Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Bảy, 2 tháng 9, 2017

NHỮNG CHUYỆN KINH HÃI VỀ VỤ NĂM CAM

 


Hoàng Hải Vân

 - Tôi là người viết những bài báo đầu tiên vạch trần việc bảo kê cho Năm Cam của cả 3 cán bộ cấp cao : Tổng Giám đốc Đài Tiếng nói Việt Nam, Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hội Nhà báo Việt Nam Trần Mai Hạnh, Trung tướng Thứ trưởng Bộ Công an Bùi Quốc Huy và Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao Phạm Sỹ Chiến. Trong đó, ông Trần Mai Hạnh và Bùi Quốc Huy là ủy viên Trung ương Đảng.
Image result for nguyên công khế
Anh Khế, hình ảnh hào sảng oai phong của một Tổng Biên tập
Giờ nghĩ lại vẫn thấy kinh hãi, nếu như ba ông đó không mất chức thì chắc chắn tôi dù có chạy lên núi cũng không tìm được đất sống. Tổng Biên tập Báo Thanh Niên Nguyễn Công Khế nói với tôi trước khi cho đăng những bài đó, rằng anh chấp nhận “về vườn”, nhưng tôi chắc anh dù có “về vườn” cũng khó mà sống sót.

Tôi nói khó sống sót là nói theo nghĩa đen. Bởi vì nếu cuộc họp Ban chấp hành Trung ương Đảng diễn ra sau khi có bài báo về ông Bùi Quốc Huy mà không bỏ phiếu kỷ luật được ông thì toàn bộ hồ sơ về ông sẽ bị xếp xó, và ông có khả năng sau đó trở thành Bộ trưởng Công An. Và cuộc họp đó đã bỏ phiếu kỷ luật ông với tỷ lệ 60%, nghĩa là chỉ cần có thêm hơn 10% số ủy viên Trung ương một chút không tán thành kỷ luật thì không những chúng tôi chết chắc mà vụ án Năm Cam sẽ chẳng bao giờ được đem ra xét xử. Chúng tôi chết chỉ là chuyện nhỏ, tội phạm tiếp tục hoành hành mới là chuyện lớn.

Có người nói tướng Nguyễn Việt Thành đã “dùng báo chí để làm án”, nói như vậy là không biết gì về sự thật. Chẳng một ai trong Ban chuyên án vụ Năm Cam xúi chúng tôi làm việc đó cả. Vả lại Ban chuyên án lúc đó rất yếu thế tại Bộ Công an, họ không có nhiều điều kiện để tiếp cận hồ sơ liên quan đến đường dây bảo kê tội phạm. Ông Nguyễn Việt Thành sau khi bắt Năm Cam đã bị ông Bùi Quốc Huy gọi điện chửi đến nóng máy điện thoại, ông dẫu có gan bằng trời cũng không dám xúi người khác động đến ông Bùi Quốc Huy. Anh Nguyễn Công Khế phải dắt ông Nguyễn Việt Thành đến gặp ông Sáu Dân để được trấn an. Cho nên tự chúng tôi có những điều tra theo các nguồn tin riêng không liên quan gì đến Ban chuyên án.

Đại tá Nguyễn Hữu Ngọc, người trực tiếp bắt Năm Cam lần thứ nhất năm 1995, đã không được phân công tham gia Ban Chuyên án lần này. Ông Ngọc chẳng bức xúc gì việc ông không tham gia Ban chuyên án. Điều ông bức xúc từ lâu là người ta đã thả Năm Cam ra và chính một vài lãnh đạo Bộ Công an (như ông Bùi Quốc Huy) cùng một bộ phận cảnh sát cơ quan công an TP.HCM đã bảo kê cho những hoạt động phi pháp tày đình của Năm Cam. Biết ông Ngọc nắm được nhiều thông tin, chúng tôi có hỏi ông chuện này chuyện kia nhưng nhất định ông không cung cấp bất cứ một tin tức gì. Ông là một cán bộ điều tra hình sự rất có nguyên tắc. Ông chỉ nói me mé con đường đi tìm tài liệu, tìm không được hỏi lại cho rõ đường thì ông im. Cuối cùng thì tự chúng tôi cũng tìm được toàn bộ những tài liệu liên quan đến ông Trần Mai Hạnh và Phạm Sỹ Chiến. Hỏi ông những tài liệu đó đủ chưa thì ông không trả lời. Chúng tôi phải kiểm chứng nhiều nguồn khác nhau và thu thập hết những tài liệu có liên quan. Khi thấy đủ cơ sở, Tổng Biên tập phân công tôi viết bài.

Lẽ ra bài tôi viết về ông Trần Mai Hạnh được đăng trước cái ngày đăng chính thức là ngày 2-5-2002 một tuần lễ. Nhưng khi bài báo đã lên khuôn thì ông Hồng Vinh, lúc đó là Phó Trưởng ban Tư tưởng văn hóa trung ương (nay là Ban Tuyên giáo) gọi điện cho Ban Biên tập ra lệnh cấm đăng. Như vậy là việc đăng bài về ông Trần Mai Hạnh đã bị lộ. Sở dĩ bị lộ là do ở Hà Nội anh Nguyễn Việt Chiến quá hăng hái với vụ việc, đã đi gặp người này người kia để phỏng vấn, nên sự việc đến tai ông Hồng Vinh.

Là tờ báo gần như đơn độc (có thêm báo Tiền phong tiếp sức) vạch mặt tội ác của Năm Cam trước khi Năm Cam bị bắt lần thứ nhất, nên Thanh Niên hiểu hơn ai hết, rằng nếu không triệt phá được đường dây bảo kê cho Năm Cam thì trước sau gì Năm Cam cũng được thả ra. Lần thứ nhất thả ra, tập đoàn tội phạm này phát triển với quy mô lớn hơn, tàn bạo hơn. Nếu thả ra một lần nữa thì tác hại sẽ khôn lường. Cho nên phải vạch mặt cho được những kẻ bảo kê, trước tiên là ông Trần Mai Hạnh.

Tôi còn nhớ, ngày 30-4 tôi xuống vườn nhà anh Khế ở quận 9. Tôi phân tích với anh, rằng chúng ta chưa đăng thì họ cấm, nhưng nếu chúng ta cứ đăng thì tôi chắc họ chẳng thể làm gì được chúng ta, vì làm khó chúng ta họ sẽ mang tiếng là bảo kê cho Năm Cam. Tôi nói vậy vì tôi biết anh Khế cũng đang tính toán. Anh bảo tôi, mai ngày lễ (1-5) rồi, để tối mai tính.

Tối ngày 1-5, tôi chuẩn bị trang báo đã dàn sẵn đợi anh đến. Anh đến tòa soạn cầm trang báo đọc kỹ, đi tới đi lui, đọc thêm một lần nữa, rồi đi tới đi lui. Cuối cùng, anh cầm máy điện thoại giơ lên, đưa trang báo cho tôi, nói : “ĐM, đăng !”, vừa nói vừa tắt máy điện thoại, đút túi quần lên xe đi thẳng về nhà. Đó là hình ảnh hào sảng oai phong nhất của một Tổng Biên tập mà tôi không bao giờ quên được.

Sáng hôm phát hành báo, tất cả điện thoại đều nghẽn vì bạn đọc gọi tới tấp đến hoan nghênh. Nhưng ở Hà Nội thì im phăng phắc. Im phăng phắc trong nhiều ngày liền. Để tự vệ, tôi đến phỏng vấn ông Sáu Dân. Ông hoan nghênh báo Thanh Niên và nói báo Thanh Niên đã “phá một cái lệ”, là lần đầu tiên phanh phui chuyện tiêu cực của một Ủy viên Trung ương Đảng trên mặt báo. Nhiều ngày sau, anh Đỗ Quý Doãn, Thứ trưởng Bộ Văn hóa Thông tin mới gọi điện cho anh Khế cười đùa vui vẻ. Tôi nghe nói lại rằng ông Nông Đức Mạnh Tổng Bí thư lúc đó có nói, đó là “quyền của báo chí”. Nghe như vậy mới thấy nhẹ nhõm. Mãi tới 1 tuần sau thì các báo khác mới dám đăng về chuyện của ông Trần Mai Hạnh, sau khi không thấy Thanh niên bị làm sao. Đây mới là bài báo mở đầu.

Nếu chuyện về ông Trần Mai Hạnh là “phá một cái lệ”, là cấm đăng nhưng vẫn cứ đăng, thì chuyện về Trung tướng Thứ trưởng Bộ Công an Bùi Quốc Huy (Năm Huy) chẳng khác gì nhảy vào lửa.
Tác giả, nhà báo Hoàng Hải Vân
Ông Năm Huy từng làm Giám đốc Công an TP.HCM, rồi làm Tổng cục trưởng Tổng cục An ninh trước khi trở thành Thứ trưởng Bộ Công an phụ trách xây dựng lực lượng, quyền to như núi. Thời ông làm Giám đốc Công an thành phố là thời Năm Cam lộng hành coi trời bằng vung, dư luận có bàn tán về mối quan hệ giữa ông với tập đoàn tội ác này, nhưng dù có chứng cứ cũng chẳng ai làm gì được ông. Ủy ban Kiểm tra Thành ủy TP.HCM cũng đã có kết luận về mối quan hệ này, nhưng hồ sơ vẫn bị xếp xó và ông Năm Huy vẫn được thăng hàm Trung tướng.


Tập đoàn tội ác Năm Cam được bảo kê không phải chỉ sau này. Hồi bắt Năm Cam lần thứ nhất (1995) cũng gặp không ít sự cản trở của những người bảo kê có quyền chức, nhưng Thủ tướng Võ Văn Kiệt lúc đó rất kiên quyết, đến mức ông bảo ông “thế chấp chức Thủ tướng” để yêu cầu bắt Năm Cam. Không phải ông Sáu Dân dùng quyền uy của Thủ tướng để ra lệnh bắt người, ông có đủ chứng cứ nên yêu cầu thực hiện theo đúng trình tự của pháp luật. Nhưng người ta đã âm thầm thả Năm Cam ra. Sau khi ông Sáu Dân thôi làm Thủ tướng, tập đoàn tội ác này phát triển mạnh mẽ, giăng lưới khắp nơi, coi TP.HCM là nơi vô pháp, là lãnh địa riêng của chúng. Đến mức, tại TP.HCM hồi đó, ai muốn mở một cửa hàng, một quán karaoke, một tiệm gội đầu cắt tóc… nếu không “nhờ” Năm Cam bảo kê thì đừng hòng hoạt động được.

Từ sau khi ra khỏi trại cải tạo, Năm Cam không bao giờ nghĩ mình có thể bị bắt một lần nữa. Bởi vì y đã thiết lập thêm những hàng rào bảo kê dày đặc, trên thì có người của các ông Bùi Quốc Huy, Phạm Sỹ Chiến và Trần Mai Hạnh, dưới thì có người của cơ quan cảnh sát điều tra và cảnh sát hình sự Công an TP.HCM, trong đó hàng rào bảo kê của Công an là an toàn vững chắc nhất. Năm Cam đã từng tính đường thoát bằng cách sang Campuchia dùng tiền mua một chức tướng, nếu như đường dây của y ở Việt Nam bị phá, nhưng có lẽ do thấy quá an toàn nên đã bỏ ý định đó. Bởi vậy mà khi bị bắt, y bất ngờ đến mức … đái ra quần.

Bắt Năm Cam lần thứ hai hoàn toàn không dễ. Phải có đủ chứng cứ. Cho nên, từ vụ án Dung Hà và đầu mối là Hải Bánh mới phăng ra được chứng cứ. Nhưng bắt Hải Bánh giam tại trại giam của Công an TP.HCM thì làm sao Hải Bánh chịu khai. Bởi vì, Hải Bánh biết rất rõ, chỉ cần khai ra Năm Cam thì những kẻ bảo kê cho Năm Cam trong cơ quan cảnh sát điều tra và cảnh sát hình sự Công an TP.HCM đời nào để cho Hải Bánh sống. Do đó, Ban chuyên án đã phải di lý Hải Bánh về Tiền Giang mới củng cố được chứng cứ bắt Năm Cam. Câu chuyện này chúng tôi đã tường thuật và phân tích đầy đủ trên báo Thanh Niên hồi ấy.

Vấn đề là phải phá cho được đường dây bảo kê từ lực lượng Công an, đứng đầu là trung tướng Bùi Quốc Huy.

Một hôm, Tổng Biên tập Nguyễn Công Khế bảo tôi đi cùng anh đến một nơi anh không nói trước. Đến nơi đó, chỉ một người tiếp chúng tôi tại phòng làm việc của ông. Người đó ông Lê Hồng Liêm (Sáu Liêm), Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Thành ủy TP.HCM. Ông Sáu Liêm chẳng nói chẳng rằng, giao cho tôi một tập hồ sơ. Đó là hồ sơ về những sai phạm của ông Bùi Quốc Huy liên quan đến Năm Cam. Tôi hỏi, tôi mượn về được không, ông nói không. Hỏi photocopy rồi trả lại được không, ông cũng nói không, rồi ngồi nói chuyện với anh Khế, mặc tôi muốn làm gì với tập hồ sơ đó thì làm. Tôi ngồi chép lại tất cả, từ ngày tháng, số hiệu hồ sơ cho tới nội dung, chép không sót một dấu chấm dấu phẩy nào.

Từ tài liệu đó cộng với một số nguồn tin khác được xác minh cẩn thận, tôi viết một bài báo dài chỉ 2 trang đánh máy. Anh Khế đã đọc đi đọc lại không biết bao nhiêu lần, rồi bàn với tôi liên lạc với cô Mai Nhung, Tổng Biên tập Báo Nông thôn ngày nay (NTNN) để “chia lửa”. Tôi gọi điện bàn với cô Mai Nhung, cô Nhung nhờ tôi viết một bài để NTNN đăng cùng một ngày với Thanh Niên. Khi hai tòa soạn cùng chuẩn bị đưa báo đi in thì 10 giờ đêm anh Khế đến. Anh bảo để NTNN đăng trước một ngày, hôm sau mình sẽ đăng. Tôi gọi điện cho cô Nhung, nhưng cô ấy hiểu nhầm là chúng tôi đưa cô ấy ra trước để “đỡ đạn”, nên NTNN cũng hủy không đăng. Lúc đó đã 12 giờ đêm, anh Khế gọi, nói nếu NTNN không đăng thì mình cho đăng luôn đi, nhưng không kịp vì báo đã đưa đi in rồi. Hôm sau Thanh Niên mới đăng bài đó, nhưng ngày Thanh Niên đăng thì NTNN không có báo, vì báo ấy ra cách ngày. Hôm sau nữa NTNN mới đăng. Cô Mai Nhung là một Tổng biên tập ôn nhu nhưng trung thực và quật cường. Tôi từng nghĩ tôi chỉ có thể làm báo được với hai Tổng biên tập là anh Khế và cô Mai Nhung mà thôi.

Và nếu ai để ý, sẽ thấy trong ngày Thanh Niên đăng bài này thì trên báo Nhân Dân cũng có một bản tin ngắn gọn về ông Bùi Quốc Huy, bản tin đó do chính tôi viết nhưng không ghi tên tác giả, qua một mối quan hệ tin cậy gửi đăng trên Nhân Dân, mục đích cũng là để “chia lửa”. Đến giờ tôi vẫn không hiểu sao Nhân Dân lại có thể đăng được bản tin đó.

Ngày phát hành báo, cả tòa soạn rúng động. Anh Miễn phòng phát hành đến sớm để giao báo, anh nói anh cầm tờ báo mà run. Anh run là đúng rồi, vì Thanh Niên đã bị kiểm điểm lên bờ xuống ruộng suốt nhiều tháng liền, thậm chí sau khi ông Bùi Quốc Huy bị khởi tố thì Thanh Niên vẫn chưa thoát tội. Sau này tôi mới nghe anh Khế nói lại, anh đã đưa cho ông Nguyễn Minh Triết (Sáu Phong) xem bài báo đó trước khi đăng, ông Sáu Phong nói đăng bài đó thì có lợi cho việc chống tội phạm nhưng rất nguy hiểm cho báo Thanh Niên và bản thân anh Khế, nhưng anh Khế vẫn cho đăng, bất chấp tất cả (chuyện này anh Khế cũng đã kể trên trang fb của anh ấy). Mãi đến vài ngày trước khi mở phiên tòa xét xử Năm Cam và đồng phạm thì Ủy ban Kiểm tra Trung ương Đảng mới chính thức kết luận báo Thanh Niên không sai phạm.

Trở lại chuyện đại tá Hữu Ngọc. Ông Ngọc tất nhiên chẳng cung cấp tin tức gì về ông Bùi Quốc Huy, nhưng sau khi báo đăng, ông gọi điện cho tôi, bảo bài viết rất tốt nhưng “ngắn quá, sợ không đủ áp lực để xử lý”. Tôi nói, anh có cung cấp tin tức gì đâu mà nói ngắn với dài. Ông Ngọc chỉ cười trừ.

Còn về ông Sáu Liêm, cho đến khi tôi đưa cái stt này đưa lên facebook thì câu chuyện vẫn nằm trong bí mật của ba người : ông ấy, anh Khế và tôi. Cả báo Thanh Niên không ai biết. Tất nhiên dù có đi tù, dù có cứa cổ tôi thì tôi cũng không khai cho ông ấy. Sau vụ án Năm Cam, ông Sáu Liêm được bầu làm Phó Chủ nhiệm Ủy bạn kiểm tra Trung ương Đảng. Tôi rất mừng vì một người cương trực như vậy đã được bầu vào cơ quan quyền uy như thế. Bây giờ ông đã về hưu, nói ra cũng chẳng ai đem cái chuyện ông làm “lộ bí mật” mà cách cái chức nguyên Phó Chủ nhiệm của ông được. Mà dù có cách cái chức nguyên Phó Chủ nhiệm kia thì cũng chẳng có gì nhục nhã như bao người khác, nó chỉ làm tăng thêm vinh dự cho ông mà thôi.

Ở đây có một bài học về xử lý thông tin tôi muốn gửi tới các nhà báo trẻ. Nếu như không phải tôi cùng với Tổng Biên tập tiếp cận trực tiếp tài liệu đó hoặc là tài liệu đó được lưu giữ tại một cơ quan thuộc ngành công an hoặc bị ngành công an chi phối thì nhất định không thể sử dụng. Bởi vì, ông Bùi Quốc Huy, bằng quyền lực của mình, rất có thể ra lệnh phi tang, như vậy chúng tôi sẽ phạm tội bịa đặt. Sở dĩ tài liệu đó có thể sử dụng là vì nó nằm ở một nơi mà ngành công an không thể can thiệp hoặc chi phối.

Chuyện liên quan đến ông Bùi Quốc Huy và vụ Năm Cam vẫn còn nhiều phức tạp đến với chúng tôi, tôi sẽ lần lượt kể tiếp ở phần sau (còn tiếp)

HOÀNG HẢI VÂN


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Tư liệu về GS Tương Lai:

Tuyên bố dứt bỏ mọi liên hệ với đảng Nguyễn Phú Trọng để tiếp tục chiến đấu với tư cách đảng viên Đảng Lao Động Việt Nam, đảng của Hồ Chí Minh
Tương Lai - 2.9.2017 - Tôi là Tương Lai, vào Đảng Lao Động Việt Nam ngày 6.1.1959, đảng do Hồ Chí Minh sáng lập và lãnh đạo, sau này đổi tên thành Đảng Cộng sản Việt Nam, hôm nay 2.9.2017 tuyên bố dứt bỏ mọi liên hệ với Đảng của Nguyễn Phú Trọng đang thao túng, để tiếp tục chiến đấu với tư cách một đảng viên Đảng Lao Động Việt Nam như ngày tuyên thệ đứng vào hàng ngũ Đảng của Hồ Chí Minh.

GS Tương Lai tại buổi lễ tưởng niệm những người con của 
đất nước đã ngã xuống bảo vệ Tổ Quốc. Nguồn: tư liệu
Chọn hôm nay, ngày Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập tuyên bố trước thế giới và với quốc dân đồng bào lý tưởng và mục tiêu chiến đấu nhằm xây dựng một nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được thể hiện trong Hiến Pháp 1946 để đưa ra tuyên bố này là nhằm khẳng định lý tưởng và mục tiêu nhất quán của tôi, không hề là một quyết định nhất thời bởi những nhân tố ngẫu nhiên.

Cách nay 15 năm, trong một tiểu luận chính trị “Chân lý là cụ thể”, đúc kết lại những bài viết của tôi trong vòng 10 năm trước, tôi đã chứng minh là không có cái gọi là “chủ nghĩa Mác Lênin”, mà đó chỉ là sản phẩm của Stalin được làm méo mó thêm qua lăng kính Mao-ít để du nhập vào Việt Nam mà xác định đó là “nền tảng tư tưởng”, là “kim chỉ nam”, để rồi ai có ý định nghiêm túc cần cẩn trọng tìm hiểu từ thực tiễn Việt Nam và thế giới, từ những thành tựu nghiên cứu của giới khoa học quốc tế có uy tín, thì đều bị bịt miệng và quy cho tội phản động, chống đảng.

Trong tiểu luận ấy, tôi đã nghiêm chỉnh và thẳng thắn đề nghị cần trở lại với tên Đảng là Đảng Lao Động Việt Nam, trở lại với tên nước là Nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, lấy tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng cho lý luận phát triển của Việt Nam. Ở đó, tôi trình bày rõ tư tưởng Hồ Chí Minh là sự tích hợp và vận dụng nhuần nhuyễn những thành tựu của trí tuệ loài người, trong đó có Phật giáo, Khổng giáo từng hòa quyện với truyền thống dân tộc đã chìm sâu trong kết cấu hạ tầng tâm lý xã hội Việt Nam và chủ nghĩa Mác. Với Mác, Hồ Chí Minh đã thực hiện một tiếp biến, loại bỏ những sai lầm về lý thuyết, giữ lấy những giá trị bền vững qua kiểm nghiệm của thời gian, tiếp thu và vận dụng sáng tạo những tinh hoa tư tưởng đó vào thực tiễn cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng con người của Việt Nam. Bằng cách đó, tư tưởng Hồ Chí Minh là sự gặp gỡ lịch sử giữa truyền thống và hiện đại trong thế kỷ XX. Tiểu luận ấy tôi đã gửi đến Hội đồng Lý luận TƯ và nhiều vị lãnh đạo song chỉ có hai người có phản hồi và trao đổi trực tiếp là Thủ tướng Võ Văn Kiệt và Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Di bút của Đại tướng còn ghi rõ: “Chúc đc Tương Lai có những đóng góp mới vào lý luận của Đảng” Hànội ngày 27/9/2006. Võ Nguyên Giáp Đã ký”.

Kiên trì dấn thân vào cuộc đấu tranh trên bình diện tư tưởng và lý luận một cách công khai, tôi hy vọng bằng sự minh bạch đó, có thể góp phần nhỏ bé của mình cùng với những người khác làm thay đổi thực trạng của hệ tư tưởng giáo điều, bảo thủ đang dìm đất nước trong trì trệ lạc hậu, làm hao mòn sức sống của dân tộc trước một thế giới đang biến động từng ngày. Đấy là lý do để tôi nhẫn nhục tiếp tục ở lại trong Đảng cho dù biết rằng, những Nông Đức Mạnh, Nguyễn Phú Trọng, với sự hậu thuẫn trực tiếp của nhà cầm quyền Bắc Kinh đang thao túng Đảng thì không còn gì là Đảng của Hồ Chí Minh nữa. Nhưng cũng lại có một thực tế oái oăm là, hiện nay chưa có một lực lượng chính trị nào đủ mạnh để có thể thay thế được đảng đang nắm quyền bằng hệ thống “chuyên chính vô sản” được cài cắm đến tận cơ sở.

Cho dù vậy, sự phân hóa trong nội bộ các cấp, đặc biệt là ở cấp cao nhất, các nhân tố cấp tiến chống lại sự trì trệ bảo thủ giáo điều cũng là một thực tế. Đó là một tất yếu phổ biến của mọi thực thể sống, luôn diễn ra “cuộc chiến đấu chống lại những gì đã cũ kỹ, hư hỏng để tạo ra những cái mới mẻ tốt tươi” mà Hồ Chí Minh đã viết trong Di chúc. Cái mới sẽ thắng là không gì cản được. Bằng sự đấu tranh của từng đảng viên có lương tri, sự quyết liệt của của cuộc đấu tranh đòi dân chủ, đòi quyền sống trong các tầng lớp nhân dân đang dâng lên ngày càng mạnh mẽ thì những gì đã cũ kỹ, hư hỏng trong bộ máy quyền lực duy trì chế độ toàn trị phản dân chủ sẽ bị lật nhào. Vấn đề chỉ còn là thời gian.

Thế nhưng thời gian không chờ đợi. Càng không suôn sẻ trong sự chờ đợi những gì mình mong muốn. Cho dù đã biết trước những trở ngại to lớn đang chờ đón, tôi cũng không lường trước những thủ đoạn bẩn thỉu mà người ta đã gây ra tầng tầng lớp lớp cho thiện chí phản biện hết sức trung thực và thẳng thắn một cách ôn hòa, không sa vào quá khích cực đoan mà tôi đã bền bỉ thực hiện trong nhiều năm qua. Từ những tham luận công khai trên diễn đàn của Mặt trận Tổ Quốc Việt Nam mà tôi là ủy viên TƯ suốt hơn 30 năm qua đến những bài viết trên các báo chính thống, những trang mục thường kỳ của một số báo ở trung ương và ở thành phố HCM, tham luận tại nhiểu hội thảo trong đó có Hội thảo “Về Phương pháp luận nghiên cứu chủ thuyết phát triển và tư tưởng Hồ Chí Minh” theo lời mời của Hội đồng lý luận TƯ ngày 6.4.2009.v.v... và nhiều hoạt động lý luận, khoa học khác, tôi đều nhất quán với nguyên tắc đó. Khi bị cấm không được xuất hiện trên các báo chính thống của nhà nước cũng trên nguyên tắc đó tôi viết bài đưa lên mạng trong mục “Mênh mông thế sự” và “Mênh mông thế sự để gió cuốn đi” nhằm chuyển tải những ý tưởng vừa mang tính phản biện, vừa diễn đạt chính kiến và cảm nhận của tôi về thời cuộc.

Cho đến bài “Ngọn lửa vẫy gọi” tôi viết để tưởng niệm Lưu Hiểu Ba, nhà văn Trung Quốc, giải Nobel Hòa Bình vừa qua đời, phải chăng đã động đến “thiên triều” nên đã có “chiếu chỉ” ban ra, lập tức sự cố nảy sinh.? Có phải vì thế mà một kịch bản được dàn dựng lộ liễu và bẩn thỉu nhằm bôi nhọ tôi để bằng mọi cách phải “khai trừ” tôi ra khỏi đảng ngay để vừa lòng ai đó theo chỉ thị của cấp trên? Đây chỉ là giọt nước tràn ly. Trò hề này thật hài hước và nhục nhã, tuy bước đầu thất bại nhưng chắc chắn sẽ phải thực hiện trong thời gian tới như một số trường hợp họ đã làm trước đây.

Vì vậy sẽ là ngu ngốc nếu tôi lại tiếp tục nói nói cười cười với những rôbốt vô hồn vô cảm, vừa mới hôm qua tôi đã xúc động nói những lời cám ơn thật lòng vì đã thông cảm vởi bệnh tật đang hành hạ người đảng viên già có giấy miễn sinh hoạt đảng đã đến nhà để trao đổi nội dung viết kiểm điểm gửi cho chi ủy trình bày trước chi bộ chứ không phải trực tiếp đến, thì hôm sau trước toàn thể chi bộ, ông bí thư tội nghiệp đã lật lọng vu khống là tôi không chịu đến, chi bộ cứ việc biểu quyết.

Tôi sẽ không phải viết ra những bịa tạc vu khống khác từ những “cấp trên” đến “chỉ đạo” hội nghị chi bộ thực hiện kịch bản soạn sẵn từ bên trên đã bị mấy đảng viên phản đối, mà chỉ muốn nói rằng, những nhẫn nại nhằm thực hiện thiện chí của tôi đã trở nên quá vô nghĩa. Kể cả sự tự kiềm chế để vẫn viết “Bản trình bày” về nội dung “kiểm điểm” được cho là của cấp trên đưa ra đã tự vạch trần sự lố bịch và lộ liễu những sai lầm về đường lối đối nội và đối ngoại, và đến sự kiện này thì quá hèn hạ. ** Sẽ phung phí thời gian và sức lực để phải tiếp xúc với vô vàn những “rô bốt” đáng thương chỉ biết cúi đầu tuân phục. Đã đến lúc phải dứt bỏ mọi dính líu với mớ hỗn tạp này.

Tôi phải tìm một phương thức đấu tranh mới. Tôi sẽ chiến đấu trong tư thế, và chỉ bằng tư thế đó của một đảng viên Đảng Lao Động Việt Nam của Hồ Chí Minh suốt mấy chục năm qua kể từ lúc vào Đảng cho đến những thời kỳ tha hóa ngày càng trầm trọng của một bộ phận chóp bu thao túng, làm băng hoại uy tín và tính chất trong sáng của Đảng, đặc biệt là từ đại hội X.

Tôi hiểu rõ tôi không hề đơn độc. Trong Đảng còn nhiều đảng viên giữ được lý tưởng và phẩm cách đảng viên Đảng của Hồ Chí Minh, họ đã và đang thầm lặng nung nấu ý chí chiến đấu và bằng những cách riêng của mỗi người đã, đang và sẽ đấu tranh làm cho Đảng trong sạch trở lại, xứng đáng với vai trò lịch sử mà Đảng của Hồ Chí Minh từng có để cùng dân tộc đi tới trong bối cảnh mới. Đương nhiên, trong bối cảnh mới ấy, mục tiêu và phương thức đấu tranh phải thích ứng với đòi hỏi mới của cuộc sống đang thay đổi từng giây từng phút để dẫn tới những đột phá.

Khát vọng xây dựng đất nước của lớp người đã ngoài 80 là những người lót đường như tôi “sẽ được quyết định khi một thế hệ mới sẽ lớn lên…Khi những con người như thế xuất hiện, họ sẽ vứt bỏ tất cả những điều mà theo quan niệm hiện nay họ phải làm: họ sẽ tự biết cần phải làm như thế nào” như F. Engel đã tiên đoán. Những con người như thế đang xuất hiện, và ngày càng nhiều. Chính họ sẽ quyết định cần phải xây dựng một Đảng lãnh đạo thế nào để đưa đất nước vượt khỏi vũng lầy hiện nay, khiến cho dân tộc đang phải đắm chìm trong tăm tối bứt lên trong ánh sáng văn minh, ngẩng cao đầu đi tới như ông cha ta đã từng viết nên những trang sử chói lọi trong thời đại của các vị. Lớp trẻ ấy sẽ quyết định vận mệnh của đất nước, đưa dân tộc bứt lên cùng thế giới.

Với nhận thức đó, tôi tiếp tục dấn bước trong cảm hứng “Hành khúc” của nhà thơ Pháp từng giữ nhịp đập cho trái tim yêu nước trong tôi “Giữa mùa phản phúc. Tối đen tù ngục. Suối đã đục dòng. Chỉ lệ còn trong … Những gì ta yêu phải cứu thoát ra. Tự mình ta, tự mình ta”!

Ngày 2.9.2017
Tương Lai
(Bauxitevn)


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Đã có lúc câu thơ buồn, vị đắng:


VŨ TỪ TRANG
BAY
Đôi khi anh bay lưng trời
hai cánh vẫy vùng cùng chuồn chuồn kim, sẻ đồng, cùng rau rệu,
rau lang, cả cây mít cây na góc vườn vừa bói quả
anh bay bằng cánh đồng đầm sen vào hạ, những cánh hoa, những búp sen
và tơ sen bỡ ngỡ
có khi bay bằng phúc đức mẹ cha phù hộ
và nhiều khi bay cùng trang sách cũ
những ông Đôtx, ông L.Tônxtôi, ông Pautôpxki, ông Nguyễn Du và cô Kiều
ân cần nâng đỡ
câu thơ tơ trời cao cao mặt đất cần lao.
Cả những gì anh đã khát khao
bay lên từ phận đời lam lũ
mây thanh tân và gió phong lưu
nắng mật ong nhuộm hồn thu ngây ngất.
Rồi giữa chặng bay, bỗng dưng anh chết
chết như động cơ máy bay nổ tung trên vòm trời
chết như hạnh phúc đỉnh cao chót vót
chết như nỗi buồn bong bóng tuổi thơ vỡ tan.
7-2017

VŨ TỪTRANG
DÂY NỐI
Lúc chào đời, bé bỏng sinh linh con được mẹ truyền sự sống
bằng sợi nhau nối liền cuống rốn
mẹ chắt lọc bao tinh túy, bổ dưỡng từ thân thể mẹ cho con
gạt hết đắng cay, mẹ dành ngọt ngào
con lớn lên từ sợi dây nhau yêu thương của mẹ.
Nay con lâm bệnh
mẹ không còn để che chở cho con
sự sống của con lại được nối với dây truyền hóa trị
thuốc đắng dã tật
thân thể con mong manh nuốt từng dòng thuốc độc
cái độc ác, tối tăm này có cứu được đời con?
sao nó ngược với dây nhau ngọt ngào của mẹ thương con.
7-2017
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thứ Sáu, 1 tháng 9, 2017

"NGUYÊN KHÍ" VÀ THÂN PHẬN KẺ SỸ...


 
"NGUYÊN KHÍ" VÀ THÂN PHẬN KẺ SỸ...

Đặng Văn Sinh

Mở đầu tác phẩm, Hoàng Minh Tường dẫn lời Thân Nhân Trung soạn cho văn bia tiến sĩ đề danh khoa thi năm Nhâm Tuất (1442), trong đó có đoạn “…Hiền tài là nguyên khí của quốc gia. Nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh mà hưng thịnh, nguyên khí suy thì thế nước yếu mà thấp hèn. Vì thế các bậc đế vương thánh minh không đời nào không coi việc giáo dục nhân tài, kén chọn kẻ sĩ, vun trồng nguyên khí quốc gia làm công việc cần thiết…”. Hoàng Minh Tường lấy Nguyên Khílàm tựa đề, người đọc không mấy khó khăn cũng hiểu được tư tưởng chủ đạo của nhà văn khi ông viết cuốn tiểu thuyết lịch sử này. Nói cách khác, Nguyên khí chính là hồ sơ tổng hợp dưới dạng văn chương của giới trí thức Việt Nam thời kỳ chế độ phong kiến thông qua hình tượng điển hình: Nguyễn Trãi – Nguyễn Thị Lộ.

Qua tư liệu lịch sử từ các văn bản chính thống còn lại, người ta nhận ra, có một sự khác biệt căn bản nếu so với các vương triều phong kiến chuyên chế trước và sau nó. Đó là việc sát hại hoặc vô hiệu hóa hàng loạt công thần khai quốc ngay khi chính quyền vừa mới được kiến lập theo phương thức “điểu tận cung tàng”, dẫn đến khủng hoảng chính trị mà mãi mấy chục năm sau Lê Thánh Tông mới khắc phục được.

Bối cảnh của tiểu thuyết Nguyên khí được xây dựng vào đúng giai đoạn “nhạy cảm” ấy. Đây cũng chính là thời kỳ mà người trí thức phong kiến bộc lộ rõ bản chất nhu nhược của họ, tuy có tài kinh bang tế thế, nhưng bị chi phối bởi tư tưởng trung quân mù quáng, lại không có thực quyền trong tay, nên đành mang tiếng là hèn, chịu khuất phục trước cường quyền để bảo toàn mạng sống. Có thể nói, ngay sau khi lưỡi đao tàn độc của hoàng hậu Nguyễn Thị Anh cướp đi sinh mạng 217 nạn nhân, vụ thảm án Lệ Chi Viên đã đặt ra những câu hỏi lớn về lương tâm, trách nhiệm và luật pháp đối với nhà cầm quyền. Biết rõ là một vụ án oan, hơn thế, hai nhân vật chính bị hành quyết lại là ân nhân từng cứu mạng, vậy mà Lê Thánh Tông, với tư cách là Nam thiên Động chủ, chỉ dám chiêu tuyết một cách nửa vời. Gần sáu trăm năm qua., lịch sử dường như vẫn còn bỏ ngỏ. Có thể xem, Nguyên khí của Hoàng Minh Tường, chính là cuốn sách trả lời những câu hỏi đó…

Câu chuyện khởi nguồn từ sự kiện tìm ra tập "Long Thành tạp ký" bằng chữ Hán của Ứng Nhân Đoàn Khâm từ năm trăm năm trước gồm 5 quyển ghi chép về Nguyễn Trãi và "Vụ án Lệ Chi Viên" do hai ông "cò" văn hóa Cao - Tháp làm trung gian, và kết thúc cũng bằng một sự kiện động trời, khi bọn trộm, nửa đêm đột nhập vào từ đường họ Đoàn lấy đi bộ sách quý.

Nguyên khí gồm 19 chương và "Phần cuối truyện" được bố trí xen kẽ 16 chương "kể chuyện" lịch sử theo nguyên tác của "Long Thành tạp ký" với 4 chương viết về thời hiện đại kết hợp những đoạn bình luận sắc sảo về thế sự, chính trị, văn chương, cùng những nhân vật có liên quan đến số phận bộ sách cổ là Hoàng giáo sư , “Thọt Bỉ nhân”, Chủ nhiệm Huỳnh Đạo, viên trung tá an ninh Phillip và hai ông quan chức "buôn văn hóa" rất có chính kiến Cao và Thấp.

Kiểu viết xen kẽ xâu chuỗi này không mới ở tiểu thuyết hiện đại, nhưng với tiểu thuyết lịch sử, nhất là lịch sử Việt Nam, thì đây là tác phẩm đầu tiên sáng tác theo khuynh hướng này. Đương nhiên ta có thể coi đó là sự đổi mới về mặt thi pháp.

Yếu tố hiện thực và yếu tố hư cấu luôn song hành tạo nên những trường đoạn kịch tính, dẫn dụ người đọc như là lạc vào một không gian nghệ thuật đầy màu sắc với những mối quan hệ rằng rịt, phản ánh tinh thần lịch sử thời đại và hai nhân vật ở trung tâm là Nguyễn Trãi và Nguyễn Thị Lộ. Đọc Nguyên khí, người ta cảm thấy như bị đắm chìm trong không khí lịch sử thời Lê sơ, nhưng bỗng chốc lại "bị" tác giả kéo về thời hiện đại với những vấn đề thời sự xã hội nóng bỏng, buộc ta không thể ngoảnh mặt làm ngơ mà phải trăn trở, suy ngẫm về tương lai đất nước, dân tộc…

Về hình thức, Nguyên khí được xem như loại tiểu thuyết chương hồi, bao giờ cũng được mở đầu bằng câu "Bây giờ lại nói về..." hoặc “Lại nói về…”, nhưng hơi văn, mạch văn, khí văn và nhất là cách xử lý bố cục, tình huống và hình tượng nhân vật thì hoàn toàn hiện đại. Có thể nói, ở đây, tác giả chỉ sử dụng lối "giễu nhại" như một kiểu hoạt kê của loại tiếu lâm dân gian, còn hồn cốt của nó vẫn luôn "chính tắc", tuân thủ khá nghiêm túc thi pháp tiểu thuyết lịch sử.

Thực ra, Nguyên khí không chỉ dừng lại ở một tiểu thuyết lịch sử, cho dù Hoàng Minh Tường đã thành công trong việc dùng hình tượng văn học tôn vinh hai nhân vật lịch sử lỗi lạc đầu triều Lê: Ức Trai tiên sinh và Đức Bà Lễ nghi học sĩ. Nguyên khí còn mang phong cách của một chuyên luận bằng hình tượng, nghiên cứu về thân phận người trí thức Việt xuyên suốt các thời đại trong mối tương quan với nhà cầm quyền, từ đó quy nạp được bản chất của tầng lớp nguyên khí này như một hiện tượng có tính phổ biến.

Kết cấu "xâu chuỗi" có vẻ như khá tương thích với phương pháp sáng tác "Hậu hiện đại". Các sự kiện diễn ra trong tiểu thuyết không liên tục theo nguyên tắc tuyến tính mà luôn bị gián cách về không gian, thời gian, tạo nên những khoảng lặng để người đọc suy nghĩ, phán đoán và đưa ra những kết luận của riêng mình. Có thể thấy cách bố cục “phân mảnh” mang lại hiệu quả đáng kể đối với sự tiếp nhận của người đọc. Ví dụ đang viết về người nữ tượng nhân tài hoa Bùi Thị Hý với những lò gốm Chu Trang nổi tiếng một thời bằng lối hành văn truyền cảm đầy ma lực thì bất chợt tác giả nhảy cóc năm thế kỷ, kể về cái chân thọt của Bùi La Việt bị xe tằng cán phải trong đêm cùng với Tiểu Mẫn tham gia biểu tình trên quảng trường Thiên An Môn. Đáng chú ý hơn là lời kể của tác giả mang đậm phong cách giễu nhại của tiểu thuyết Hậu hiện đại về một sự việc hoàn toàn không có gì đáng cười. Hay, vừa dứt chương “Sử thần Ngô Sĩ Liên” hoàn toàn nghiêm túc, ẩn dụ về cái hèn truyền kiếp của những trí thức được gọi là kẻ sĩ trước cường quyền thì nhà văn lại dẫn ra một hình ảnh khá là bi hài, tạo nên trận cười ra nước mắt ở chương “Chủ nhiệm Huỳnh Đạo”. Ấy là vào ngày 17 tháng 12, các thành viên ban lãnh đạo CLB rủ nhau ra viếng hương hồn liệt sĩ ở Đài Bắc Sơn Hà Nội. Lúc mới đầu các vị hăng hái lắm, thế nhưng đến khi công an chặn đường cùng với những lời thuyết phục của Phillip, thế là đoàn bị cắt đuôi, chỉ còn mỗi hai người đi đầu.

Có thể nói tính giếu nhại ở đây đã tham gia với tư cách là một phương tiện biếu đạt tư tưởng thẩm mỹ, không chỉ giới hạn ở những chương thuộc về thời hiện tại, mà ngay cả với lịch sử, đôi khi tác giả cũng sử dụng thủ pháp này. Điển hình hơn cả là đoạn Lê Nhân Tông chưa đủ hai tuổi được đặt lên ngôi Hoàng đế, dưới sự nhiếp chính của Hoàng thái hậu Nguyễn Thị Anh. Ông vua nhí này lúc lâm triều, bỗng nhiên “phịch một bãi ra hoàng bào rồi ngỏng chim tè vào mặt các quan đại thần”. Ấy vậy mà các quan xúm nhau lại xưng tụng đó là điềm lành.

Tuy nhiên tính giễu nhại đậm đặc hơn cả thường được tác giả gài vào các trang bình luận hành trạng của hai cán bộ “buôn văn hóa” với những mánh khóe lừa bịp ông trưởng họ Đoàn về 5 cuốn sách cổ cũng như những lời tự trào phảng phất thói lưu manh qua những toan tính thớ lợ.

Cao và Thấp là hai nhân vật khá độc đáo được miêu tả cả ngoại hình lẫn hành vi một cách khái quát nhưng rất điển hình, rất sinh động cho một kiểu nhân vật có tính cách phức tạp. Hai nhà văn hóa này có thể được xem như những cá thể được hình thành sau quá trình phân mảnh tiểu thuyết tiêu biểu cho khuynh hướng Hậu hiện đại. Họ hiện diện trong Nguyên khí chỉ là nhân vật ngoại biên, nhưng thực ra lại là nguyên nhân của mọi nguyên nhân. Đó là cặp bài trùng thuộc loại “lưỡng cư” mang gene đột biến xuyên suốt sáu thập kỷ, không tìm thấy ở bất cứ bộ tiểu thuyết sáng tác theo phương pháp Hiện thực XHCN nào trước đây. Dưới con mắt của nhà chức trách thông qua trung tá Philip, thì Cao và Thấp là “hai ông buôn văn hóa”, nhưng thực chất họ là những con người đầy bản lĩnh, có học vấn đáng nể và một phông văn hóa không “lùn”. Nếu chỉ xét về ngoại hình( đối lập nhau như Don Quijote - Sancho Panza), và cách chơi sành điệu (xe hơi Vios, bật lửa Zippo khủng, tẩu thuốc nạm vàng 24k vốn là vật tùy thân của cụ Nguyễn) cũng như những lời thì thầm bàn nhau âm mưu chiếm đoạt bộ “Long thành tạp ký” để bán cho một đai gia chơi đồ cổ Sài Gòn, thì ta không còn phải băn khoăn khi xếp họ vào thành phần văn hóa lưu manh. Có điều, nếu chỉ như thế thì Cao và Thấp không phải là nhân vật đáng quan tâm. Cái khác người ở Hoàng Minh Tường là, ông đẩy hai “nhà buôn” này lên một cấp độ mới, thoát ly hẳn hệ thẩm mỹ truyền thống như là một sự đổi mới thi pháp tiểu thuyết. Nói chính xác, ngoài phẩm chất lưu manh, Cao và Thấp còn là sản phẩm tất yếu của thiết chế văn hóa thời đại mới được hình thành mấy chục năm gần đây, bao hàm cả mặt sáng và phía âm u của nó. Nếu như, lúc ở nhà ông trưởng họ Đoàn, Cao lộ nguyên hình là một con buôn: “Đừng già néo đứt dây. Giá ấy được rồi. Hẹn với nó, nếu có bản gốc, mình chỉ lấy năm mươi ngàn đô…; hay khi muốn ve vãn giáo sư Hoàng: “Chúng em chỉ là những kẻ sưu tầm văn hóa. Làm giàu cho văn hiến nhiều khi quên cả bản thân mình. Thiển nghĩ đây là một cổ vật, một di sản của cha ông, đã nhận lời dòng họ Đoàn tìm người dịch. Biết là chỉ giáo sư mới xứng tầm làm việc này, nên mới tìm đến đây. Cho phép chúng em để một bản lại để ông anh đọc qua. Nếu thấy nên và cần dịch thì chúng em sẽ thưa chuyện tiếp. Xin gửi ông anh chút quà, gọi là để thỉnh giáo”, thì trong cuộc gặp mặt với chủ nhiệm Huỳnh Đạo và dịch giả Hoàng Nguyên sau này, anh ta có những nhận xét đầy trí tuệ: “Dịch tác giả này (Mạc Ngôn) mà chỉ chuyển ngữ thuần túy là không thành. Người dịch phải mộng du với tác giả, cùng đi với các nhân vật, đi suốt các vùng đất mà tác giả chọn làm bối cảnh” hay: “Con không tin ngòi bút của sử gia họ Ngô lại thẳng được đâu bố ạ. Các vàng Ngô Sỹ Liên cũng không dám chép đúng sự thật. Mấy sử gia được như anh em nhà Thái Sử Bá nước Tề ? Kẻ sĩ Long Thành xưa nay đều hèn và run sợ trước quyền lực, trước bả vinh hoa phú quý”.

Tóm lại, Cao và Thấp là một hiện tượng văn hóa, chỉ xuất hiện vào những thời điểm lịch sử nhất định khi mà kiến trúc thượng tầng xã hội không tương thích với cơ sở hạ tầng kinh tế, cần phải được các nhà khoa học hàn lâm nghiên cứu như một đề tài xã hội học. Bởi lẽ, chính Cao và Thấp làm cho cuộc sống của dòng họ Đoàn làng Động cũng như giáo sư Hoàng, chủ nhiệm Huỳnh Đạo, giới văn hóa đô thành sinh động hẳn lên qua sự xuất hiện “Long thành tạp ký” cùng với sự biến mất một cách khó hiểu của nó.

Dưới ngòi bút Hoàng Minh Tường, cái gọi là “Lam Sơn hội” của phe nhóm Nguyễn Thị Anh có gì đó giống như một đảng lục lâm bởi “hội viên” của tổ chức độc tài này gồm toàn những tay đao búa hành xử thông qua tôn chỉ mục đích “Lam Sơn hội là hội cầm quyền”, “còn phe Lũng Nhai còn mình” nên đã thẳng tay trừng phạt 63 trẻ chăn trâu hát bài đồng dao cùng 39 kẻ cừu địch theo điều luật của Hội. Chưa hết, phía sau những kẻ sĩ đáng kính như giáo sư Hoàng, tiến sĩ Bùi La Việt, nhà sử học Huỳnh Đạo, hình như lúc nào cũng có bóng dáng trung tá an ninh Philip. Những “nguyên khí quốc gia” này, hoàn toàn không có quyền miễn trừ, rất có thể bị câu lưu bất cứ lúc nào nếu họ thể hiện lòng yêu nước của mình mà không xin phép nhà chức trách. Tội danh “các thế lực thù địch” đã được đưa vào “Từ điển giễu nhại” trong Nguyên khí không phải chỉ để nói cho vui. Chính vào ngày kỷ niệm 17 tháng 2, ngay dưới chân tượng đài Lê Thái Tổ bên hồ Hoàn Kiếm đã có một số thanh niên biểu tình chống ngoại xâm bị …”nhập kho”. Từ sự kiện chiếc quần silip phụ nữ dùng dở vứt trong thùng rác phòng nghỉ, viên trung tá an ninh “phá” được một vụ án quan trọng đã ngầm đưa đến cho người đọc thái độ giễu nhại. Nhưng kịch tính của câu chuyện còn được đẩy lên cao trào, làm bất cứ ai cũng phải phá lên cười khi mà cái biên bản do chính ông sĩ quan mẫn cán lập “tại hiện trường” lại biến cái quần chíp che chỗ “nhạy cảm“ của đàn bà thành một thứ danh từ riêng của ngôn ngữ phương Tây. Tuy nhiên sự việc chưa dừng lại ở trình độ chuyên môn của một viên chức nhà nước như Phillip mà người đọc còn đi xa hơn nhờ phương pháp liên văn bản. Chiếc silip dùng dở liệu có phải là phiên bản của “hai bao cao su dùng dở” trong vụ án nổi tiếng “vừa tức vừa buồn cười” nhằm hạ gục nhà dân chủ cấp tiến vì ông tiến sĩ này dám kiện đích danh một quan chức chóp bu sau khi ký duyệt dự án cho người nước ngoài khai thác tài nguyên mà không xin phép Quốc hội?

Tính liên văn bản trong Nguyên khí là khá phổ biến. Gần như chương nào cũng có những tài liệu cần tham khảo chẳng những cho người viết, mà còn rất cần thiết cho đối tượng tiếp nhận nếu người đọc muốn có được cái nhìn toàn cảnh câu chuyện phía sau những con chữ (Từ đó có thể thấy tính liên văn bản và giễu nhại được gọi là “hoạt kê” trong tiểu thuyết hư cấu Việt Nam đã có từ trước khi lý thuyết sáng tác Hậu hiện đại được du nhập vào).

Có thể thấy, các văn bản được liên kết với Nguyên khí, kể cả văn bản “hư cấu” là khá phong phú nhưng được “chèn” vào theo nhiều kiểu khác nhau, tạo nên một tổng thể đa dạng trên cơ sở một kết cấu mở, có khả năng kích thích trí tưởng tượng của người đọc, từ đó hình thành những văn bản phái sinh, bổ sung cho văn bản gốc thêm phong phú hoặc đề xuất ý kiến phản biện. Văn bản đầu tiên, tuy chỉ là hư cấu nhưng khá quan trọng, bởi nó được xem như “văn bản gốc”. Đó là “Long thành tạp ký”. Cũng bởi cuốn sách bằng chữ Hán trung đại nên mới nảy sinh bộ ba nhân vật giáo sư Hoàng, nhà sử học Huỳnh Đạo và tiến sĩ Bùi La Việt. Tiếp đó là hàng loạt văn bản được huy động vào quá trình dịch thuật, bình giá nội dung cuốn sách cổ như “Quốc âm thi tập”, “Ức Trai thi tập”, “Đại Việt sử ký toàn thư”, “Tam triều bản kỷ”, “Bình Ngô đại cáo”, “Vạn Kiếp tông bí truyền thư”, “Hồng Mai bút ký”, các bài đồng dao, “Báu vật của đời’, “Cây tỏi nổi giận”, “Rừng xanh lá đỏ’, “Đàn hương hình”, “Đi tìm cái tôi đã mất”, v.v…

Tất cả những tác phẩm trên, dù là hiện thực lịch sử hay hư cấu nghệ thuật ít nhiều đều liên quan đến thủ pháp liên văn bản. Chỉ cần lấy ví dụ, từ bộ sách chữ Hán “Long Thành tạp ký” cách đây hơn năm trăm năm, mà phải nói trăm phần trăm là hư cấu, Hoàng Minh Tường làm nhóm giáo sư Hoàng Nguyên, “Thọt bỉ nhân”, Cao và Thấp cùng đông đảo bạn đọc phải đau đầu bởi hàng loạt tài liệu phụ trợ đông tây kim cổ phục vụ cho việc dịch thuật. Đó còn chưa nói đến sự bùng nổ thông tin, sự liên tưởng đa chiều về những quan điểm thẩm mỹ trung tâm - ngoại biên, chính thống, phi chính thống, hiệu ứng của tác phẩm văn học và nhận diện đâu là một nền văn hóa chính danh.

Xen kẽ với các chương về Ức Trai tiên sinh, Đức bà Lễ nghi học sỹ bằng lối văn kể nghiêm túc, thấm đẫm tinh thần lịch sử, những chương viết về tượng nhân Bùi Thị Hý, ni cô Tiểu Mai hay chàng Nguyên Phong lại vô cùng hấp dẫn, đôi khi phóng túng, phá cách của tiểu thuyết hiện đại, nhưng hết thảy đều mang dấu ấn sáng tạo. Qua nhân vật Bùi Thị Hý, người ta mới hiểu được một thời rực rỡ của nghề làm gốm Chu Đậu vùng Nam Sách. Mối tình nồng nàn giữa đôi trai tài, gái sắc Tiểu Mai - Nguyên Phong khiến ni cô mười bảy tuổi giã từ cửa Phật là bài ca đẹp làm người đọc bâng khuâng. 

“Thọt bỉ nhân” cũng là một nhân vật cần phải bàn của Nguyên khí. Ngoại trừ nhân thân rất phức tạp bởi hai dòng máu, hai quốc tịch và những hoạt động dân chủ khiến nhà đương cục lúc nào cũng chiếu cố “chăm sóc”, Bùi La Việt là nhà nghiên cứu Hán Nôm có trình độ uyên bác, đồng thời là nhà ngoại cảm có thể giao tiếp được với hồn người chết. “Thọt bỉ nhân” là tính cách hư cấu đầy sáng tạo trên cơ sở một vài hình mẫu thực ngoài đời. Anh cũng chính là mắt xích quan trọng trong việc làm rõ nỗi oan khuất của vụ án Lệ Chi Viên. 

Cuộc “nói chuyện” với quan thổ địa họ Phạm cùng Lê Thái Tông, thực chất giống như lời khai của nhân chứng đồng thời cũng là người bị hại trước Tòa đại hình. Tất cả chứng cứ mà Lê Nguyên Long đưa ra trong âm mưu đầu độc của phe nhóm Nguyễn Thị Anh dường như đều phù hợp với những suy luận của chúng ta, hoàn toàn khác với chính sử. Đây chính là góc khuất của lịch sử một khi lịch sử bị nhóm lợi ích Lam Sơn của những quyền thần đầy tham vọng như Nguyễn Phù Lỗ, Lương Đăng, Tạ Thanh thao túng. Đến đây ta càng thấm thía lời cảm thán của giáo sư Hoàng Nguyên: “Buồn nhất là một xã hội không sòng phẳng, một xã hội xử lý mọi vấn đề quốc gia đại sự bằng những hộp đen. Cụ Phan Phu Tiên, cụ Ngô Sỹ Liên cũng cùng một duộc như kẻ sĩ chúng ta bây giờ mà thôi. Người ta cắt cái sổ hưu là mình toi. Con cháu mình mất đường sống. Biết bao cây bút cùn mòn không viết nổi. Tài danh như nhà văn Nguyễn Khải mà trước khi chết phải thổ ra một bãi huyết 19 trang “Đi tìm cái tôi đã mất” rồi mới chết nổi… Nhà cầm quyền coi vương triều và quyền lực như một cái hộp đen, chỉ riêng họ biết và định đoạt. Mọi nhà nước độc tài bây giờ cũng là một phiên bản khác của phong kiến mà thôi. Họ muốn cha truyền con nối, muốn duy trì quyền lực vĩnh viễn. Họ đâu cần một xã hội công dân…”.  

Bùi La Việt là nhà văn hóa đích thực, có sự đóng góp quan trọng vào việc dịch và chú thích quyển năm “Long thành tạp ký”. Xây dựng chân dung Bùi La Việt, Hoàng Minh Tường huy động khá nhiều nguồn dự trữ tư liệu lịch sử chính thống cũng như phi chính thống, trung tâm cũng như ngoại biên, cộng với vốn kinh nghiệm phong phú của một cây bút tiểu thuyết thuộc vào hàng đầu của nền văn học Việt Nam. 

Như trên đã nói, cũng như giáo sư Hoàng, Bùi La Việt là một nhân cách văn hóa, nhưng cũng khác giáo sư Hoàng ở chỗ, anh là một trí thức dấn thân, bất chấp cường quyền, sẵn sàng “nhập kho” bất cứ lúc nào nhưng không thể không tham gia những cuộc biểu tình yêu nước ôn hòa chống xâm lược. Tuy nhiên, cách miêu tả ngoại hình cũng như hành trạng của “Thọt bỉ nhân” lại được tác giả sử dụng lối hài hước, phúng thích, thậm chí gây cười ngay cả với những độc giả nghiêm túc.”Thọt bỉ nhân”(kẻ thọt hèn kém) chính là cái tên do Bùi La Việt tự đặt cho mình, đồng thời cũng là tên một trang web của anh cùng với vốn kiến thức phong phú của một tiến sĩ xã hội học, khiến anh nổi tiếng khắp Hà thành. Nhận xét của “Thọt bỉ nhân” về công lao và vai trò chính khách cấp tiến của Triệu Tử Dương cũng như những câu hỏi thông minh đặt ra với vong hồn vua Lê Thái Tông càng chứng tỏ anh chàng tiến sĩ lãng tử này là một cao nhân. Tiểu thuyết Nguyên khí có thể thiếu đi trung tá Philip, thiếu ông “Lỗi hệ thống’ hay ông “Sổ hưu” nhưng không thể thiếu “Thọt bỉ nhân”. Bùi La Việt trong một bố cục phân mảnh bởi cả không gian và thời gian, cả ý thức hệ cũng như tâm thức lịch sử, luôn hiện diện trong tiểu thuyết như một chiếc cầu nối giữa quá khứ và hiện tại, giữa thế giới âm tào lắm oan hồn và cõi dương gian đầy ma quỷ. Thiếu Bùi La Việt, Nguyên khí hẳn là sẽ giảm sức hấp dẫn, cho dù Nguyễn Trãi, Nguyễn Thị Lộ vẫn là hình tượng trung tâm sáng ngời nhân cách, lấp lánh trí tuệ.

Trong sự dẫn dắt mạch truyện, cảnh hành hình 217 nạn nhân được tác giả sử dụng lối miêu tả gián cách, trong đó chỉ có vài dòng thoáng qua về những người phụ nữ mang thai và cả những đứa trẻ còn ẵm ngửa nhưng cũng làm người đọc đứng tim bởi sự dã man, tàn bạo đến tận cùng của của đám “Lam Sơn hội”. Nỗi oan khiên làm cho trời sầu đất thảm, mây mù vần vụ, khiến chúng ta, với tư cách là đối tượng tiếp nhận, không thể không liên tưởng đến những câu thơ nhỏ máu của nhà thơ Trần Mạnh Hảo:

“Trên đường pháp trường con dâu ta trở dạ
Tiếng cháu thét chào đời như tiếng nghìn chim lợn báo tang
Đội ơn vua ban tã lót
Để cháu khỏi bị chém trần truồng trên thớt!
Ôi con đường ba họ ta đến nơi thọ hình
Sao dài hơn đường mười năm Lam Sơn phò Thái Tổ”.
(Nguyễn Trãi trước giờ tru di)

Sợ đối diện với công lý, sợ hãi nhân dân, và nhất là sợ bị cướp pháp trường, Nguyễn Thị Anh và đồng bọn không dám công khái xử án trước thanh thiên bạch nhật mà lại dựng lên một phiên tòa giả ở Ô Cầu Bò để đánh lừa bách tính. Một triều đại phế bỏ pháp luật, sợ dân như sợ cọp, đám quan lại tham nhũng, đục khoét lương dân, trong khi “Lam Sơn hội” lại có quyền tối thượng định đoạt vận mệnh quốc gia, coi người trí thức như kẻ tôi đòi, thì vương triều ấy hiển nhiên không phải chính danh. Một triều đình mà quan chức hành xử giống như đám lục lâm thảo khấu (chữ của Nguyễn Huy Thiệp trong truyện ngắn “Nguyễn Thị Lộ”) không bao giờ dung nạp được những nhân cách lớn như Nguyễn Trãi, Nguyễn Thị Lộ, Trần Nguyên Hãn, Phạm Văn Xảo. Giết vợ chồng Nguyễn Trãi đồng nghĩa với việc thủ tiêu nguyên khí quốc gia. Cho nên, không có gì lạ, nhà Hậu Lê cũng chỉ hưng thịnh được khoảng vài chục năm thời Lê Thánh Tông, còn sau đó rơi vào tình trạng khủng hoảng triền miên dẫn đến cuộc nội chiến Trịnh Nguyễn phân tranh, kéo dài gần hai trăm năm gây ra bao thảm cảnh, đất nước tan hoang, lòng người ly tán.

Cuối cùng, để khép lại bài viết , không thể không có đôi lời với các nhà chép sử. Đọc xongNguyên khí, người ta có quyền nghi ngờ độ trung thực của các cuốn thông sử vốn được coi là văn bản chính thống có đầy đủ tư cách pháp nhân để hậu thế soi vào đấy mà sửa mình thành chính nhân quân tử. Qua vụ án “Lệ Chi Viên”, người đời còn ngộ ra một điều nữa là Nguyễn Trãi và Nguyễn Thị Lộ bị chết đến hai lần. Lần thứ nhất là bởi “Lam Sơn hội”, tức triều đình phong kiến chuyên chế dưới bàn tay dàn dựng của Thái hậu Nguyễn Thị Anh. Lần thứ hai bởi Ngô Sỹ Liên và các sử thần trong Quốc sử quán. Cuộc diện kiến Nguyễn Thị Anh và cái chức Đô ngự sử, đã biến Ngô Sỹ Liên từ một tân khoa tiến sĩ có hùng tâm tráng chí, thành kẻ bồi bút chuyên “sáng tác” Quốc sử, phục vụ mưu đồ đen tối của tập đoàn thống trị độc tài.

Ngô Sỹ Liên chính là hình ảnh tiêu biểu cho tầng lớp trí thức Đại Việt, bị nhà cầm quyền khinh bỉ như những thân phận hèn kém, và sử dụng như gã thư lại, sẵn sàng bẻ cong ngòi bút trước bạo lực và bả vinh hoa. Chính bởi những sử gia như Ngô Sỹ Liên, lịch sử dân tộc Việt, trong khá nhiều trường hợp, không phản ánh đúng diện mạo xã hội đương thời, dẫn đến tình trạng, các thế hệ sau nhận thức rất mù mờ về cha ông mình. Ta hãy đọc lại đoạn ghi chép rất tùy tiện về vụ án “Lệ Chi Viên” trong ĐVSKTT thì sẽ biết được tư cách kẻ sĩ của Ngô Sỹ Liên: “…Trước đây, vua thích vợ Thừa chỉ Nguyễn Trãi là Nguyễn Thị Lộ, người đẹp, văn chương hay, gọi vào cung cho làm Lễ nghi học sĩ, ngày đêm hầu bên cạnh. Đến khi đi tuần miền Đông, về đến vườn Lệ Chi xã Đại Lại trên sông Thiên Đức, vua thức suốt đêm với Nguyễn Thị Lộ rồi băng (…). Mọi người đều nói là Nguyễn Thị Lộ giết vua”. Không chỉ cố tình chép sai sự thật mà sử gia họ Ngô còn nhẫn tâm thả một lời bình rất bất lương (chữ của nhà văn Hoàng Quốc Hải) về Đức bà Lễ nghi học sĩ: “Nữ sắc làm hại người quá lắm. Thị Lộ là một người đàn bà thôi, Thái tôn yêu nó mà thân phải chết, Nguyễn Trãi lấy nó mà cả họ bị diệt, chẳng nên răn lắm ru?” (ĐVSKTT, tập III, bản dịch, NXB KHXH, 1972, trang 131). 

Với Ngô Sỹ Liên, lịch sử không phải là tấm gương để hậu thế soi vào để sửa mình, thực chất là dùng những lời hoa mỹ dối trá tô vẽ cho chế độ đương thời cho dù đấy là một vương triều độc tài đầy tội ác. Để kiểm chứng ngòi bút “ngụy sử” của họ Ngô, độc giả chỉ cần tham khảo thêm một chi tiết trong “Chiếu đại xá thiên hạ” của Lạng Sơn vương Nghi Dân sau khi thanh toán mẹ con Nguyễn Thị Anh, lên ngôi Hoàng đế: “Trẫm là con trưởng của Thái Tôn Văn hoàng đế, ngày trước đã làm Hoàng thái tử, không may Tiên đế đi tuần miền đông, bỗng băng ở ngoài, Nguyễn thái hậu muốn vững quyền vị, ngầm sai Tạ Thanh dựng Bang Cơ làm vua, cho trẫm làm phiên vương. (…)Cho nên từ đó đến giờ, hạn sâu liên tiếp, tai dị xảy luôn, đói kém lưu hành, nhân dân cùng khốn. Diên Ninh ( tức Nhân Tông) tự biết không phải là con của Tiên đế, vả lại lòng người lìa ta, ngày mồng 3 tháng 10 năm nay khiến trẫm thay ngôi…”. (ĐVSKTT, tập III, bản dịch, NXB KHXH, 1972, trang 170).

Như vậy, chân dung sử thần Ngô Sỹ Liên, được Hoàng Minh Tường tái hiện là có cơ sở khoa học từ những sử liệu đáng tin cậy. Đến đây, chúng ta cũng có thể mượn lời của chính vị Đô ngự sử đài, nói ngược lại theo kiểu giếu nhại của khuynh hướng sáng tác Hậu hiện đại như sau: “Sỹ Liên chỉ là một thái sử lệnh, bị Nguyễn Thị Anh vừa dọa dẫm vừa mua chuộc, đến nỗi bán rẻ cả nhân cách kẻ sĩ. Nguyễn Trãi, Nguyễn Thị Lộ là bậc trung thần, vì ngòi bút “ngụy sử” của họ Ngô mà phải chết đến hai lần, há chẳng đáng trách lắm ru?”.

Chí Linh, năm Quý tỵ, rằm tháng bảy, mùa Vu lan 
Đặng Văn Sinh

Nguồn: Trần Nhương.net


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thư giãn cuối tuần: BỘ TRƯỞNG Y TẾ TỪ CHỨC!



BỘ TRƯỞNG Y TẾ TỪ CHỨC!

Cuối cùng, bà bộ trưởng Bộ Y tế cũng từ chức, sau buổi họp báo sáng nay. Với phong thái bình thản vốn có như một nữ tướng đầu ngành, vị phó giáo sư-tiến sĩ này bày tỏ trước hàng trăm phóng viên vây xung quanh.

'Tôi, Nguyễn Thị Kim Tiến, Bộ trưởng bộ Y tế xin được từ chức từ thời điểm này, để mở đường cho một người khác xứng đáng hơn lên nhận nhiệm vụ nặng nề mà nhân dân giao phó. Tôi từ chức không phải vì tôi có người thân đứng sau buôn bán thuốc giả, không phải tôi nhận hối lộ để có căn biệt thự cả trăm tỉ bên quận 2-TPHCM. Tất cả chỉ là vu khống. Hãy để sự công minh của pháp luật lên tiếng minh oan cho tôi. Tôi từ chức vì tôi thấy bản thân mình với tư cách thủ lĩnh ngành, cần phải có trách nhiệm với những gì đã xảy ra và như là cách để bản thân tôi tự vấn trong tư cách một công dân. Tôi không muốn màu áo blouse trắng bị vấy bẩn dù là 1 hạt bụi...".

Cả khán phòng im thin thít. Tiếng gõ bàn phím, tiếng đèn plash ngừng lại như để nuốt từng lời vị bộ trưởng của bộ rất được chú ý vì sát sườn sinh mệnh này. Bà tâm sự tiếp:

"Tôi luôn nhớ lời dạy của tiền nhân Hải Thượng Lãn Ông. Sinh thời, cụ dạy những người làm nghề y: "Thầy thuốc là nghề cao thượng vì thế phải giữ khí tiết cho trong sạch. Đạo làm thuốc là một nhân thuật có nhiệm vụ giữ gìn tính mạng cho người ta. Vậy phải lo trước cái lo của mọi người, vui sau cái vui của mình. Chỉ lấy việc cứu người làm phận sự, không cần kể lợi kể công.

Người thầy thuốc chân chính cần nhớ 8 chữ, 8 chữ thôi: Nhân - Minh - Đức - Trí -Lượng - Thành-Khiêm- Cần, nghĩa là: nhân ái, sáng suốt, đức độ, hiểu biết, rộng lượng, thành thật, khiêm tốn, cần cù. Đồng thời tránh 8 tính: lười biếng, tham lam, keo kiệt, dối trá, dốt nát, bất nhân, hẹp hòi, thất đức".

Lời cụ, với ngành y hậu bối như chúng tôi, luôn văng vẳng bên tai. Vì vậy để xảy ra những sự việc đáng tiếc như vừa qua, dù hoàn toàn tôi không muốn xảy ra, nhưng như nồi canh ngon nhưng lỡ sót vài con sâu thì người bếp trưởng phải có trách nhiệm. Với tinh thần đó, trong xã hội văn minh và đề cao tinh thần chịu trách nhiệm, tôi xin rút lui, dù lòng còn rất đau vì nhiều hoài bão phụng sự nhân dân chưa thành. Nhân đây, tôi cũng gửi lời cảm ơn tới tất cả vì tất cả, gồm cả ai yêu hay ghét tôi'. 

Cả khán phòng tiếp tục im phăng phắc. Rồi đâu đó cuối phòng có tiếng vỗ tay. Rồi nhiều tiếng vỗ tay không ngớt vang lên. Bà bộ trưởng có lẽ chưa bao giờ lung linh đến thế. 

Tôi đang tính vỗ tay thì bất ngờ có người vỗ vai bộp bộp và tiếng gọi văng vẳng. Tôi choàng tỉnh. Hóa ra tôi...đang ngủ mơ. Bạn vợ gọi dậy cho con bú ca 4h sáng. 

Ngồi thiu thiu cho con bú, chợt nghĩ Việt Nam mình có văn hóa giao thông, văn hóa học đường, văn hóa công sở, phường xã văn hóa chứ bới đâu ra văn hóa từ chức.

- Sưu tầm -
Bài này hiện đang được chia sẻ với tốc độ chóng mặt trên mạng xã hội.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Chuyên gia: ‘TQ tập trận nhằm dọa dùng vũ lực với VN’


Thạc sĩ Hoàng Việt nhận định với VOA từ thành phố Hồ Chí Minh: “Tôi cho rằng thông điệp của Trung Quốc muốn nhắc nhở Việt Nam rằng quốc gia có nhiều quyền lực và đang thống trị ở Biển Đông là Trung Quốc. Nếu Việt Nam không tuân phục Trung Quốc, hoặc nói như một số báo chí Trung Quốc, như là Hoàn cầu Thời báo, Việt Nam mà còn ‘cứng đầu’, thì Trung Quốc sẽ dùng sức mạnh, mà trong đó kể cả sức mạnh quân sự”.

Một tàu chiến Trung Quốc bắn tên lửa trong một cuộc 
tập trân bắn đạn thật ở Biển Đông năm 2016 (ảnh tư liệu)
Theo một bản tin của Reuters, Trung Quốc hôm 1/9 thúc giục Việt Nam nhìn nhận một cách “bình tĩnh và có lý trí” về các cuộc tập trận quân sự của Trung Quốc ở Biển Đông, sau khi Việt Nam lên tiếng phản đối, vào lúc căng thẳng giữa hai nước láng giềng trở nên xấu đi liên quan đến vùng biển chiến lược nằm trong vòng tranh chấp.

Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc Hoa Xuân Oánh nói tại một cuộc họp báo rằng các cuộc tập đó mang tính thường niên. Tin của Reuters cho hay bà Hoa nói thêm là nơi tiến hành tập trận ở khu vực tây bắc Biển Đông, thuộc quyền tài phán của Trung Quốc.

Một ngày trước khi Trung Quốc đưa ra lời thúc giục, hôm 31/8, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Lê Thị Thu Hằng đã nêu quan điểm của Hà Nội về việc Trung Quốc thông báo tiến hành diễn tập quân sự tại khu vực ngoài cửa vịnh Bắc bộ.

Bà Hằng nói Việt Nam “hết sức quan ngại” về thông báo của Trung Quốc. Bà khẳng định: “Lập trường của Việt Nam là mọi hoạt động của nước ngoài trong vùng biển thuộc quyền chủ quyền, quyền tài phán của Việt Nam cần phải được thực hiện phù hợp với các quy định của luật pháp Việt Nam và luật pháp quốc tế”.

Bà Hằng nhấn mạnh: “Việt Nam đề nghị Trung Quốc chấm dứt và không lặp lại các hành động làm phức tạp tình hình tại Biển Đông”.

Nữ phát ngôn viên cho biết thêm rằng trong ngày 31/8, đại diện Bộ Ngoại giao Việt Nam “đã giao thiệp” với đại diện Đại sứ quán Trung Quốc tại Hà Nội, để nêu rõ lập trường của Việt Nam.

Những lời qua tiếng lại kể trên giữa đại diện ngoại giao hai nước nổ ra vì cách đây ít ngày Cục Hải sự Trung Quốc đã thông báo nước này tiến hành diễn tập quân sự trong một khu vực rộng lớn mà Hà Nội xem là thuộc vùng đặc quyền kinh tế Việt Nam.

Cục của Trung Quốc nói diễn tập kéo dài từ 29/8 đến 4/9, trong đó có 3 cuộc tập trận bắn đạn thật trong các ngày 31/8 đến 2/9 ở gần các đảo Phú Lâm, Quang Hòa và Hoàng Sa ở quần đảo Hoàng Sa.

Việt Nam tuyên bố chủ quyền về quần đảo này, nhưng trên thực tế nó thuộc sự kiểm soát của Trung Quốc từ đầu năm 1974.

Một bản tin của báo Thanh Niên phát đi sáng 1/9 có hình minh họa cho thấy vùng tập trận có điểm gần Việt Nam nhất chỉ cách Đà Nẵng khoảng 75 hải lý về phía đông.

Tờ báo lớn của Việt Nam dùng từ “phi pháp” để nói về các cuộc diễn tập của Trung Quốc, mà theo báo này diễn ra trên vùng biển có diện tích tới 11.000 kilomet vuông.

Tin của Thanh Niên có đoạn “Nếu các cuộc tập trận này diễn ra trên thực tế thì đây là sự xâm phạm nghiêm trọng chủ quyền Việt Nam, đe dọa an ninh và an toàn hàng hải ở Biển Đông”.

Thạc sĩ Hoàng Việt, một chuyên gia về Biển Đông, nhận xét với VOA rằng các cuộc tập trận của Trung Quốc năm nay đáng chú ý hơn do diễn ra trong bối cảnh đặc biệt là trật tự thế giới đang thay đổi và đang có những căng thẳng giữa Việt Nam và Trung Quốc.

Ông lưu ý rằng hồi tháng 7, dưới áp lực của Bắc Kinh, Hà Nội đã đình chỉ việc khoan dầu ở một khu vực ngoài khơi mà Trung Quốc cũng tuyên bố chủ quyền.

Gần đây Trung Quốc tỏ ra khó chịu về những nỗ lực của Việt Nam vận động các nước Đông Nam Á về vấn đề Biển Đông. Trung Quốc cũng khó chịu về mối quan hệ quốc phòng gia tăng giữa Việt Nam với Mỹ, Nhật Bản và Ấn Độ, theo tin Reuters.

Thạc sĩ Hoàng Việt nhận định với VOA từ thành phố Hồ Chí Minh:

“Tôi cho rằng thông điệp của Trung Quốc muốn nhắc nhở Việt Nam rằng quốc gia có nhiều quyền lực và đang thống trị ở Biển Đông là Trung Quốc. Nếu Việt Nam không tuân phục Trung Quốc, hoặc nói như một số báo chí Trung Quốc, như là Hoàn cầu Thời báo, Việt Nam mà còn ‘cứng đầu’, thì Trung Quốc sẽ dùng sức mạnh, mà trong đó kể cả sức mạnh quân sự”.

Vị chuyên gia cho rằng lúc này cần theo dõi xem các kênh do Việt Nam và Trung Quốc thiết lập trước đây để giải quyết tranh chấp trên biển có được sử dụng hay không. Nếu không, theo ông Việt, Hà Nội sẽ phải tính đến phương án khác, nhưng cũng không có nhiều sự lựa chọn:

“Đương nhiên là nếu bây giờ Việt Nam làm căng với Trung Quốc, đó là điều rất khó. Bởi vì nói gì thì nói, Trung Quốc cũng càng ngày càng mạnh. Mà tiềm lực của một mình Việt Nam không đủ để đối đầu với Trung Quốc. Có lẽ trong lúc này, với Trung Quốc, Việt Nam chỉ có một biện pháp thôi, đó là sử dụng ngoại giao. Sau phán quyết vụ Philippines, có lẽ Việt Nam không thấy thuyết phục lắm trong việc sử dụng biện pháp pháp lý. Cho nên tôi dự đoán rằng khả năng Việt Nam sẽ sử dụng biện pháp ngoại giao là chính”.

Hồi năm ngoái, một tòa trọng tài quốc tế đã ra phán quyết bác bỏ các căn cứ để Trung Quốc đòi chủ quyền về hầu hết Biển Đông trong một vụ khiếu nại do Philippines nộp đơn.

Nhưng sau đó, Philippines đã không đả động gì đến phán quyết, thay vào đó, chính quyền của tổng thống mới Duterte đã có nhiều động thái hòa hoãn về tranh chấp biển và gia tăng hợp tác kinh tế với Trung Quốc.

Nhiều nhà quan sát cho rằng diễn biến đó đã đẩy Việt Nam và thế khó khăn và đơn độc hơn trong tranh chấp biển với Trung Quốc.

Theo chuyên gia Hoàng Việt, biện pháp ngoại giao của Hà Nội là tiếp tục thúc đẩy quan hệ với Trung Quốc, và trên cơ sở tình hữu nghị, yêu cầu Bắc Kinh kiềm chế.

Mặt khác, Việt Nam – theo ông Việt – cũng thúc đẩy quan hệ với các đối tác khác, trong đó có Ấn Độ, Nhật Bản, Australia và Hoa Kỳ, để làm đối trọng và có những tiếng nói từ các nước đó giúp “kiềm chế phần nào” các hành động của Trung Quốc.

Trung Quốc đòi chủ quyền về hầu hết Biển Đông, nơi ước tính có lượng thương mại quốc tế trị giá 3 nghìn tỉ đôla đi qua hàng năm. Việt Nam, Philippines, Brunei, Malaysia, và Đài Loan cũng tuyên bố chủ quyền ở đó.

VOA


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Ông Đinh La Thăng không được “nghỉ lễ 2/9”!


Vietnam – Cali Today News – Chỉ một ngày trước lễ quốc khánh Việt Nam 2/9 năm 2017, Tổng bí thư Trọng đã tung một đòn hiểm hóc và tước luôn quyền được “nghỉ lễ” của khá nhiều nhân vật thuộc Tập đoàn Dầu khí quốc gia (PVN).
Ngày 1/9, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Bộ Công an đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can, bắt các đối tượng trong vụ án Cố ý làm trái quy định của Nhà nước gây hậu quả nghiêm trọng xảy ra tại PVN.

Mục đích của chiến dịch bắt quan chức kinh tế mới nhất này đã được công khai: điều tra mở rộng (giai đoạn II) vụ án Hà Văn Thắm, nguyên Chủ tịch HĐQT OceanBank và đồng phạm.

Theo đó, các ông Nguyễn Xuân Sơn, nguyên Chủ tịch Hội đồng thành viên PVN; Ninh Văn Quỳnh, nguyên Kế toán trưởng PVN, hiện là Phó Tổng giám đốc PVN; Nguyễn Xuân Thắng, Nguyễn Thanh Liêm, Vũ Khánh Trường, nguyên Thành viên Hội đồng thành viên PVN đã có hành vi Cố ý làm trái gây thiệt hại 800 tỷ đồng trong việc PVN góp vốn điều lệ vào OceanBank.

Chiến dịch bắt bớ trên có vai trò và ý nghĩa quan trọng như thế nào trong công cuộc được xem là “chống tham nhũng” của Tổng bí thư Trọng?

Nếu vụ Hà Văn Thắm – Ngân hàng Đại Dương được xem là “đại án” thì có lẽ vụ PVN khi lôi ra tòa sẽ trở thành “đại đại án”.

Tháng Ba năm 2017, việc Hội đồng xét xử tạm ngưng xử vụ “Hà Văn Thắm và đồng bọn” để trả hồ sơ và yêu cầu điều tra làm rõ hơn một số vụ việc, trong đó có số tiền 800 tỷ đồng “biến mất” mà trước đây PVN đã góp vào Ngân hàng Đại Dương, cho thấy chiến dịch “chống tham nhũng” của Tổng Bí thư Trọng không hề muốn “khoanh” vụ án chỉ nằm trong phạm vi ngân hàng này như một số đồn đoán trước đây.

Mà còn “phát triển” đến PVN – mảnh đất từ đó đi lên của ông Đinh La Thăng…

Đinh La Thăng lại là lãnh đạo Tập đoàn PVN giai đoạn 2006 – 2011, thời kỳ của con số 800 tỷ đồng biến mất không dấu vết.

Có một nét gì đó khá tương đồng của ông Đinh La Thăng với hai kỳ lễ lớn ở Việt Nam: chỉ ít ngày trước thời điểm 30/4 – 1/5 năm 2017, Ủy ban Kiểm tra trung ương đã bất ngờ công bố một bản kết luận kiểm tra về tình hình tài chính của PVN với nhiều sai phạm được xem là nghiêm trọng của ông Đinh La Thăng. Hai tuần sau đó, Hội nghị trung ương 5 đã quyết định truất phế ông Thăng khỏi chức vụ ủy viên bộ chính trị và cái ghế bí thư thành ủy TP.HCM.

Nhưng vẫn chưa hết. Ít ngày sau, công luận lại một lần nữa ồn ào như ong vỡ tổ. Nguyễn Phú Trọng – người còn có ý khen Đinh La Thăng vào nửa đầu năm 2016 nhưng lại đổi ý kỷ luật ông Thăng vào nửa đầu năm 2017 – đã bóng gió với cử tri Hà Nội rằng việc kỷ luật Đinh La Thăng mới chỉ là xử lý về mặt đảng, còn “hình sự ta đang làm”.

Còn lần này là “lễ 2/9”. Một lần nữa, ông Đinh La Thăng không còn tâm trạng nào mà “nghỉ lễ”. Vụ Bộ Công an bắt hàng loạt quan chức của PVN vào ngày 1/9 đã như một bóng đen kề sát cửa nhà ông Thăng.

Hiện thời, Đinh La Thăng vẫn còn giữ được chức ủy viên trung ương. Song vị thế này đang quá đỗi mỏng manh khi ông Thăng chỉ được đảm nhiệm chức vụ Phó ban Kinh tế trung ương – cơ quan đang sở hữu một nhân vật đặc biệt mang chức trưởng ban: cựu thống đốc Ngân hàng nhà nước Nguyễn Văn Bình – từng một thời được xem là cánh tay mặt của “anh Ba Dũng”.

Hình như “ông giáo làng” Nguyễn Phú Trọng đã quyết định chơi một đòn thâm nho. Ai nhìn vào Ban kinh tế trung ương cũng hiểu ra rằng đó là nơi để “nhốt quyền lực vào lồng” – cụm từ mà theo một tác giả thì Tổng bí thư Trọng đã mượn của Tập Cận Bình Trung Quốc và rất sính dùng.

Câu chuyện đã rất rõ: Đinh La Thăng phải chịu trách nhiệm về 800 tỷ đồng của PVN đã biến mất trong Ngân hàng Đại Dương. Tương lai rất cận kề đối với ông Thăng là quy trình tố tụng hình sự. Khi đó, ông Thăng sẽ chắc chắn phải “ra tòa” một lần nữa. “Tòa án” vẫn lại là Ban chấp hành trung ương. Nhưng thay vì chỉ bỏ phiếu kỷ luật như lần trước, các ủy viên trung ương sẽ phải bấm bụng quyết định để ông Thăng không còn là “đồng đảng” của mình theo ý chỉ của Bộ Chính trị.

Một khi mất cả chức ủy viên trung ương, Đinh La Thăng còn có thể bị tước cả đảng tịch, sau đó đương nhiên bị bãi miễn tư cách đại biểu quốc hội.

Đó chính là một tiền đề của quy trình tố tụng hình sự: một quan chức đã bị khai trừ đảng và mất ghế đại biểu quốc hội thì đương nhiên không còn “quyền bất khả xâm phạm”. Để khi đó, cơ quan điều tra pháp luật có thể “tùy nghi xâm phạm”.

Trong trường hợp tồi tệ, Đinh La Thăng Việt Nam có thể trở thành Bạc Hy Lai Trung Quốc.

Năm 2012, Bí thư Trùng Khánh Bạc Hy Lai bị cách chức, để sau đó đã bước đi tuần tự, “đúng quy trình”, bị bắt giam và cuối cùng phải ra tòa nhận án đến chung thân.

Thiền Lâm
(Cali Today News)


Phần nhận xét hiển thị trên trang