Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Bảy, 12 tháng 1, 2013

Chủ đề Hot

ma net

- “Ma Ma Phật Phật Phật Phật Ma Ma”

TRONG NHỮNG XUẤT XỨ

Có lần trong lúc cao hứng sau khi nghe ý tưởng của tôi về cái truyện ngắn mới mấy tên thuộc dạng mà bà con Hà Nội gọi là “Trâu Quỳ[1] giả về” lên kế hoạch đi về cái trang trại để hoang của một tên dị hợm.
Kế hoạch như sau:
- Thuê 1 trang trại để hoang cách xa thành phố của 1 chiến hữu nào đó có nhiều bất động sản mà không có điều kiện trông sóc; điều kiện: phải thực sự là “trại hoang” thâm căn cố đế;
- Đốt 1 đống lửa giữa trại;
- Mua 1 xe tải hương Hàng Mã cắm đốt liên tục khắp trang trại, đảm bảo khói ngút lên 9 tầng trời;
- Cả bọn tắt hết điện thoại di động ngồi quanh đống lửa uống rượu dân tộc, ăn thịt rừng nướng và nói chuyện nhảm [tất lẽ dĩ ngẫu];
- 1 tên có giọng pê-đê nhất ngồi đọc Liêu trai chí dị;
- Thuê 1 đội ca-ve chuyên ngành múa cột lượn lờ quanh trại trong trang phục Eva hoặc Xuý Vân vừa cầm hương, vừa đốt hương, vừa múa, vừa hú, vừa rên, vừa nhe răng, vừa trợn mắt, vừa cười giọng yin-techno(xin bạn yên tâm, riêng ý kiến này là của mẹ vợ tôi);
- Đặng Thân ngồi viết ma net;
- Ngoài ra, còn có sự có mặt của 2 đại biểu nhạc dân tộc: 1 kèn xôna, 1 nhị.

1

Xin nói ngay cái xuất xứ đó chưa xảy ra vì tôi đang ngồi viết ma net trên màn hình phẳng 17 inch trong phòng điều hoà hai chiều. Có lẽ vì mót quá nên không chờ được đến ngày cùng các chiến hữu tụ bạ nơi hoang dã vì mình.
Vì thế mà ma net có khác.

2

Trường Sơn.
Tôi sẽ không nói về Trường Sơn nhiều gỗ quý và lâm tặc, hay nói về rừng như một ông lớn (hình như tên là Tưởng Thủ Cửu) đã từng lè nhè: “Rừng ở nước ta về cơ bản là... đã phá xong.” Tôi muốn các bạn gặp liệt sỹ Trường Sơn.
Vừa qua có câu chuyện kì lạ xảy ra ở Kinh Bắc. Có hai gia đình nọ ở cùng xã có hai con là liệt sỹ từ hồi 72. Nhưng mãi không biết xác nằm ở đâu. Sau phải nhờ đến một nhà ngoại cảm nổi tiếng thế giới về khả năng tìm hài cốt liệt sỹ. Ông phán hai người đó đang ở cùng một nơi.
Đoàn người đến Khe Sanh, tiếng Bắc tất phải gọi là Khe Sinh nhỉ. Nơi đây nghe nói có chừng nửa triệu tử sỹ. Thật là cõi “sắc sắc không không”, phải chăng phải gọi là Khe Tử hay Hoàng Tuyền (chắc người Nam sẽ gọi là Huỳnh Tuyền đấy).
Rừng xà nu! Cái bạt ngàn của nó làm ta nhớ Nguyễn Trung Thành. Nhớ Nguyễn Trung Thành ta lại nhớ đến bài văn được điểm 10 của một cô bé bán rau trong kỳ thi tuyển sinh đại học tại Đà Nẵng:
 
...
Xuyên suốt trong tác phẩm ta bắt gặp những cánh rừng xà nu nối tiếp nhau chạy đến chân trời. Cây xà nu là một loài cây quen thuộc, có mặt trong cuộc sống hàng ngày của người dân Tây Nguyên. “Củi xà nu cháy trong mỗi bếp lửa gia đình, khói xà nu nhuộm bảng đen cho con trẻ học chữ, đuốc xà nu rọi sáng sân nhà Ưng trong những đêm lễ hội...”
 
Cũng như bao loài cây khác, cây xà nu là một loài cây ham ánh sáng và khí trời “trong rừng ít có loài cây nào sinh sôi nảy nở khoẻ đến vậy... ít có loài cây nào ham ánh sáng đến thế” cũng có nghĩa là ham sống, khao khát muốn được vươn lên giữa bầu trời cao rộng.
 
Thế nhưng trong những năm tháng chiến tranh ác liệt ấy, cũng như bao cánh rừng khác của Việt Nam, rừng xà nu đã bị tàn phá rất dữ dội “Cả rừng xà nu hàng vạn cây không có cây nào là không bị thương. Có những cây bị chặt đứt ngang nửa thân mình đổ ào ào như một trận bão; ở chỗ vết thương nhựa ứa ra tràn trề, thơm ngào ngạt, long lanh nắng hè gay gắt rồi dần dần bầm lại đen và đặc quyện thành từng cục máu lớn”. Tuy vậy, bất chấp mọi sự tàn phá huỷ diệt của chiến tranh, cây xà nu vẫn vươn lên với một sức sống mãnh liệt “cạnh cây mới ngã gục đã có bốn, năm cây con mọc lên, ngọn xanh rờn, hình nhọn mũi tên lao thẳng lên bầu trời.”
...
 
Còn tìm thấy một Rừng xà nu khác của Nguyễn Trung Thành trong “phao” thi và bài thi văn vào đại học của các học sinh khác ở khắp nơi trong cả nước:
 
''Khi Mai bị giặc giết thì cái ấy cũng bị đạn giặc cắt ngã. Như vậy cây xà nu đã đi vào hạnh phúc của lứa đôi, làm đẹp cho hạnh phúc ấy và cũng chụi chung một nỗi đau cùng con người''
 
“Nguyễn Trung Thành là nhà văn mặc áo giáp”
 
“Hiện nay, nạn chặt phá rừng tràn lan trên khắp mọi miền của đất nước. Trước tai nạn đó, Nguyễn Trung Thành viết Rừng xà nu để cảnh báo mọi người, kêu gọi đừng chặt phá rừng nữa. Tôi tin chắc rằng chính tác giả cũng không thể nghĩ ra tác phẩm của mình mang “tính thời sự” như thế”
 
Ôi rừng xà nu, ôi Nguyễn Trung Thành, thật là những bức tranh cảm động quá.
Loanh quanh trong khu rừng đầy sức sống, thân vươn cao vút trời vạm vỡ, nhà ngoại cảm hình như chẳng chịu dò tìm dưới mặt đất. Không còn mẩu xương nào dưới đó chăng? Loanh quanh mãi, ông chỉ lên một ngọn cây: “Mọi người có nhìn thấy gì không?”
Không ai nhìn thấy gì cả. Lá xà nu quá rậm rạp, phải nói là phồn tạp. Trong ánh tà dương sót lại của ngày, mọi người đốt đuốc, soi đèn mãi rồi cũng thấy có vật gì như tấm vải dù. “Chắc họ ở trên ấy đấy!” nhà ngoại cảm cất giọng lạnh ngắt. Chẳng ai tin, dĩ nhiên rồi.
Nhưng rồi những người thạo trèo cây đã leo lên. Dễ phải leo đến hơn 20 mét. Họ đã thấy một cái tăng treo vào hai ngọn cây xà nu khác nhau ở độ cao ấy. Thật là kì lạ! Phải chăng là người ngoài hành tinh đến ngủ cheo leo chốn ấy? “Có xương người!” Một tiếng thét thất thanh lạc lõng vọng vói giữa đại ngàn.
Mọi người tìm cách để hạ cái bộ tăng võng ấy xuống.
Câu chuyện đã được kể lại như sau:
Trong cái ngày khốc liệt của chiến tranh ấy có một anh cán bộ chỉ huy uy mãnh có nhiều bằng Dũng sỹ diệt Mỹ và Huân chương Chiến sỹ Giải phóng vừa bị thương vừa bị sốt rét cấp nên các cấp chỉ huy đã quyết định phải đưa anh về một trạm quân y tiền phương để giữ cán bộ nguồn cho chiến đấu trường kỳ. Người đưa anh đi là một nữ y tá đồng hương; người duyên dáng, đằm thắm và tận tụy. Họ cứ đi mải miết giữa rừng xà nu mong cho chóng đến nơi. Giữa đường anh bật lên cơn sốt nặng quá không đi được nữa. Thế là chị y tá mắc võng và tăng lên hai ngọn cây xà nu còn nhỏ rồi dìu anh nằm lên đó. Anh sốt mê man, cái võng rung lên bần bật. Chị thương anh chỉ huy quá mà không biết làm gì. Chị cố gom một dúm củi để sưởi và nấu cháo trong khi cái võng vẫn rung lên bần bật. Đang nhóm lửa thì chính chị cũng thấy mình lên cơn sốt rét. Chị ôm ngực vật vã bên gốc cây trong khi cái võng càng lúc càng giật lên đùng đùng. Một bản năng không cùng bật dậy đưa chị tới bên cánh võng ôm lấy anh. Rồi chị cố trèo vào nằm đè lên, riết chặt lấy anh. Không biết hai con người sốt rét cấp tính đã sưởi ấm cho nhau bằng hơi người của chính mình được bao lâu? Chỉ biết là 35 năm sau, vâng “đúng số 35” (là số nhiễm sắc thể của loài dê), người ta thấy hai bộ xương trắng nằm đè lên nhau, ôm chặt lấy nhau, vẫn còn những mảnh quần áo, trên hai ngọn xà nu cổ thụ.
Họ đã được truy tặng danh hiệu Liệt sỹ sau 35 năm. Cả xã quê hương đã làm một cái lễ thật to. Câu chuyện về họ được khắp nơi nhắc tới.
Sau đó có bài báo bình luận rằng hai liệt sỹ cho đến lúc chết vẫn giữ vững đạo đức bộ đội cụ Hồ, không quan hệ bất chính. Có nhà sử học uy tín còn nhận định rằng những con người quý như kim cương như thế nếu còn sống đến hôm nay thì có khi anh đã thành Thủ tướng, còn chị thì đã làm đến Bộ trưởng Bộ Y tế cũng nên.

3

Gã năm nay 20 tuổi, “sành điệu con hàng hiệu viêm tiết niệu”. Thú chơi chính là chat và “cứu net”. Gã đi chatở bất cứ nơi nào gã đến. Vậy “cứu net” là gì? Có tờ báo mạng đã đưa ra khái niệm thế này: “người được cứu là gái lang thang Internet. Trai “cứu net” là chatter có tiền. “Chàng” và “nàng” vừa quen nhau trên mạng. Nàng hết tiền trả “net” nên nhờ chàng đến trả để “cứu”. “Cứu” xong, chàng và nàng cùng lên nhà nghỉ. Xong!”
Nếu ai quan tâm đến hoạt động này xin hãy vào hẳn một website có tên www.cuunet.com – thưa, đủ tất cả mọi nhu cầu.
Trong một lần chít chát nhìn qua webcam gã thấy một người lờ mờ trong bộ đồ trắng, không biết là trai hay gái, nickname là Trang_Xuong. Cái nick làm gã ngầm hiểu đó là “trăng suông”, “trăng xuống” hay “Trang sướng” gì đó – nghe rất có vẻ con nhà quítxtộc, gợi cảm, lãng mạn, hững hờ.
 
Crazy_Vietkieu> b/g?[2]
Trang_Xuong> Chắc là g.
Crazy_Vietkieu> Sao lại chắc? Xăng pha nhớt à?
Trang_Xuong> Thế thì g.
Crazy_Vietkieu> Kẹt lâu chưa? Kẹt bao nhiêu?
Trang_Xuong> Kẹt khoảng mấy triệu thui. Không phải ko có tiền nhưng E ko có tiền polymer. Mà ở đây ko có chỗ đổi tiền.
Crazy_Vietkieu> Điên à? Điên hơn cả Crazy_Vietkieu rùi.
Trang_Xuong> Thiệt mờ.
Crazy_Vietkieu> A đến cứu E nha? Rùi mình đi chơi.
Trang_Xuong> Oki A. Nhưng A nhớ là E vẫn còn trinh đấy nha.
Crazy_Vietkieu> ;-/
Trang_Xuong> .-)
Crazy_Vietkieu> Gái trinh mờ cũng làm bộ bị kẹt net cơ a?
Trang_Xuong> A sợ đi chơi với virgin[3] à?
Crazy_Vietkieu> E b/n tuổi rùi?
Trang_Xuong> E ko có tuổi. Hay nói như trên báo là bất tử.
Crazy_Vietkieu> Phịa. Thế nhỡ là vị thành niên thì A ko dám cứu đâu ;-))))))))
Trang_Xuong> Cứu người mà cũng phải chọn tuổi cơ à?
Crazy_Vietkieu> Vì chúng mình mà có đi nhà nghỉ thì A sẽ bị công an bắt đấy.
Trang_Xuong> Đi với E thì ko ai dám bắt A đâu mờ.
Crazy_Vietkieu> ;-@
Trang_Xuong> Tin E đi.
Crazy_Vietkieu> Uh. Tin.
 
Gã nhẩy lên một con Maybach 63 phóng vụt đi. Thật là hồi hộp.
Thấy xe hơi cực xịn đến đón nàng nở nụ cười rạng rỡ, thanh cao quảng đại như “trăng suông”. Vừa lên xe nàng đã dúi vào túi gã một tập dollar mới cứng. “Trả lại cho anh đó, cả tiền lời”. Sửng sốt vô cùng nhưng gã vẫn gắng gượng cầm lái đưa nàng đến một nhà hàng hết sức ấn tượng. Nàng ăn như ma đói. Nàng bảo chưa được ăn ở đâu như thế bao giờ. Thật khó tin. Em sinh ra ở một vùng quê nghèo nhưng vui lắm. Không tin được. Ở quê em con gái đứa nào cũng dịu dàng, hát hò suốt ngày. Mà các em chiều chuộng đàn ông lắm. Đàn ông quê em chỉ vui chơi, uống rượu, đánh bạc suốt ngày. Về nhà còn được vợ chiều chuộng như ông hoàng. Bọn con gái lo toan mọi việc, từ việc nhà đến buôn bán tảo tần. Nhưng được cái uống rượu cũng khá. Gã lại tiếp tục rót rượu cho nàng, đã gần hết chai Martell. Cái loại rượu này ở quê em họ làm giả đầy ra. Đã có những tên tỷ tỷ phú nhờ làm rượu Tây giả. Gần đây để che mắt thế gian một tên xây hẳn nhà máy rượuvodka chất lượng cao có giấy phép và tên tuổi đàng hoàng, nhưng bán ra giá chỉ bằng hơn một phần ba giá sản xuất để khuếch trương thương hiệu. Thật là tinh vi...
Ăn xong họ vào bar. Bộ đồ trắng thanh thoát của nàng phát sáng tinh quái nhập nhoằng như lân tinh. Đôi môi nàng đỏ au, mắt mơ huyền, mũi hơi hênh hếch như mời gọi. Gã ôm nhẹ lấy nàng hôn nhẹ lên mái tóc. Một mùi thật lạ. Ngan ngát hương rừng. Nàng nói ở đây tuy vui nhưng ồn quá, làm nàng nhức đầu vì những vết thương cũ trong đó. Gã không hiểu làm sao nữa. Vô thức đẩy tay gã ôm lấy nàng rồi dìu nàng ra xe. Họ đi về một villa lớn dựng bằng gỗ yên tĩnh bên bờ sông. Gã đỗ kịch xe, lấy phòng rồi dìu nàng lên. Họ uống nước với nhau bên cửa sổ nhìn xuống dòng sông. Những ngón tay nàng khuấy đá nghe lanh canh loong coong như tiếng chuông chùa xa xứ Phật Tích vọng về từ muôn năm. Dòng nước đen quánh trong đêm hắt lên những ngọn đèn chấp chới. Mắt nàng nhìn ra chơi vơi. Ánh mắt nàng như hoà cùng với những ngọn đèn sông nước trông như thể nàng với những bóng sáng chập chờn đó đã hoà vào một. Nàng vừa ở đây vừa như bay lượn khắp dòng sông. Gã ôm chập lấy nàng. Như sợ cái luồng sáng ảo thực ấy sẽ lập tức biến mất. Như thể một cơn cuồng hứng vừa bật lên không chịu nổi. Như một bản năng tìm chỗ níu kéo khi bị rơi giữa không trung. Như một nhà bác học kiệt xuất vừa mới gặp một cú hích gọi mời ông tìm ra một định luật khoa học mới. Họ trườn lên giường ấm. Chăn đệm bật tung. Khung cảnh như một trình diễn performance art. Bốn bàn chân đưa đẩy đan soi trần nhà và bốn tường gương nghiêng ngả những chân. Những bàn chân như những mầm cây, những lá cây rừng già nhiệt đới quay cuồng trong typhoon. [4] Cửa sổ bật tung. Gối hạc, tay tiên, dương vật ngỏng, cửa mình mượt ướt. Những vầng quang tràn khắp vũ trụ như những đỉnh tuyết Himalaya. Những giọt linh tình mưa móc. Và tiếng khóc? Hay tiếng nấc? Hay tiếng tiêu Tiêu Sử? Hạc có bay về đầy trời? Rồng có đến đưa ai về cõi tiên?
“Anh thấy không, em là trinh nữ thật mà. Em đã chết cách đây 35 năm trên ngọn cây xà nu giữa rừng Trường Sơn khi mới mười bẩy tuổi rưỡi. Chưa một lần cầm tay người yêu, nhưng đã “cầm chân” nhiều người đàn ông đáng yêu đáng thương nhất quả đất. Chưa một lần... Em mãi mãi là tuổi mười bẩy...”
Gã thét lên như bị ma làm, ôm áo quần lao vọt ra cửa sổ. Đúng như chiêu “Tiêu Sử thừa long” hay là “Chu Hợi đồ cẩu” trong võ thuật. Ra đến xe gã thò tay vào túi lấy chìa khoá thì sờ phải tập tiền mà nàng đưa cho lúc trước. Đó là một tập dollar hàng mã.
Từ đó gã trở thành người mất tích. Có tin đồn vì gã phạm tội giao cấu với trẻ vị thành niên nên phải chạy trốn pháp luật. Có kẻ bảo gã đã sang Tây du học theo nguyện vọng của người cha quan lớn. Có nhiều bác ngờ rằng gã đã trở thành mafia. Có người bảo gã đã xuất thế đi tu sau khi nếm đủ mọi mùi vị cao thâm nhăng nhố của cuộc đời này. Có thể lắm.

4

Hắn ngồi im như tượng đá trong văn phòng. Những công việc nặng nề trong trọng trách của hắn làm hắn muốn sụp. Những bổng lộc béo bở, những “phong bì” và “hoa hồng” nặng trịch cũng chỉ làm hắn vui lên được trong giây lát, sau đó lại là đau đáu những âm mưu. Mẹ kiếp, hắn nghĩ thầm, đến cái thằng cha đại thi hào thi hài Bai-dần gì đấy ở bên Ăng-nê mà còn nói dằng cả đời gã chỉ có nấy bẩy giờ xung xướng. Nhưng mà gã đẻ da cái thằng Đông-gioăng thì quả thật nà chác tuyệt. Đời mà được như thế cũng nà quá xung xướng. Tiền để nàm gì? Ta chưa chả nời được câu hỏi này bao giờ, nhưng mà nó cho ta quyền nực, cho ta hưởng thụ, cho ta xự tự tin, bù nấp cho ta những gì khiếm khuyết và nhều thứ nữa. Nhưng chưa bao giờ ta có được tình yêu của một đứa con gái, một con đàn bà nào xất. Vây quanh ta toàn nà những con khốn nịn, những con dạch dời dơi xuống, những con chó tha đi diều tha nại. Đến vợ ta cũng nà cái con nó khinh ta nhất. Mẹ cái thằng Đông-gioăng xao mà nó xung xướng thế. Nứt mắt da nà đã có cả đống đàn bà con gái nó vây quanh. Từ con chồng chán, chồng bỏ, chồng chết đến con thiếu nữ chinh chắng hay quận chúa, nữ hoàng. Bố tổ xư. Thế hệ của ta thì nại bị kìm chế kìm kẹp trong những giáo ní nuân ní đạo ní hủ nậu. May mà hồi còn nàm chính ủy ở chong Chường Xơn ta còn địt bậy địt quịt được mấy đứa. Nhè mấy em háo quân hàm ta chỉ việc nôi xồng xộc chúng vào dừng xâu dồi hỏi “thế em thích nên chung xĩ hay thượng xĩ?” dồi tẩn nuôn. Cái thời bây giờ bọn choai nại quá thoải con gà mái. Chúng tẩn nhau như điên. Mà nghe nói chúng toàn quan hệ cưa cẩm với nhau chên anh-tờ-nét. Thích nhau nà đi nhà nghỉ nuôn. Có nhều con bé dân chơi còn mời mọc miễn phí nữa chứ. Hay nà ta cũng thử đi “cứu net” chơi? Ờ, tại xao không nhề. Hôm chước cái thằng chợ ní nó vừa bầy cho ta cái cách vào chít chát. Thử cái cho biết nhể. Có nẽ ta phải đóng giả một thằng choai choai hai mươi nào đấy. Phải nghĩ da một cái tên nào đấy nghe cho nó phong độ chút. Nào, hay nà Dep_chai_nai_Phap? OK con gà đen.
Trong cuộc lướt net Dep_chai_nai_Phap gặp được khá nhiều kỳ duyên. Nào là trinhnu_7tinh, em_dang_co_don, thienthanbongdem hay là yeuanh_demnay. Đứa nào cũng máu. Hắn chợt thấy quan tâm đến một em tên Trang_Xuong. Tên nghe như là “Trang sướng” hay “Trang xướng” gì đó. Nghe có vẻ như một “người đẹp 100 đô” trong làng ca sỹ - người mẫu chuyên đi khách gì đây. Thế mà nó bảo nó là gái trinh. Gái trinh hắn đâu có lạ gì. Giá từ 2 đến 5 tấn thóc thôi mà. Hắn lại nhớ đến bài hát năm xưa: “5 tấn thóc để góp phần đánh Mĩ...” Bây giờ chắc phải đổi thành: “5 tấn thóc để góp phần đánh đĩ”. Hehe. Thỉnh thoảng hắn vẫn được đàn em mời cái món này. Khi cần giải đen hay tăng cường phước lộc thọ khang ninh. Nhiều khi hắn cũng mời các đàn anh xơi món này. Coi như quà cáp lúc cần thăng chức hay ký tá hợp đồng nhớn. Nhưng cái em này không biết có phải trinh nữ thật không nhưng mà chắc là hay. Để xoá bỏ những mặc cảm như là tuổi tác hay giọng điệu nhà quê vân vân hắn ra đòn nguyên tử vẫn hay dùng: anh xẵn xàng chả em gấp ba nần cái giá em đòi. Nhưng em này chỉ “hihi” mà không nói gì thêm. Lạ. Thế mới tò mò.
Hắn đến gặp thẳng em ở một khách sạn kín đáo. Em xinh đẹp, trắng trong, long lanh hồ thu, âm u rừng rậm. Hắn chưa bao giờ được gặp em nào chân tình đến thế. Ừ, thì anh cũng đến với em bằng cái chân và cái tình. Em bảo em thấy yêu thương hắn thực lòng. Em mê mái tóc muối tiêu. Ừ, giang hồ đã có câu về “tam ánh” nà “tóc ánh bạc, ví ánh kim, chim ánh thép” mà nại. Em thương anh thật đấy. Anh làm việc hùng hục, ăn chơi quần quật mà chưa có nổi một giờ hạnh phúc. Cái hạnh phúc được làm người. Ừ, xao mà em hiểu anh đến vậy? Em nà người hay nà tiên? Nà Phật hay nà ma? Em chỉ mong muốn anh có được hạnh phúc đích thực chứ em không cần tiền đâu...
Chỉ đến khi được rõ về thân thế của nàng thì hắn chợt thôi thắc mắc. Hắn không nhẩy vọt ra cửa sổ mà như thể hắn vừa bị bấm vào cái huyệt “nằm im”. Hắn nhìn trân trân lên trần nhà. Hắn cảm thấy hắn nhìn thấu tận trời. Toàn thân hắn loã lồ trần trùng trục giữa vũ trụ. Hắn thấy mình trôi vào một đường ống đầy ánh sáng. Từ nơi đó hắn nhìn thấy chính thân xác hắn đang nằm một mình trên cái giường đệm trắng toát, mà không thấy mỹ nhân đâu nữa cả, nàng đã biến đi đâu? Hắn trôi đi trôi mãi. Hắn gặp mọi người thân đã khuất. Hắn gặp muôn vàn những đồng đội Trường Sơn đã hi sinh từ lâu. Họ nhìn thấy hắn xong đều lặng lẽ bỏ đi. Hắn thấy bóng dáng Phật, Chúa, Đức Chúa Trời. Họ đều đi về hướng ngược lại với hắn... Bất ngờ hắn nhìn thấy Trang_Xuong. Nàng mỉm cười mà bóng hình thì cứ lúc gần lúc xa, chập chờn lởn vởn. Bỗng thình lình nàng vụt đến bên.
“Anh ơi, anh có bít anh đang ở đâu không? Anh đang ở cõi mà loài ngừi các anh gọi là chít lâm sàng hay cận tử gì đấy đấy. Hìhì, anh vừa bị thượng mã phong đấy. Nhưng anh chưa đến ngày tận số đâu, vì em đâu phải là Thị Lộ. Em là Lý Thị Kín. Anh có bít vì seo em lại gặp anh không? Vì em muốn cứu anh đó. Nói chính xác là vì em nợ anh. Kiếp trước khi còn ở Trường Sơn trong khi em băng bó cho anh thì anh cứ sờ soạng em mờ. Nói thật lúc đầu em rất ghét và thấy kinh tởm cái trò ấy vì đó cũng là cái ngày đầu tiên em phục vụ chiến trường. Sau những năm tháng lớn lên ở quê không có một bóng trai trẻ nên vào đấy em phát ngốt vì gặp toàn đàn ông con trai. Sau đó em thấy khác. Em thấy rạo rực. Chính anh đã thức tỉnh ngừi đàn bà trong em. Anh làm em nhìn cuộc đời khác đi. Anh đã đem đến cho em cảm giác hồi hộp khao khát thèm muốn. Có những khi chăm sóc cho các thương binh đang mê man em cứ thẫn thờ ngồi cầm chim họ, thở dài. Mờ lạ thật, ngừi thì cứ mê man không bít gì mà vuốt chim đến đâu nó cứ vươn mình dựng dậy đến đấy. Làm em liên tưởng đến cái “đất nước đứng lên” của bác Nguyên Ngọc em được học ở trường. Thương lắm, có anh tắt thở rùi mà cái chim vẫn phừng phừng lên. Có những anh vừa chít xong mờ không hiểu sao tinh trùng cứ phun ra như quân Nguyên. Các cụ bảo đó là những anh còn “nguyên dương”, chưa bít đàn bà là gì nên trời vuốt chim cho sướng một lần trước khi người vuốt mắt. Khổ. Chỉ có anh lưu manh hơn họ đâm ra lại hoá hay cho em, anh đã gợi mở được em. Nhưng mờ rùi phận em cũng bạc... chưa bít mùi đời đã tan tác hồng nhan...”
Rồi đùng một cái hắn đã rơi xuống địa ngục. Thật khủng khiếp! Chắc nà ở chong xà nim biệt giam Hoả Nò hay chuồng cọp Côn Đảo vẫn còn xung xướng hơn dất dất nhều... Rồi hắn giật mình, thân xác hắn rung lên bần bật một lúc lâu.
Sau đó báo chí loan tin hắn thụ án tù giam. Tội danh là hãm hiếp gái vị thành niên. Có người bảo rằng hắn đã bị một cô bé tội nghiệp tố cáo hành vi dã thú đồi bại. Lại có tin hắn tự đến công an đầu thú tội tham nhũng nặng nề có thể lĩnh án chung thân nhưng lại được cứu xét chuyển sang tội danh khác. Thế mới ác.

5

Cộng đồng các netizen [5] cứ rỉ tai với nhau về những con ma nào đó đã đột nhập vào thế giới blog và chat, gây nên bao nỗi hoang mang làm bấn loạn mạng trường. Nghe nói con ma gái này chuyên gạ gẫm “dủ dê” những thằng “có vấn đề”. Tôi, người viết những dòng này, tất nhiên cũng là một kẻ “có vấn đề”. Đa phần đồng bào yêu quý đều bảo “có vấn đề” thì mới đâm đầu vào viết văn làm thơ chứ. Khổng Tử chả bảo “lập thân tối hạ thị văn chương” từ lâu rồi cơ mà. Tôi xin nói thẳng: tôi muốn gặp con ma này. Tôi quyết một phen đi “thục mạng” xem sao.
Được biết trong Hoa Nghiêm Kinh có kể đến 50 thứ ma người và ma tâm được phân loại thành “thập ma” rất kinh khiếp, do “ngũ uẩn” sinh ra. Trong đám đó, có ma “sở tri chướng” được cho là hãi nhất. Nó cứ chấp nê vào cái gọi là kiến thức, niềm tin, lý tưởng vô địch, vào chân lý bất di bất dịch để “tiến lên ta quyết tiến lên hàng đầu” tranh giật thắng lợi bằng mọi giá. Nó sinh ra các thứ ma con cháu chắt cuồng tín, sân hận, ác tâm. Các thứ ma khác thì chẳng có gì đáng sợ cho lắm. Chuyện ma hại người thì lại chỉ nghe nói và xuất hiện nhiều trên Star Movies hay HBO mà thôi chứ thực tế đã mấy ai bắt gặp. Vậy thì sợ ma ắt là một thái độ hoang đường. Thật hoang đường!
Tôi phân vân không biết con ma tôi đi tìm là loại nào. Tôi nghĩ đã là ma thì cách chít chét cũng phải “quyền rủ mảnh lịt” một cách hoang mê mang mẩn lắm. Một hôm tôi bắt gặp một em trong một box Văn Thơ. Nickkhá dài dòng: XuongTrang_NhoLe_TrenSaMac. Ăn nói sành sỏi lắm. Chuyện gì cũng có thể nói thẳng băng trắng phớ ra được, điều mà mọi con người đều thấy khó khăn trong diễn đạt, phải chăng là họ đã quen với dối trá quanh co quá rồi. Phải chăng em...? Sau khi đọc những gì em thể hiện về văn chương, tôi ấn phím khiêu khích:
 
rất khâm phục
một tâm hồn
lục cục
 
thật đáng tôn
thờ một đoá
hồng môn 
 
Em bảo tôi đểu. Tôi cãi không (không biết không hay có). Em hỏi tôi có phải nhà thơ không. Tôi bảo không (nói dối), chỉ ngưỡng mộ thơ và “người thơ” thôi. Em hỏi tại sao. Tôi đáp:
 
Bởi vì “người thơ” hay la cà
“Dặt dẹo tiên sinh” là tên mà
Óc đầu hồ mơ như là ma
Hồn vía cách mặt đất hơi xa
 
Em cười trên phím    rồi bảo hoá ra nhà thơ, nàng thơ với ma đều như nhau sất cả. La cà, dặt dẹo, mơ hồ, viển vông. Tôi cãi nhưng ma không làm thơ. Em trừng trộ thật không, nếu thi sỹ làm thơ cho đời thì ma làm thơ phản đời. Ví dụ với bài trên thì ma sẽ đọc thành:
 
Cà la hay thơ người vì bởi
Mà tên là sinh tiên dẹo dặt
Ma là như mơ hồ đầu óc
Xa hơi đất mặt cách vía hồn
 
Em hỏi anh có thấy cách đọc của ma hay hơn không. Em    là vì thế đấy! Anh làm thơ về nhà thơ, còn em lại thấy đó là bài thơ về ma! Đúng không anh? “Tên là sinh tiên dẹo dặt”, “ma là như mơ hồ đầu óc”, “xa hơi đất mặt”, “cách vía hồn”. Em ơi anh thấy lạnh sống lưng.
Tôi gắng gượng gõ nốt bài thơ rồi bảo em đọc tiếp bài ngẫu hứng của tôi về “người thơ” xem thế nào:
 
Chăng may gặp phải khi đói lả
Rặn cái tinh thần lên hát ca
Ca lắm tất có khi tàn tạ
Không sao, tất cả đều ra mả
 
Ra mả có khi mới gặp cạ
Thế là ma hát như gào la
Ma la vì ma được hể hả
Hả hể là ma được gặp cạ 
 
Tôi vừa gõ phím xong bài thơ thì bỗng thấy xây xẩm mặt mày, suýt ngất. Không tin thì các bạn cứ thử đọc ngược mấy câu thơ trên sẽ biết. Khi tôi gõ xong mấy chữ “Sao? Thấy thế nào?” thì chỉ thấy em reply “Thui, ẹm đi lấy chồng đây. BB anh” rồi chẳng thấy em đâu nữa. Bấy giờ tôi mới nhận ra được em chính là ma. Chắc chắn là ma rồi.
Từ ấy trong tôi đầy tự kỷ ám thị, và thấy kinh thơ. Nhà thơ trong tôi thui chột mọi ý định viết nên những vần “bất hủ gây mất ngủ” cho dân tộc, cho nhân loại và cho thời đại. Tuy thế, cái nick quá ấn tượng của em đã hích tâm trí tôi viết nên bài thơ cuối cùng, cẩn cáo. Tôi chẳng dám ghi ra đây mà xin để ra trong phần Phụ Lục ở dưới cho những ai không cảm thấy mệt mỏi.

6

Y đi đi lại lại trong ngôi chùa uy nghi. Đây là một trong những trung tâm Phật Giáo của cả nước. Y là một nhà tu hành trong sạch, luôn tuân thủ “Ngũ Giới”, có chí tiến thủ và tinh tiến. Nhà y có lẽ có một cái truyền thống vẻ vang là có nhiều người đi tu chùa. Các anh và chị của y đều đang làm trụ trì ở đâu đó trên khắp xứ sở này. Nhưng bóng những cây đại cổ thụ không làm mát được lòng y. Y là sư thầy rồi cơ mà vẫn vô cùng sốt ruột vì mãi chưa được lên cái chức sư ông. Y mê cái chức ấy. Y còn mê cái áo Hoà Thượng. Nhưng mà con đường thăng tiến cũng thật là gian nan. Phải đi học rất nhiều trường, nhiều cấp. Phải thuộc lầu biết bao kinh kệ. Phải sử dụng tốt ngoại ngữ, cái mà y rất ghét. Phải khép mình theo kỷ luật hà khắc. Phải tuân thủ mọi yêu cầu và nhiệm vụ được giao. Phải biết cư xử tốt với đồng môn. Phải khéo chiều lòng các bậc bề trên, tức là được cấp trên tín nhiệm. Phải thi cử như ngoài đời người ta thi công chức và thi nâng bậc vậy. Phải được các cấp cơ sở bầu chọn, giới thiệu. Phải được các cấp thông qua. Phải sinh hoạt gương mẫu. Phải diệt dục. Phải... Bá ngọ cái thời cuộc! Làm cái gì cũng phải “đấu thầu”.
Hôm trước có sư ông tuổi đã ngoài bẩy mươi bỗng gắt lên với y: “Sao lâu lắm rồi chưa được miếng thịt gà nào cả?” Y lấy làm ngạc nhiên lắm: “Ơ, cụ vừa xơi hôm kia rồi còn gì.” Thế là lại phải ra mua thịt chó về cho cụ. Chắc tại cụ già rồi nên hay lẫn. Hay là cụ muốn tỏ rõ cái “quyền hành” bằng cái trò vặn vẹo. Nhiều lúc y cũng thấy thèm thịt nhưng vì những lời răn và nhất là vì đang trong thời gian “phấn đấu” để “phát triển sự nghiệp” nên y cũng đành phải bỏ qua.
Một hôm có thí chủ trông rất lạ đến vãn cảnh chùa. Thí chủ còn rất trẻ nhưng thần thái thì rõ ra là người từng trải. Và đặc biệt là trông thí chủ rõ là cô gái xinh ngoan, hấp dẫn đến độ chắc sư ông bẩy mươi cũng phải thấy thẫn thờ. Mọi người tu hành ở đây đều đã phải bị cưỡng chế diệt dục. Hàng ngày các sư trẻ đều phải ăn nhiều rau răm (tất nhiên là không đi kèm với gừng và trứng vịt lộn) và uống những thang thuốc biệt dược giành riêng cho mình. Đã lâu rồi y không phải dùng thuốc nữa. Tình dục trong y đã chẳng mấy khi vấy động. Thế nhưng...
Hôm sau nữ thí chủ lại đến. Cô ta đến bên thầy bẽn lẽn có ý nhờ vả. Bạch thầy, con nhà ở Kinh Bắc, con có việc muốn được nhờ thầy. Cứ nói, giúp được là ta sẽ giúp ngay. Dạ bạch thầy, con muốn nhờ thầy đến nhà cúng cho con và... cả cho thầy. Thí chủ nói gì? Sao mà phải cúng? Dạ, bạch thầy... Sau cái “bạch thầy” đó chẳng hiểu sao sư thầy đã nhận lời. Ngay chiều tối hôm đó sư thầy cắp đồ ra đi.
Trên đường đến nhà nữ thí chủ sư thầy thấy mình trở bụng. Chắc là tại vài hôm trở lại đây sư thầy xơi nhiều món lạ. Y vào một cái nhà vệ sinh công cộng. Một cái nhà xí xổm. Đã lâu y toàn dùng xí bệt của chùa nay mới được dùng lại cái xí xổm đầy dân tộc tính này. Vả quả thật, y thấy thối quá, thối không thể tưởng được. Tại sao hồi bé y toàn ỉa đồng hay ngồi hố xí hai ngăn mà không thấy thối? Hay vì khi đó khắp nơi chỗ nào cũng thối? Khi ngồi xí bệt xịn lại còn có tia nước bắn lên để rửa đít thì tất nhiên là không thấy thối rồi. Nhưng quả thật, nhờ cái bệ xí xổm này mà lần đầu tiên y thấy lòng dạ mình cũng thối lắm thay. Mấy lâu những tưởng chỉ có lòng dạ thiên hạ là thối tha thôi. Chẳng hoá ra bấy nhiêu năm chay tịnh, thanh tao không làm lòng dạ y thay đổi hay thơm tho ra được tí gì sao? Thối quá, không thể ngửi được!
Cái mùi lòng dạ chính mình dường như có làm y hoát ngộ. Đến nhà nữ thí chủ khi cửa vừa mở ra thì cô ta đã ôm lấy thầy (Tôi nghĩ là bạn đọc cũng đang chờ như vậy). Thật là “hổn hển như lời của nước non”.[6] Đúng là “không gì sướng bằng nhà sư lúc động phòng” như trong bài thơ chữ Hán xưa của một thiền giả.
Sau đó y quyết dứt áo... hoàn tục. Đồn rằng sau đó nữ thí chủ đã dạy cựu sư thầy đạo “tu tại chỗ” gì đấy. Hàng ngày y thường đọc Huyền nữ Kinh, Tố nữ Kinh, Cửu Chân thi nhân Kinh, Hoàng Đế ngoại Kinh, Phương pháp trồng hành của người Kinh và một số kinh bổn khác dạy cách ngâm rượu với cặc chó và cà dê. Trong thăng hoa với dê chó y nhớ cái nghề xưa chuyên nuôi chó, bán mèo mà dần trở nên phát đạt. Y xây khách sạn chó. Y xây bệnh viện mèo. Hình như trong thăng hoa của thiền ý y đã làm thơ về tình yêu muôn đời bất diệt:
 
Yêu sao giây phút dường như
Cho nhau những cái còn chưa của mình.
Buồn sao hình chạm vào hình
Đôi bong bóng đụng hồn mình chợt tan![7]
 
Có khi y phán như mê sảng, nghe dường như luẩn quẩn với cái miếng gieo vần rất cò quay và lưu manh:
 
Khi mê tình chỉ là tình
Ngộ ra mới biết trong tình có dâm.
Khi mê dâm chỉ là dâm
Ngộ ra mới biết trong dâm có tình.[7]
 
Đôi khi nhớ thiền viện cũ và những kinh kệ xưa y nẩy ra ý định xây một khuôn viên đầy ắp Phật tính ngay tại nhà. Y cho đắp tượng Phật Bà lừng lững xiêm y. Rồi cửu trùng đài Vô Vi. Rồi tượng thầy trò Đường Tam Toạng. Rồi y đắp tượng mình com-lê ca-vát đứng sau Phật Bà, nhưng lại đứng hiên ngang trên một quả địa cầu nho nhỏ. Thế nên dân quanh vùng có câu ca:
 
Thiền nhân đứng trên quả địa cầu
Sủa gâu gâu
 
Núng nính tiền bạc y mua một cái trang trại để hoang. Theo vận trình phong thủy của nó chắc chắn một ngày kia Đặng Thân cùng thê đội sẽ đến đây tụ bạ. Để Đặng Thân lấy cảm hứng viết ma net.
 
Ông Táo về Trời


PHỤ LỤC

Bài thơ “Nước Mắt Trên Sa Mạc”

Tình cuối Đông man mác
Xuân nồng đã về chưa?
Bãi Cát Tình mộc mạc
Khô, mấy nước cho vừa?

Ôi cái sa mạc ấy
Dài rộng được bao nhiêu?
Lệ rơi hoài có đầy
Hay cả biển Đại Tây?

Nước mắt nào cho đủ
Khóc con tim ngục tù?
Tại xác phàm ô trọc
Làm tinh thần cực nhọc?

Sương mù giăng có đầy
Bãi Cát Tình bụi bặm?
Che được hoang vắng ấy
Cho môi hết cà lăm?

Quá mù sẽ ra mưa
Có phải giọt lệ trời?
Rửa được tim máu ứa
Cho khô cạn lả lơi?

Ai cần cả biển khơi
Để dập tắt lửa trời?
Ngùn ngụt trên hoang mạc
Bao giờ tắt Trời ơi?

Bao nhiêu sông nhiêu biển
Làm mát được lòng tiên?
Nhiêu giọt tình thì đủ
Cho lòng người chân tu?


_________________________
[1]Tên một trong những trại điên lớn nhất Việt Nam.
[2]Con trai hay con gái?
[3]Trinh nữ.
[4]Bão lớn (tiếng Anh phiên âm từ “đại phong”).
[5]“Công dân mạng”.
[6]Thơ Hàn Mặc Tử.
[7]Thơ Nguyễn Bảo Sinh.

Thơ thẩn



Một ngày..
Nào em !

Ta dành một ngày
Không viết gì
Không nghĩ gì
Không cần gì sất ..
Thảnh thơi quanh co mé rừng !



Bận rộn quanh năm ..
Còn mấy ngày đến tết ?
Ta làm được gì ,
Ngoài nỗi bâng khuâng ?



Không che được cơn gió lạnh
Không xua được sương mập mờ
Không xa được đời nham nhở
Nơi cần ngày lại thêm xa..



Thôi,
cho một ngày thư thả
lặng yên bến bờ tắp xa
Không viết gì nữa
Giã từ giấc mơ!.

Thứ Sáu, 11 tháng 1, 2013

Tư liệu


Chủ nghĩa hậu hiện đại — Những mảnh nghĩ rời  [chuyên đề  VĂN NGHỆ HẬU HIỆN ĐẠI]


1. Chủ nghĩa hiện đại (modernism) không phải là sản phẩm hay hệ quả của tính hiện đại (modernity): Chủ nghĩa hiện đại là sự hoài nghi, hơn nữa, sự phản đối, thậm chí, phản kháng lại tính hiện đại: Đó là cuộc khởi nghĩa của mấy thế hệ tài hoa, từ Baudelaire đến Apollinaire, Tristan Tzara, André Breton, James Joyce, v.v... nhằm chống lại các bậc tiền bối vĩ đại của họ, từ René Descartes cho đến Francis Bacon, những người xây dựng nền móng tư tưởng cho cả nền văn minh hiện đại ở châu Âu, và sau đó, hầu như ở khắp nơi trên thế giới. Chủ nghĩa hậu hiện đại, ngược lại, là sự đầu hàng đối với tính hậu hiện đại (postmodernity), một sự đầu hàng dễ dàng và nhẹ nhàng, tuy thấp thoáng có chút gì như chua chát, nhưng nhờ thế, cái điều đáng lẽ là một bi kịch lại biến thành một trò đùa. Là trò đùa, lại là trò đùa pha lẫn châm biếm, chủ nghĩa hậu hiện đại tự dưng có ý nghĩa phê phán. Và, vì tính chất phê phán ấy, cộng với tính chất giải thiêng của tiếng cười vốn gắn liền với mọi trò đùa, chủ nghĩa hậu hiện đại bỗng dưng có ý nghĩa chính trị. Ý nghĩa chính trị ấy dẫn đến một nghịch lý khá oái oăm: mặc dù đề cao chủ nghĩa đa nguyên, chủ trương dung hợp mọi giá trị vốn bị gạt ra bên lề có khi cả hàng ngàn năm, chủ nghĩa hậu hiện đại lại bị khá nhiều nền văn hoá ngoại biên, đặc biệt những nền văn hoá hậu thuộc địa, nghi kỵ, và có khi, chống đối kịch liệt.

2. Cho chủ nghĩa hậu hiện đại là sự đánh mất niềm tin đối với các siêu tự sự, Jean-François Lyotard đã lấy niềm tin làm cơ sở để định nghĩa chủ nghĩa hậu hiện đại. Không phải một mà có tới hai niềm tin: niềm tin vào các siêu tự sự và niềm tin vào tính bất khả của các siêu tự sự ấy. Dựa trên niềm tin, chủ nghĩa hậu hiện đại, ngay từ đầu đã gặp khó khăn trong nỗ lực lý thuyết hoá, một khó khăn mà cho đến bây giờ, hơn nửa thế kỷ sau ngày manh nha như một trào lưu, nó vẫn chưa vượt qua được. Được xây dựng trên nền tảng của một niềm tin bị đánh mất, tự bản chất, chủ nghĩa hậu hiện đại là một thứ văn hoá của sự phủ định, nghĩa là, nói cách khác, nó được định nghĩa không-phải-là-một-cái-gì-đó thay vì là-một-cái-gì-đó. Chủ nghĩa hậu hiện đại, như thế, là sản phẩm và là biểu hiện của sự khủng hoảng, trước hết, là sự khủng hoảng của giới trí thức, đặc biệt trước khả năng tái hiện (representation) của ngôn ngữ, và cùng với ngôn ngữ, mọi diễn ngôn trí thức và nghệ thuật mà cho đến gần đây, nhân loại vẫn thường tin tưởng và tự hào. Mất niềm tin vào khả năng tái hiện, ranh giới giữa diễn ngôn trí thức và diễn ngôn nghệ thuật bị xoá nhoà: khoa học (science) được xem như một thứ thi học (poetics); và lý thuyết về văn học trở thành lý thuyết-như-là-văn-học. Trong lãnh vực văn học, những sự xoá nhoà ấy thực chất là một sự giải phóng: Chúng làm rộ nở cả diễn ngôn lý thuyết lẫn diễn ngôn sáng tạo.

3. Người/dân tộc nào không biết tin tưởng một cách nồng nhiệt sẽ không bao giờ biết hoài nghi một cách quyết liệt: chủ nghĩa hậu hiện đại ở đó, nếu có, sẽ không tránh được sự què quặt. Đó là số phận của Việt Nam chăng?

4. Nghệ thuật nào, tự bản chất, ít nhất ở khởi thuỷ của nó, cũng đều là nghệ thuật ý niệm. Cái gọi là nghệ thuật ý niệm (conceptual art) manh nha từ đầu thế kỷ 20 và bùng phát thành phong trào từ thập niên 1960, thật ra, đã có từ lâu. Nó cũng xưa cũ như chính lịch sử của nghệ thuật. “Khởi thuỷ là ý niệm...”

5. Lịch sử văn học, ở một khía cạnh nào đó, có thể nói là lịch sử các định nghĩa về văn học. Tổng số các định nghĩa ấy càng nhiều và càng đa dạng, diện tích của văn học càng rộng. Diện tích văn học càng rộng, sự phủ định nó càng gặp nhiều thử thách: Đó là những thử thách đáng mơ ước của chủ nghĩa hậu hiện đại.

6. Nhân loại bỏ ra hàng ngàn năm để chuyên nghiệp hoá sinh hoạt văn học nghệ thuật. Kết quả cuối cùng của chuyên nghiệp hoá là thiết chế hoá (institutionization). Chủ nghĩa tiền vệ là nỗ lực đánh sập cái tính thiết chế ấy. Chủ nghĩa hậu hiện đại được xây dựng trên sự đổ vỡ của các thiết chế: tự bản chất, chủ nghĩa hậu hiện đại, do đó, gần với chủ nghĩa tiền vệ hơn là với chủ nghĩa hiện đại, dù trong chủ nghĩa hậu hiện đại, chủ nghĩa tiền vệ chỉ còn là một giấc mơ: Chủ-nghĩa-tiền-vệ-hậu-hiện-đại là một giấc mơ của một giấc mơ.

7. Nhà cầm quyền phi dân chủ nào cũng muốn độc quyền viết lại lịch sử để, thứ nhất, tạo nên một thứ đại tự sự hầu hợp thức hoá quyền lực và cách hành xử quyền lực bất chính của họ; và thứ hai, để thực dân hoá trí tưởng tượng của các thế hệ mai sau. Chủ nghĩa hậu hiện đại với chủ trương tương đối hoá lịch sử, truất bỏ chức năng đại tự sự của lịch sử, xem lịch sử như một loại hình tự sự, một câu chuyện của hắn (his-story) hay của ả (her-story), lúc nào cũng bị điều kiện hoá bởi tính văn bản, tự nhiên trở thành một thứ đối-tự sự (counter-narrative) và đối-văn hoá (counter-culture) của các loại chủ nghĩa toàn trị.

8. Trong lịch sử nhân loại từ xưa đến nay, chủ nghĩa hiện đại là giấc mơ lớn nhất về việc nắm bắt hiện thực và tạo nên sự hoà điệu trong hiện thực, ngay cả hiện thực từ trong vô thức hay trong sự ngẫu nhiên, trong khi đó chủ nghĩa hậu hiện đại là cú giật mình thức tỉnh lớn nhất và đầy hoang mang của nhân loại. Hoang mang đến độ mất cả niềm tự tin sau khi đã tỉnh thức.

9. Chủ nghĩa hậu hiện đại là cách nói “Không” trước mọi quy phạm. Sau tiếng “không” ấy là gì? Không cần biết. Quan trọng nhất là nói: Không.

10. Tôi rất thích câu chuyện “thác đao điền” trong lịch sử Việt Nam ngày xưa: Vua Lý Thái Tông thưởng công Lê Phụng Hiểu bằng cách cho ông lên núi Băng Sơn ở Thanh Hoá ném đao; đao bay đến đâu vùng ấy thuộc về điền trang của ông. Viết văn cũng thế. Viết văn là ném chữ vào cái thế giới tối tăm mù mịt của những điều chưa biết và không biết. Chữ bay đến đâu, biên giới của tác phẩm trải dài ra đến đó. Biên giới của tác phẩm trải dài đến đâu, lãnh thổ văn học được mở rộng đến đó. Viết, với các nhà hậu hiện đại chủ nghĩa, nghĩ cho cùng, là một cách thăm dò chính khả thể và khả tính của cái viết.

11. Cái vốn hiện đại chủ nghĩa dẫn đến việc hình thành chủ nghĩa hậu hiện đại có thể làm bằng văn học bằng tiếng mẹ đẻ nhưng cũng có thể được làm bằng văn học nước ngoài nếu người ta thực sự thâm hiểu nó. Đó là một trong những đóng góp lớn nhất của toàn cầu hoá vào việc phát triển chủ nghĩa hậu hiện đại: Với toàn cầu hoá, trong khi các nước lớn có thể ăn cướp tương lai của các nước nhỏ, các nước nhỏ, ngược lại, có thể ăn cắp quá khứ của các nước lớn, để từ đó, dần dần giành lại tương lai cho mình, trong đó có chủ nghĩa hậu hiện đại.

12. Chủ nghĩa hậu hiện đại không những đánh mất niềm tin vào các siêu tự sự mà còn đánh mất niềm tin vào mọi tự sự. Tự sự, dù lớn hay nhỏ, cũng đều trở thành chơi vơi: chúng là những mảnh ghép rời hơn là một câu chuyện có kết cấu vững chắc. Nhưng con người không thể thoát được tự sự. Tự sự hiện diện khắp nơi, là yếu tố căn bản tạo nên lịch sử, từ đó, ý niệm về bản sắc của cá nhân cũng như của cả cộng đồng. Phải sống với những gì mình không tin: đó là một trong những nghịch lý và bi kịch lớn nhất của chủ nghĩa hậu hiện đại. Trích dẫn (quotation), giễu nhại (pastiche) và siêu hư cấu (metafiction) là những cách thừa nhận sự nghịch lý và bi kịch ấy, đồng thời cũng là cách biến nghịch lý và bi kịch thành những thủ pháp nghệ thuật.

13. Loại hình nghệ thuật nổi bật của chủ nghĩa hiện đại là hội hoạ và thơ; của chủ nghĩa hậu hiện đại là kiến trúc và tự sự; trong tự sự, nổi bật nhất là tiểu thuyết. Nhiều người ta xem chủ nghĩa hậu hiện đại như thời vàng son của tiểu thuyết. Tuy nhiên, trên thực tế, không có lúc nào tiểu thuyết lại đối diện với nguy cơ bị huỷ diệt lớn như thời hậu hiện đại. Để tránh bị huỷ diệt, nó phải biến thành cái gì khác, cái phản-tiểu thuyết, như một số người từng gọi. Có điều, khi cái phản-tiểu thuyết chinh phục được nhiều độc giả, nó lại trở thành tiểu thuyết. Dĩ nhiên, hai cái tiểu thuyết trước và sau ấy khác hẳn nhau. Khác, như đỉnh Lô sơn trong thơ Tô Đông Pha ngày xưa: “Lô sơn yên toả, Triết giang triều / Vị đáo sinh bình hận bất tiêu / Đáo đắc hoàn lai vô biệt sự / Lô sơn yên toả, Triết giang triều.” (Ai đó đã dịch: “Mù toả Lô sơn, sóng Triết giang / Khi chưa đến đó hận vô vàn / Đến rồi về lại không gì lạ / Mù toả Lô sơn, sóng Triết giang”.)

14. Bất hạnh lớn nhất của những người ôm mộng trở thành nhà hậu hiện đại chủ nghĩa ở Việt Nam là họ không có một siêu tự sự để phá đổ. Siêu tự sự Mác xít ở Việt Nam là thứ siêu tự sự mang tính tôn giáo thời trung cổ hơn là tính chất duy lý thời hiện đại. Chống lại nó là chống lại một thứ dị đoan chứ không phải chống lại một triết lý. Còn tư tưởng Hồ Chí Minh? Ồ, chống lại nó, người ta chỉ tự mình làm cho mình hèn đi.

15. Có những lý thuyết bắt đầu bằng phê bình. Có những lý thuyết kết thúc bằng phê bình. Trong chủ nghĩa hậu hiện đại, vốn gắn liền với giải kiến tạo và hậu cấu trúc luận, lý thuyết là phê bình, hơn nữa, là tự phê bình: sự phản tỉnh mang tính phê phán (critical self-reflection), do đó, trở thành một trong những trung tâm của ý thức hậu hiện đại.

16. Người ta hay nói văn học nghệ thuật giúp tìm hiểu về con người. Với chủ nghĩa hậu hiện đại, văn học và nghệ thuật giúp ta tìm hiểu, hay đúng hơn, kinh nghiệm về những giới hạn của con người, trước hết là giới hạn của ngôn ngữ, của chủ thể tính và của năng lực nhận thức, đặc biệt đối với những cái toàn thể (wholeness). Có thể nói, với chủ nghĩa hậu hiện đại, loài người từ bỏ giấc mơ làm Thượng đế.

17. Gần đây, người Việt Nam hay nói đến chuyện đổi mới văn học, nhưng, thứ nhất, hình như không mấy ai băn khoăn về ý nghĩa của chữ “mới”; thứ hai, khẩu khí của người phát ngôn thường rất ư hẹp hòi và, lạ nhất là, rất ư bảo thủ, gắn liền với những mệnh lệnh đầy tính giáo điều: muốn mới thì phải thế này, phải thế nọ, v.v... Nhưng cái mới thực sự bao giờ cũng là cái phi-phải. Nói đến cái mới là nói đến sự đứt đoạn hơn là sự kế tục; là cái còn mù mờ hơn là những gì đã rõ ràng.

18. Sự phát hiện ra tính liên văn bản làm các nhà hậu hiện đại khiêm tốn hơn: họ biết, dù muốn hay không, họ cũng là những con nợ. Tính giải điển phạm (decanonization) lại làm cho họ tự tin hơn: họ biết họ không nhất thiết phải đi theo bất cứ con đường có sẵn nào cả. Nhưng tính giải lịch sử (dehistoricization) lại làm cho họ cô đơn hơn: nghệ thuật mà họ đang theo đuổi, bất kể là loại hình nghệ thuật gì, cũng là nghệ thuật của khoảnh khắc; và bản thân họ cũng chỉ sống trong từng khoảnh khắc, những khoảnh khắc phân mảnh và bất liên tục.

19. Cách tân thực sự trong lãnh vực văn học nghệ thuật là cách tân về phương diện phương pháp sáng tác và ý thức mỹ học. Những thay đổi về phương diện nội dung hay chính trị và xã hội chỉ là những điều kiện làm nảy nở hay nuôi dưỡng sự cách tân chứ không phải là mục tiêu của nó. Đường phố hay ngay cả nghị trường cũng đều quá nhỏ đối với người sáng tạo.

20. Quá trình khu biệt hoá các loại hình văn học nghệ thuật (thơ, nhạc, sân khấu, hội hoạ, kiến trúc, điêu khắc, v.v...) cũng như khu biệt hoá tác phẩm văn học nghệ thuật và tất cả các loại sản phẩm khác trong xã hội chỉ xuất hiện ở châu Âu vào cuối thế kỷ 18, và ở Việt Nam, từ đầu thập niên 30 của thế kỷ 20 (và chấm dứt khoảng 10 năm sau, khi chiến tranh thế giới lần thứ hai bùng nổ, rồi, tiếp theo là chiến tranh chống Pháp, chiến tranh Nam Bắc, v.v...). Khi chủ nghĩa hậu hiện đại chủ trương giải khu biệt hoá, tính chất khu biệt ở châu Âu đã có hơn 200 tuổi; ở Việt Nam, nó mới chập chững bước vào tuổi... teens! Chưa có gì thành hình, thành nếp cả. Những tập tính tiền-hiện đại vẫn thống trị xã hội và mọi sinh hoạt văn hoá. Bởi vậy, có thể nói đối thủ của chủ nghĩa hậu hiện đại ở Tây phương là chủ nghĩa hiện đại. Đối thủ của chủ nghĩa hậu hiện đại, nếu có, ở Việt Nam, là... truyền thống nói chung. Trong cái gọi là truyền thống nói chung ấy, mỗi người cầm bút phải tự tưởng tượng cho mình một kẻ thù. Mệt!

21. Thử thách lớn nhất lớn đối với các nhà phê bình, ở thời hiện đại, chủ yếu là năng lực diễn dịch; ở thời hậu hiện đại, là năng lực giải kiến tạo (deconstruct) cái thế giới nghệ thuật được người nghệ sĩ kiến tạo (construct), đồng thời tái kiến tạo (reconstruct) cái thế giới đã được/bị người nghệ sĩ giải kiến tạo; nói cách khác, đó là thứ năng lực sáng tạo.

22. Tác phẩm văn học nghệ thuật hậu hiện đại chủ nghĩa thường có tính chất triết lý dù chúng có thể không có nghĩa gì cả. Nhại Jean-Paul Sartre, chúng ta có thể nói: “Đằng sau bất cứ sự có-vẻ-vô-nghĩa nào cũng có một siêu hình học của... thời đại”.

23. Văn học Việt Nam hiện nay, nói theo chữ của John Barth, là một thứ văn học của sự cạn kiệt (literature of exhaustion). Ý thức về sự cạn kiệt, ở Mỹ, dẫn đến chủ nghĩa hậu hiện đại; ở Việt Nam, một sự cạn kiệt phi ý thức sẽ đơn thuần là một sự cạn kiệt, hay nói theo Nam Cao, một sự “sống mòn”. Và chết mòn.

24. Di sản văn học Việt Nam vừa nghèo nàn lại vừa nặng nề, nặng nề vì chính sự nghèo nàn của nó; nặng nề và nghèo nàn đến độ tôi có cảm tưởng việc không biết đến nó là một điều may mắn cho người cầm bút.

25. Chủ nghĩa hậu hiện đại là một biểu hiện của chủ nghĩa tiền vệ ở một thời đại người ta vừa biết không thể viết như cũ được nữa nhưng cũng không còn tự tin vào cái mới như thế hệ cha anh của họ. Cái mới chỉ còn đơn giản là cái khác. Khác-hoá (otherization) trở thành một mệnh lệnh của nghệ thuật.

26. Trong lãnh vực văn học nghệ thuật, nhất là trong những giai đoạn có nhiều và cần nhiều sự thay đổi, những người biết nửa vời thường dốt hơn những người không biết gì cả: những người sau có thể thay đổi, trong khi đó, những người trước thì thường là không. Có lẽ Jean-François Lyotard cũng nghĩ thế khi đặt tên cho một tác phẩm của ông là Tính hậu hiện đại giải thích cho trẻ con (The Postmodern Explained to Children). Thật ra, cuốn sách ấy không hề viết cho trẻ con. Nó chỉ nêu lên một đòi hỏi: để hiểu, người đọc cần có cái ngây thơ trong sáng, cả trong tâm hồn lẫn trong nhận thức, của trẻ con.

27. Ở giới cầm bút, ngoài yếu tố tài năng, điều tôi quan tâm nhiều nhất không phải là kiến thức, nhất là kiến thức lý thuyết, mà chính là thái độ; trong thái độ, điều tôi thích nhất là sự quyết liệt; trong sự quyết liệt, điều tôi đánh giá cao nhất là sự quyết liệt đối với tiêu chí, ở đó, người ta không cho phép mình lẫn lộn giữa các phạm trù và các giá trị: Theo kinh nghiệm của tôi, đó chính là yếu tố phân biệt tính nghiêm túc, tính chuyên nghiệp và từ đó, triển vọng của người cầm bút trong thế giới nghệ thuật. (Ồ, mà nói như thế thì còn gì là... hậu hiện đại nữa nhỉ?)

28. Hầu như tất cả các đặc điểm của chủ nghĩa hậu hiện đại đều có thể tìm thấy trong chủ nghĩa hiện đại. Tính chất phân mảnh, đứt đoạn, lắp ghép, giễu nhại, xoá nhoà ranh giới giữa các thể loại, thậm chí, giữa các phạm trù (nghệ thuật / thương mại, đặc tuyển / bình dân), v.v... đều đã manh nha từ các trào lưu đa đa, siêu thực, vị lai và lập thể. Sự khác biệt chỉ là ở mức độ: những sáng kiến mới manh nha ở chủ nghĩa hiện đại trở thành chủ đạo ở chủ nghĩa hậu hiện đại. Và quan trọng nhất, ở thái độ. Nếu chủ nghĩa hiện đại thích tìm kiếm những cái phổ quát, chủ nghĩa hậu hiện đại tìm kiếm những cái đặc thù; chủ nghĩa hiện đại có tính độc thoại, chủ nghĩa hậu hiện đại có tính tương thoại; chủ nghĩa hiện đại chú mục vào những yếu tố trung tâm, chủ nghĩa hậu hiện đại lưu ý đến những tiếng nói bên lề, thậm chí, những tiếng nói bị bóp nghẹt hay bị quên lãng.  Xoay quanh một trung tâm, chủ nghĩa hiện đại đề cao tính chất liên tục, chặt chẽ và thống nhất; chủ trương phi tâm hoá, chủ nghĩa hậu hiện đại khuyến khích tính chất phân mảnh và đứt đoạn. Bản chất của chủ nghĩa hiện đại có tính toàn trị; chủ nghĩa hậu hiện đại có tính đa nguyên. Chủ nghĩa hiện đại tin vào sử tính của các biến cố, chủ nghĩa hậu hiện đại chỉ tin vào ký ức. Tin vào sử tính cũng có nghĩa là tin vào sự tiến hoá và sự tiến bộ; tin vào ký ức, người ta chỉ tin vào chủ quan tính. Niềm tin vào tính chủ quan đồng nghĩa với niềm tin vào tính tương đối. Tin vào sự tương đối, thật ra, là không thực sự tin vào cái gì cả, hay nói cách khác, chỉ tin vào chính mình và những sự thật có tính điều kiện, chủ yếu là gắn liền với một chu cảnh về lịch sử và văn hoá nhất định.

29. Tất cả những gì chúng ta có đều là văn bản. Ngay chính bản thân chúng ta không chừng cũng chỉ là văn bản. Mọi văn bản đều bị khống chế bởi ngữ pháp và đều có tính liên văn bản. Điều đó có nghĩa là chúng ta vừa bị ngữ pháp hoá lại vừa bị liên văn bản hoá. Bị ngữ pháp hoá là bị quy ước hoá và bị cộng đồng hoá trong khi bị liên văn bản hoá là bị xâm lược bởi cả hệ thống văn hoá và cả ký ức tập thể của không phải chỉ dân tộc mà còn, với những mức độ khác nhau, của cả nhân loại hay một phần nhân loại. Là văn bản cũng có nghĩa là diễn dịch. Số phận của con người là được/bị diễn dịch. Ngay chính phản tỉnh cũng là một hình thức tự diễn dịch. Phản-diễn dịch, khái niệm được Susan Sontag nêu lên như một đặc điểm của chủ nghĩa hậu hiện đại, thật ra, chỉ là một cách nói: chính bản thân nó cũng cần được diễn dịch.

30. Truyền bá chủ nghĩa hậu hiện đại vào Việt Nam thật khó. Đọc lý thuyết, phần lớn người đọc chờ đợi điều gì? Họ chờ đợi, thứ nhất, một định nghĩa thật ngắn ngọn và thứ hai, một danh sách các tín lý và các nguyên tắc thật rõ ràng. Tiếc, cả hai đều là những thứ bị chủ nghĩa hậu hiện đại từ chối. Sự từ chối ấy là một yếu tính của nó: chủ nghĩa hậu hiện đại không thể hiện hữu nếu không có sự từ chối ấy. Khi chủ nghĩa hậu hiện đại có một định nghĩa và một số kim chỉ nam cố định, nó không còn là nó nữa. Nó lại đi tìm cái nó khác, cái hậu-hậu hiện đại, chẳng hạn.

31. Marx nói: “Các nhà triết học giải thích thế giới bằng những cách khác nhau. Nhưng vấn đề là cải tạo thế giới.” Các nhà hậu hiện đại chủ nghĩa tin rằng, thứ nhất, khi kiến thức là quyền lực và những cái gọi là chân lý có khả năng, đúng hơn, chức năng hợp thức hoá quyền lực, không có cách giải thích nào không đồng thời là một cách cải tạo; thứ hai, khi chính thế giới cũng là một thứ văn bản, qua các hoạt động diễn ngôn của mình, các nhà triết học và cả giới cầm bút nói chung không phải chỉ giải thích hay cải tạo thế giới. Mà là sáng tạo thế giới. Là làm cho nó trở thành có thực. Có thực như một động thái (activity) hay một tiến trình (process) chứ không phải cái gì đã-có-sẵn như nhiều người, trong đó có cả Marx, nhầm tưởng.

32. Đọc các tác phẩm bây giờ mà chỉ nghĩ đến các cây bút thời 1930-45 hay các thế hệ chống Pháp, chống Mỹ hay chống Cộng là làm nghèo nàn cho chúng và cũng tự làm nghèo nàn cho chính mình; là tự giam cầm tầm nhìn của mình trong cái trục lịch đại cũ kỹ và chật chội. Chủ nghĩa hậu hiện đại là trò chơi địa phương nhưng các khung quy chiếu (frames of reference) của nó lại phải có tính đồng đại và toàn cầu. Chính các khung quy chiếu ấy sẽ dần dần giải lãnh thổ hoá  (deterritorialize) và giải quốc gia hoá (denationalize) văn học. Chứ không phải chỉ đơn giản là chuyện dịch thuật. Dịch, ờ, thì cũng cần, nhưng đó chỉ là chuyện nhỏ.

33. Hư vô, thừa thãi, ngẫu nhiên, phi lý, buồn nôn, lưu đày, địa ngục, dịch hạch, ngoại tình,.... đọc lại các từ đã thành sáo ngữ của chủ nghĩa hiện sinh thời trước, chợt nhận ra một điều: chúng đầy cảm tính; chúng nhấn mạnh vào khía cạnh cảm tính của cuộc sống. Những từ ngữ gắn liền với chủ nghĩa hậu hiện đại, ngược lại, lại có tính chất tiến trình: phi tâm hoá (decentralization), gạch nối hoá (hyphenization), giải khu biệt hoá (dedifferentiation), giải lãnh thổ hoá, giải đẳng cấp hoá (dehierarchization), giải thực dân hoá, giải ngoại biên hoá (demarginalization), giải hợp thức hoá (delegitimation), giải hoặc (demystification), giải bản thể luận (deontologization), v.v... Có thể nói chủ nghĩa hiện sinh là thứ siêu hình học của tâm trạng, trong khi đó chủ nghĩa hậu hiện đại lại là siêu hình học của hiện tại hay của sự thay đổi. Nhằm nắm bắt từng sự thay đổi trong hiện tại, thi pháp hậu hiện đại chuyển từ kết quả sang tiến trình, tập trung chủ yếu vào bản thân tiến trình sáng tác, một tiến trình không bao giờ kết thúc. Như chính cuộc đời: không bao giờ có điểm kết thúc. Trừ phi tận thế.

34. Về phương diện thuật ngữ, thời hậu hiện đại cũng là thời nở rộ của các tiền tố (prefix): hết “phản-” (anti-) lại đến “giải-“ (de-), “siêu” (meta-), “đối-“ (counter-), và, đặc biệt, “hậu-“ (post). Có lẽ đây là một trong những biểu hiện rõ nhất về mối quan hệ giữa chủ nghĩa hậu hiện đại và chủ nghĩa hiện đại: trong chiều hướng này, có thể nói chủ nghĩa hậu hiện đại là một cuộc đại khủng hoảng của chủ nghĩa hiện đại: chủ nghĩa hậu hiện đại tồn tại bằng sự vắng mặt hoặc biến dạng của một số yếu tố căn bản của chủ nghĩa hiện đại.

35. Chủ nghĩa hậu hiện đại không những làm thay đổi cách viết mà còn làm thay đổi cả cách đọc, thậm chí, cách đọc lại, hay nói theo Derrida: “để viết khác, chúng ta phải đọc lại một cách khác” (to write differently, we must reread differently). Tuy nhiên, chủ nghĩa hậu hiện đại không phải chỉ là một cách đọc và một cách viết. Trên tất cả, nó là một cách nhìn: chính cách nhìn ấy quy định cách đọc và cách viết. Thiếu cách nhìn ấy, nói chuyện hậu hiện đại là điều vô ích: người ta sẽ không hiểu được gì cả.

36. Hầu hết các nhà hậu hiện đại chủ nghĩa ở Tây phương đều đi sau thời đại của họ: họ xuất hiện khi các điều kiện hậu hiện đại đã có sẵn. Các nhà hậu hiện đại Việt Nam, nếu có, mặc dù xuất hiện sau các nhà tiền phong của chủ nghĩa hậu hiện trên thế giới gần cả nửa thế kỷ, vẫn đi trước thời đại của họ, trên nền tảng kinh tế, chính trị, xã hội và văn hoá không những ở ngoài ngưỡng hậu hiện đại mà còn mới chập chững ở ngoài thềm của chủ nghĩa hiện đại.

37. Từ xưa đến nay người ta vẫn có khuynh hướng xem biểu tượng Tháp Babel, nơi con người bị Thượng Đế trừng phạt phải nói nhiều thứ tiếng khác nhau thay vì một thứ tiếng thống nhất như trước, là một tai hoạ. Từ quan điểm hậu hiện đại, ngược lại, đó là một dấu mốc lớn của sự tiến bộ, mở đầu cho kỷ nguyên sáng tạo và đa dạng hoá của nhân loại. Có thể nói lịch sử văn học nào cũng là lịch sử hậu-Babel, nơi mỗi cộng đồng, thậm chí, mỗi cá nhân, mê mải đi tìm một tiếng nói riêng cho mình. Cái gọi là sự thống nhất trong quan điểm văn học nghệ thuật, điều mà ở Việt Nam, nhiều người vẫn thích lải nhải, là một điều hoàn toàn vô nghĩa. Nó vừa phản văn học vừa phản trí thức.

38. Một trong những chức năng lớn nhất của văn hoá là tạo huyền thoại (myth-making function). Một trong những chức năng chính của chủ nghĩa hậu hiện đại là giải huyền thoại (demythification): Chủ nghĩa hậu hiện đại, ở phương diện này, dù muốn hay không, cũng trở thành một thứ đối-văn hoá của thời đại. Là đối-văn hoá, chủ nghĩa hậu hiện đại trở thành một thách thức trước mọi quyền lực, và do đó, dưới mắt những kẻ có quyền lực, ngay tính chất phi-chính trị (apolitical) của nó cũng bị chính trị hoá.

39. Không phải nhà hậu hiện đại chủ nghĩa nào cũng là một kẻ phản-duy bản luận (anti-foundationalist) hay phản-yếu tính luận (anti-essentialist), tuy nhiên, một lý thuyết hậu hiện đại chủ nghĩa nhất quán khó mà dung hợp được với niềm tin vào sự hiện hữu của một nền tảng tiền nghiệm và vĩnh cửu nào đó cho mọi kiến thức và “chân lý” do con người phát hiện. Chính trong chiều hướng phản-duy bản luận và phản-yếu tính luận ấy, các nhà hậu hiện đại chủ nghĩa đã xem Nietzsche, kẻ tuyên bố “Thượng đế đã chết” như là một bậc tiền hô của họ. Dĩ nhiên, “Thượng đế” ở đây không phải là Thượng đế của Cựu Ước hay Tân Ước mà là Thượng đế của nhà siêu hình học, đạo đức học và nhận thức luận, thứ Thượng đế đóng vai trò của vàng hoặc Mỹ kim để bảo chứng cho các hệ thống tiền tệ mà loài người sử dụng. Thượng đế chết, mọi kiến thức đều là những sự diễn dịch (interpretation); mọi diễn dịch đều là những sự thương thảo (negotiation); mọi thương thảo đều có tính quan hệ (relational); mọi quan hệ đều tương đối (relative); mọi sự tương đối đều gắn liền với chu cảnh (contextual): thừa nhận tính chu cảnh ấy, người ta lạc vào tình thế luận (situationalism) hay phối cảnh luận (perspectivism). Lại cũng chính là những chỗ đứng của Nietzsche ngày trước. Hoan hô Nietzsche!

40. Với chủ nghĩa hậu hiện đại, lịch sử — nếu có thể gọi được như vậy — là một cô gái chưa bao giờ có trinh tiết. Không có, nên không bao giờ bị mất. Tính chất độc sáng, do đó, chỉ còn là một hoài niệm và cái gọi là sáng tạo chỉ có một ý nghĩa tương đối, đúng hơn, một ý nghĩa phi-truyền thống: đó chỉ là cách lắp ghép mới của những cái cũ. Ừ, thì cũng mới, chứ sao? Với đá, gỗ, sắt, gạch và ngói cũ, cực kỳ cũ, người ta vẫn có thể xây cất những ngôi nhà mới, hoàn toàn mới, kia mà. Chất liệu không quan trọng: đó là điểm thống nhất giữa chủ nghĩa hiện đại và chủ nghĩa hậu hiện đại. Nhưng sau điểm thống nhất ấy là sự khác biệt: yếu tố quan trọng thay thế chất liệu, với các nhà hiện đại chủ nghĩa, là cấu trúc (structure); với các nhà hậu hiện đại chủ nghĩa là tiến trình hình thành tính cấu trúc (structurality).

41. Khi cố gắng giới thiệu chủ nghĩa hậu hiện đại vào Việt Nam, không nên mơ tưởng đến những mùa thu hoạch ngay tức khắc. Thu hoạch? Chắc chắn sẽ có. Nhưng có lẽ không thể có ngay tức khắc được. Chủ nghĩa hậu hiện đại không phải là một hệ thống thủ pháp để có thể ứng dụng bất cứ ở đâu và bất cứ lúc nào. Sau lưng hệ thống thủ pháp ấy còn có một hệ thống quan điểm; sau lưng hệ thống quan điểm ấy là cả một hệ thống cấu trúc kinh tế, chính trị và xã hội; sau lưng hệ thống cấu trúc kinh tế, chính trị và xã hội ấy là cả một truyền thống văn hoá kéo dài hàng ngàn năm; tất cả góp phần làm nảy nở một ký ức và trí tưởng tượng tập thể cũng như những cảm xúc tương ứng, từ đó, chủ nghĩa hậu hiện đại được hiện hình.

42. Tầm vóc và ảnh hưởng của Mikhail Bakhtin ở Tây phương chắc chắn lớn hơn ở Nga; của Jacques Derrida và Jean-François Lyotard ở Mỹ chắc chắn lớn hơn ở Pháp. Người được phát hiện bao giờ cũng được cộng thêm một cái gì đó từ người phát hiện; nhờ thế, họ giàu hơn chính bản thân họ. Và người phát hiện cũng được giàu hơn chính họ nữa, dĩ nhiên.

43. Tôi thích một câu nói của Susan Sontag, hình như trong cuốn Against Interpretation: “Thế giới chủ yếu là một hiện tượng thẩm mỹ.” Tôi cũng thích nữa câu nói của Joseph Margolis, đâu đó: “Mỹ học là nguyên tắc triết lý mang tính chiến lược nhất của thời đại chúng ta.” Nhưng gây ấn tượng nhất trong tôi là câu nói này của John Cage: “Cái đẹp bắt đầu từ đâu? Và nó kết thúc ở đâu? Nơi cái đẹp kết thúc, đó chính là nơi người nghệ sĩ bắt đầu.” Nhiều người đồng tình với John Cage trong việc tách biệt hai khái niệm thẩm mỹ và nghệ thuật: Với họ, thẩm mỹ không phải là điều kiện cần và đủ cho sự tồn tại của các tác phẩm nghệ thuật. Ngược lại, người ta có thể sáng tạo một tác phẩm nghệ thuật thực sự không cần có một giá trị thẩm mỹ nào cả. Tôi cho đó không phải là một nghịch lý mà chỉ là hiện tượng thông thường trong những thời điểm giao thời, lúc quan điểm thẩm mỹ cũ đã tàn lụi mà quan điểm thẩm mỹ mới chỉ vừa manh nha, chưa đủ đứng vững thành một tiêu chí đánh giá tác phẩm nghệ thuật.

44. Tác dụng lớn nhất của các trò chơi là dạy người ta biết cách hưởng lạc thú của việc hy sinh bản thân mình cho một luật lệ chung. Tác dụng lớn nhất của nghệ thuật là dạy người ta tìm thấy lạc thú trong việc hy sinh luật lệ chung cho bản thân mình. Có điều bản thân nghệ thuật cũng là một thứ trò chơi, bởi vậy, quan hệ giữa nghệ thuật và trò chơi không phải là thứ quan hệ đối kháng mà là tương tác: ý thức về bản thân hay luật lệ càng cao và việc hy sinh chúng càng gặp nhiều thách thức, cảm giác lạc thú lại càng lớn. Lớn như một cái cao cả.

45. Loài người, suốt cả thời cổ điển và trung đại, bị ám ảnh và choáng ngợp bởi thiên nhiên và thần linh; thời hiện đại, bởi lý trí, và sau đó, bởi vô thức; còn thời hậu hiện đại, bởi kỹ thuật và truyền thông đại chúng. Đối diện với thiên nhiên và thần linh, con người thấy bị khiếp sợ: ý niệm về cái cao cả được hình thành như một sự uy hiếp. Sùng bái lý trí và tò mò trước vô thức, con người say mê theo đuổi những khám phá mới mẻ: cái cao cả chập chờn như một sự quyến rũ. Bị vây bủa bởi kỹ thuật và truyền thông đại chúng, những sản phẩm do chính mình tạo ra nhưng dường như đã trở thành xa lạ và bí ẩn đối với chính mình, ở đó mọi thứ đều trở thành ảo hoá (virtualization) và thế vì hoá (simulation): ý niệm về cái cao cả gắn liền với ý niệm về sự tha hoá. Người ta vẫn bị ám ảnh, vẫn bị choáng ngợp, vẫn hoang mang, nhưng không còn ngưỡng mộ.

46. Những người đã ít nhiều cảm nghiệm và trải nghiệm khí quyển hậu hiện đại sẽ không bao giờ có thể đi lại con đường hiện đại của nhân loại trước đây được nữa. Cũng như một người đàn bà không bao giờ có thể sống lại trọn vẹn cái thời con gái của mình. Không bao giờ.

47. Nhìn lại lịch sử văn học nghệ thuật thế giới, người ta dễ phát hiện ra hai nghịch lý: thứ nhất, hầu như không có lúc nào và không ở đâu không có sự hiện diện của văn học nghệ thuật, hoặc dưới hình thức sơ khai, có tính dân gian, hoặc dưới hình thức chuyên nghiệp, gắn liền với những người sống hẳn bằng sáng tác; thứ hai, những cái được gọi là văn học nghệ thuật ấy rất khác nhau; khác từ văn hoá này sang văn hoá khác; trong một nền văn hoá, khác từ thời này sang thời khác; trong cùng một thời, khác từ người này sang người khác; khác đến độ người ta dễ ngỡ không có cái gọi là văn học nghệ thuật nói chung, trừ, may ra, một điều căn bản nhất: chất liệu. Nghịch lý ấy dẫn đến một số hệ luận: một, dù có tính chất phổ quát, văn học nghệ thuật vẫn có tính chất văn hoá hơn là tự nhiên; hai, là văn hoá cũng có nghĩa là cái gì được tạo thành chứ không có sẵn; và ba, cái-được-tạo-thành nào cũng có tính lịch sử và hơn nữa, đều có khả năng được tạo thành tiếp hoặc tạo thành lại. Chủ nghĩa hậu hiện đại, một mặt, hoài nghi tính lịch sử, nhưng mặt khác, lại sẵn sàng đảm nhận vai trò tạo thành lại cái gọi là văn học nghệ thuật.

48. Nghệ thuật không phải là những gì có sẵn: Vậy, những gì có sẵn (readymade) cũng có thể trở thành nghệ thuật: Đó sáng kiến của Marcel Duchamp, một trong những sáng kiến có ý nghĩa cách mạng lớn nhất trong lịch sử nghệ thuật thế kỷ 20, và có ảnh hưởng rất sâu đậm đến mỹ học hậu hiện đại chủ nghĩa.

49. Viết để ngay cả những điều phức tạp nhất cũng có thể được đọc và được hiểu là một cái thú. Viết để đạt đến cái cõi bất khả độc (unreadability) và bất khả quyết (undecidability) lại là một cái thú khác, cái thú thám hiểm vào những vùng biên ải xa xôi không những hiếm người mà còn hiếm cả ánh sáng nữa; ở đó, người ta có thể đùa nghịch với bóng tối và sự vắng vẻ đầy thanh khiết.

50. Tôi đọc được, đâu đó, câu chuyện cười về cuộc đối thoại giữa hai nhà hậu hiện đại chủ nghĩa. Người thứ nhất: “Hai nhà hậu hiện đại chủ nghĩa không bao giờ đồng ý với nhau về bất cứ điều gì.” Người thứ hai: “Ông nói đúng.”