặt ra để hạn chế người qua lại , chúng dễ hành sự. Có đêm chúng dựng cả thằng bù nhìn đầu đội nón lên mộ lão Bạnh ,gần sáng lại dỡ đi . Những trò ma mãnh ấy bây giờ Nhỡ chẳng coi là cái gì vì biết tỏng là nó như thế nào !
Lâu nay Nhỡ đâu có tiền mà tìm đám bạc ? Chẳng qua là có vài thằng đàn em ở bên ấy sang ti toe học võ nên nể , thỉnh thoảng được bạc cho Nhỡ vài đồng ,thả ghá ăn may . Thế mà có hôm Nhỡ đánh lên được cả mấy triệu . Nhưng mà khốn nạn , tiền cờ bạc là tiền để ngoài sân ,vào lúc này ra lúc khác . Cuối cùng lươn vẫn hoàn lươn . Nhưng mà ở nhà thì buồn , chẳng có ai trò truyện . Tay Soóng vừa bị công an bắt tháng trước vì tội buôn bán vận chuyển ma tuý . Tội chưa đến mức phải dựa cột , nhưng tù chẳng biết bao giờ về ?
Khổ cho cô Hân một lòng tin tưởng , vớ ngay phải gã chẳng ra gì !
Vừa đi Nhỡ vừa ngẫm nghĩ , chán cho cái cảnh của mình ..Có lẽ mình cần thay đổi , nhưng đổi thay như thế nào thì chưa nghĩ ra . Mình chẳng khác nào con ốc sên mang cái vỏ cứng ngắc cứ leo lên leo xuống mãi bụi cây xương rồng mà chẳng đi tới đâu ?

Chợt Nhỡ thấy lành lạnh sau gáy như có làn sương mỏng ướt át giá buốt vừa lướt qua . Vốn cứng cổ , nhưng lúc này Nhỡ cảm thấy hơi chờn chợn.
Hay là có ma thật ?
Con người sau khi chết đi linh hồn còn tồn tại hay mất đi vẫn là câu chuyện của thời bây giờ , gây nhiều tranh cãi . Là người biết mình ít học , những chuyện cao siêu đó Nhỡ thường chẳng quan tâm ! Nhưng tự dưng lúc này Nhỡ lại nghĩ đến ..Anh ngoái đầu nhìn lại phía sau . Chỗ ấy , đầu nương ngô có cái mả ông Bạnh mà đáng ra mình phải gọi bằng cha . Nương ngô đã qua vụ , người ta bẻ hết quả chỉ còn những thân cây xơ xác , trong đêm sáng trăng suông trông hệt như đám trẻ con đang lúi húi trò chơi trốn tìm . Từ phía ngôi mộ có một đốm sáng xanh như ánh lửa hàn vụt lên , cứ to dần , to dần .. Nhỡ định bỏ chạy theo phản xạ tự nhiên , nhưng trấn tĩnh được ngay bởi tính ương nghạnh cố hữu . Ma định nát mình à ? Thử xem nó là cái giống gì ? Nhỡ rút cặp côn giấu sau lưng áo cầm ra tay , vén quần đái ngay một bãi ướt đẫm hai bàn chân . Nhỡ làm thế là vì nghe người ta nói ma quỷ rất sợ mùi hôi hám , giống như con người vậy. Anh từ từ quay lại , đi dần về phía ngôi mộ nơi có đốm sáng đang chao lên, lượn xuống như người lên đồng . Đốm sáng như biết sợ hãi , Nhỡ đi tới đâu , nó lùi xa tới đó .. Anh cứ đi theo đến mé bìa rừng thì đốm sáng vụt tắt..
Tưởng ma thế nào , đừng tưởng nhát được thằng này mà dễ nhá ! Ông chưa biết sợ thằng nào , thằng Nhỡ này có còn gì để mất kia chứ ? Tài sản không , tình yêu không ,sự nghiệp không là cái gì ngoài con trâu đi trước cái cày đi sau .
Cuộc sống như thế có gì để tiếc chứ ? Ý nghĩ ngạo đời ấy vừa loé lên thì Nhỡ phát hiện có bóng người ngồi ngay dưới gốc cây trước mặt . Ai đi đâu vào giờ này nhỉ ? Sao lại không nói không rằng thế kia ? Anh tiến lại gần ,trong bụng không khỏi sợ hãi . Nhưng bản tính tò mò cứ như vô tình đẩy Nhỡ lại gần . Đúng là người thật ! Ánh đèn ba pin của Nhỡ soi rõ hình hài một cô gái . Cô đi đâu giờ này ? Anh lay gọi , nhưng cô chỉ ụ ợ không nói , hình như cô bị cảm lạnh . Nhỡ vội lấy lọ dầu chống gió mang phòng trong người ra xoa cho cô ..

Đưa được cô về nhà , Nhỡ hoảng hồn nhìn thấy mẹ mình đang bắc thang leo lên xà nhà . Có việc gì mà mẹ làm như vậy vào lúc đêm hôm này .Nhỡ giật mình nghĩ ra cái việc mẹ định làm . Anh đỡ cô gái ngồi xuống giường rồi giữ chặt tay mẹ :
- Mẹ ơi ! Con cắn cỏ xin lỗi mẹ , mẹ đừng đi , mẹ đi thì con chết mất . Mẹ xem con đưa ai về nhà mình đây ?
Bà Luân vẫn chưa hết rầu rĩ :
- Người này là như làm sao ?
- Con gặp gần chỗ mộ ông Bạnh , cô ấy bị người ta rượt đuổi lúc ban tối tình cờ gặp con , giờ cô ấy đồng ý ở lại đây với nhà mình ..
Bà Luân nhìn kỹ cô gái , cô còn rất trẻ , lại xinh xắn , làm sao  lại bị rượt đuổi vào lúc đêm hôm như thế này ?
 Hay là lão Bạnh run rủi cho con trai mình ? Người ta nói có những người khi sống trên dương thế  mang nhiều tội lỗi , xuống cõi âm được giáo hoá, có lòng từ bi , thỉnh thoảng về  thế gian làm điều lương thiện . Chẳng biết có đúng thế không ?
 Bà thấy cũng không cần hỏi lai lịch cô ấy làm gì . Những người ở hoàn cảnh này chắc có chuyện đau lòng lắm . Không ai bỗng dưng bỏ cửa, bỏ nhà , đêm hôm thân gái dậm trường. . Sau này chuyện gì có thể nói được cô ấy sẽ tự nói , còn không thì thôi ..

****
- Tớ biết cậu hay viết chuyện nọ , chuyện kia , nhưng chuyện này bà cụ vui, kể rồi, thì nghe để bụng nhớ ! Ông mà viết ra là không hay với tôi đâu đấy !
Anh Nhỡ cười , môi lại cong tớn lên trông tươi , mà tồi tội . Vợ anh, chị Mơ, cô gái đêm hôm nào anh gặp từ đâu về, phóng xe máy sát tận hè . Anh gắt vợ :
- Ơ cái cô này ,có ba con chó con thì xe máy của cô kẹp chết hai rồi mà vẫn không bỏ cái tính chạy xe vào tận nhà . Hay định cán chết nốt nó đấy ?
Bà Luân có vẻ bênh con dâu :
- Anh chỉ được cái hách dịch với vợ là tài , nó đi từ sáng tới giờ cũng phải vội về cho con bú chứ !
Cả gia đình họ hình như lúc này quên mất có tôi đang ngồi đây , trong ngôi nhà khá khang trang của họ .
Ngày mai đã là hai mươi ba tết , ngày ông Táo chầu trời . Trong những chuyện vui buồn của thế gian cần khẩn tấu với Ngọc Hoàng , không biết chuyện gia đình anh Nhỡ , ông có báo với Ngài không ?
Còn tôi câu chuyện này tôi sẽ ghi lại vì không thể quên  . Anh Nhỡ có đọc , anh  giận tôi thì giận !
                                
                                                 Một ngày cuối năm Kỷ Sửu

Thứ Ba, 15 tháng 1, 2013

Cửa đá đã được viết như thế nào?

Một vài suy nghĩ nhân đọc “Cửa đá” của Vũ Xuân Tửu..
           Nxb Hội Nhà văn 2011 và  Website Vanvn.net, 2012)


Đã có nhiều bài viết về hai tiểu Thuyết gần đây của nhà văn Vũ Xuân Tửu ( Cửa đá và Bến mê). Gần đây nhất có bài của nhà văn Trần Huy Vân, đăng trên trang mạng Trần Nhương.com. Một bài viết khá tỉ mỉ, phân tích sâu sắc theo quan điểm mĩ học hiện thực xã hội chủ nghĩa. Tác giả đi sâu vào nội dung, kết cấu, bố cục của truyện theo lối truyền thống với đôi chút băn khoăn về dụng ý của nhà văn?
Bài viết này chỉ nên coi như một vài ý kiến góp thêm vào. Người viết không muốn nhắc lại những vấn đề người khác đã quan tâm, mổ xẻ. Như vậy là lặp lại, nhàm và không cần thiết.
Phải nói ngay là “Cửa Đá” là một cuốn sách khó đọc đối với một số người. Nhất là độc giả thông thường. Những người chưa quen với những đổi mới, cách tân trong văn học gần đây. Những người còn xa lạ với lý thuyết “Hậu hiện đại”, “hiện tượng học” hoặc còn lăn tăn rằng “văn chương hậu hiện đại ở Việt Nam” liệu đã có, đã hình thành hay không? Nó đã gây một cú sốc, băn khoăn cho không ít độc giả.
 Đã có một nhà văn tương đối nổi tiếng nói cảm nhận của mình: “Có lẽ thằng này điên, đọc nó tao không hiểu nó viết cái gì nữa. Đang chuyện nọ xọ sang chuyện kia, nhảy cóc lung tung, đứt gãy và rời rạc.. So với “Chúa Bầu”, “Chuyện trong làng ngoài xã” cuốn này hỏng”. Chưa rõ “hỏng” như thế nào? Một nhà văn đã từng ẵm mấy cái giải còn nói thế, nói “Cửa đá” là tiểu thuyết khó đọc là chuyện không ngoa. Một số người khác lại quá nhấn mạnh “yếu tố huyền ảo” trong những tác phẩm gần đây của Vũ. Điều này tất nhiên là đúng, không sai, nhưng không là tất cả. Yếu tố huyền ảo hay ám dụ, phúng dụ chỉ là cách thể hiện của nhà văn theo lối hậu hiện đại, một chuyện không còn phải bàn cãi trong văn học đương đại.
Vũ Xuân Tửu đã có hơi nhiều tác phẩm viết theo “hiện thực xã hội chủ nghĩa” thành công. Từng đạt nhiều giải thưởng cao cho những tác phẩm của mình. Cẩn thận đến từng câu chữ, ý tứ thận trọng từng chi tiết. Trên bàn viết của anh luôn có các cuốn từ điển. Không thể nói nhà văn viết hồ đồ, vội vã, hoặc thiếu sót về mặt này mặt khác được. Chưa có nhà văn nào tỉ mỉ hơn Vũ. Khi anh viết “Chúa Bầu” mang theo cả thước, cả máy ảnh đi theo, chụp ảnh đo đạc từng viên gạch xây thành . Xin lưu ý là những viên gạch ấy đã chìm xuống lòng sông Lô, hay dưới lớp đất bồi ven sông. Viết “Bến mê” tác giả còn thuê thuyền bơi trên lòng hồ Thác Bà để tìm dấu vết lâu đài cổ. Trèo lên núi để tìm dấu chân Cao Biền năm xưa đi yểm bùa chỗ nào? Chu đáo và cẩn trọng với từng chi tiết như vậy, rất ít người viết làm được.
Sẽ có người nói: Đúng mãi cũng có thể đến lúc sai, tài mãi phải đến lúc dở! Cũng có thể như thế với một số người tự cao tự đại, thỏa mãn với thành công của mình, sinh ra kiêu ngạo. Với Vũ Xuân Tửu, một nhà văn “ dấn thân” cho cái hay, cái đẹp, cho tìm tòi, sáng tạo chưa và chắc chắn không xảy ra điều đó! Anh viết là do nhu cầu đổi mới chính mình phù hợp với xu thế chung của thời đại, với tâm thế và trách nhiệm của nhà văn đối với cuộc sống đang diễn ra bao điều khó nói hiện nay. Nói anh là nhà văn “dấn thân” là việc hiển nhiên. Đã có không ít lời bàn ra tán vào, thậm chí xì xào thế này thế khác về dụng ý sáng tác của nhà văn. Có người mang cả những quy phạm cũ kỹ, lỗi thời để áp vào khi đọc tác phẩm gần đây của Vũ. Rất may là trong xu hướng đổi mới và cởi mở hiện nay, những ác ý ấy không còn đất, không còn tác dụng nữa. Nó chỉ là lời ong tiếng ve, mập mờ, lấp lửng chỗ bàn trà, quán nước. Không còn khả năng “kích hoạt” biện pháp chính quyền như đã từng xảy ra vài chục năm trước. Khi mà người ta nhầm vai trò và công việc nhà văn với người làm công tác tuyên truyền.
**
Thời thế nào thì văn chương nấy. Nhà văn bất kì thời đại nào cũng không thể né tránh bổn phận nhập thế của mình. Trước một thế giới đầy rẫy nguy cơ do khủng hoảng, lạm phát, đổ vỡ niềm tin, tha hóa và xuống cấp về đạo đức và nhiều vấn nạn như hiện nay, nhà văn buộc phải có cái nhìn khác, cách cảm, cách nghĩ và cách viết khác. Nếu như anh không muốn quay lưng lại với độc giả của mình. Người đọc ngày nay, nhất là tầng lớp trẻ không còn ấu trĩ, non kém như xưa. Người ta không dễ dàng chấp nhận những những tác phẩm hời hợt, nông cạn, xa rời những gay cấn của thời đại mình. Chưa bao giờ yêu cầu dấn thân của người viết lại gay gắt như lúc này.
 Anh ta chỉ có hai cách lựa chọn: Một là cứ đi theo lối mòn cũ, đã có sẵn những tấm biển chỉ đường với những quy phạm cũ không còn hợp thời. Và véo von những bài ca đi cùng năm tháng. Đây là lối thoát an toàn, không phải lo lắng gì. Cho dù nó không mang đến kết quả đáng kể nào trong lòng người đọc. Xa chút nữa là không đáp ứng được tinh thần và mong muốn thời đại.
Hai là chọn con đường mới bắt đầu khai mở, còn gồ ghề, còn lắm ý kiến bàn cãi và đáng chú ý nhất là còn nhiều thách thức, thậm chí nguy hiểm. Nó chưa có chuẩn mực hay bất cứ khuôn mẫu nào.
Éo le thay điều đó lại luôn luôn là tính đặc thù, đặc biệt của văn chương. Văn chương không có khám phá, sáng tạo chỉ là những bản sao mờ của cuộc sống. Tệ hơn nữa nó tạo cho người ta thói quen cù lần, xa rời thực tế. Thậm chí ru ngủ đánh lừa người ta, chối bỏ thái độ cư xử cần thiết cho số phận mình, số phận dân tộc.
Khi mà “Những câu chuyện cuộc đời”, những “Đại trần thuật”, “Đại tự sự” không còn đáng tin cậy, những đổ vỡ khủng hoảng lòng tin về những giá trị cần có câu hỏi và câu trả lời. Những huyền thoại một thời xem ra kém thuyết phục, văn chương cần có “câu chuyện của mình”.
Từ những suy nghĩ như vậy ta sẽ không ngạc nhiên, không khó hiểu khi đọc “Cửa đá”.
Tiểu thuyết không có tuyến nhân vật “ta”, “địch” rạch ròi. Không theo trình tự lớp lang. Không “Khắc họa tính cách nhân vật” theo lối thường. Chỉ có nỗi ám ảnh tâm trí, nỗi hoài nghi khắc khoải về thời thế. Nó giải thiêng huyền thoại lịch sử dân tộc mình. Là người Việt Nam, bình tâm một chút hẳn không ai lại muốn lịch sử dân tộc mình chỉ là huyền thoại. Nói trắng ra là nó rất mơ hồ mung lung. Chỉ đáp ứng nhu cầu tình cảm  theo lối ngây thơ hồn nhiên. Lịch sử phải là lịch sử có tính khoa học chính xác. Năm đó ngày tháng đó xảy ra chuyện gì? Người ta sống ra sao? Ăn mặc thế nào? Độ tin cậy và chính xác là bao nhiêu? Không thể nói mơ mơ đại khái “Chuyện con rồng cháu tiên” thế được. Và nguyên nhân thất sử của cả một giai đoạn dài của đất nước là vì đâu?  “ Cửa đá” bằng lối viết phúng dụ, pha chút hài hước châm biếm mang đến cho ta câu hỏi này. Nếu không để ý đến ý tứ này của nhà văn, người ta sẽ nghĩ tác giả viết ngồ ngộ, nôm na quá. Làm sao mẹ trái đất vĩ đại lại hao hao giống củ khoai tây móm méo được? Những câu chuyện của ếch nhái sâu bọ nói lên điều gì? Và “Cửa đá” là cái cửa gì vậy? Phải chăng đó là những hạn chế thời đại, hạn chế của cõi nhân sinh, đặt ra câu hỏi đằng sau nó có gì? Có cách nào để qua không, hay lại lẩn quẩn trở về chỗ “Thoạt kì thủy” ban đầu với hình ảnh hàng bầy rồng tái xuất hiện hàng trăm năm sau?
Câu chuyện của ngài chuyên viên Mộc, ông ta đọc không biết bao nhiêu là sách theo lối chủ quan, phiến diện tưởng mình cái gì cũng biết hết rồi, mà kiến giải cuộc đời, trả lời những câu hỏi cụ thể lại không sâu sắc bằng anh chủ quán chuyên nghề mổ chó! Điều này nghe phi lí, nhưng lại có thật!
Rất nhiều câu hỏi về thời thế, về nhân sinh quan đặt ra trong tác phẩm này.. Tôi chỉ lưu ý tâm thế của nhà văn, lựa chọn khám phá và quyết tâm dấn thân của tác giả.
Cái mới bao giờ cũng phải đối mặt với sự thách thức của nghi kị, ghen tức thậm chí cả với sự thờ ơ của một số người.
Tôi nghĩ Vũ xuân Tửu trước khi bắt tay vào viết “Cửa đá” anh đã chuẩn bị tâm thế này.
Rất may mọi chuyện xảy ra xuôn xẻo.Tác phẩm của anh đã được công chúng chấp nhận và ủng hộ. Thành công của nó đến đâu hẳn mọi người đã biết.
Tôi rất tâm đắc với chi tiết trong một tác phẩm khác của anh: “..Đến đây đoạn đường sắt có hai thanh ray, một trái một phải kết thúc. Người ta phải đi trên những bánh xe tròn bơm hơi, tự chọn lối cho riêng mình..”
Nói “Cửa đá” có phải theo khuynh hướng “Hậu hiện đại” hay không, còn là câu chuyện dài. Mong sao tác giả thành công trong lựa chọn dấn thân của anh!

                                                              Ngày đầu năm 2013
                                                                                   HG
      Mời các bạn xem video hoạt hình đơn giản minh họa những câu chuyện thiền và chuyện cổ tuyệt hay.
(Video này do bạn Chùm khế chua sưu tập)

Truyện thứ sáu:


MIÊN MIÊN
                           
Bây giờ, khó có ai hình dung ra được nhà hàng kỳ lạ ấy nữa. Người ta mở rộng thêm đường, cả dãy nhà lùi sâu vào phía bên trong. Chỗ quán nước, quán ăn, chỗ cho thuê trọ đã thành mặt đường. Phía sâu bên trong là ngôi biệt thự xây theo kiểu Thái, vòm mái cầu kỳ.. Bên ngoài dựng hàng rào gang đúc, cánh cửa theo kiểu pháo đài.
Đôi vợ chồng trẻ bán hàng ngày trước giờ không biết đã lưu lạc nơi đâu? Chủ nhân mới của khu đất này nghe nói đã về tay người khác. Một tay cai đầu dài, giờ gọi khác đi thành “Giám đốc công ty TNHH”. Nghe nói của “Khánh Mũi Đỏ”, một tay trùm của ngành xây dựng cầu đường của tỉnh biên cương này, một nhà thơ có một không hai thuộc khu vực “Miền núi phía bắc” về tính cách độc đáo. Giờ đã ra người của muôn năm cũ, người ta chỉ nhớ khi có ai đó đọc những vần thơ tha thiết một thời..Đi ngang qua đây, giờ này, hắn chỉ thoáng nghĩ thế thôi, chứ thực tình hắn không mấy bận tâm. Hắn nhớ lại câu chuyện khác.. Chuyện của năm hai ngàn, cách nay vừa tròn con giáp.. Đó là một đêm rất đặc biệt trong cuộc đời. Hắn, kẻ từng lưu lạc không thiếu đâu, nhưng bước chân tới đây lần đầu vào đúng đêm bản lề giữa hai kỷ nguyên nhiều ấn tượng và cũng nhiều câu hỏi còn bỏ ngỏ này..Đâu đâu người ta cũng bàn tán xôn xao về “cải cách mở cửa”, “những việc cần làm ngay”, cả câu chuyện về “ngày tận thế” theo như lịch của thiên chúa giáo. Có nơi trên hành tinh, người ta mổ hết bò, ngựa, ăn tiêu thả dàn cho bữa tiệc cuối cùng! Nếu không có thay đổi nào, đêm này sẽ là đêm nhiều đô thành khắp thế giới bắn pháo hoa chào mừng thế kỷ mới.. Tâm thế của người đương thời không nhiều thì ít có chút thấp thỏm, lo âu. Sau này mới biết đó chỉ là cái lo hão huyền bởi những đồn đại huyễn hoặc.
Cái giá rét kinh người của những ngày qua, câu chuyện vô tình đọc được qua mạng Intenet nói về lời tiên tri có từ nền văn hóa Maya, dự báo số phận hành tinh cuối năm con rồng sắp tới.. Rốt cuộc, lời đồn đại vẫn chỉ là lời đồn đại. Trái đất vẫn xuay quanh mặt trời, năm nào cũng tiết này là mưa dầm, gió bấc.  Và hắn vẫn như ngày nào, vui buồn sướng khổ, tâm trạng mê tơi không biết đâu là bến bờ..Chỉ có những sự kiện xảy ra trong đời là không bao giờ lặp lại. Cô gái hắn gặp tình cờ vào đêm cuối cùng của thế kỷ hai mươi ấy không biết bây giờ nàng đi đâu? Ở đâu?

**
Chiều hôm ấy hắn ra chợ mua cái áo khoác. Khi từ Hà Nội lên đây, trời còn nóng bức, thoắt cái nhiệt độ xuống dưới mười độ. Nếu ở Nga, ở Séc nhiệt độ ấy chả là gì, người ta vẫn sinh hoạt bình thường. Nhưng ở đây, thời tiết như vậy rất bất thường. Rét tê cóng chân tay, rét nẻ môi, nẻ mũi. Hơi thở ra như là hơi khói bốc ra từ lỗ miệng, lỗ mũi..
Công việc vẫn không đâu vào đâu, có khi còn phải ở thêm vài ngày chờ đợi mới xong được. Hắn lại không ai quen biết ở thị xã này, một chỗ nghỉ chân không đơn giản, mà trời đất lại như vậy. Mua cái áo và tìm chỗ trọ qua đêm là “Việc cần làm ngay” với hắn lúc này.
Chợ xây theo mốt “Thương nghiệp XHCN” mang tính kinh điển tập trung cao, độc nhất một khu nhà rộng chia làm hai tầng. Tầng dưới đủ thứ hầm bà lằn, tầng trên dành riêng một góc cho hàng may mặc và vải vóc. Lúc hắn từ tầng dưới đi lên, gặp cô gái trẻ mặc cái áo khoác đỏ như lửa, trong tay xách một túi cam, những quả cam lăn ra vì túi bị thủng. Hắn lấy chân chặn lại mấy quả đang rơi dọc cầu thang về phía mình. Cô gái nhận lại cam, mặt ngẩn ra, không một lời cảm ơn. Những việc như thế.. ngày nay quả thật đối với hắn quá đỗi bình thường. Nhiều việc to tát, lớn lao hơn được người khác giúp vẫn thường bị người ta lờ đi như không, không có một lời cảm ơn.. Nhặt giúp trái cam rơi có gì mà ghê gớm? Văn hóa “Cảm ơn” vẫn là cái gì xa lạ đối với nhiều người. Cũng có thể cô gái trẻ này cả thẹn, chưa quen tiếp xúc với người lạ trên đường? Cũng có thể cô ngờ ngợ mình với một ai đó? vv.. Hắn chỉ thoáng nghĩ qua thế thôi, chứ không để tâm. Hờn giận một người qua đường là một chuyện hết sức vớ vẩn, và để làm gì kia chứ?
Quầy hàng rộng, giờ này vắng ngắt. Hắn đi dạo một vòng. Toàn hàng hóa từ bên kia mang tới, mẫu mã chả khác hồi cách mạng văn hóa ở bên ấy bao nhiêu. Không biết bằng cách nào người ta bán với giá rẻ như vậy? Có phải của rẻ là của ôi không? Hay còn có ngụ ý gì? Muốn sao thì sao, cần thì cứ mua một chiếc. Đó là chiếc bludon lỗi mốt, đằng sau ngắn hơn đằng trước. Mấy cái sau tình hình vẫn thế, không khá hơn. Đổi đi đổi lại vài lần. Cuối cùng hắn đành chấp nhận. Thôi thì cho qua đêm lạnh lẽo này. Nếu ngày mai giải quyết xong công việc hắn sẽ về, cái áo không mặc nữa có thể cho bà cô họ ở gần nhà ngồi bán hàng. Bà lão đâu có cần xấu đẹp? Có cái mặc ấm này chả mừng rối lên ấy chứ?!
Hắn trở về nhà trọ, hết sức ngạc nhiên: Cô gái mặc áo khoác bằng len đỏ đang ngồi ở đó, trong tay chẳng có hành lý gì ngoài túi cam hắn nhìn thấy khi nãy, hình như có vợi bớt đi một số quả.
Bên cạnh quầy nước kê bằng cái bàn thấp có đốt một đống lửa, có đến chục người ngồi quây xung quanh. Tất cả đều chăm chú nhìn vào màn hình là cái ti vi màu đặt bên trong quầy. Đêm nay là một đêm khá đặc biệt, ngày mai là ngày đầu tiên của thế kỷ khác rồi. Người ta quan tâm đến tin tức xa gần là điều tất nhiên. Không ai để ý đến hắn. Chỉ riêng cô né chút nhường chỗ cho hắn, vẻ thân thiện:
-         Chú ngồi xuống đây, hơ cho đỡ giá!
Hắn suýt buột miệng “ Thế mà lúc nãy tôi tưởng cô không biết nói!” Nhưng hắn kìm được ngay, lẳng lặng ngồi xuống bên cạnh cô ta. Có lẽ do đi lâu ngoài trời lạnh, gặp lửa thực ấm áp. Càng ấm hơn khi gần một cô gái trẻ, áo đỏ như thế này. Tự nhiên hắn đỏ bừng mặt, định xê dịch ra một tý. Không hẳn hắn vờ vĩnh như thế, chỉ là thói quen theo phản xạ tự nhiên. Gái lạ bao giờ cũng làm hắn lúng túng..
**
Quả nhiên cô áo đỏ ngờ ngợ hắn với một ai đó thật, khi cô cứ nhìn trộm hắn mỗi lúc hắn quay sang trò chuyện với người bên cạnh. Ông này là một phế binh, cụt nửa ống chân, có cái chân giả tự làm lấy trông rất kỳ cục. Không ai hỏi, tự dưng ông nói nhà nước có cấp cho ông bên chân bằng nhựa, nhưng không thích hợp với miền rừng. Cứ dăm bữa nửa tháng lại bị vỡ. Ông tự đẽo lấy khúc chân này bằng gỗ sung, vừa nhẹ, bền và chắc. Bây giờ ngồi đây, khúc chân ấy được tháo ra, dây rợ lằng nhằng đặt ngay bên cạnh. Có mùi hoại tử bốc ra nặng mùi, nhưng vì tế nhị không ai lấy làm khó chịu. Người ta đã hy sinh một phần thân thể để giữ vững biên cương tổ quốc, có gì mà đáng cười, đáng khó chịu cơ chứ? Hỏi- Ông bảo nhà ông cách đây mươi chục cây số. Lâu lâu ra tỉnh chơi thăm bạn đồng ngũ vài ngày. Sao không ở nhà bạn để bạn tiếp đãi? Nói: Thích phong trần, chỗ đông vui, nghe được nhiều chuyện – Tao ở vùng sâu vùng xa mà! Thế nhưng chỉ mình ông nói cho thiên hạ nghe là nhiều. Lạ lắm, chuyện của ông cứ như tiếu lâm thời đổi mới, vừa bi vừa hài. Cả những chuyện tục tĩu, chuyện cười, người viết to gan mấy cũng không dám kể lại. Con người mất mát thiệt thòi ấy cười nói như không. Làm như mình vẫn bình thường, chả mất mát, thua thiệt gì. Vẻ nhiên hậu của người thương binh lây sang hắn, tự dưng hắn cảm thấy vui lây. Còn có bao nhiêu người trên thế gian này khó khăn, khổ sở hơn hắn gấp trăm lần, người ta vẫn vui vẻ sống, hồi hộp như đêm ba mươi tết, có vấn đề gì đâu? Cái tai ách nhỏ của hắn có là cái gì?
Chợt, cú va chạm nhẹ của áo đỏ làm hắn chú ý. Rõ ràng là cô ta cố tình! Hắn bắt đầu để ý nhìn cô kỹ hơn. Hàng cúc giả kim của cô bắt ánh lửa làm hắn chú ý đến đầu tiên. Hình như tất cả có năm cái thì phải. Hắn chỉ nhìn rõ ba cái phía trên, còn hai cái nữa, hắn đoán thế, gấp khuất vào trong lòng lúc cô ngồi. hắn chưa từng thấy bộ khuy áo nào kì dị như thế. Có thể là vuông. Là tròn. Là bầu dục..Chứ chưa thấy kiểu này bao giờ. Bộ cúc giả kim nom như vàng thật, dập hình con bướm, nổi u lên ở giữa. Áo đỏ bắt gặp cái nhìn của hắn, bạo dạn:
- Nhìn chú quen quá..
- Cô gặp tôi ở đâu, bao giờ?
-  Hồi bố cháu còn sống, có một ông khách thường hay đến nhà cháu chơi, rất giống chú..
- Người giống người mà.. Nhưng nom tôi già lắm hay sao mà xưng chú ngọt sớt như thế?
- Dạ.. Cháu quen miệng..
- Đấy lại cháu rồi.. Nói thì nói vậy, gọi sao cũng được. Bằng chú, cô cũng đâu thiệt gì? Vậy cô đi đâu đến đây?
Tự dưng cô đổi cách xưng hô:
- Em đang tìm một người quen. Người mà ban nãy cứ ngờ ngợ với ..với..chú.. à anh ấy. Chú í  nghe nói đang làm giám đốc công ty ở trên này..
 “À thì ra thế, cái mặt hãm tài của mình cũng có vẻ giống một tay giám đốc nào cơ đấy, bố khỉ”. Hắn tự rủa mình như thế. Mả nhà hắn còn lâu mới thành giám đốc được. Còn phải học hỏi đường tu thêm mấy kiếp. Tò mò, hắn hỏi:
- Sao người quen lại không nhớ? Lại đi tìm vu vơ thế này?
Áo đỏ bẽn lẽn:
- Mấy năm trước cháu còn bé. Khách chơi nhà lại đông. Các bác các chú đến nhà, nhiều người cháu cũng không để ý. Trẻ con mà. Bây giờ mẹ cháu bảo có một chú đang ở trên này, điều kiện lắm, cháu muốn tìm lên xin việc làm..
- Quan hệ của ông ấy với nhà ta?
- Chú ấy nhận bố cháu là anh em kết nghĩa mà. Với cả, bố cháu và chú ấy mê thơ lắm! Bố cháu làm kiến trúc, học cùng trường nhưng khác khoa với chú ấy mà. Chỉ từ ngày bố cháu mất, chú ấy mới ít đến. Mấy năm gần đây chú ấy chuyển lên trên này, mẹ cháu mới được  người ta cho biết tin..
Hắn định hỏi vì sao bố áo đỏ mất? Nghĩ lại, thôi không hỏi. Ai lại tò mò như vậy làm gì chứ?  Chuyện không vui của người ta, nếu người ta không muốn nhắc đến, đừng nên hỏi làm gì. Một thằng như mình chả nhẽ việc tối thiểu ấy không rõ sao? Hắn nghĩ thế. Hỏi sang việc khác:
- Đã cơm nước gì chưa?
Áo đỏ cúi xuống, không nói gì, cầm một mẩu củi vứt vào đống lửa đang cháy. Lúc này bụng hắn cũng đang cộn cạo, nhắc hắn cần phải bỏ vào cái chỗ thân thiết, sâu kín nhất ấy của lòng người thứ gì đó, nếu không bất ổn.
- Hay là ta kiếm cái gì, tôi cũng chưa ăn, cô có biết quán nào gần đây không?
- Ở quán này cũng có, nhưng chỉ có mì tôm thôi. Buổi sáng mới có phở. Nếu muốn cơm phải đi cách đây một quãng.
- Vậy ta đi.
Áo đỏ không nói không rằng, lặng lẽ đi theo hắn. Hai người đi qua con phố rộng, rẽ vào phố nhỏ, chỗ có cái trụ của đài truyền hình bắc qua hai bên, đứng như người dạng háng. Kỳ cục, chả rõ thằng ma toi nào lại có kiểu thiết kế công trình tục tĩu nhường này?
***
Chủ quán mặt lợn, da nhơn nhớt, lông mày nhẵn thịn đang ngồi đọc nhật báo. Thấy khách, mặt lợn đon đả. Chào. Mời.. Giờ này quán vắng, lão rảnh. Gọi là “quán ăn dân tộc”, nhưng rất ít món. Chỉ có thịt kho Tàu, cá và măng sào. Hắn cũng không cần gì hơn. Vậy là tốt rồi. Mặt lợn ngoài cái miệng dẻo, khả năng thao tác khá nhanh. Cá sông Lô, măng sào và canh bí đao nhoáng cái đã có đủ, bốc hơi nghi ngút.
Hắn ngồi uống bia, thứ bia chai của nước láng giềng không lấy gì làm ngon. Loại bia thường dân phía bên kia biên giới tự chế tạo. Áo đỏ không uống. Nàng xới cơm ăn ngon lành. Hẳn là cô nàng đã đói khá lâu. Không biết nàng thuộc giai tầng nào trong xã hội? Vẫn phảng phất dáng học trò lại có vẻ thành thạo không chút e dè trước người lạ? Kiểu người rất khó đoán qua dáng vẻ bề ngoài. Nhưng nét mặt, cái miệng, đôi mắt chắc chắn là con nhà lành, hoặc ít ra từng là con nhà lành.
Có mấy người mới đến lố nhố trước cửa. Áo đỏ tự nhiên đặt đũa, chạy vội vào toa let. Hắn cho rằng nàng ăn phải thứ gì, hoặc thức ăn có vấn đề? Gần đây tình trạng ngộ độc thực phẩm thường hay xảy ra. Nhất là ở những nhà hàng vắng vẻ như thế này.Thức ăn để lâu, giam mãi trong tủ lạnh, hoặc dùng thuốc hãm, dễ biến chất, trở nên độc.
Không biết áo đỏ làm gì trong đó khá lâu. Mấy người mới đến hình như tìm kiếm một ai đó. Họ hỏi câu gì đó với chủ quán. Hai bên nói nhỏ vừa đủ cho nhau nghe. Nhưng Hắn đoán có chuyện gì đó không bình thường đang xảy ra. Trong số mấy người đó có một tên đầu trọc, cao lớn, vạm vỡ, chân khuỳnh khuỳnh. Tên này có vẻ ráo riết nhất trong cả đám. Y nhìn trước nhìn sau, vào cả toa lét, mặt cau có. Không thấy gì. Cả bọn bỏ đi.
Hắn hỏi. Mặt lợn nói “Tìm người”, lão tỏ vẻ vô can, không thích dính vào những việc rắc rối không đâu. Thấy vậy hắn thôi không hỏi nữa, nhưng trong bụng ngờ ngợ hiểu ra phần nào..
Bấy giờ áo đỏ mới ra, nét mặt như vừa trải qua một việc hãi hùng. Từ lúc ấy, cô ngồi ăn không còn thấy vẻ ngon lành như lúc ban đầu.
Hắn hối hận vì đã mua chai bia có in hình con rồng xanh ngoài vỏ. Cũng không muốn đổi thứ khác. Áo đỏ đã xong, mắt chốc chốc ngó ra ngoài cửa. Rồi như không thể chờ hơn được nữa, nàng nói;
- Em có việc ra ngoài một tí. Anh về sau, lát nữa gặp lại ở nhà trọ ban nãy nhá!
Thoắt cái, áo đỏ đã khuất bóng. Cô ta chả đả động gì đến chuyện tiền nong trả nhà hàng. Hoặc ít ra cũng phải có lời nhờ mình trả giúp. Con nhà lành chẳng ai xử sự như thế cả. Giả dụ cô có ở lại đợi hắn cùng về, đương nhiên trong trường hợp này hắn không thể để cô phải thanh toán cơ mà? Có cái gì nghiễm nhiên, khó hiểu qua cách xử trí của cô vừa rồi. Từ lúc bắt chuyện, ngồi cùng bàn, đến bây giờ hắn chưa kịp hỏi tên cô là gì?  Ít ra cũng phải biết lấy cái tên tối thiểu làm quen chứ? Ấy vậy lại ra vẻ thân thiết, ăn, ngồi cùng nhau..Chả nhẽ mình lại là kẻ dễ dãi, hoặc nói trắng ra là dại gái? Cũng may là cuộc hội ngộ ngắn ngủi, kéo dài sẽ đi tới đâu?  Hắn chỉ thoáng nghĩ và hơi phân vân một chút. Coi như là có bạn cùng ngồi bàn cho vui, không nhẽ ngồi ăn một mình?
Trả tiền. Hắn lững thững đi về nhà trọ. Không biết hôm ở nhà ra đi bước chân nào ra cửa trước? Toàn những việc vớ vẩn không đâu vào đâu, mà trời càng mỗi lúc mỗi buốt, giá.
Chẳng lẽ đêm cuối của thế kỷ này, lạnh lẽo và vơ vẩn như thế này sao? Còn ngày mai nữa, chả biết công việc chầu trực mấy ngày nay liệu có kết quả gì không?
****
Lão cụt giờ này ngồi im. Đống lửa đã gần lụi. Cái điếu đổ nghiêng bên cạnh. Sái thuốc lào vẫn chưa xì ra khỏi nõ điếu ục. Không phải lão hết chuyện. Giằng co cương thổ gần chục năm trời, biết bao nhiêu chuyện, máu và nước mắt, kể đến bao giờ nguôi? Bao giờ hết? Nhưng kể mà không có người nghe ai còn muốn kể? Phần cái lạnh thấu xương, không ai còn muốn ngồi vỉa hè, phần người đương thời đang hồi hộp chờ đón điều gì đó mơ hồ khoảnh khắc giao thời của hai kỷ nguyên có khi còn cần thiết hơn. Phần vì gió lạnh. Chỉ còn con người phế binh này không coi những thứ xung quanh quan trọng nữa. Lão tựa lên đầu gối bên chân còn lành của mình mà ngủ. Tiếng ngáy ò ò thật vô tư. Con người của chủ nghĩa lạc quan, chả coi cái khổ, cái rét buốt ra gì.
Hắn lặng lẽ ngồi bên cạnh lão, sợ lão thức giấc. Thì ngủ đi người ơi, ngủ để quên, hoặc là ngủ để nhớ.. Tâm trạng hắn rỗng rễnh như chẳng có gì. Con người thường có những khi như thế, không hẳn cố tình. Một lúc hắn đứng dậy, hỏi cô chủ nhà có phòng nào còn chỗ?
Cô bảo còn một phòng áp mái. Chỗ có kê một cái thùng phuy đựng nước. Bên trên dây phơi lủng lẳng quần áo, thoạt nhìn giật cả mình. Nom như dãy dài những hình người treo cổ. Chỗ này bụi bặm, lâu không có ai ở, nhưng được cái thoáng. Có một khoảng sân hẹp, đứng đó có thể ngó ra bên ngoài. Nhờ cái áo ấm may lỗi mốt của người Trung Hoa hắn có thể đứng đó ngắm phố phường một lát..
Mà đâu có gì nhiều để ngắm, để nhìn?  Con đường lở lói dưới vỉa hè bên hiên dãy nhà manh mún, tạm bợ. Bến xe đỗ có vài ba chiếc. Toàn xe cũ nát, ọp ẹp. Cảnh tượng chả khác mấy hồi còn chiến tranh, dưới ánh đèn đường yếu đuối, đỏ quành quạch. Chiến tranh với bộ cánh của thần chết mới chỉ vừa rời khỏi vùng này mấy năm, còn để lại dấu vết rất dễ nhận ra của đời sống hàng ngày. Hắn chán nản định quay trở vào. Chợt hắn nhận ra áo đỏ đang đứng ở dưới đường chờ mua bắp nướng. Hồi chiều cô vội vã bỏ đi, ý hẳn còn đói bụng. Hắn cứ nghĩ sẽ không gặp cô nữa, vậy mà cô lại xuất hiện ở đây? Hay cô cũng trọ cùng chỗ này nhỉ?  Cái nhà trọ bé như lỗ mũi này đã chật kín người, đâu có còn chỗ nào? Mà cô ta đi đâu về đâu có bận gì đến mình? Chẳng qua gặp gỡ trên đường. Đến cái tên còn chưa biết.. Cuộc hôn nhân vội vàng của hắn vừa chấm dứt hơn năm nay, khiến hắn cảnh giác. Làm gì có chuyện tình yêu sét đánh? Chẳng qua bọn nhà thơ dở người cứ véo von lên như vậy. Tình yêu là cả một công trình, một kiến trúc phải có sự hiểu biết, xây dựng và chăm bẵm lâu dài. Chỉ qua cảm tính vội vàng nảy sinh tình cảm là điều rất không nên. Lâu lắm rồi, hắn nghĩ và làm như thế. Không hẳn là thờ ơ, lãnh đạm, chỉ là không quá sốt sắng mặn mà những gặp gỡ ngẫu nhiên.
Nếu ngày mai lên công sở công việc trì trẫm vẫn như vậy, hắn sẽ về. Có thể mãi mãi không lên đây nữa. Có thể lời giới thiệu của người bạn muốn giúp hắn chỉ là lời xã giao. Đúng là ở đây đang thiếu người thật. Nơi sơn cùng thủy tận này, tìm được người như hắn hẳn không dễ. Ác cái là mình chẳng quen biết ai. Thời bây giờ đâu phải là thời vác gươm ngêu ngao hát ngang đường để minh chủ biết đến mình? Xã hội nhiều năm cào bằng, san phẳng đã để lại nếp quen thờ ơ tất cả. Nhiệt tình, thành tâm chả biết đang tránh rét ở rừng xanh, núi đỏ nào?
****
Hắn không biết em chui vào chăn của mình tự lúc nào? Bằng cách nào? Gọi cho đúng tên của sự vật nó chưa hẳn là cái chăn, chỉ là cái ruột chăn, không có vỏ. Rất có thể khi ngủ dậy đầu tóc, quần áo hắn sẽ dính đầy sợi bông vụn vụn dây ra từ cái ruột chăn rẻ tiền này. Hắn định chỉ ngả lưng một chút, chờ đến lúc giao thừa của năm dương lịch xem bắn pháo hoa và nghe ngài chủ tịch đọc quốc thư đón chào năm mới. Để rồi xem năm nay liệu có thay đổi gì? Hay lại cũng như mọi năm, sung sướng, hồi hộp rồi nhạt dần đi? Nhưng mệt, hắn thiếp đi khi nào không biết. Hooc môn sinh dục trong thằng đàn ông đã lâu không gần gũi đàn bà chi phối giấc mơ của hắn. Hắn đang mơ lại giấc mơ của nhiều năm trước. Hồi hắn còn là chàng sinh viên mới ra trường. Hôm đó cũng vào dịp tháng ba âm lịch như thế này. Hắn cùng con người yêu đi hội chùa Thày. Một quả núi đứng lẻ loi giữa vùng đồng bằng sông Hồng quê hương hắn. Hai đứa mải chơi, mãi đến lúc xẩm tối mới về. Xe cộ ngoài đường đã vãn. Chờ mãi không có chuyến nào để về Hà Nội. May mà có nhà người quen của con bồ. Nàng đã từng về đây thực tập nghề gõ đầu trẻ của nàng. Chủ nhà cho mượn chiếc xe đạp và cây đèn pin. Trời mỗi lúc mỗi tối đen. Mưa phùn mỗi lúc mỗi dầy. Ánh đèn pin chỉ đủ soi sáng một quãng rất ngắn trước mặt. Chỉ thấy những gốc cây nhớt nhát hai ven đường và mặt đường ướt sũng. Lạnh và rét. Đom đóm ở đâu bay ra rất nhiều. Có con to như thông phong đèn, lập lòe xanh lạnh như ánh lân tinh. Người ta cho rằng đó là những oan hồn chưa siêu thoát, đang lần mò lối lên thiên đàng trong đêm tối. Cõi âm rất kị ánh thái dương, ban ngày đâu có dám xuất hiện? Hắn thoáng nghĩ như thế, không nói sợ nàng sợ hãi. Ấn tượng về chuyến đi này sẽ bị xóa hết bởi câu nói vô duyên của mình vào lúc này. Không biết nàng có cùng suy nghĩ như thế hay không? Nàng có vẻ sợ hãi thật sự, cứ ôm riết lấy hắn. Ôm chặt đến nỗi hắn rất khó điều khiển xe mỗi lúc cần tránh cái ổ gà. Tự dưng rầm một cái. Hình như xe bị gãy vành hay cổ phốt văng ra ngoài. Hắn cảm thấy đau cứng vùng bụng dưới..và tỉnh hẳn người.
Thực và mơ vừa có cuộc giao hoan, trộn vào nhau. Hắn bàng hoàng chưa kịp nhớ đây là chỗ nào. Lại nghe giọng nói quen quen.. mới quen. Đúng là áo đỏ rồi. Cô ta đi đâu từ tối đến giờ, bây giờ lại tự nhiên “Như người Hà Nội” chui vào chăn của mình thế này?
- Anh ngủ đi, bên ngoài lạnh quá. Em chỉ nằm ghé bên cạnh anh thôi. Sáng ra em sẽ đi sớm, không để anh bị nhà chủ rầy rà đâu..
Hắn lúng túng chưa biết xử trí như thế nào. Hắn đã từng yêu, từng có vợ, từng gần gụi đàn bà nhưng tình huống này là lần đầu tiên xảy ra trong đời đối với hắn. Từ chối cô ta ư? Đồng ý như vậy nghĩa là như thế nào? Cho dù mình không chủ định, nhưng mặc nhiên vẫn có cái gì hèn hèn. Bản tính lại không thích bất cứ thứ gì thụ động, kể cả “Tình cho không biếu không”. Nhất là thời buổi ngày nay bệnh họa quá nhiều. Bất cứ việc tắc trách, qua loa nào cũng mang lại hậu quả khôn lường. Song, con quỷ nằm phía dưới thân thể hắn hình như cãi lại. Nó bảo “ Đừng có mà sĩ hão. Thằng đàn ông nào lại từ chối nếu ở địa vị của mày? Mày có ép buộc cô ta đâu. Tự nhiên mang đến cứ việc hưởng. Còn bệnh họa, chết chóc có số cả con ạ. Nom ra xinh tươi thế kia chắc chả việc gì đâu..”. Con quỷ nói, rồi cười sằng sặc. Hình như tiếng cười của nó chỉ mình hắn nghe được. Dưới ánh sáng của ngọn đèn ngủ, hắn tuyệt nhiên không thấy biến đổi gì trên nét mặt người vừa cùng chăn với hắn chui ra. Có lẽ con quỷ đó có giọng âm vi ba, người bình thường như nàng khó mà nghe thấy.. Áo đỏ không có biểu hiện gì là sự đương nhiên..
Em bảo tên em là “Miên Miên”, khi hắn hỏi. Chẳng biết khi đặt tên này cho em, mẹ có ý gì? Hắn luận không ra. Một cái tên như trạng thái mơ hồ nào đó, rất khó cắt nghĩa. Miễn là “có” để gọi, còn hơn nói trống không. Hắn nghĩ thế..
- Em làm cách nào để vào được đây?
- Cửa này rất dễ mở. Chỉ người không có hành lý đáng giá mới ngủ ở đây và thường chỗ này bỏ không. Mấy đêm trước ngày nào vào giờ này em cũng vào đây mà chủ nhà không hay biết. Hôm nay không ngờ lại có khách là anh thuê chỗ này nên mới mò lên..
- Ngủ lén à?
- Cũng gần như thế, bần cùng thôi anh ạ!
Nàng lặng đi một lúc.
Miên miên kể: “ Em ra trường, chạy mãi không có việc làm vì thiếu một số tiền, chưa biết xoay bằng cách nào? Vừa hay có người đến. Bà này có Shoop hàng bán hoa quả bên Trung Quốc muốn thuê người bán hàng. Lương tháng rất cao so với ở Việt Nam. Bà nói nếu đồng ý bà sẽ ứng trước cho ba tháng lương ( bằng số tiền cả nhà em vất vả cả năm trời). Mẹ em lúc đầu còn ngần ngừ, về sau đồng ý. Còn em cũng muốn bay nhảy một chuyến xem sao. Chuyện qua lại biên giới hai nước chắc không cần kể lại. Tương đối đơn giản. Em theo bà ấy đến một thị trấn. Ngày cũng như đêm treo rất nhiều đèn lồng. Trên tường các ngôi nhà dán đầy các bảng quảng cáo nền đỏ. Lạ một cái có rất nhiều người bưng những cái tộ to tướng vừa đi vừa ăn, vừa nói chuyện hay mua bán thứ gì đó. Cảnh tượng này ở bên mình không nơi nào có. Đêm đầu tiên em ngủ cùng bốn năm đứa chạc tuổi đều là con gái. Sáng hôm sau có xe đến đón mỗi đứa đi một nơi. Bà chủ nói đấy là các cơ sở của bà, công ty bà rất nhiều cơ sở. Bà cộng tác với người Hoa cho dễ làm ăn. Thấy họ im lặng hoặc chỉ nói tiếng Quan Hỏa em nghĩ bà nói thực, không nghi ngờ gì. Người đàn ông dẫn đường cho em chừng ngoài năm mươi. Suốt dọc đường ông ta chỉ ra hiệu, không ra lời. Ông ta không rời em nửa bước.. Đi thêm bốn giờ xe chạy nữa thì đến nơi. Chả thấy cửa hàng cửa hiệu đâu cả..” Miên Miên thụt thịt khóc. Vẻ hồn nhiên thơ ngây của cô biến mất.. Nghe đến đây, chừng hắn hiểu. Hắn bảo thôi đừng kể nữa. Tò mò vào nỗi đau của người khác là hành hạ người ta. Hắn không thích thế. Áo đỏ hình như cũng không muốn kể thêm. Kể làm gì cái đoạn ba bố con người đàn ông kia chung nhau một người vợ mới mua về?  Có lẽ trên khắp hành tinh này không đâu có kiểu hôn nhân như thế. Một đất nước vĩ đại, có nền văn hóa năm ngàn năm chói lọi, sao lại có kiểu quần hôn như súc vật rất lạ đời?  Hiện tại, ăn ở xưng hô thế nào? Thế hệ cái con truyền đời ra sao? Sẽ ra sao khi cha con, vợ chồng loạn luân, phi nhân như thế?
Hắn đã nghe nhiều chuyện tương tự, nhưng gặp “người trong cuộc” thì nay là lần đầu tiên.
- Bây giờ anh hiểu vì sao em trốn chui lủi và phải ngủ lén như thế này rồi chứ?
- Sao không về quê?
- Anh hỏi lạ! Về được đến đây được em đâu còn đồng nào? Em không có gì để bán ngoài bản thân. Nếu anh mua ngay bây giờ em cũng bán? – Miên miên cười như mếu.
- Tôi không còn tiền. Nếu có tôi cũng không mua. Tình là cái không nên mua bằng tiền..
Tự nhiên Cô gái cười sằng sặc. Hắn vội bưng miệng cô lại. Có thể, điều hắn vừa nói là điều cô không tin. Hết thế kỷ cũ rồi, còn bao nhiêu người nghĩ như hắn?
*****
Có người nào đó nói với hắn rằng: “ Bây giờ đang là thời âm thịnh, dương suy”. Hắn không tin. Bằng chứng là rất nhiều nữ nhân tài sắc vẹn toàn, đức độ, tử tế, hẳn hoi hắn được biết, rút cục số phận và cuộc sống chẳng ra gì. Cuộc gặp gỡ Miên Miên tình cờ, duy nhất một lần, cứ ám ảnh hắn. Hơn mười năm qua đi, hình bóng của nàng phai dần trong trí nhớ đã bắt đầu trở nên tệ của hắn. Hắn không ngờ có lần gặp lại nàng vào sáng nay, một buổi sáng của thập kỷ thứ hai, thế kỷ 21 này.
Phó sở vừa đỗ xe trước cổng cơ quan. Quý bà mơn mởn, đài các và lịch sự. Sau khi hắn đề đạt dự án của mình, quý bà cứ nhìn hắn chăm chăm. Bà nói:
- Tỉnh rất hoan nghênh các nhà nghiên cứu, các nhà khoa học có công trình về bãi đá cổ. Nhưng cho đến nay, chưa có công trình nào thực sự khoa học, thực sự sâu sắc về tính chất, ý nghĩa của những di sản còn tồn lưu đến bây giờ. Phần nhiều vẫn nằm ở dạng giả định, khái niệm và phỏng đoán chưa đủ sức thuyết phục. Dù rằng UNETCO đã công nhận đó là di sản văn hóa thế giới, các tài liệu về bãi đá cổ của ta vẫn chưa thực sự xứng tầm với nó..
Hắn biết với giọng điệu này, công trình của hắn chả còn hy vọng gì. Tìm một sự hỗ trợ về tài chính chỉ là điều không tưởng! Hơn nữa hắn là người ngoài tỉnh, việc đó lại càng khó khăn hơn nhiều. Bao giờ người ta cũng dành ưu ái cho các tác giả địa phương hơn. Hắn buồn bã và lịch sự cáo từ. Bước ra tới cửa, đột nhiên quý bà kêu hắn dừng bước. Hắn nghĩ có thể hắn bỏ quên thứ gì đó, nhưng không phải..
- Xin lỗi, hình như ta gặp nhau ở đâu rồi?
Ngay từ lúc đầu hắn đã ngờ ngợ nhưng không dám hỏi. Bà ta có nét quen quen.. rất có thể là Miên Miên, hoặc là chị em của nàng. Nhưng cảnh ngộ hai người một trời một vực, hắn không dám nghĩ  hai người là một, đang hiện diện ngay trước mắt mình.
- Ở đây là cơ quan, chuyện riêng nói không tiện. Nếu anh còn lưu lại thành phố này, chiều nay mời anh đến..
Hắn không tin ở tai mình nữa khi quý bà nói địa chỉ và quý danh của mình. Thật không thể tin được địa chỉ ấy lại chính là chỗ có cái nhà hàng và quán trọ năm nào. Không trách trái đất tròn là phải!

*****
Ngồi trong ngôi biệt thự của nàng bên dòng sông bắt nguồn từ phía bắc chảy về, hắn thừ ra. Lúc lâu hắn mới thốt ra như không phải nói với nàng, mà tự nói với mình:
- Cuộc đời chẳng biết sao mà nói.. Sau cái đêm ấy một tháng, anh có quay trở lên đây tìm, nhưng không ai biết em là ai, ở đâu cả. Có hàng trăm cô áo đỏ từng qua thành phố này. Cả cái tên Miên Miên cũng là một cái tên họ chưa nghe bao giờ. Cứ như tên của một bài thơ, hay là tên của lời nguyền vậy . Cuối cùng anh đành trở về.
Nàng cười chua chát. Hẳn nàng không tin lời của hắn vừa rồi. Ai hơi đâu tìm bóng dáng của cuộc tình thoảng qua một đêm kia chứ? Nhưng đó là sự thật. Nàng tin hay không là quyền của nàng. Nhưng phần sau câu chuyện nàng chưa nói khúc quanh của nó ở đâu?
“Đấy là đêm trăng sáng lắm. Em quanh quẩn dọc bờ sông. Bụng đói có thể ăn được bất cứ thứ gì để sống người. Thỉnh thoảng cũng có hàng quán hai bên đường, nhưng tiền không có một xu. Cái ý định sẽ gặp may nếu cứ dọc đường mò về quê tiêu tan dần. Thỉnh thoảng cũng có vài tên trai lơ đỗ xe máy dọc đường trêu chòng nhưng em không nói gì. Giằng co không được chúng lầu bầu chửi tục rồi bỏ đi. Trời gần khuya, trước mắt em đổ những vòng tròn man dại.. Không còn ánh trăng. Không còn tiếng người, tiếng xe.. Tự nhiên cảm thấy người nhẹ hẫng, không còn trọng lượng..”
 Người ta bảo với nhau: “Cô gái này tự tử vì tình”; “ Người như cô ấy thiếu gì thằng theo, chết chi cho uổng?”. Nhưng đâu có phải như vậy.. Chỉ là em hụt chân, ngay trước đền Thác Cái. Đúng là đền này thiêng. Phải chỗ khác em đã mất mạng rồi. Cứu em chính là ông Khánh Mũi Đỏ, người cả tỉnh này biết. Thiên hạ nói thế nào thì nói, với em ông ấy là một con người tuyệt vời.. Em về công ty ông ấy làm mấy năm rồi các anh trên này xin em, cất nhắc từ bấy đến nay..”
Hóa ra hắn biết Khánh Mũi Đỏ chừng ấy năm giời, từng có lúc lên công ty Khánh nằm vạ vật hàng tháng trời, mà sao không biết chuyện này? Vậy mà mình cứ nghĩ Khánh  ruột để ngoài ra, biết hết rồi về Khánh, mà thực ra không phải.
Con bệnh quái ác đã mang nhà thơ trẻ ấy đi năm năm nay rồi! Nhiều người quen thân với anh ta cũng còn chẳng mấy người còn nhớ đến. Ngay chính mình đây nếu không có chuyện liên quan, mình cũng quên luôn huống chi người khác? Một sự lãng quên đáng phải áy náy và ân hận.
Có lẽ dự án, dự iếc không nên nói ra vào lúc này, nếu không mình sẽ tự xấu hổ vì nói ra không đúng lúc, chút nào đó mang tính lợi dụng quan hệ cá nhân. Miên Miên bảo:
- Đêm nay anh ở đây. Coi như em trả ơn cái đêm nào anh cho em ngủ cùng..- Nàng ngước nhìn hắn, ánh mắt nài nỉ.
Hắn bảo : “Thế sao tiện?” Ý chừng ngại chủ nhân chính thức của ngôi biệt thự này. Nàng hiểu ý hắn “ Người ấy chính là anh Khánh đấy, anh không nhìn ra bức ảnh kia sao?”. Hắn nhìn lên tường. Đúng là Khánh thật rồi.. Khánh mũi đỏ đầu chải rất mượt, ngồi im trên ban thờ, ánh mắt như cười cười, cảm thông, khuyến khích. Tự nhiên hắn thấy lòng hoang mang, hay một trạng thái tương tự nào đấy mà lúc này hắn chưa kịp nhận ra và gọi tên nó là gì?

*****

Tin

‘MÙA XUÂN Ả RẬP’ VÀ MÙA XUÂN MYANMAR

Nguồn: Tuần Việt Nam,
đăng ngày 2/1/2013, truy cập đường link gốc tại đây  
1 Cùng thuộc về một làn sóng dân chủ hóa trên thế giới, nhưng “Mùa xuân Ả rập” để lại những vết thương sâu sắc chưa hứa hẹn ngày lành, thì Mùa xuân Myanmar cũng chính là quá trình làm lành vết thương của thời kỳ độc tài.
Mùa xuân bão táp ở Ả rập
Một loạt chế độ tại Ả rập – từng ưỡn ngực với sự “đặc thù” của văn hóa Hồi giáo mà từ chối nền dân chủ – đã đồng loạt đi đến hồi kết. Tất cả được châm mồi với chỉ một đốm lửa ở Tunisia hai năm trước.

…Trong Mùa xuân Ả rập, cựu Tổng thống Yemen Ali Saleh đã ra đi theo một cách êm ả nhất có thể: ông từ chức sau 33 năm cầm quyền và sang Mỹ đổi lại quyền miễn tố, để lại một Yemen kiệt quệ và đối mặt với các cuộc nổi dậy và nội chiến.

Hầu hết trong số đó đều tiếp tục nhiệm kỳ của mình sau các cuộc “bầu cử” không có ứng cử viên đối lập và chiến thắng với tỷ lệ phiếu bầu cực cao. Nhưng sự “tín nhiệm cao” đó không che giấu được những vấn đề trầm trọng của dân chúng và khối tài sản kếch xù của những nhà cầm quyền.
Và những cuộc nổi dậy của “Mùa xuân Ả rập” đã lột tả bản chất của sự “tín nhiệm cao” chính là sự sợ hãi của dân chúng, chứ không phải vì đó là chính quyền của nhân dân như các nhà độc tài vẫn tự xưng.
Nhưng sự cai trị bằng nỗi sợ hãi của dân chúng cũng tạo ra sự căm phẫn âm ỉ, và nó sẽ bùng lên khi tích tụ đủ mạnh và có một mồi lửa ném vào.
Cái giá mà đất nước họ phải trả còn lớn hơn thế. Là sự kiệt quệ của dân chúng do sự bòn rút của họ. Là sự hèn đụt và tính thụ động của dân chúng do sự đe dọa của họ. Là sự khủng hoảng lòng tin và đạo đức của dân chúng, do sự cai trị vô đạo đức và chia rẽ dân chúng của họ. Và cuộc nổi dậy như một vết thương được làm loét thêm, do tâm lý trả thù không chỉ nhằm vào nhà độc tài mà còn hướng cả vào những người từng tham gia hệ thống ấy, và những người được lợi nhờ hệ thống ấy, tạo ra một xã hội bị chia rẽ.
Mùa xuân ấm áp với Myanmar
Myanmar, giành độc lập năm 1948, bị hết thống tướng này đến thống tướng khác cai trị sau cuộc đảo chính quân sự năm 1962. Trong ngôn ngữ của chính trị học, đó là chế độ Qủa đầu (độc tài nhóm), một hình thức tinh vi hơn của độc tài cá nhân.
1
Dù tinh vi tới đâu thì bản chất của mọi chế độ độc tài đều là cai trị đất nước để phục vụ cho quyền lợi của những kẻ cai trị, thay vì để phụng sự nhân dân và đất nước. Đó là nguyên nhân Myanmar từ vị thế là một đất nước phát triển hàng đầu châu Á đầu thập kỷ 1960 đã tụt hậu và kiệt quệ thành một nước lạc hậu nhất ở Đông Nam Á những năm qua.
Đứng trước nguy cơ bị lệ thuộc vào cường quốc láng giềng, giới lãnh đạo Myanmar đã có những thay đổi kịp thời và ngoạn mục.
Cuộc bầu cử dân sự năm 2010 tưởng như chỉ là mang tính hình thức để hợp thức hóa sự cai trị của những tướng lĩnh cũ, mà Tổng thống được bầu vào Mùa xuân 2011 Thein Sein nằm trong số này. Lần đầu tiên nắm quyền cao nhất ở Myanmar, vị tướng cũ đã từ bỏ đường lối cai trị độc tài, bằng cách chấm dứt những dự án của cường quốc láng giềng gây nguy hại cho Myanmar, công nhận đảng đối lập và tổ chức cuộc bầu cử bổ sung tự do vào Mùa xuân 2012, phóng thích hàng loạt tù nhân lương tâm, và cho phép tự do báo chí.
Myanmar còn có một nhân vật vĩ đại nữa làm biểu tượng cho quá trình dân chủ hóa: Aung San Suu Kyi, người đã để lại gia đình của mình ở nước Anh để trở về nước vận động dân chủ năm 1988 bất chấp bị đàn áp, đe dọa, bắt bớ, cấm tranh cử, rồi bị giam lỏng trong thời gian bầu cử năm 1990. Kết quả: bà chiến thắng áp đảo cùng Đảng của mình (82% số phiếu) nhưng bị từ chối chuyển giao quyền lực và tiếp tục bị giam lỏng, và bà từ chối rời khỏi đất nước để tiếp tục cuộc đấu tranh cho dân chủ. Ngày đó đã đến như mong mỏi của bà và nhân dân Myanmar, cho dù Đảng của bà chỉ tranh cử ở cuộc bầu cử bổ sung 45/664 ghế.
Một người từ bỏ quyền lực độc tài để đưa đất nước đến với dân chủ, và ca ngợi đối thủ từng bị phe mình giam giữ. Một người đã chiến thắng trong cuộc bầu cử dân chủ nhưng chấp nhận sự cai trị của chính phe phái từng tước đoạt quyền lực của mình, thậm chí vận động quốc tế xóa bỏ cấm vận với chính quyền đương nhiệm, để tìm kiếm sự khởi đầu mới cho quá trình dân chủ hóa đất nước. Qúa trình dân chủ hóa của Myanmar, nhờ vậy, đồng thời là quá trình hòa giải dân tộc, giúp Myanmar không chỉ giữ được hòa bình mà còn giảm nguy cơ bị chia rẽ.
Đó là lý do cả hai được xếp hàng đầu trong danh sách 100 nhà tư tưởng của thế giới năm 2012 do Tạp chí Foreign Policy (Mỹ) lựa chọn. Riêng Thein Sein được tờ Straits Time (Singapore) bình chọn là Nhân vật châu Á của năm 2012. Vì từ bỏ độc tài quyền lực để trả quyền lực về cho nhân dân luôn là lựa chọn vô cùng khó khăn của mọi chế độ độc tài trong lịch sử.
Nhưng đó là lối thoát duy nhất cho một quốc gia muốn phát triển, và ngay lập tức đầu tư nước ngoài đã xếp hàng vào Myanmar. Và cũng là lối thoát duy nhất cho nhà độc tài để tránh bị xét xử hay bị giết hại khi dân chúng nổi dậy và trả thù, như đã diễn ra với “Mùa xuân Ả rập”.
Ba ngàn năm trước, nhà tư tưởng chính trị Khương Tử Nha đã thấu hiểu điều đó khi nhắc nhở Chu Văn Vương rằng: Thiên hạ không của riêng ai, thiên hạ là của cả thiên hạ, chung lợi ích với thiên hạ thì được thiên hạ, đoạt lợi ích của thiên hạ thì mất thiên hạ. Nhờ tư tưởng đó, nhà Chu tồn tại tới tám trăm năm, và là thời kỳ phát triển rực rỡ nhất về tư tưởng, triết học, binh pháp, kỹ thuật của Trung Quốc cổ và trung đại.
Ngày nay, không cần phải thông thái như Khương Tử Nha cũng biết điều đó. Quá nửa quốc gia trên thế giới là những nền dân chủ, thể chế buộc chính quyền phải chung lợi ích với thiên hạ, thay vì chờ đợi chính quyền tự nguyện như triều đại nhà Chu. Nhờ thế, những quốc gia thịnh vượng nhất, văn minh nhất đều là những nền dân chủ.