Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Hai, 14 tháng 1, 2013

Chuyên đề

Một cái nhìn về thực tiễn văn chương hậu hiện đại


Phùng Gia Thế  mới nhập cuộc với phê bình, nhưng các bài viết của anh đã toát lộ một cách tư duy mới mẻ về diễn tiến của văn chương Việt 
Nam giai đoạn sau 1986. Đọc Phùng Gia Thế, có thể thấy rõ quan niệm: phê bình văn học phải được nảy ra trên nền tảng của nghiên cứu, lí luận. Nhìn từ góc độ này, chúng tôi thấy Phùng Gia Thế đã thực sự quan tâm tới văn chương hậu hiện đại, và anh cũng đã thao tác hoá, cụ thể hoá một số bình diện lí luận của chủ nghĩa hậu hiện đại thành một cách diễn giải những cách tân, thử nghiệm của nhiều cây bút trên văn đàn hiện nay.
- Theo anh, tinh thần hậu hiện đại đang phảng phất đâu đó trong thực tiễn văn học Việt Nam hay đã trở thành một khuynh hướng sáng tác nổi bật? Dấu hiệu nào cho ta thấy điều đó?
Phùng Gia Thế: Theo tôi, hậu hiện đại trong thực tiễn sáng tác, giờ không còn là chuyện “có hay không?” nữa, mà vấn đề là ở chỗ: ta nhìn nhận, đánh giá nó như thế nào. Nhìn từ hôm nay, tôi cho là, chúng ta đã có một khuynh hướng hậu hiện đại trong văn chương đương đại. Khuynh hướng này phản ánh một qui luật phát triển khách quan của văn học gần đây. Dấu hiệu nổi bật của nó là sự in đậm của “cảm quan hậu hiện đại” trong sáng tác của nhiều nghệ sĩ, và sự xuất hiện ở tần số cao hàng loạt các thủ pháp kĩ thuật, các nguyên tắc cấu trúc văn bản, tổ chức trần thuật, cách cấu trúc hình tượng... tiêu biểu của văn chương hậu hiện đại… Hiển nhiên, ai cũng biết: xu hướng và thành tựumới và chất lượng cao không phải bao giờ cũng là bạn đồng hành.
- Vậy sự xuất hiện của khuynh hướng hậu hiện đại có ý nghĩa như thế nào đối với đời sống văn học đương đại nước ta?
Phùng Gia Thế: Từ nửa sau thế kỉ XX, chủ nghĩa hậu hiện đại trở thành một trào lưu văn hoá mang tính toàn cầu. Văn học hậu hiện đại thế giới cũng đã đạt được những thành tựu rất phong phú. Theo tôi, sự xuất hiện của khuynh hướng hậu hiện đại trong văn chương Việt Nam gần đây thể hiện một qui luật bình thường trong giao lưu văn hoá nhưng lại ghi một dấu ấn quan trọng đối với sự tiến triển của văn chương. Nó chứng tỏ tinh thần hội nhập mạnh mẽ và thuận chiều của văn chương nước ta với tiến trình văn chương thế giới. Khuynh hướng hậu hiện đại trên thực tế đã góp phần làm phong phú thêm diện mạo thi pháp văn học dân tộc, thay đổi tư duy văn học, cách đọc và thị hiếu thẩm mĩ của công chúng. Thử nghiệm theo khuynh hướng hậu hiện đại đáp ứng được đòi hỏi phát triển của bản thân văn chương, và trước hết nó giúp cho các nghệ sĩ thoả mãn nhu cầu với cái mới, cũng là để mở rộng chân trời sáng tạo của mình…
Tôi hiểu, đây là cả một câu chuyện dài, đòi hỏi sự phân tích công phu. Như anh biết đấy, chúng ta đang xét hậu hiện đại ở Việt Nam chủ yếu qua cái nhìn của học giả phương Tây. Đó là thuận lợi, nhưng cũng là “trở ngại” trước tiên, khi nghiên cứu. Lí thuyết hậu hiện đại phương Tây, dầu bề bộn, phức tạp, song được khái quát từ thực tiễn văn hoá - nghệ thuật rất sinh động, cả chín muồi nữa, của họ. Còn, “hậu hiện đại” ở ta, dù có một khuynh hướng thì cũng chưa phải một trào lưu. Hệ quả theo đây là, thường có những “sai trật” khi vận dụng các phạm trù lí luận hậu hiện đại vào nghiên cứu thực tiễn. Những tranh luận hậu hiện đại gay gắt gần đây cũng phản ánh một phần tính phức tạp của vấn đề này.
- Nghiên cứu văn học hậu hiện đại tất yếu phải chú ý tới phạm trù “cảm quan hậu hiện đại”. Vậy, anh có nhận xét gì về những biểu hiện của cảm quan hậu hiện đại trong văn học Việt Nam?
Phùng Gia Thế: “Cảm quan hậu hiện đại” là một phạm trù then chốt của hậu hiện đại. Có thể nhận ra trong văn chương nước ta gần đây những dấu ấn có tính chất “loại hình” của kiểu cảm quan này. Biểu hiện của nó khá phức tạp. Trên nét lớn, đó là sự ghi dấu đậm cơn khủng hoảng niềm tin của con người. Lí tưởng và các thang bảng giá trị đời sống đổ vỡ, trở thành “kẻ vắng mặt” kinh niên. Bài ca cuộc sống bị “vặn cổ”. Đời sống, xã hội hỗn loạn. Con người méo mó, đáng thương, mất sức đề kháng, thậm chí tê liệt. Trạng huống bi - hài trở nên phổ biến. Cái đẹp thưa vắng, mà, nếu có thì cũng yếu ớt, mong manh, lạc lõng, chẳng cứu vớt được ai... Cũng là “tinh thần phê phán”, song, nếu chủ nghĩa hiện thực cổ điển khát khao mãnh liệt một trật tự đời sống mới (cái cần phải có), để thay thế cho cái hiện tồn; chủ nghĩa hiện đại muốn tạo ra trật tự từ việc điều chỉnh cái hỗn độn của đời sống; thì ở đây, cảm quan phổ biến của nhà văn là: không còn tin vào cái gì tốt đẹp, nền tảng; không tin vào cái lí tưởng ở cả ba thì: quá khứ, hiện tại, tương lai. Đành rằng trong sâu thẳm, nghệ sĩ chân chính không bao giờ hết ước mơ. Song, cũng phải thừa nhận tinh thần hoài nghi, hư vô chủ nghĩa trong đây là có thật. Nhà văn dường như chỉ còn lại niềm tin sau cùng: tin rằng cuộc đời vốn không thể khác
Cảm quan hậu hiện đại, xét ở phương diện chung nhất, là như thế. Còn, trong thực tiễn sáng tác của mỗi nghệ sĩ, sự biểu hiện cảm quan này lại có những nét đặc thù. Chẳng hạn như, ở truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp là tứ truyện bao trùm về sự vô nghĩa trớ trêu của cuộc đời, sự bê tha nhếch nhác thảm hại của con người, sự bơ vơ lạc loài của cái đẹp, và cả bóng dáng của chủ nghĩa hư vô (Tướng về hưu, Không có vua, Con gái thuỷ thần, Muối của rừng, Kiếm sắc, Vàng lửa, Phẩm tiết...). Trong sáng tác của Phạm Thị Hoài, dễ tìm thấy những thế giới vô hồn, vắng bóng dấu vết của sự sống mang tính người, tình người, và những cuộc chia tay (Thiên sứ, Ám thị, Chín bỏ làm mười...). Tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương ám ảnh bởi sự khủng hoảng niềm tin của con người, của nhà văn vào cuộc đời, sự đổ vỡ của những trật tự xã hội và gia đình, sự ngắc ngoải ngưng đọng của đời sống, tình trạng bất an, sự đánh mất bản ngã, phương hướng, sự băng hoại đạo đức, sự bơ vơ của kiếp người… (Thoạt kì thuỷ, Người đi vắng, Ngồi). Sáng tác của Nguyễn Việt Hà thể hiện một cái nhìn hoang mang về thời cuộc (Cơ hội của Chúa), đồng thời là ý thức xâm nhập mạnh mẽ vào sự tha hoá của con người, sự hỗn loạn của xã hội - cái được xem như là một tồn tại an nhiên (Khải huyền muộn). Văn chương Tạ Duy Anh là nỗi khắc khoải truy tìm bản ngã, tìm một giá trị thật sự trên cái đời sống đổ nát, đầy thù hận, là sự loay hoay lí giải, hoá giải những nỗi đau khổ đầy đoạ con người từ tiền kiếp (Lão Khổ, Đi tìm nhân vật, Thiên thần sám hối). Tiểu thuyết Hồ Anh Thái xem đời sống như những mảnh vỡ, thể hiện tinh vi nỗi hoang mang của con người về con người và cái lộn xộn, phi lí, nhố nhăng của thời buổi (Cõi người rung chuông tận thế, Mười lẻ một đêm). Paris 11 tháng 8, T. mất tích của Thuận là một diễn dịch mới về tình trạng bất an, vong bản, bị kết án “mất tích”, một nỗi niềm kinh hãi “rằng có ai đó đang vẽ kiểu cho cuộc sống của mình”...
Như thế, cảm quan hậu hiện đại trong văn chương không chỉ thể hiện ở chỗ nhà văn tái hiện sự hỗn loạn của đời sống, mà quan trọng hơn, chính là một nguyên tắc nhìn đời sống của nhà văn: đời sống như là một sự hỗn độn, không còn tiêu chuẩn giá trị và định hướng có ý nghĩa nào. Nhà văn xem bản chất thế giới là hỗn mang, anh ta chấp nhận sự hỗn độn như là một sự kiện… Và theo đây, sự dịch chuyển về tâm thức hậu hiện đại trong văn chương của ta còn thể hiện ở chỗ: trước cái hỗn loạn, đổ vỡ, tai biến của hiện thực, thay vì “khóc than”, “đề kháng”, hay “nỗ lực chữa trị”, nhà văn lại “xâm nhập vào nó bằng một tình cảm mật thiết”, thậm chí, anh ta còn “chơi cùng cái hỗn loạn”... Đọc Người đi vắngNgồi của Nguyễn Bình Phương, Khải huyền muộn của Nguyễn Việt Hà, Mười lẻ một đêm của Hồ Anh Thái... có thể thấy khá rõ điều này.
Trong thơ, cảm thức hậu hiện đại khó xác nhận hơn trong văn bản hình tượng song lại thể hiện đậm nét qua thái độ của nhà thơ với thơ và cách hành ngôn thơ. Người làm thơ theo khuynh hướng hậu hiện đại ở ta quan tâm nhiều đến việc làm mới chữ, mới âm, đến tính chất trò diễn của ngôn từ. Có thể thấy điều này trong nhiều sáng tác của Vi Thuỳ Linh, Phan Huyền Thư, Từ Huy, Đặng Thân, Như Huy, Nguyễn Thế Hoàng Linh, nhóm Mở Miệng...
Cảm quan hậu hiện đại là một dấu hiệu văn hoá của văn chương, ghi nhận kịp thời một hiện trạng tinh thần của con người thời đại. Điều này trước hết bộc lộ tự nhiên trong các sáng tác, không chờ nhà văn tuyên bố hay tự giác viết để thể hiện cảm quan đó. Tất nhiên, nếu có được điều này, nhất là ở các nhà văn tài năng, thì ta đã có tác gia hậu hiện đại, theo ý nghĩa đầy đủ của từ này rồi.
- Theo anh, ta có thể tìm thấy cảm quan hậu hiện đại trong văn học Việt Nam từ giai đoạn nào và với tác giả nào?
Phùng Gia Thế: Nghiên cứu văn chương hậu hiện đại tất phải xét tới “cảm quan hậu hiện đại”. Song, “cảm quan hậu hiện đại” nếu được hiểu như là sự mất niềm tin vào cái chính thống, là thái độ chống lại sự áp đặt của cái chính thống, thì, xét kĩ ra, văn chương thời nào cũng có. Và, đấy cũng là khi người ta hiểu hậu hiện đại theo nghĩa rộng nhất của từ này. Cách hiểu này, khiến chúng ta phải đối mặt với những câu hỏi, đại loại: Thế thì, ai hậu hiện đại? Nghệ sĩ dân gian cũng hậu hiện đại sao? Hồ Xuân Hương, Bút Tre (Đặng Văn Đăng)... có hậu hiện đại không? Nếu cách hiểu này được chấp nhận, thì ta không nên nhất mực rằng phương Tây hậu hiện đại trước! Con người cá nhân hậu hiện đại, khi đó, sẽ có trước trào lưu văn hoá hậu hiện đại.
Nói thì vậy, còn trên thực tế, vấn đề lại không đơn giản. Kết luận về một hiện tượng mà chỉ xem xét đơn lẻ từ một yếu tố tất sẽ dẫn đến những hậu quả. Nguy cơ “cả làng hậu hiện đại” trong đây là có thật. Vậy nên, trong nghiên cứu văn chương hậu hiện đại, việc nhìn nhận các yếu tố trong tương quan và tổng thể luôn rất cần thiết. Theo đây, lại có thể thấy, ở ta, sự mất niềm tin và tinh thần chống sự áp đặt của cái chính thống đúng là sự thật ở mọi thời. Nhưng, nếu trước 1986, nó đơn lẻ, chưa mang tính cộng đồng loại hình, nói giản dị hơn, nó chưa thành “cơn”; thì, sau 1986, thành “cơn”. Đấy là một tâm thức hệ phổ biến, được sinh ra cấu trúc lịch sử - xã hội và văn hoá đặc thù của thời đại. Kiểu tâm thức này thực tế đã manh nha từ sau 1975. Biểu hiện trong văn chương là tinh thần “phản sử thi”, xu hướng “giải trung tâm”, “giải cấu trúc” có trong một số sáng tác của Nguyễn Minh Châu, Lê Lựu,... Từ sau 1986 (sau đổi mới), nó trở thành một kiểu tâm thức phổ biến của thời đại. Thái độ bất tín, nhại, nhạo, không còn thấy cái gì thiêng liêng nữa đã tạo thành “tính cộng đồng loại hình” về thế giới quan ở hàng loạt nghệ sĩ. Ở các mức độ khác nhau, có thể tìm thấy điều này trong sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp, Bảo Ninh, Tạ Duy Anh, Nguyễn Việt Hà, Hồ Anh Thái, Nguyễn Bình Phương, và gần đây, đậm đặc hơn với Đặng Thân, Lê Anh Hoài, nhóm Mở Miệng... Tâm thức hậu hiện đại xuất hiện, song vẫn chưa tạo ra được một trào lưu văn hoá. Lí do là: xã hội chưa đi hết hiện đại, vẫn có thể hậu hiện đại, song thật khó tận cùng, triệt để. Điều kiện lịch sử nước ta lại có những điểm đặc thù. Do thế, tâm thức hậu hiện đại của chúng ta, cũng chẳng thể giống y phương Tây được. Và cũng không cần thiết phải như thế.
Tóm lại, ý tôi là, một cách hiệu quả nhất, chỉ có thể tìm cảm quan hậu hiện đại trong văn học Việt Nam, về giai đoạn: từ sau 1986; về tác giả: bắt đầu từ Nguyễn Huy Thiệp và Phạm Thị Hoài. Sau đấy thì nó đã phong phú rồi.
- Với cảm quan đặc thù như vậy, theo anh, liệu các nhà văn sáng tác theo khuynh hướng hậu hiện đại có khám phá được điều gì mới mẻ về đời sống không?
Phùng Gia Thế: Tôi cho là, sự khủng hoảng, thiếu vắng niềm tin... không ngăn trở nghệ sĩ hậu hiện đại tiếp tục một hành trình muôn thuở của văn chương: nghiền ngẫm nỗi niềm nhân tâm thế sự. Từ góc nhìn mới, những khám phá đã trở nên đa dạng và sâu sắc hơn, ở những chân trời khác. Giã từ đám đông, con người được đặt vào các trạng huống phức tạp mới của cuộc đời: trong đời sống hiện thực phồn tạp, trong đời sống bản năng và trong đời sống tâm linh. Cái ít có điều kiện để nói tới trước đây, nay được công nhiên mổ xẻ, khơi sâu. Hiện thực tâm lí ngày càng được quan tâm nhiều hơn. Trong thơ, các yếu tố vô thức, nhục thể, dục tính, sự trống vắng, vong thân... trở thành tiêu điểm. Có thể xem một số sáng tác của Vi Thuỳ Linh, Phan Huyền Thư, Nguyễn Hữu Hồng Minh, Nguyệt Phạm, Phương Lan, Lê Thị Thấm Vân... là những thí dụ cụ thể. Trong văn xuôi, cần ghi nhận sự xuất hiện ở tần số cao của nhiều kiểu nhân vật mới: dị biệt, bản năng, tha hoá, người điên, kẻ lạc loài, những đám đông bất thường, ô hợp, thậm chí, trong một vài trường hợp, nhân vật chỉ còn là “những bóng ma”... Nhìn chung, kiểu nhân vật tầm thường thay thế các hình mẫu lí tưởng. Sự “giải nhân cách hoá” hậu hiện đại đã dẫn tới tình trạng thiếu vắng tính cách trong văn chương như một qui luật. Các tác phẩm của Nguyễn Việt Hà, Tạ Duy Anh, Nguyễn Bình Phương... rất tiêu biểu cho nhận xét này.
Trường nhìn thay đổi tạo cơ hội cho nghệ sĩ tự do sáng tạo. Tuy nhiên, một số trường hợp đôi khi đã trở nên cực đoan, quá đà. Thiếu sự nghiền ngẫm, tác phẩm tự nó trở thành tiếng nói loanh quanh. Chuyện của thiên tài của Nguyễn Thế Hoàng Linh là một thí dụ. Rồi sự quá tải của sex, như Bóng đè chẳng hạn. Nhóm Mở Miệng ghi dấu ấn bằng những tuyên ngôn và một cách hành xử mới với thơ. Song, tác phẩm của họ chủ yếu chỉ thể hiện được một kiểu thái độ, một kiểu phát ngôn, đến nay chưa có khám phá gì thực sự quan trọng.
- Anh sẽ giải thích thế nào khi có người cho rằng các thủ pháp kĩ thuật thường xuất hiện trong văn học hậu hiện đại như nhại, trần thuật phi tuyến... cũng là điều có thể tìm thấy trong các sáng tác văn học trước đó?
Phùng Gia Thế: Theo tôi, khi nghiên cứu các thủ pháp kĩ thuật của văn chương hậu hiện đại, phải luôn đặt chúng trong tương quan với thế giới quan nghệ sĩ, như là hình thức của thế giới quan. Việc xem xét tách rời các yếu tố này với thế giới quan, rộng hơn là với “tính cộng đồng thế giới quan” của nghệ sĩ dựa trên cơ sở lịch sử văn hoá thời đại, thực tế, đã dẫn tới những kết luận thiếu thuyết phục. Nguy cơ cả làng hậu hiện đại, theo đây, thêm một lần nữa xuất hiện. Thi pháp hậu hiện đại cho phép nghệ sĩ tự do khai thác, sử dụng các biện pháp, thủ pháp nghệ thuật của các kiểu sáng tác trước đó. Vậy nên, sự xuất hiện các thủ pháp kĩ thuật của truyền thống trong văn chương hậu hiện đại cũng là chuyện bình thường thôi. Ta đừng khu biệt hoá nó. Tuy nhiên, gắn với cảm quan mới, vẫn có thể tìm thấy những “yếu tính” trong diện mạo thi pháp của nghệ thuật hậu hiện đại. Giễu nhại, lắp ghép, liên văn bản, trần thuật đoản mạch, ý thức hỗn dung thể loại... đều không phải là sự trú chân mà đã trở thành hình thức tiêu biểu của cái nhìn, trở thành một “nguyên tắc” tổ chức văn bản. Có thể lấy nhiều ví dụ trong văn chương ở ta gần đây. Chẳng hạn ở truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp, đó là sự vận dụng “thủ pháp trần thuật mang tính lập thể”, sự khai thác bình đẳng các phát ngôn trong hệ thống điểm nhìn, sự đa dạng và dịch chuyển liên tục của các điểm nhìn trần thuật, sự vặn gẫy vai xã hội và vai tính cách truyền thống trong hình tượng, vô số các hình tượng nhại, nhiều kết thúc, xen kẽ, có thể “tháo dỡ” được (Tướng về hưu, Không có vua, Con gái thuỷ thần, Chút thoáng Xuân Hương, Muối của rừng, Thương nhớ đồng quê, Những bài học nông thôn, Kiếm sắc, Vàng lửa, Phẩm tiết, Mưa Nhã Nam,...). Truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp còn biểu hiện một cuộc “chơi" thể loại, với nhiều kiểu thử nghiệm độc đáo làm xáo trộn, đứt gẫy những giới hạn thể loại truyền thống: truyện ngắn - tư liệu (Thương cả cho đời bạc), truyện ngắn - nhật kí (Mưa), truyện ngắn - dòng chảy ý thức (Không khóc ở California), truyện ngắn - chân dung (Chút thoáng Xuân Hương), truyện ngắn - phóng sự (Tội ác và hình phạt)... Rồi hiện tượng sơ đồ hoá, đồ vật hoá, lố bịch hoá con người, lạ hoá nhân vật bằng cách xoá bỏ các dấu hiệu nhận biết nó trong Thiên sứ, Ám thị,... của Phạm Thị Hoài. Lại có thể nhận ra trong Thân phận của tình yêu của Bảo Ninh sự chồng xếp tinh tế và phức tạp các kiểu thời gian, điểm nhìn, sự xuất hiện của siêu hư cấu và lối trần thuật đoản mạch, phi tuyến,... Tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương luôn có nhiều tuyến chạy ngược - xuôi theo lối kết cấu song hành xoắn vặn, nhiều tuyến chuyện, nhiều nhân vật bị cố ý “bỏ rơi” (Những đứa trẻ chết già, Thoạt kì thuỷ, Người đi vắng, Ngồi); rồi lối kể nhảy cóc (Những đứa trẻ chết già, Thoạt kì thuỷ); sự sáng tạo các điểm nhìn dị biệt (Thoạt kì thuỷ); sự dung hợp nhiều thủ pháp hội hoạ, âm nhạc và điện ảnh, sự làm nhoà cái tinh tuyển và cái bình dân trong ngôn từ tiểu thuyết, sự vênh lệch, trật khớp, phi lí trong đối thoại (Thoạt kì thuỷNgồi)... Đọc Cơ hội của Chúa của Nguyễn Việt Hà, thấy các nhân vật chính ở đây đều có khả năng thế chỗ nhà văn trong việc kể chuyện; mỗi cá nhân như một “nguyên tử” được đặt ở vô số các giao điểm. Nó tự kể chuyện mình, kể về cái nhìn của mình với người khác. Khải huyền muộn lại là lối truyện của nhiều chuyện, văn bản của nhiều văn bản. Nó đề cao tính phân mảnh của chủ thể, trần thuật theo lối phi trung tâm. Nhà văn cố ý lộ rõ sự can thiệp của tác giả vào câu chuyện, biến tiểu thuyết thành một trò chơi ngôn từ, một sự thăm dò, thử nghiệm của nghệ thuật. Rồi chất “umua đen”, nghịch dị và nhại được sử dụng như một nguyên tắc tổ chức tác phẩm… Chống lại sự đơn điệu, nhại trong tiểu thuyết Nguyễn Việt Hà (Cơ hội của ChúaKhải huyền muộn), cái hài, cái nghịch dị trong sáng tác của Hồ Anh Thái (Tự sự 265 ngàyMười lẻ một đêm),... vừa “lột tả” được bản chất đối tượng, vừa dung hợp được cái bác học của suy tư với cái suồng sã của văn hoá bình dân, một sức mạnh của trào tiếu dân gian. Và, với lối tự nhại (Khải huyền muộn), văn chương chẳng những là sự hoài nghi về các trật tự đời sống mà còn là sự nghi ngờ chính những khả năng, sứ mệnh mà người ta thường đặt ra cho nó. Đọc tiểu thuyết của Tạ Duy Anh (Lão Khổ, Đi tìm nhân vật, Thiên thần sám hối), có thể nhận thấy trong đây sự khai thác đa dạng các điểm nhìn trần thuật, sự chồng xếp các lớp thời gian, sự kiện, sự soi chiếu từ nhiều góc nhìn khác nhau các môtíp chủ đề, nhân vật. Paris 11 tháng 8, T. mất tích của Thuận lại là sự thể hiện những mảnh vỡ tâm trạng trong một mê lộ ngôn từ nhiều mờ ảo, tuỳ hứng, đầy nhịp điệu... Trong thơ Lí Đợi, Bùi Chát, Khúc Duy đó là tính phỏng nhại, cắt dán, là sự thông tục hoá phi thẩm mĩ ngôn từ...
- Anh có thể nói đôi điều về “hoàn cảnh hậu hiện đại” của văn chương Việt Nam?
Phùng Gia Thế: Lyotard nói hoàn cảnh hậu hiện đại” trong cuốn sách của ông là “hoàn cảnh của tri thức trong các xã hội phát triển nhất”. Hậu hiện đại, “theo cách giản dị nhất - ông viết - là sự hoài nghi các siêu tự sự” của hiện đại, tức sự hoài nghi các hệ thống lí luận đóng vai trò như là các “hệ thống giải thích” đảm bảo cho sự hợp thức hoá tri thức, hiểu rộng hơn là hợp thức hoá xã hội, bởi chúng không còn đáng tin nữa.
Câu hỏi đặt ra là: chúng ta có “hoàn cảnh hậu hiện đại” không? Theo quan sát của tôi thì có.
“Hoàn cảnh” này xuất hiện trên cơ sở một tổng thể các nguyên nhân ở “bên ngoài” và “bên trong" văn học. Các nguyên nhân bên ngoài, đáng chú ý nhất là: sự thay đổi cấu trúc xã hội từ sau 1986 gắn với tinh thần đổi mới và những cảm trạng mới; xu thế quốc tế hoá như một qui luật phát triển khách quan của thế giới gần đây; sự bùng nổ của internet vừa với tư cách một phương tiện kết nối cá nhân với tinh thần thế giới, vừa là một phương tiện xuất bản mới; rồi đây đó còn là kiểu tâm lí dị ứng với cái hiện đại, thái độ hư vô chủ nghĩa có từ bản chất nông dân, kiểu tư duy nguyên hợp... Nguyên nhân bên trong cũng nhiều, chẳng hạn: sự khủng hoảng và cạn kiệt của các hình thức văn chương truyền thống; sự mất thiêng, tha hoá của ngôn từ; khát vọng hội nhập của nhà văn; các kiểu tư duy nghệ thuật và thủ pháp nghệ thuật truyền thống gần gũi với sự thể hiện tinh thần hậu hiện đại như giễu nhại, sự hỗn dung thể loại, hình thức huyền thoại...  
- Trong một cuộc tranh luận cách đây chưa xa, có ý kiến cho rằng, ở nước ta chưa có hậu hiện đại, vì chúng ta chưa đi qua hiện đại. Rõ ràng, theo cách hiểu này, thì hậu hiện đại chỉ ra đời sau hiện đại, và tất yếu sẽ nảy sinh vấn đề về cách ứng xử của hậu hiện đại với hiện đại. Quan điểm của anh về vấn đề này ra sao?
Phùng Gia Thế: Theo tôi, “hậu hiện đại”, hiểu theo nghĩa rộng nhất, như là một “thái độ” thì không hẳn đã phụ thuộc vào cái hiện đại. Lyotard nói, đại ý: mọi thứ đều hậu hiện đại trước khi trở thành hiện đại. Còn, “chủ nghĩa hậu hiện đại”, hiểu như một trào lưu văn hoá, thì dĩ nhiên phải ra đời sau “thời hiện đại” và “chủ nghĩa hiện đại” rồi. Theo đây, mọi cách hiểu về hậu hiện đại, sẽ phụ thuộc vào cách hiểu hiện đại.
Ta chưa đi qua hiện đại, có thể hậu hiện đại được không? Tôi cho là có. Những “điều kiện hậu hiện đại của văn chương”, tôi đã nói trên rồi. Dấu hiệu của nó thực tiễn cũng cho thấy rồi. Có điều, để dấy lên thành một trào lưu thì chắc… còn xa. Anh thấy đó, ta ít khi triệt để với cái gì. Với nghệ thuật cũng thế thôi. Một số nhà nghiên cứu cho rằng, ở ta, chỉ có thể vừa tiếp thu chủ nghĩa hiện đại, vừa tiếp thu chủ nghĩa hậu hiện đại. Theo tôi, với chúng ta, một “phép ứng xử” kiểu như vậy, thực ra cần ở mọi thời.
“Thời hiện đại” và “chủ nghĩa hiện đại” là những khái niệm khác nhau. Ta không thể đánh đồng “hiện đại” với “những giá trị của hiện đại”. “Tinh thần hậu hiện đại” thể hiện trước hết ngay ở thái độ phê phán hiện đại, cụ thể hơn là phê phán những hạn chế và ảo tưởng của hiện đại. Trong văn chương chúng ta, cảm quan có ý nghĩa triết học này, dù được ý thức tự giác ở mức độ chưa cao, song dấu hiệu của nó vẫn có thể tìm thấy trong cấu trúc văn bản tác phẩm của hàng loạt nhà văn. Tính đoản mạch, đứt đoạn, phi tuyến tính trong trần thuật như một đối ứng với tính mạch lạc, ổn định, trật tự, duy lí; tính phân mảnh của chủ thể như một phản ứng với tính thống nhất phổ quát; sự đa nguyên cái nhìn như một khước từ với nguyên tắc nền tảng luận; tính thông tục, tính bên lề của ngôn ngữ như một phản ứng với tính trong sáng, cao sang;... Những đặc điểm này có thể được bộc lộ trong hệ thống sáng tác của một nhà văn, của một nhóm tác giả; trong một tác phẩm; và thậm chí, sẽ có cái gọi là “chất hậu hiện đại” trong một tác phẩm. Có thể tìm thấy bằng cớ trong nhiều truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp, Thực đơn chủ nhậtChín bỏ làm mườiThiên sứÁm thịNăm ngàyHành trình của những con số của Phạm Thị Hoài, Thân phận của tình yêu của Bảo Ninh, Đi tìm nhân vật của Tạ Duy Anh, Cơ hội của ChúaKhải huyền muộn của Nguyễn Việt Hà, Cõi người rung chuông tận thếMười lẻ một đêm của Hồ Anh Thái, Thoạt kì thuỷ,Người đi vắngNgồiTrí nhớ suy tàn của Nguyễn Bình Phương, Người ăn gió của Nhật Chiêu, Manet của Đặng Thân, Chuyện tình mùa tạp kĩ của Lê Anh Hoài, thơ của nhóm Mở Miệng…
Còn nữa, nghiên cứu văn chương hậu hiện đại, cũng phải quan tâm tới dấu nối giữa hậu hiện đại và hiện đại. Chỉ chăm chú tìm sự khác biệt giữa chúng có thể sẽ rơi vào một cực đoan khác. Tâm thức hậu hiện đại, trên thực tế còn thể hiện ở việc bảo vệ những “giá trị của hiện đại” (chẳng hạn như là sự tự do và khai phóng cá nhân). Theo Lyotard thì “Hậu hiện đại không phải là sự cáo chung của Hiện đại […] mà là một quan hệ khác với Hiện đại”. Có hậu hiện đại rồi không có nghĩa là hiện đại sẽ chết. Thời hiện đại kết thúc, nhưng những giá trị của hiện đại thì còn mãi.
- Theo anh, diễn biến và xu hướng của hậu hiện đại ở ta hiện nay ra sao?
Phùng Gia Thế: Hậu hiện đại ở ta chưa phải một trào lưu. Diễn biến của nó còn đương phức tạp. Tôi tạm hình dung ra ba chặng như thế này. Giai đoạn thứ nhất gắn với tên tuổi của Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài với vai trò như những người khơi mở. Cấu trúc văn bản của họ đã có những chuyển hướng về hậu hiện đại, song cảm trạng thời đại có phần nổi trội hơn, nhất là ở Nguyễn Huy Thiệp. Giai đoạn hai là sự tiếp nối của một thế hệ nhà văn ít bận tâm hơn về chính trị, thời cuộc, thực tế đã đẩy cuộc chơi nghệ thuật đi xa hơn. Họ gồm Nguyễn Việt Hà, Hồ Anh Thái, Nguyễn Bình Phương một số người khác. Giai đoạn thứ ba là thế hệ “phá cách” gần đây với Inrasara, Đặng Thân, Lê Anh Hoài, Phan Huyền Thư, Nguyễn Thuý Hằng, nhóm Mở Miệng...
Cảm nhận của tôi là, theo thời gian, ý thức chuyển hướng về hậu hiện đại ngày càng đậm nét hơn trước, song thành tựu lại có phần hạn chế hơn. Hậu hiện đại, đương nhiên tự bản thân nó chẳng có tội tình gì. Ta cũng không thể đem “hậu hiện đại” ra để làm tiêu chí đánh giá chất lượng của mọi thử nghiệm. Anh thấy đó, văn chương theo khuynh hướng hậu hiện đại gần đây khá ồn ào. Mà thành tựu thì chẳng lệ thuộc gì vào sự ồn ào cả. Thậm chí, có thể gọi đó là một sự khủng hoảng được chăng? Trong văn xuôi, hiện tượng văn bản “rỗng nghĩa”, hỗn loạn tự thân - không biểu hiện thế giới quan, mà là biểu hiện của sự bất lực xuất hiện nhiều. Chuyện của thiên tài của Nguyễn Thế Hoàng Linh là một thí dụ. Không thể nhân hoá cõi tù mù của khách thể, tác giả đã dùng lối văn tù mù, loanh quanh để diễn đạt nó. Rồi, trong thơ, sự bành trướng của quá nhiều chữ “phi văn chương” dẫn đến tình trạng “loạn ngôn”, vượt rất xa “ngưỡng tiếp nhận”, thậm chí “ngưỡng chịu đựng” của bạn đọc, cũng không thiếu. Nhiều bài thơ của nhóm Mở Miệng cho thấy điều này. Ai cũng biết, tính tiêu dùng, tính thông tục, thậm chí việc làm “rỗng nghĩa” văn bản cũng là một đặc điểm của hậu hiện đại. Song sự quá trớn vô lối lại là một chuyện khác. Đành rằng, chúng ta không thể đánh giá văn học ngày hôm nay chỉ bằng những “tiêu chuẩn” của ngày hôm qua. Song, sáng tạo nghệ thuật chân chính trước sau thù địch với thói tuỳ tiện. Theo tôi, “tiêu chuẩn thẩm mĩ” không bất biến, nhưng nó cũng có những giá trị tương đối vững bền. Để thay đổi thị hiếu thẩm mĩ của công chúng theo chiều hướng tích cực, chỉ có một “món đặt cược” duy nhất là các nghệ sĩ tài năng.
Nhà nghiên cứu Hoàng Ngọc Hiến cho rằng, những cây bút lớn của ta gần đây đều có “phong thái cổ điển”. Tôi thấy điều đó đúng. Như Nguyễn Huy Thiệp chẳng hạn. Ông là cây bút lớn. Ông mới chớm bước vào hậu hiện đại. Ông còn khá nhiều vướng bận với truyền thống. Đấy là lí do mà có người đã gọi ông là “nhà văn hậu hiện đại - tân cổ điển”.
- Theo quan sát của anh các tác giả trẻ của ta đã tiếp nhận hậu hiện đại ra sao? Có trường hợp nào đã “thuần hậu hiện đại” chưa?
Phùng Gia Thế: Chủ nghĩa hậu hiện đại với chúng ta hôm nay đã không còn là một “người lạ”. Tài liệu về nó, từ nhiều nguồn khác nhau, rất phong phú. Các nhà văn trẻ lại sinh ra trong hoàn cảnh văn hoá mới, nhiều người còn trực tiếp sống trong “không khí hậu hiện đại". Do thế, việc tiếp thu văn hoá, văn học hậu hiện đại của họ rất thuận lợi. Trong văn chương, các cuộc thử nghiệm có phần quyết liệt hơn. Thành tựu có, song sự vồ vập, quá khích cũng khó tránh. Sáng tác của một số trong đây rơi vào tuỳ tiện. Danh xưng “hậu hiện đại”, khi đó, bị lạm dụng ít nhiều. Người ta hiểu nhầm về hậu hiện đại cũng từ đây. Hậu hiện đại đâu phải chuyện chửi bậy, làm tình! Nếu ta không đồng nhất hiện đại với những giá trị của hiện đại, thì cũng thế: ta không thể lẫn lộn thời hậu hiện đại với những giá trị đích thực của văn hoá hậu hiện đại. Tôi nghĩ, mọi cách tân, thử nghiệm đều có ích, song điều quan trọng là nó có đưa ra được sản phẩm là văn chương, theo đúng nghĩa hay không.
Nhân danh cái mới, nhưng không tự hỏi đó là cái mới nào thì nhiều khi nguy hiểm.
Còn, về trường hợp nhà văn trẻ “thuần hậu hiện đại” ư? Tôi tin là chưa có. Chưa: vì ngay ở các nhà văn “hậu hiện đại” nhất, thì cũng chủ yếu là thuần thục kĩ thuật. Họ thừa kĩ thuật mới nhưng lại thiếu những suy tư lớn, thiếu vắng một cảm quan mang tính triết học sâu sắc. Chưa: vì nhiều nhà văn có tài không nhiệt tình nhập cuộc với hậu hiện đại. Họ dùng dằng giữa cái mới và cái truyền thống. Họ thà viết ra tác phẩm đọc được, chứ không mạo hiểm thăm dò hậu hiện đại triệt để. Chưa: nhưng đấy là chưa thuần hậu hiện đại theo kiểu phương Tây. Nghĩa là chưa như Italo Calivino, Umberto Eco, John Barth, Thomas Pynchon, hay Nabokov...
Còn, “hậu hiện đại theo kiểu Việt Nam”, thì biết đâu đấy. Lại nhiều.
Một số nhà phê bình đang cổ suý khá mạnh mẽ cho sáng tác của các nhà thơ, nhà văn trẻ với danh xưng hậu hiện đại. Nhưng theo tôi biết thì các nhà nghiên cứu hậu hiện đại người Việt có uy tín nhất lại chưa bao giờ nhắc đến tên các nhà văn trẻ này.
Đây mới là cuộc thử nghiệm, phải vậy chăng?
Một thực tế khác trong nghiên cứu hậu hiện đại gần đây là, thay vì xem xét nhiều mặt, phân tích khách quan từng bước ở một quãng cách cần thiết để kết luận, thì đây đó, một số người đã bốc đồng nói quá lên về hậu hiện đại; và kia: lại có người khăng khăng muốn xổ toẹt nó. Thiếu sự bình tĩnh, tranh luận hậu hiện đại đôi khi dư thừa báng bổ, khẩu khí vừa bác học vừa thô lỗ bình dân, giọng điệu giễu nhại trở thành chủ âm, nói chung, rất hậu - hậu hiện đại.
Mà, hiểu rộng chữ “hậu hiện đại” ra để cho mọi người cùng hậu hiện đại cho vui. Điều đó, có khi cũng tốt chứ sao!
Như là làm một công tác phong trào! (cười)
- Xin cảm ơn anh về cuộc trò chuyện này!
Trần Thiện Khanh thực hiện

 

Biển Đông

TT - Việc Tập đoàn xuất bản bản đồ Trung Quốc (Sinomaps Press) in ấn bản đồ Trung Quốc thâu tóm toàn bộ biển Đông mang mục đích chính trị đối nội và đối ngoại hết sức rõ ràng của nước này.


Tàu cá Trung Quốc trở về cảng Tam Á (tỉnh Hải Nam) sau khi đánh bắt trái phép tại quần đảo Trường Sa của Việt Nam - Ảnh: Báo mạng Nam Hải
Báo chí Trung Quốc loan tin nước này chuẩn bị phát hành trên toàn quốc bản đồ mới, trong đó gộp 130 đảo lớn nhỏ ở biển Đông vào “địa hình Trung Quốc”. Ông giám đốc Sinomaps Press còn khẳng định tập bản đồ mới này sẽ trở thành tài liệu giúp người dân tăng cường nhận thức về “lãnh thổ quốc gia, bảo toàn chủ quyền và lợi ích biển của Trung Quốc cũng như minh định lập trường ngoại giao chính trị của Trung Quốc”.
Thiếu tướng LÊ VĂN CƯƠNG (nguyên viện trưởng Viện Chiến lược Bộ Công an):
Lừa dối chính người dân Trung Quốc
Việc gộp toàn bộ các đảo trên biển Đông vào bản đồ quốc gia như vậy thể hiện chủ đích của Trung Quốc. Hành động này một lần nữa xâm phạm chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam và các nước khác trong khu vực biển Đông. Việc này bất chấp luật pháp quốc tế, vi phạm hiến chương Liên Hiệp Quốc và Công ước Luật biển 1982. Họ cũng đi ngược lại chính cam kết của họ với thế giới.
Rất có thể “người ta” hi vọng nhờ việc in bản đồ như vậy sẽ có thêm chứng cứ về pháp lý với đòi hỏi phi pháp của mình. Đó là điều ấu trĩ. Vậy tại sao họ vẫn dùng thủ đoạn bịp bợm và lố bịch này? E rằng đây chỉ là một mớ âm mưu với ý đồ lừa dối chính người dân Trung Quốc và cả thế giới.
Kẻ trộm đến nhà ta đập cửa, ta không thể không phản ứng. Trước hết, chúng ta cần nhận thức đây là hành động trái luật pháp quốc tế, đi ngược lại hiến chương Liên Hiệp Quốc và ngược lại tinh thần của Tuyên bố ứng xử của các bên ở biển Đông (DOC). Việt Nam, bằng nhiều con đường, cần lên tiếng để bảo vệ chủ quyền chính đáng.
Trước sự việc này, chúng ta có trách nhiệm truyền thông đại chúng để người dân biết và thông báo cho thế giới biết những hành vi vi phạm luật pháp quốc tế của Trung Quốc. Báo chí Việt Nam cũng cần góp phần đưa thông tin rộng rãi đến người đọc trong nước và nước ngoài để hiểu rõ bản chất của sự việc. Việt Nam là một quốc gia độc lập có chủ quyền, là thành viên của Liên Hiệp Quốc. Chủ quyền quốc gia là tối thượng, trường tồn vĩnh viễn.
Thạc sĩ HOÀNG VIỆT (giảng viên Đại học Luật TP.HCM):
Các nước ASEAN cần có tiếng nói chung
Rõ ràng ý đồ của Trung Quốc là muốn hiện thực hóa trên thực tế tham vọng bành trướng biển. Sau đại hội 18, lãnh đạo Trung Quốc đã tuyên bố Trung Quốc phải trở thành cường quốc biển. Thực tế Trung Quốc muốn phát triển thì tài nguyên trên đất liền của họ đã khai thác gần hết, nên cần hướng ra biển.
Trong quá khứ Trung Quốc gần như ít khi hướng biển, nên bây giờ Bắc Kinh phải tấn công và lấn chiếm biển của nhiều quốc gia láng giềng. Mặc dù Trung Quốc không có căn cứ pháp lý cho những yêu sách của họ nhưng có sức mạnh cứng trên thực tế. Một số quốc gia có thể bị Trung Quốc thao túng lợi ích qua nhiều biện pháp khác nhau. Do đó Trung Quốc tự tin là cứ làm như hiện nay, lấn dần dần trên thực địa, nhưng không để dâng cao thành xung đột quân sự. Như thế Bắc Kinh tham vọng có thể sẽ đạt được mục đích lấn chiếm biển của mình.
Việc Trung Quốc ban hành bản đồ có các đảo thuộc chủ quyền của Việt Nam chính là một bước tiếp theo trong việc hiện thực hóa “đường lưỡi bò” của họ. Nếu Việt Nam, ASEAN, cộng đồng quốc tế không có phản ứng thích hợp, sắp tới có thể Trung Quốc cho công bố tọa độ, kinh độ, vĩ độ của “đường lưỡi bò”. Nhưng tham vọng của Trung Quốc không chỉ dừng ở biển Đông mà còn cả vùng biển Hoa Đông, Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương nữa.
Trong bản đồ in trên hộ chiếu còn bao gồm cả vùng đất tranh chấp với Ấn Độ, nay bản đồ các đảo lại gồm cả Senkaku/Điếu Ngư cho thấy tham vọng của Trung Quốc là rất lớn. Ban đầu Bắc Kinh tìm cách nuốt dần các nước nhỏ rồi đến các nước lớn.
Đây là lúc các nước ASEAN cần áp dụng các mối quan hệ chiến lược và sử dụng con đường ngoại giao. Trong đó năm nước ASEAN trực tiếp có tranh chấp bao gồm Brunei, Malaysia, Indonesia, Philippines và Việt Nam; ngoài ra có thể thêm cả Singapore phải có tiếng nói chung. Nếu các nước trực tiếp tranh chấp không lên tiếng hoặc giải quyết thì không ai khác có thể giúp.
HƯƠNG GIANG - ĐÔNG PHƯƠNG ghi
Giáo sư Renato C.De Castro (Đại học De La Salle, Philippines)
Trung Quốc sẽ đưa tàu chiến đến biển Đông
Bản đồ đang là một công cụ mới để Trung Quốc đòi chủ quyền một cách bất hợp pháp trên biển Tây Philippines (cách Philippines gọi biển Đông). Diễn biến mới cho thấy sớm muộn Trung Quốc cũng sẽ sử dụng vũ lực để giải quyết tranh chấp trên biển Tây Philippines khi điều kiện chín muồi.
Đó chỉ là vấn đề thời gian. Hiện tàu chiến Trung Quốc đã có mặt tại vùng biển này bên cạnh các tàu tuần tra dân sự. Hiện Philippines đang có kế hoạch phát triển các căn cứ quân sự để hỗ trợ hải quân triển khai lực lượng ở biển Tây Philippines, mục tiêu là bảo vệ các đảo trong phạm vi lãnh thổ Philippines trước khả năng lực lượng Trung Quốc xâm lược.
H.TRUNG ghi


THỐNG KÊ trang Hồng Giang  180' Yahoo blog  đến 7 giờ sáng ngày 15/1/2013:


Tổng số lượt xem
53.558
Tổng số lời bình
8.000
Tổng số bài
1.081
Khách hàng ngày
1
Tổng số khách
10.349

Thứ Bảy, 12 tháng 1, 2013

Truyện ngắn phải như này không?

LỘN CÁI ĐỀ.




Làng Gô độ này vắng vẻ. Hoang vắng suốt từ sáng sớm đến đêm khuya. Khắp làng tịnh không một tiếng tiếng gà gáy ban sớm, tiếng chó sủa ban đêm; thậm chí không có cả mùi phân trâu thum thủm trên con đường làng lát gạch màu đỏ còn tươi roi rói như hồi mấy tháng trước. Trong làng chỉ còn vài tiếng trẻ trâu nô đùa, tiếng trẻ chí chóe rộ lên giây lát rồi lại lọt thõm vào thinh không vắng lặng. Văng vẳng cuối làng có tiếng một người gào rú, giọng ồ ồ không phân biệt được giọng nói là người già hay người trẻ, nhưng hẳn là không phải giọng đàn bà:

…Ta lên Thăng Long, niềm vui lồng lộng
Cười hân hoan, ăn nói bi bô
Ai có chê, có bỉ, có hoan hô
Ta cũng kệ, chỉ một người là đủ
Ta mơ một ngày hôn bầu vú… 

Đó là những lời kinh sợ của người hẳn phải có thần kinh không bình thường. 

Người già làng Sen bên cạnh, nói: “Làng đấy có dớp, cứ ai đến ở là dăm bữa nửa tháng sau phát bệnh điên. Người ta hãi, bỏ đi sạch. Chỉ còn lại toàn người thần kinh”. 

Đúng là người làng bỏ đi sạch. Ban ngày ở làng chỉ có bọn trẻ chăn trâu đến nô đùa. Lũ ranh con đấy chả biết sợ ma quỷ là gì. 

Làng Gô trước đây là một bãi đất hoang, cây cối rậm rạp um tùm xen kẽ với những mồ mả vô thừa nhận chả biết có từ bao giờ. Người làng Sen ngay cạnh cũng ít khi lai vãng tới bãi đất hoang vu đầy tử khí đó. Chỉ có ngày rằm tháng Bảy xá tội vong nhân là bãi đất có người, người ta mang đồ đến cúng cô hồn. Đến hôm sau là bãi đất lại vắng tanh, đồ cúng hôm trước chỉ còn lại vương vãi lá bánh và vỏ trái cây rải rác. 

Ba tháng trước đây, có một tay Việt kiều quê gốc làng Sen từ bên Mỹ về thăm làng. Hắn có khuôn mặt chữ điền đầy vẻ dữ tợn, cặp mắt hơi sếch dưới cặp lông mày rậm hình lưỡi mác. Với hàng râu quai nón được cạo nhẵn nhụi và chiếc áo sơ mi màu vàng tươi chói chang y như màu áo của vua chúa ngày xưa, trông hắn rõ là kẻ phong lưu lắm tiền nhiều bạc. 

Tên hắn là Gô. Charlie Gô.


Gô về làng Sen lần này không phải lần đầu. Thường mỗi năm hắn về tới dăm ba bận. Cứ mỗi khi hắn về là cả làng lại thấy ông Chủ tịch, ông Bí thư, ông Trưởng công an, bà Chủ tịch hội phụ nữ, cụ Hội trưởng hội phụ lão… cả thảy cứ rộn lên, tay bắt mặt mừng đón tiếp hắn long trọng ở Ủy ban. 

Long trọng là bởi nghe nói hắn công đức cho làng nhiều tiền lắm. Ông chủ tịch có lần tuyên bố trên Loa truyền thanh rằng ông Charlie Gô quốc tịch Mỹ là Việt kiều yêu nước, nay trở về đầu tư xây dựng quê hương. 

Nhưng lần này hắn về thì hơi khác. Thấy các vị cán bộ trong làng tỏ vẻ đăm chiêu, dè dặt chứ không mừng rỡ tiếp hắn như mọi bận. Rồi đến tối, cả làng Sen nghe giọng hắn oang oang, cãi nhau với ông Chủ tịch Sen trên Ủy ban. Giọng ông Chủ tịch cũng oang oang không kém. Ra họ đang cãi nhau trên bàn nhậu. 

Hóa ra ông Gô đòi ông Chủ tịch Sen, đòi làng phải bán đất cho ông. Giá nào ông cũng mua. Nhưng hỡi ôi, làng còn đất trống đâu mà bán cho ông. Ông Chủ tịch gọi bác Trưởng công an phụ trách hộ tịch đến, họ cùng giở sổ hộ khẩu ra đếm. Cả làng ngót ba trăm hộ, gần 2 ngàn người. Mỗi người chia bình quân chưa đầy 15 mét vuông đất thổ cư. Lấy đâu ra đất nữa mà bán. Chả lẽ lại đuổi dân đi nơi khác. Mà đuổi họ đi đâu? Có phải cứ có tiền là mua gì cũng được đâu. 

Mà thực ra, ông Chủ tịch Sen cũng chả biết tay Việt kiều Gô mua đất làm gì mà lắm thế. Đòi mua cả làng. 

Cuối cùng thì cuộc họp giữa ông Chủ tịch và ông Việt kiều cũng kết thúc. Thỏa thuận là ông Gô sẽ lấy bãi đất hoang vô chủ đầy mồ mả kia. Ông không phải giả tiền cho làng. Nhưng đổi lại, ông sẽ phải xây dựng cơ sở hạ tầng điện đường trường trạm để ông Sen san bớt dân sang bên đó. 

Thế nên bãi đất hoang đó mới trở thành làng Gô. Gọi là làng Gô, nhưng thực ra toàn dân làng Sen sang đó ở. Dần dần có thêm dăm kẻ ngụ cư ở nơi khác cũng đến làng Gô mà sinh sống. Lúc cao điểm, làng cũng tới cả trăm người. 

Không hổ danh là Việt kiều yêu nước, mà yêu nước là yêu CNXH, ông Gô lập đề án xây dựng làng Gô theo mô hình làng XHCN thí điểm trên toàn quốc trình UBND huyện. Đất thì là đất hoang vô chủ, tiền thì ông tự bỏ ra nên trên huyện đồng ý ngay tắp lự. Thế là thành cái làng Gô ngày hôm nay. 

Ông Gô là người đi rộng biết nhiều, ông thuê hẳn tư vấn Việt kiều Mỹ làm quy họach. Đường sá đâu ra đấy. Điện - đường - trường - trạm đủ cả. Cổng làng sơn màu đỏ, giữa có ngôi sao năm cánh sơn màu vàng. Tường rào cũng xây gạch đỏ, đường làng lát gạch đỏ. Cả làng Gô nhuộm một màu máu đỏ. 

Làng Gô xây xong hóa ra lại đẹp hơn làng Sen, rộng rãi quy củ hơn, mật độ xây dựng thấp, dân cư thì ít nên thông thóang hơn hẳn. 

Sau khi làng xây xong, ông Gô nhìn ngắm làng mới của mình ra chiều mãn nguyện.


Hôm khai trương, ông mời toàn thể dân làng đến dự, Gô trình bày trước toàn thể dân làng đề án xây dựng làng XHCN của ông theo phương thức tự quản. Ở làng Gô không có Chủ tịch, không có Bí thư, không có Công an, không có dân quân…, tất cả đều do dân làng tự đảm nhận và quản lý. Ông Gô chỉ nhận là người giám hộ chứ ông không phải là chủ làng. Ông nói: 

“Làng Sen bên kia sông là làng cộng sản chuyên chính. Đã chuyên chính ắt phải độc tài chuyên chế. Đã độc tài chuyên chế ắt có cảnh đầu rơi, máu chảy; có cảnh dân chúng khóc than óan hờn. Làng Gô ta là làng cộng sản tuyệt đối nguyên thủy, không có giai cấp, không có xã hội, không có ai bóc lột, ức hiếp dân làng”. Ông còn trích Bản tuyên ngôn độc lập 1946 ra đọc cho dân làng: “Mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng, tạo hóa đã ban cho họ cái quyền không thể xâm phạm được; đó là quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc…”. 

Sau đó Gô kể cho dân làng nghe cuộc đời họat động cách mạng của ông. Từ Mã-Lại-Á đến Nam-Dương, từ Bắc-Mỹ đến Ai-Cập, nơi đâu ông cũng từng đi thực tế và truyền bá tư tưởng cộng sản nguyên thủy của mình trên khắp thế giới. Ông kể về sự đói nghèo của nước Mỹ, những người dân Mỹ đang rên xiết dưới ách đô hộ của giai cấp tư bản bóc lột. Ông khóc khi nghĩ đến những người dân phải chạy trốn khi không chịu nổi cuộc sống dưới ách tư bản chủ nghĩa: 

"Cha ơi! Sao xa kia chỉ thấy nước, thấy trời 
Không thấy nhà, không thấy cây 
Không thấy người ở đó?".

Dân làng xúc động lắm, vỗ tay khen ngợi ông nhiệt liệt. Quả là một người phi thường, học rộng tài cao, đi suốt năm châu bốn biển vẫn nhớ về làng Gô quê nhà, vẫn quyết tâm xây dựng làng Gô thành làng điển hình tiên tiến XHCN mang đậm màu sắc cộng sản nguyên thủy. Khi ông mỏi miệng, trợ lý của ông, cậu Hấp lên tiếng nói tiếp: 

“Làng Gô ta như một khu vườn, có rau và có cỏ. Mỗi dân làng cũng như là một ngọn cỏ, cần thời gian, cần công sức nó mới thành rau. Rau nhiều và tươi tốt thì cỏ sẽ hết đất sống. Chúng em ở đây tin tưởng rằng các loại cỏ có thể biến thành một loại rau gì đấy, nếu như có thời gian và cố gắng!”. 

Dân làng hơi ngạc nhiên. Trước đây họ vẫn nghĩ rằng cỏ là cỏ và rau là rau. Rau thì để ăn còn cỏ thì phải nhổ tận gốc. Ấy vậy mà nay họ biết thêm một chuyện, đó là nếu cỏ mà biết cách chăm bón, biết cố gắng, biết rèn luyện thì cỏ sẽ biến thành rau. Nghĩa là thứ có thể ăn được. Thật là ý tưởng mới. Thật là những người cộng sản

Làng Gô bước vào một cuộc sống mới. Cuộc đời của họ đã sang trang. Không còn áp bức, không còn bóc lột, không còn phải đóng thuế nông nghiệp, không còn cảnh dân quân hàng đêm đi bắt người giam vào chuồng trâu vì tội nợ thuế nghĩa vụ. Ban ngày nhân dân hăng say làm việc, lao động sản xuất biến cỏ thành rau. Buổi tối họ tham gia các họat động văn - thể - mỹ nhộn nhịp tưng bừng. Làng vui chơi, làng ca hát. Thi hát dân ca, hát xoan, hát ghẹo, thi làm thơ lục bát, thơ thất ngôn bát cú. Thỉnh thỏang, ông Gô còn mời nhà sư về nói chuyện với dân làng về Duyên khởi, Vô ngã và Phật pháp. Chẳng mấy ai hiểu nhưng ai ai cũng gật gù rằng nhà sư nói phải lắm, duyên lắm. 

Và họ tin tưởng vào tương lai tươi sáng của làng Gô.


Ông chủ tịch Sen thì từ ngày có làng Gô, ông đâm ghét gã Việt kiều Gô thậm tệ. Trước đây dân làng họ sợ ông, bởi ở làng quyền ông to lắm. Ông bắt thằng nào chết, thằng ấy chết ngay tắp lự. Ấy vậy mà từ khi có làng Gô, dân họ chả sợ ông nữa. Ông quát họ 1 tiếng, họ bỏ sang Gô ngay. Ông căm Gô lắm. Ông thề không bao giờ bước chân sang bên đó. 

Dân làng Gô đa phần là người làng Sen. Họ nghe theo tiếng gọi của Việt kiều Charlie Gô mà chuyển sang làng Gô lập nghiệp. Tuy vậy, dân ta vốn tính cẩn trọng nên mặc dù chuyển nhà sang làng Gô nhưng vẫn giữ nếp nhà xưa ở Sen. Được cái 2 làng cách nhau có con sông nhỏ, lội ào là qua nên cư dân 2 làng qua lại luôn luôn. Nhiều người có nhà ở cả 2 nơi. 

Ông chủ tịch Sen thấy dân làng chuyển nhà sang Gô nhiều quá, đâm hỏang. Ông thầm nghĩ: “Mình ngu quá! Vớ vẩn dân làng mình nó đi sang bên kia mẹ nó hết, thì mình làm Chủ tịch với ma à. Biết thế khi xưa đ:éo cắt đất cho thằng Gô nữa cho xong. Đúng là đ:éo cái dại nào giống cái dại nào!”. Và ông tự vả vào mặt mình mấy cái đến đỏ cả má. Ông suy nghĩ lung lắm. Cuối cùng ông quyết lên Loa phóng thanh xin lỗi dân làng. Ông thú nhận: “Nguyên tắc bảo thủ và độc tài, đó là tôi. Tôi đôi khi vì quá tay mà đánh nhầm người tốt. Tôi là kẻ có lỗi trước tiên. Tôi thành thật xin lỗi...”.

Nhưng dân làng chả mấy ai tin lời ông. Miệng quan – trôn trẻ. Ông ấy mị dân thế thôi chứ dăm bữa nửa lại đâu hòan đấy. Tính ông ấy ra sao, tôi lạ gì nữa. Dân làng nghĩ thầm thế trong bụng. Và họ bắt đầu so sánh Chủ tịch Sen và gã Việt kiều Gô. Ông Gô rõ ràng là hơn hẳn. Ông giàu có nhưng tác phong lại bình dân, ăn nói dịu dàng, biết nghe lời bà con chứ không quan liêu, khinh người như ông Sen. Và họ đặt vè để chửi khéo ông Sen: 

“Mỗi người làm việc chết bu
Cho ông Chủ tịch Lè-su[1], Vơ-tù[2]”

Và làng Gô càng ngày càng đông vui nhộn nhịp. Tiếng lành đồn xa. Một đồn mười, mười đồn trăm. Danh tiếng làng Gô bay đi muôn nơi, người dân tứ xứ tíu tít đua nhau đổ về Gô lập nghiệp. Trong số đó có cả những người dân làng Sen cũ, khi xưa bị Chủ tịch Sen trục xuất khỏi làng mà phiêu bạt khắp nơi. Giờ tất cả họ tụ hội về làng Gô. Ông Gô hãnh diện lắm. 

Để xứng đáng là một làng dân chủ, ông Gô mở Diễn đàn trưng cầu dân ý. Nhân dân tích cực tham gia thảo luận công khai, góp ý kiến xây dựng làng thành một tổ chức đi tiên phong về dân chủ. Người dân tứ xứ vẫn tấp nập đổ về làng Gô đăng ký hộ khẩu và góp ý kiến trong Diễn đàn của làng. Kết thúc cuộc trưng cầu, Gô tuyên bố: 

“Cảm ơn các bác đã góp ý cho diễn đàn. Hiện nay số lượng bà con đã lên đến 756 người, một con số vượt quá chờ đợi. Chúng em nghĩ là khoảng 800 là maximum và chắc sẽ mất khoảng ít nhất 1 tháng mới đạt được đến con số đấy. Nay số 800 đã gần tới, chúng em đang thảo luận xem nên tạm ngưng việc đăng ký hộ khẩu mới trong thời gian 24h tới, vô thời hạn đến lúc mọi việc đã ổn định hơn. Thông báo sẽ được đăng tải trên các phuơng tiện thông tin đại chúng cụ thể là loa phóng thanh một khi có quyết định chính thức.”

Trong đầu ông thì nghĩ: “Con bà nó ở đâu ra mà lắm người thế nhỉ, mình thấy từ sáng đến giờ số khách tăng vọt lên. Thế này chết tiền mình”.

Làng Gô tưng bừng như thế được già một tháng.


Sang đến cuối tháng thứ 2 thì Gô xảy ra chuyện. Chuyện mụ Cả Sất dắt con về làng. 

Cả Sất vốn dĩ gái làng Sen. Hồi mới trổ mã, mụ đẹp ngổ ngáo man dại. Nghịch ngợm, nước da hơi nâu, tóc cắt ngắn như con trai, lại thêm tính dạn dĩ ngang ngạnh chứ không ngu đần như đa phần gái làng nên lũ giai làng thích Sất lắm, cứ tranh nhau tán tỉnh suốt. Cha mẹ mất sớm, anh chị em nhà mụ đều lấy vợ lấy chồng rồi đi biệt xứ nên ở làng, Sất chẳng còn ai thân thích. Chờ đến ngày đoạn tang cha, mụ tự tay đi bốc mộ rồi sau đó bỏ nhà đi biệt vào Nam một dạo. 

Ông Sen thương Sất lắm. Một năm sau khi Sất bỏ làng vào Nam, ông cất công nhờ người vào Nam dò la tin tức rồi gửi hẳn vé máy bay vào Nam cho Sất về. Ông đưa mụ quay về làng Sen, sắp xếp nơi ăn chốn ở đâu ra đấy rồi nhận làm em kết nghĩa rất là chu đáo. Sất cảm động trước tình cảm của ông Sen, mừng rỡ đến rơi nước mắt. Dân làng thấy thế, phục ông Sen là người nhân hậu. 

Kết nghĩa được dăm tháng, bữa nọ dân làng thấy họ cãi nhau thậm tệ. Cả Sất mặt mũi đỏ dừ, giang tay tay sa sả mắng mỏ, gọi ông Sen là “Đồ heo sâu béo lúc!” (béo núc??? – lời TG). Ông Sen vốn người điềm tĩnh, lại kín tiếng nên chẳng phản ứng gì. Ông lẳng lặng sai dân quân lôi Sất sềnh sệch ra khỏi làng, rồi ông tuyên bố từ mặt, cấm cửa quay về. Thế là Sất lại đi biệt tích. Nghe đâu lại quay vào Nam như hồi trước. 

Cả mấy tháng sau đó, dân làng xầm xì bàn tán. Mỗi người đoán mỗi kiểu. Nghe đâu hôm đó ông Sen chuốc Sất uống rượu say rồi dở trò làm nhục, Cả Sất chống cự được, cào ông rách cả má. Nhưng ấy là người làng đoán già đoán non chứ chẳng ai biết lý do thực sự. Chỉ thấy rằng sau cái đận ấy, ông Sen có vẻ buồn và uống rượu nhiều hơn trước. Mụ Sất thì vẫn biệt tăm biệt tích. Dần dần rồi chuyện đó cũng nhạt đi, chả mấy ai còn nhắc nữa. 

Mười mấy năm trôi qua. Bữa nay làng thấy Sất quay về Sen, tay dắt theo 1 thằng con trai. Mụ đòi về làng Sen, đòi ông Sen ra mà nhận con nhưng nhất định ông Sen không chịu. Ông vẫn cấm cửa hai mẹ con nhà Sất. Mãi không vào làng được, mụ Sất đành đưa con sang bên Gô tá túc. Dân làng nhớ lại chuyện cũ, lại xầm xì đoán già non: “Liệu thằng bé kia có phải con ông Sen không nhỉ?”. Vài người già có ý hỏi dò, nhưng ông Sen thì gạt phắt. Ông chửi Sất là con điên, con thần kinh, con mặt dày mày dạn, mày hoang tưởng rồi đổ điêu, vu oan giá họa cho ông. 

Sất đưa con về Gô. Ở dăm bữa rồi lại đi, thả thằng con ở lại, đánh tiếng trả con cho ông Sen. Thằng bé không có người thân thích, không nhà cửa nên cứ lê la vất vưởng khắp làng. Dân làng Gô thỉnh thoảng về Sen, có ý bóng gió khuyên ông Sen đón nó về mà nuôi kẻo tội nghiệp. Nhưng ông Sen lờ tịt, chẳng phản ứng gì. Dân làng lại đoán già đoán non: “Chắc nó không phải con ông ấy thật!”. Vả lại, nhìn cu cậu cũng không giống ông Sen là mấy. Thằng cu này da dẻ đen nhẻm, tóc rễ tre dựng đứng, mới ít tuổi mà đã râu ria, lông lá đầy mình. Nó hiền lành nhưng cục tính, nói năng thì toang toác, tính tình ngô nghê, hơi tý thì nghệch miệng cười hềnh hệch. Ông Sen thì vốn dáng người trắng trẻo nho nhã, đầu hơi ít tóc, phong cách từ tốn điềm đạm, tính tình kín đáo thâm nho. Khác nhau thế ắt chẳng thể là cùng dòng máu nữa là cha con. 

Thời gian cứ trôi, ông Sen vẫn không quan tâm gì đến thằng con trai mụ Sất bỏ lại Gô. Nó vẫn lang thang sống một mình không cha không mẹ. Ai cho gì nó ăn nấy, bạ đâu ngủ đấy. Có ai hỏi tên, nó nói tên rằng: Thích Na Mõm Ngọc Trường Xuân Lãng Tử.

Mọi người bật cười vì cái tên quái dị. Và nó cũng cười theo, ngây dại. 


Làng Gô, ba năm sau... 

...Đang gối đầu lên đùi bà Ba trên sập gụ, buông tay bỏ cái cần điếu cho thằng cả mà lim dim hưởng thụ cái đê mê của làn khói sáng, tôi bỗng nghe thấy tiếng láo nháo ồn ào phía ngoài cổng. Tạm ngưng tứ thơ đang nghĩ dở trong đầu, ngoảnh ra phía thằng cả đang ngồi xổm loay hoay tỉa nõ cái điếu bát hầu thuốc, tôi bảo: “- Đào, hượm đã! Mày ra xem có chiện gì ngoài ấy?” Một chốc, Đào quay lại khoanh tay: “- Bẩm thầy, là thằng cu Thảo ạ. Nó đang nằm ăn vạ ngoài sân. Người nhà đuổi đi chả được, cứ nhất nhất đòi vào gặp thầy xin thưa chiện.” “- Mày cứ làm việc mày đi, để nó cho thầy!”. Đoạn, tôi thò chân xuống đất, xỏ tạm đôi dép da hiệu Hugo Boss loẹt quẹt bước ra cửa. 

Tôi chả lạ gì thằng Thảo. Nó cũng gốc người làng, tuổi tác cũng chỉ kém tôi một ít nhưng về mặt họ xa thì nó phải gọi tôi là ông trẻ. Hơn năm trước, khi tôi lấy bà Ba về thì nó hận tôi cướp vợ, lại thêm chiện bị thằng Gô đì nên phẫn uất mà bỏ làng đi biệt xứ. Giờ tự nhiên quay về, chả hiểu có chiện rì lôi thôi nữa đây. Nhìn thằng Thảo đang giãy đành đạch ngoài sân, tôi đứng trên thềm quát sẵng: “- Anh cu Thảo mới về đấy hả? Đứng dậy đi, ăn vạ mãi thế. Có chiện gì thì cứ vào nhà mình hút thuốc nói chiện. Cần tiền uống rượu thì sang bên nhà thằng Gô. Nhà tao không phải là cái kho, chả sẵn!”. 

Hắn lồm cồm đứng dậy, phủi bẹt cái mông đít rồi lại ngồi bệt xuống nền sân gạch. Ngước cặp mắt đỏ ngầu về phía tôi, giọng ấm ức: “- Bẩm ông, con không có ý ấy. Nhưng đúng là chiện ấy đấy ạ!”. “- Chiện ấy mà không phải ý ấy thì ra làm sao? Mày cứ nói ngẫn thế thì đứa nào nó thèm thương. Rồi cứ là thằng loser mãi thôi con ạ. Thôi mày cứ lên đây, hút với tao điếu thuốc rồi trình bày cho tỏ. Tao giúp được, tao giúp cho. Nghe chửa?”. 

Thảo tập tễnh bước lên nhà. Đợi cho hắn yên vị trên cái đôn thấp phía gần cửa, thằng Đào chìa cái cần điếu về trước mặt, cười nhạt: “- Ông mời, mày cứ tự tiện mà hút, không phải ngại!”. Thảo rón rén đưa hai tay nhận cái cần điếu, liếc sang phía Đào, cụp mắt cúi đầu không nói. Biết ý, tôi nhìn sang thằng cả Đào, hất hàm. Chờ lưng thằng Đào khuất sau cánh cửa buồng trong, tôi quay sang Thảo: “- Anh cu Thảo hút đi rồi có rì từ từ mà thưa, không phải rộn ràng, nghe chửa?”. Thảo vâng dạ rồi tóp miệng, rít sòng sọc cái cần điếu đến căng bụng. Nhả khói từ từ dễ có đến gần 1 phút, mặt đã tươi tỉnh hơn lúc trước: “- Bẩm ông, con xin thưa chiện...”. 

Thì ra là chiện với thằng kiều gay Cindy Gô! 

Thằng Gô từ đận tung tiền ra mở làng năm kỉa năm kia, hô hào dân chủ này nọ nên cũng có lắm đứa theo, mở mày mở mặt ra một dạo. Rồi sau đó, ngu xuẩn thế đéo nào. Nó lại đuổi thằng Hấp đi, thế vào đấy là thằng Đào nhà tôi, thế là xảy ra chiện. Sẵn có bảng nút bấm trong tay, lại thêm biết vâng lời thầy nó dạy bảo. Thằng cả Đào như ăn tiệc. Cứ 2 ngày treo 1 thằng rân chủ nhỏ, 3 ngày cho tạch 1 con rân chủ to. Giờ cả làng răm rắp nghe nó, sót lại mỗi thằng Gô, thích cho tạch lúc nào là tạch lúc ấy. Nhưng tôi có tính thương người, dù sao thì ngày xưa nó cũng có chút công, nên bảo thằng Đào: “- Mày cứ để nó đấy. Cũng chả làm cái đé’o gì. Nó có làm cái đéo gì thì cũng chả ra cái đé’o gì, chả để làm đé’o gì. Đe`o mẹ! Có mà làm cái đé’o!” 

Khi xưa, thằng Gô vốn chả ưa rì thằng Thảo. Bởi vì, cứ hễ thằng Gô nói rì dân chủ thì thằng Thảo vỗ mặt: ‘- Như lìn ý. Đúng thế. Bravo! Dân chủ làm cái đéo gì but be fun and strickly observe the rules”. Nhưng giờ, Gô đang thế yếu. Làng Gô này, thằng Đào thích nuốt lúc nào thì nuốt. Nên Gô nó muốn tìm đồng minh, là thằng cu Thảo, vì biết nó vẫn hận tôi cướp vợ, nên mời nó về rồi hứa chả tiền cho nó. Thằng Thảo biết thế, nhưng nó sợ tôi với thằng Đào, nên phải về bẩm báo trước. Chứ tiền thằng Gô bi giờ á, chả để làm đé’o gì, chả giải quyết được cái đé’o gì. Tiền á, ba bốn chục đô Mỹ, tôi bảo thằng Bi, hô phát, lệ quyên là đầy rổ. 

Chờ cho thằng Thảo thưa xong chiện, hút thêm điếu thuốc, tôi mới khuyên một thôi: “- Thôi, biết thế. Mày cứ về nhà đi. Thích ăn chơi cứ ăn chơi. Thích nhảy múa cứ nhảy múa. Tao bao. Thích chửi bới thằng nào cứ chửi. For fun. Hiến pháp là ai? Hiến pháp là tao. Pháp luật là ai? Pháp luật là bác Đào mày kia kìa. Gái à? Thăng Long thiếu đe’o gì. Đầy ra. Biển Xanh thì giờ mày phải gọi là bà trẻ. Cấm láo nháo cứt lộn lên đầu. Nghe chửa? 

Thảo im lặng một hồi. Rồi có vẻ hiểu ra, giọng tươi tỉnh: “- Vâng, con không dám hỗn. Xin ông. Ông cho phận nào, con được nhờ phận ấy. Ông cần xử đứa nào, xin cứ bảo người nhà ới con một tiếng”. Rồi hắn xin phép tôi, thanh thản bước về. 

Làng Gô từ đó bước sang trang "xử" mới.