Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Năm, 31 tháng 10, 2019

Donald Trump ghi kỷ lục lịch sử, Trung Quốc đối mặt nguy hiểm mới


Chứng khoán Mỹ lên đỉnh cao kỷ lục mới và đã tăng hơn 20% kể từ đầu năm. Điều đáng sợ nhất đối với nước Mỹ được cho là đã qua đi và đây lại là cơ sở có thể khiến cuộc chiến Mỹ-Trung kéo dài.

Thị trường chứng khoán (TTCK) Mỹ vừa ghi nhận một kỷ lục mới. Chỉ số chứng khoán tầm rộng S&P 500 trong phiên đầu tuần 28/10 (đêm qua giờ Việt Nam) tăng mạnh lên trên mức 3.039 điểm.
Đây là mức điểm cao kỷ lục mới của chỉ số bao phủ toàn bộ TTCK Mỹ. Với mức điểm kỷ lục này, S&P500 đã tăng hơn 20% tính từ đầu năm và ghi nhận một cú bứt phá ngoạn mục sau cú bán tháo mạnh hồi tháng 8 vừa qua.
Chứng khoán Mỹ tăng mạnh lên mức kỷ được cho là nhờ sức cầu tiêu dùng và một nền kinh tế “khá tốt”. Theo đó, sức cầu đứng ở mức cao nhờ một thị trường lao động khỏe mạnh, thất nghiệp ở mức thấp nhất trong 50 năm qua, trong khi lương của người lao động tăng.
Trên CNBC, theo Richard Fairbank - CEO của Capital One, nền kinh tế Mỹ hưởng lợi từ đợt tăng thuế trong năm ngoái của Tổng thống Mỹ Donald Trump. Và đây chính là lý do đã thúc đẩy lợi nhuận của các doanh nghiệp.
Một điều đáng lưu ý là mùa báo cáo kết quả kinh doanh quý mới cho thấy các doanh nghiệp đều làm ăn khá tốt. Nó khiến nỗi lo ngại về một đợt suy thoái - lặp lại theo chu kỳ 10 năm - đã biến mất.
Donald Trump ghi kỷ lục lịch sử, Trung Quốc đối mặt nguy hiểm mới
Donald Trump ghi dấu, chỉ số chứng khoán S&P500 lên cao lịch sử.
“Chúng tôi không thấy bất kỳ một chỉ báo nào về một đợt suy thoái diện rộng ở phía chân trời”, CEO của Zions Bancorp, ông Harris Simmons chia sẻ trên CNB. Gần như tương tự, CEO của People’s United Financial, Jack Barnes cũng khẳng định không cảm thấy rằng nước Mỹ đang “trên bờ của một cuộc suy thoái”.
Nỗi sợ lớn nhất của thị trường tài chính Mỹ cũng như thế giới qua đi, lợi nhuận doanh nghiệp Mỹ tăng mạnh và những tín hiệu đình chiến thương mại Mỹ-Trung đã khiến chứng khoán Mỹ lên đỉnh lịch sử.
Một điều cũng được nhiều nhà đầu tư kỳ vọng là khả năng Cục dự trữ liên bang Mỹ (Fed) sẽ giảm lãi suất lần thứ 3 trong năm nay trong cuộc vào cuối tháng này. Một mức lãi suất thấp hơn sẽ mang thêm động lực cho nền kinh tế Mỹ.
Triển vọng của nền kinh tế Mỹ đã được chuyển từ nỗi lo hồi đầu năm về khả năng “suy thoái” sang tình trạng “tăng trưởng chậm hơn nhưng ổn định”.
Hồi giữa tháng 10, Mỹ và Trung Quốc đã đạt được tiến bộ đáng kể trong vấn đề thương mại và thừa nhận việc chấm dứt thương mại sẽ tốt cho nền kinh tế cả hai bên cũng như nền kinh tế toàn cầu.
Donald Trump ghi kỷ lục lịch sử, Trung Quốc đối mặt nguy hiểm mới
Donald Trump khoe chứng khoán cao lịch sử và việc hạ thủ lĩnh IS.
Nỗi lo về cuộc chiến Mỹ-Trung vẫn còn
Theo Tổng thống Mỹ Donald Trump, Mỹ và Trung Quốc đã đạt được giai đoạn 1 của thỏa thuận thương mại song phương. Ông Trump cũng hy vọng thỏa thuận thương mại giữa Mỹ và Trung Quốc sẽ được ký kết vào thời điểm hội nghị Hợp tác Kinh tế châu Á - Thái Bình Dương diễn ra ở Chile vào giữa tháng 11/2019.
 
Mặc dù kỳ vọng vào triển vọng thương mại Mỹ-Trung đã lớn hơn nhưng mâu thuẫn giữa 2 cường quốc này vẫn còn lớn. Những thỏa thuận đạt được vừa qua và có thể sẽ được ký kết được xem là một sự đình chiến.
Việc chứng khoán Mỹ lại đỉnh cao kỷ lục được cho vẫn chủ yếu là từ những tín hiệu tốt từ doanh nghiệp và nền kinh tế Mỹ.
Ở chiều ngược lại, theo Reuters, Trung Quốc đang đối mặt với một sự suy giảm kinh tế “rất nghiêm trọng”. Tăng trưởng GDP trong quý 3 xuống chỉ còn 6%, yếu hơn dự báo và thấp nhất trong vòng ít nhất 27 năm rưỡi.
Theo Bloomberg, một báo cáo của Tổng cục thống kê Trung Quốc công bố hôm 27/10 cho thấy, lợi nhuận của ngành công nghiệp Trung Quốc giảm tiếp tục sụt giảm, với mức đi xuống 5,2% trong tháng 9.
Tăng trưởng của Trung Quốc suy giảm liên tục trong các quý gần đây vì cuộc chiến chiến thương mại Mỹ-Trung và nỗ lực ghìm thắt chặt tín dụng của Trung Quốc.
Donald Trump ghi kỷ lục lịch sử, Trung Quốc đối mặt nguy hiểm mới
Ông Donald Trump đứng trước nhiều áp lực trong nước.
Sau 2 năm thương chiến, Trung Quốc thực sự đã rơi vào tình trạng khó khăn. Vị thế của ông Tập Cận Bình bị giảm sút nghiêm trọng vì kinh tế sụt giảm và nhiều vấn đề xã hội khác.
Về phía Mỹ, nền kinh tế Mỹ không phải không có ảnh hưởng, nhưng ở mức ít nhìn thấy hơn. Một thỏa thuận tạm thời giữa Mỹ và Trung lúc này là rất cần thiết đối với ông Trump và ông Tâp. Ông Trump cần một nền kinh tế và chứng khoán hồng hào hơn để đối phó với Đảng Dân chủ trước cuộc bầu cử vào 2020.
Những cam kết lần này đã giải quyết nhiều vấn đề nổi cộm. Trung Quốc buông “vũ khí” hạn chế nhập nông sản Mỹ, vũ khí tỷ giá, trong khi ông Trump ngừng đẩy cuộc chiến leo thang bằng việc không nâng thêm thuế.
Hai bên gần như đã đạt được thỏa thuận hoàn chỉnh về vấn đề tiền tệ và dịch vụ tài chính. Tuy nhiên, những vấn đề gai góc nhất vẫn còn đó.
Trên thực tế, cho tới thời điểm này, Mỹ và Trung vẫn chưa chính thức ký thỏa thuận giai đoạn 1. Trong khi giai đoạn 2 được đánh giá còn khó khăn hơn rất nhiều. Giai đoạn 2 sẽ đề cập tới những mâu thuẫn lớn nhất giữa 2 bên. Đó là việc giải quyết các cáo buộc của Mỹ về đánh cắp sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ bắt buộc và trợ cấp công nghiệp của Trung Quốc.
Đây là những vấn đề mà đối với ông Trump là buộc phải giải quyết và đó mới là thỏa thuận “toàn diện” mà ông Trump mong muốn. Nhưng đó lại là những vấn đề mà Trung Quốc luôn né tránh và được xem là lằn ranh đỏ của Bắc Kinh, là điểm đáng lo sợ nhất của chính quyền ông Tập Cận Bình.
M. Hà

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Kinh tế Việt Nam đang đứng ở đâu so với các nước?


Kinh tế Việt Nam đang đứng ở đâu so với các nước?
"Việt Nam mới nằm ở giai đoạn đầu của ngưỡng các nước phát triển ở trình độ thu nhập trung bình thấp", báo cáo của trường ĐH Kinh tế Quốc Dân đóng góp vào văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XIII nêu rõ.
Thông tin được đưa ra tại Hội thảo khoa học với chủ đề: Đại học Kinh tế Quốc Dân đóng góp vào văn kiện Đại hội Đảng: Lựa chọn để phát triển, hôm 26/10.
Đánh giá về các thành quả kinh tế đạt được giai đoạn 2011 – 2020, các chuyên gia của ĐH Kinh tế Quốc Dân nhận định: "thấp không phải chỉ so với mục tiêu mà còn so với thành quả của các quốc gia khác đạt được ở giai đoạn phát triển như Việt Nam".
Theo đó, kết quả tăng trưởng đạt được thấp, thấp hơn nhiều so với các nước trong giai đoạn tăng trưởng nhanh như Việt Nam đạt được. Cụ thể, xét giai đoạn 1991 – 2020, tốc độ tăng trưởng GDP trung bình của Việt Nam là 7,14% thì so với Hàn Quốc trong giai đoạn tăng trưởng nhanh, xấp xỉ 4 thập niên từ 1961 – 2000 là 8%. Còn Nhật Bản giai đoạn 1955 – 1973 là 9,4%.
Hiệu quả tăng trưởng của Việt Nam cũng thấp. Ví dụ Nhật Bản trong giai đoạn tăng trưởng nhanh (1995 – 1973), suất đầu tư tăng trưởng chỉ là 3, tốc độ tăng năng suất lao động là 7,5% thì Việt Nam giai đoạn 2011 – 2018 lần lượt là 5,4 và 5,1%.
Bên cạnh đó, cấu trúc tăng trưởng của Việt Nam cũng thể hiện tính lạc hậu công nghệ. Cụ thể, đóng góp của nhân tố TFP (năng suất các nhân tố tổng hợp) chỉ chiếm 26,1%, trong khi đó, các nước đang phát triển đạt mức trung bình xấp xỉ 40%.
Theo báo cáo, nếu đánh giá theo tiêu chí xếp loại trình độ phát triển quốc tế của World Bank, Việt Nam ở thời điểm hiện tại đạt trình độ phát triển giai đoạn đầu của nhóm nước có mức thu nhập trung bình thấp.
Số liệu cho thấy thu nhập bình quân đầu người tính theo PPP, giá 2011, là 6.222,3 USD, cận dưới của các nước thu nhập trung bình thấp là 6.000 – 7.000 USD. Cơ cấu ngành theo GDP còn lạc hậu hơn với các mức chung của nhóm nước này, tỷ trọng GDP nông nghiệp là 16,19%, quá cao so với mức 14,9%; tỷ trọng GDP dịch vụ là 45,73% lại quá thấp so với mức 49%.
Các tiêu chí khác như tỷ lệ lao động nông nghiệp, năng suất lao động hay tỷ lệ tích luỹ nội địa cũng đều đạt được ở mức thấp, chỉ tiệm cận được với mức của nhóm nước có mức thu nhập trung bình thấp.
Theo Trí thức trẻ

Phần nhận xét hiển thị trên trang

New York Times: 30 năm nữa, ĐBSCL có nguy cơ bị ‘xoá sổ’


Theo một nghiên cứu mới được xuất bản bởi Climate Central, một tổ chức khoa học có trụ sở tại New Jersey, và được công bố trên tạp chí Nature Communications, số người ước tính bị ảnh hưởng do mực nước biển dâng vào năm 2050 có thể gấp 3 lần so với dự báo trước đây, đe doạ ‘xoá sổ’ nhiều khu vực và thành phố lớn ven biển trên khắp thế giới, trong đó có cả đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), New York Times đưa tin.
30 năm nữa, ĐBSCL có nguy cơ bị ‘xoá sổ’? (Ảnh dự báo nguy cơ ngập tại ĐBSCL trước đây [trái] và hiện tại [phải])
Các tác giả của nghiên cứu nói trên đã đưa ra một cách tính mới về độ cao đất, được cho là chính xác hơn so với cách tính truyền thống dựa trên chỉ số vệ tinh.
Scott A. Kulp, nhà nghiên cứu tại Climate Central cho biết các phép đo độ cao tiêu chuẩn sử dụng vệ tinh gặp khó khăn khi phân biệt mặt đất thực sự với ngọn cây hoặc tòa nhà. Vì vậy, ông và Benjamin Strauss, giám đốc điều hành Climate Central, đã sử dụng trí thông minh nhân tạo để xác định tỷ lệ lỗi và sửa những lỗi này.
Sau đó, họ đã phát hiện ra rằng những con số dự đoán trước đó quá lạc quan. Nghiên cứu mới cho thấy khoảng 150 triệu người có thể sẽ bị ảnh hưởng khi khu vực đất họ sinh sống sẽ chìm xuống dưới mực nước biển khi thuỷ triều dâng vào năm 2050.
Bản đồ bên trái là những dự đoán trước đó về các vùng đất sẽ bị nhấn chìm vào năm 2050, còn bản đồ bên phải là những ước tính mới được đưa ra, cho thấy hầu hết khu vực miền Nam Việt Nam sẽ chìm dưới nước khi thuỷ triều lên.
Hiện có hơn 20 triệu người ở Việt Nam, khoảng gần ¼ dân số sinh sống trên các vùng đất sẽ bị ngập lụt.
Một phần lớn của TP HCM, trung tâm kinh tế của Việt Nam, được dự đoán cũng sẽ biến mất, tuy nhiên những dự đoán này chưa tính đến việc gia tăng dân số trong tương lai hoặc đất bị mất do hiện tượng xói mòn vùng duyên hải, nghiên cứu cho biết.
Cảnh báo về tình trạng ĐBSCL có nguy cơ bị nhấn chìm trong tương lai trước đó cũng đã được Đại học Utrecht (Hà Lan) dự báo. Theo đó, hiện tượng sụt lún mặt đất, mất phù sa, nước biển dâng… sẽ khiến gần như toàn bộ ĐBSCL chìm dưới mặt nước biển vào năm 2100.
Các nhà khoa học Hà Lan đã sử dụng 1 phương pháp đo đạc khác với cách đo sử dụng vệ tinh, đó là dựa trên đo đạc số liệu và mô hình nước ngầm 3-D. Cách đo mới cho thấy trên thực tế ĐBSCL hiện nay đang thấp hơn rất nhiều và tốc độ sụt lún mỗi năm cao hơn so với dự đoán trước đó. Tác nhân chính dẫn tới sụt lún tại ĐBSCL được cho là việc khai thác nguồn nước ngầm quá mức.
Trở lại với nghiên cứu của Climate Central, ngoài khu vực ĐBSCL, nghiên cứu cho thấy nhiều khu vực khác cũng sẽ chịu tình cảnh tương tự.
Tại Thái Lan, hơn 10% dân số hiện đang sống trên những vùng đất có khả năng bị ngập lụt vào năm 2050, so với chỉ 1% khi tính toán theo cách thức trước đó. Bangkok – thủ đô của Thái Lan – cũng sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng.
Tại Thượng Hải, nước có nguy cơ sẽ nhấn chìm nhiều khu vực trung tâm của thành phố, cũng như các thành phố khác xung quanh.
Những tình huống tương tự được cho là cũng sẽ xảy đến với Mumbai (Ấn Độ), Alexandria (Ai Cập), Basra (Iraq).
Tuy nhiên, các phát hiện nêu trên không đồng nghĩa với việc đặt dấu chấm hết cho những nơi này, nghiên cứu nói. Hiện tại đã đang có khoảng 110 triệu người sinh sống ở những nơi nằm dưới mực nước khi thuỷ triều dâng và tại đó đã có các biện pháp bảo vệ như xây tường chắn hay các hàng rào bảo vệ khác. Vấn đề mà ông Strauss muốn đề cập, đó là các thành phố cần đầu tư thêm nhiều hơn nữa cho các biện pháp bảo vệ, và họ cần làm điều đó nhanh hơn.
Bà Dina Ionesco thuộc Tổ chức Di cư Quốc tế, một nhóm liên chính phủ điều phối hành động đối với người di cư và phát triển, cho biết các  quốc gia nên bắt đầu chuẩn bị ngay từ bây giờ các phương án di dời công dân trong nội bộ đất nước.
“Chúng tôi đang cố gắng cảnh báo mọi người,” bà Ionesco nói. “Chúng tôi biết nó sắp diễn ra.”
Bảo Minh (Theo NYT)

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Trung tướng quân đội lo ngại về tình hình Biển Đông



Dân trí Phát biểu trước Quốc hội sáng 30/10, Trung tướng Trần Việt Khoa, Giám đốc Học viện Quốc phòng, thông tin từ đầu tháng 7 đến những ngày cuối tháng 10 này, nước ngoài liên tục đưa lực lượng tới khu vực biển của Việt Nam - nơi Việt Nam đang thực hiện các hoạt động dầu khí để “quấy nhiễu” một cách vô lý. 
>>Quốc hội sẽ nghe báo cáo về tình hình Biển Đông 
>>Tướng Mỹ: Trung Quốc quân sự hóa ở Biển Đông, thách thức và đe dọa các quốc gia trong khu vực

Trực tiếp phiên thảo luận của Quốc hội về tình hình Kinh tế - Xã hội
Trung tướng Trần Việt Khoa, Giám đốc Học viện Quốc phòng (đại biểu Quốc hội TP Hà Nội) nêu lại bối cảnh phức tạp của tình hình an ninh thế giới, đặc biệt trên Biển Đông, con đường biển quan trọng nhất nhì thế giới thời gian qua.
Tướng Khoa điểm lại, từ tháng 5, khi Việt Nam đang thực hiện các hoạt động dầu khí trên biển, và đặc biệt là đầu tháng 7 đến những ngày cuối tháng 10 vừa qua, nước ngoài (Trung Quốc) đưa lực lượng tới khu vực này, phản đối các hoạt động hợp pháp của Việt Nam một cách rất phi lý. Theo đại biểu, đây là những hành động không thể chấp nhận được.
Trung tướng quân đội lo ngại về tình hình Biển Đông - 1
Nhấn để phóng to ảnh
Trung tướng Trần Việt Khoa phát biểu trước Quốc hội sáng 30/10.
Ngoài ra, phía nước ngoài cũng đưa tàu khảo sát xuống thăm dò trong khu vực vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam. Có những thời điểm, nước ngoài đưa đến 35 – 40 tàu tới khu vực để bảo vệ nhóm tàu khảo sát, thăm dò này.
Trước tình hình đó, Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo Bộ Quốc phòng phối hợp chặt chẽ với Bộ Công an, Bộ Ngoại giao tiến hành ngoại giao để chúng ta đấu tranh trên cơ sở đấu tranh pháp lý để khẳng định chủ quyền.
Trên thực địa, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng đã chỉ đạo các lực lượng hải quân, cảnh sát biển, biên phòng, kiểm ngư thường xuyên bám sát, nắm chắc tình hình và tuyên truyền bằng nhiều thứ tiếng để khẳng định chủ quyền và quyền chủ quyền không thể chối cãi của Việt Nam theo Công ước Liên Hợp Quốc về luật Biển năm 1982.
“Dựng nước đi đôi với giữ nước là quy luật tồn tại của dân tộc ta. Quy luật ấy ngày nay được thể hiện ở 2 điểm rất rõ là xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Trong tình hình hiện nay, với những đặc điểm, yếu tố tác động đến sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc đòi hỏi Việt Nam có giải pháp phù hợp để đấu tranh giữ vững môi trường hòa bình, độc lập để phát triển đất nước” – Trung tướng Khoa nhận định.
Năm 2018, sau khi Bộ Chính trị thông qua kết luận các chiến lược quốc phòng, quân sự, bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, Quân ủy Trung ương đã tiến hành quán triệt sâu sắc các chiến lược đề ra. Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng đã xây dựng lực lượng tổ chức biên chế và mua sắm vũ khí trang bị đảm bảo tinh thần tinh, gọn, mạnh, đáp ứng với các kiểu chiến tranh hiện đại trong thời kỳ mới.
Việt Nam đã từng trải qua rất nhiều cuộc chiến tranh nên mỗi người dân đều thấy được sự tàn khốc của chiến tranh và sự mất mát của mỗi gia đình và dòng họ. Việc bảo vệ độc lập chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ là trách nhiệm của toàn đảng, toàn dân và toàn quân. Tuy nhiên, theo đại biểu, các lực lượng cũng luôn luôn phải sẵn sàng cảnh giác, tỉnh táo và sẵn sàng các phương án cao nhất với các tình huống có thể xảy ra vì lợi ích của quốc gia, dân tộc, vì độc lập chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ chúng ta phải sẵn sàng các biện pháp bảo vệ đẩy lùi nguy cơ chiến tranh, giữ vững môi trường hòa bình ổn định để phát triển đất nước.
Trước đó, báo cáo tổng hợp ý kiến của các đại biểu Quốc hội thảo luận tại tổ về đánh giá kết quả thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2019 cũng cho thấy nhận định chung, Việt Nam thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm nay trong bối cảnh tình hình quốc tế, khu vực tiếp tục có những diễn biến khó lường. Một trong những yếu tố làm nên bối cảnh đó là tình hình phức tạp ở Biển Đông…
Cụ thể, Trung Quốc liên tục vi phạm chủ quyền trên biển của Việt Nam, xuyên tạc, đưa thông tin sai lệch, ngụy tạo chứng cứ khẳng định chủ quyền trên biển Đông để đánh lạc hướng dư luận.
Trước những diễn biến phức tạp đó, các đại biểu Quốc hội đánh giá cao việc Đảng và Nhà nước đã nhất quán chủ trương lãnh đạo, chỉ đạo, kiên quyết, kiên trì đấu tranh bằng nhiều biện pháp phù hợp để giải quyết vấn đề tranh chấp trên biển, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định cho phát triển đất nước. Qua đó, tăng thêm niềm tin của cử tri, người dân vào những quyết sách của Đảng, Nhà nước.
Các đại biểu cho rằng Chính phủ cần cung cấp thông tin phù hợp, kịp thời về tình hình Biển Đông để đại biểu Quốc hội và Nhân dân hiểu rõ hơn, tránh bị kẻ xấu lợi dụng xuyên tạc; có giải pháp quản lý tốt công tác thông tin, tuyên truyền liên quan đến các vấn đề nhạy cảm về quốc phòng, an ninh.
Phương Thảo

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Cảnh cáo Trung tướng Trình Văn Thống


Dân trí Ủy ban Kiểm tra Trung ương vừa quyết định kỷ luật Trung tướng Trình Văn Thống bằng hình thức cảnh cáo.

Uỷ ban Kiểm tra Trung ương vừa thông báo nội dung kỳ họp thứ 40 từ ngày 28 đến 30/10, do ông Trần Cẩm Tú, Bí thư Trung ương Đảng, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương chủ trì kỳ họp.
Cảnh cáo Trung tướng Trình Văn Thống - 1
Nhấn để phóng to ảnh
Trung tướng Trình Văn Thống
Thông báo nêu rõ, căn cứ quy định của Đảng về xử lý kỷ luật đảng viên, Uỷ ban Kiểm tra Trung ương quyết định thi hành kỷ luật Trung tướng Trình Văn Thống bằng hình thức cảnh cáo.
Theo Uỷ ban Kiểm tra Trung ương, trong thời gian giữ cương vị Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục An ninh, ông Thống đã tham mưu cho Lãnh đạo Bộ Công an ban hành văn bản về đơn vị nghiệp vụ không đúng quy định, vi phạm pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước.
Cũng tại kỳ họp 40, Uỷ ban Kiểm tra Trung ương đã thi hành kỷ luật Ban Thường vụ Đảng ủy Tập đoàn Xăng dầu Việt Nam về các vi phạm đã được kết luận tại kỳ họp 39.
Xét nội dung, tính chất, mức độ, hậu quả vi phạm; căn cứ quy định của Đảng về xử lý kỷ luật tổ chức đảng và đảng viên, Uỷ ban Kiểm tra Trung ương đề nghị Ban Bí thư xem xét, thi hành kỷ luật ông Bùi Ngọc Bảo, nguyên Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy Khối Doanh nghiệp Trung ương, nguyên Bí thư Đảng ủy, nguyên Chủ tịch HĐQT, nguyên Tổng giám đốc Tập đoàn; đề nghị Ban Thường vụ Đảng ủy Khối Doanh nghiệp Trung ương thi hành kỷ luật Ban Thường vụ Đảng ủy Tập đoàn Xăng dầu Việt Nam nhiệm kỳ 2010 – 2015.
Uỷ ban Kiểm tra Trung ương quyết định thi hành kỷ luật bằng hình thức cách chức tất cả các chức vụ trong Đảng đối với ông Nguyễn Quang Tuấn, nguyên Đảng ủy viên, nguyên Bí thư Chi bộ, nguyên Chủ tịch kiêm Giám đốc Công ty Petrolimex Singapore;
Cảnh cáo đối với ông Trần Văn Thịnh, nguyên Phó Bí thư Đảng ủy, nguyên Ủy viên HĐQT, nguyên Tổng giám đốc;
Khiển trách đối với ông Trần Minh Hải, Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy và ông Nguyễn Thanh Sơn, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy, Ủy viên HĐQT, Phó Tổng giám đốc Tập đoàn Xăng dầu Việt Nam.
Theo kết luận từ kỳ họp 39, Ban Thường vụ Đảng ủy Tập đoàn Xăng dầu Việt Nam đã thiếu trách nhiệm, buông lỏng lãnh đạo, chỉ đạo, thiếu kiểm tra, giám sát, để Tập đoàn có nhiều vi phạm quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước trong công tác cán bộ; trong quản lý, sử dụng, bảo toàn và phát triển vốn, tài sản; hoạt động kinh doanh xăng dầu; cổ phần hóa, tái cơ cấu, thoái vốn nhà nước và thực hiện một số dự án đầu tư xây dựng, gây hậu quả nghiêm trọng, thiệt hại lớn tiền và tài sản của Nhà nước.
Ông Bùi Ngọc Bảo, nguyên Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy Khối Doanh nghiệp Trung ương, nguyên Bí thư Đảng ủy, nguyên Chủ tịch HĐQT, nguyên Tổng giám đốc chịu trách nhiệm chính về những vi phạm, khuyết điểm của Ban Thường vụ Đảng ủy Tập đoàn.
Các ông Trần Văn Thịnh, nguyên Phó Bí thư Đảng ủy, nguyên Ủy viên HĐQT, nguyên Tổng giám đốc; Trần Minh Hải, Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy; Nguyễn Thanh Sơn, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy, Ủy viên HĐQT; Nguyễn Quang Tuấn, nguyên Đảng ủy viên, nguyên Bí thư Chi bộ, nguyên Chủ tịch kiêm Giám đốc Công ty Petrolimex Singapore cùng chịu trách nhiệm về những vi phạm, khuyết điểm của Ban Thường vụ Đảng ủy Tập đoàn và trách nhiệm cá nhân trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ được phân công.
Quang Phong

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thứ Tư, 30 tháng 10, 2019

Tướng Nghĩa: Độc lập chủ quyền không nhân nhượng, có đối sách phù hợp


Theo Thượng tướng Nguyễn Trọng Nghĩa, chúng ta kiên trì bảo vệ độc lập chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ, trong từng tình huống cụ thể phải có sách lược phù hợp.

XEM CLIP:
Tiếp tục phiên thảo luận về kinh tế xã hội sáng nay, Thượng tướng Nguyễn Trọng Nghĩa - Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị QĐND Việt Nam nhấn mạnh, quốc phòng, an ninh đối ngoại của chúng ta thời gian qua được tăng cường và đạt được nhiều kết quả quan trọng.
Đảng, Nhà nước, nhân dân luôn quan tâm đặt lên hàng đầu nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển đảo.
Các lực lượng thực thi nhiệm vụ đã thực hiện đúng đường lối quan điểm của Đảng và đối sách của Đảng. Đó là kiên quyết, kiên trì bằng biện pháp hòa bình, phù hợp với luật pháp quốc tế để giữ vững độc lập chủ quyền, quyền chủ quyền vùng đặc quyền kinh tế và lợi ích quốc gia dân tộc.
Đồng thời giữ được môi trường hòa bình, an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội để phát triển kinh tế và xã hội.
Tướng Nghĩa cho hay, vừa qua trong dư luận có những người dân có hiến kế cách này cách khác. Đảng, Nhà nước ta luôn luôn lắng nghe những ý kiến chính đáng và tâm huyết của nhân dân, đồng thời cũng phải kiên trì, hết sức đoàn kết, kế thừa truyền thống văn hóa giữ nước của cha ông.
Tướng Nghĩa: Độc lập chủ quyền không nhân nhượng, có đối sách phù hợp
Thượng tướng Nguyễn Trọng Nghĩa: Những vấn đề thuộc về độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, chúng ta quyết không nhân nhượng. Ảnh: Minh Đạt
“Chúng ta kiên quyết, kiên trì theo tinh thần dĩ bất biến, ứng vạn biến. Những vấn đề thuộc về nguyên tắc là chúng ta kiên quyết giữ gìn, như Thủ tướng đã nói những vấn đề thuộc về độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ là chúng ta quyết không nhân nhượng.
Nhưng chúng ta phải có đối sách phù hợp bởi vì truyền thống văn hóa của chúng ta là hòa hiếu, hòa bình. Điều này đã khẳng định trong tầm cao mới, đường lối quan điểm đó là đúng đắn”, Thượng tướng Nguyễn Trọng Nghĩa nói.
Ông nhấn mạnh, người dân Việt Nam ai cũng có khát vọng để vươn lên và tinh thần ấy hiện nay đang được khơi dậy, khi đất nước ta chưa có độc lập thì khát vọng lớn nhất là đấu tranh giành độc lập, tự do cho đất nước.
Ngày nay, khát vọng lớn nhất của chúng ta là giữ vững được độc lập chủ quyền và thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
Khát vọng đó chính là niềm tin, điểm tương đồng để củng cố và tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
 
Khát vọng đó đang đứng trước thời cơ lớn, song đó cũng là quá trình liên tục lâu dài, phải phấn đấu và phải vượt qua nhiều khó khăn, thách thức, gian khổ. Một trong những thách thức đó chính là bảo vệ chủ quyền biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc.
Theo Thượng tướng, chúng ta kiên trì bảo vệ độc lập chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ, nhưng trong từng tình huống cụ thể phải có sách lược phù hợp. Phải khẳng định tính đúng đắn tính chính nghĩa, phát huy sức mạnh tổng hợp của dân tộc, của đất nước, tranh thủ tối đa sự ủng hộ của quốc tế…
Ông cũng khẳng định, lịch sử pháp lý chính là một trong những căn cứ rất quan trọng để khẳng định tính chính nghĩa, khẳng định chủ quyền của ta.
Chúng ta phải thông qua công tác tuyên truyền, kết hợp với đấu tranh thực địa. Phải hết sức quan tâm đến giữ vững ổn định chính trị trong nước và các giải pháp kinh tế, phải đa dạng hóa hơn để ta tránh, xử lý chủ động được các tình huống trong khi chúng ta bảo vệ chủ quyền.
Kịp thời chia sẻ thông tin để chủ động xử lý
Nói về công tác thông tin truyền thông và bảo vệ chủ quyền trên không gian mạng, Thượng tướng Nguyễn Trọng Nghĩa cho rằng, đây là thách thức rất lớn.
Ông đề nghị trong thời gian tới cần tập trung một số vấn đề như: Đẩy mạnh công tác thông tin tuyên truyền trong hệ thống chính trị và nhân dân, để nhân dân hiểu vai trò tích cực, mặt tiến bộ của xu hướng thời đại Internet và mạng xã hội. Đồng thời phải nhận diện rõ mặt trái, mặt tiêu cực mà ta phải đấu tranh.
Phải chủ động rà soát lại các giải pháp để chủ động ngăn ngừa đấu tranh kịp thời; Các lực lượng thực thi bảo vệ Tổ quốc và an ninh trên không gian mạng kịp thời chia sẻ các thông tin để chủ động xử lý, bảo vệ trật tự an ninh an toàn xã hội…
Chia sẻ với ý kiến của Thượng tướng Nguyễn Trọng Nghĩa, ĐB Trương Trọng Nghĩa (TP.HCM) kiến nghị nên có thông tin đầy đủ hơn qua hệ thống chính trị mà chúng ta có.
“Kịp thời hơn, đầy đủ hơn, có nhiều cách thức thông tin đến người dân để người dân có sự yên tâm, tin tưởng vào tương lai, vào kết quả bảo vệ chủ quyền đất nước”, ông Trương Trọng Nghĩa nói.
Hương Quỳnh - Trần Thường - Thu Hằng - Nguồn clip: VTV

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Hoà giải giữa Việt Nam và Mỹ


Chủ tịch nước Việt Nam Trần Đại Quang (phải) và Tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama (trái) phát biểu trong một cuộc họp báo tại Trung tâm Hội nghị Quốc tế ở Hà Nội, ngày 23 tháng 5 năm 2016.
Lâu nay, nói đến chuyện hoà giải, chúng ta chỉ hay giới hạn trong quan hệ giữa người Việt với nhau, chủ yếu là giữa người Việt ở miền Nam và người Việt ở miền Bắc, sau đó, giữa chính quyền Việt Nam và cộng đồng người Việt ở hải ngoại. Trên thực tế, nội hàm khái niệm hoà giải rất rộng, không chỉ ở phạm vi quốc gia mà còn ở tầm quốc tế, ở đó, sự hoà giải giữa người Việt và người Mỹ là then chốt.
Trước hết, cần nhắc lại một số điểm: Một, mối đe doạ nghiêm trọng nhất đối với độc lập và chủ quyền của Việt Nam hiện nay đến từ những tham vọng bành trướng lãnh thổ và lãnh hải của Trung Quốc. Hai, đối diện với sự đe doạ ấy, Việt Nam chỉ có một cách duy nhất để tự vệ là tìm kiếm sự hỗ trợ của quốc tế, trong đó, quan trọng nhất là Mỹ. Ba, trong quan hệ với Mỹ, điều trở ngại lớn nhất chính là quá khứ, là cuộc chiến tranh kéo dài giữa hai nước trước đây. Bởi vậy, có thể nói, công việc cần làm đầu tiên của hai nước là nỗ lực hoà giải.
Sự hoà giải ấy cực kỳ quan trọng bởi vì di sản của cuộc chiến tranh Việt Nam rất nặng nề.
Về phía Mỹ, đó là cuộc chiến tranh ở nước ngoài dài thứ hai của họ (sau cuộc chiến tranh tại Afghanistan hiện nay); đó cũng là một cuộc chiến tranh chia rẽ nước Mỹ một cách sâu sắc nhất. Ngoài 58.000 lính Mỹ bị hy sinh, những chấn thương tâm lý ở những người lính Mỹ từng tham chiến tại Việt Nam vẫn còn kéo dài rất lâu. Nhiều người vượt qua các chấn thương ấy để hoà giải với Việt Nam, nhưng cũng không ít người vẫn tiếp tục nhìn Việt Nam bằng cặp mắt đầy hận thù và nghi kỵ: chính những người đó là lực lượng chống đối mạnh mẽ nhất đối với mọi nỗ lực hoà giải của chính quyền Mỹ.
Về phía Việt Nam, cuộc chiến tranh kéo dài 20 năm, từ 1954 đến 1975, cũng là một trong những cuộc chiến tàn khốc nhất với trên ba triệu người, kể cả thường dân ở hai miền Nam và Bắc, bị thiệt mạng. Số lượng bom và các loại chất nổ thả xuống Việt Nam trong hai mươi năm ấy còn nhiều hơn tổng số bom mìn được sử dụng trên khắp thế giới trong chiến tranh thế giới lần thứ hai. Cho đến tận ngày nay, hơn 40 năm sau chiến tranh, những bom mìn ấy vẫn còn là một nguy cơ. Đó là chưa kể các loại hoá chất độc hại, trong đó, đáng kể nhất là chất độc màu da cam, đến nay vẫn ảnh hưởng đến nhiều người.
Di sản nặng nề đến vậy nhưng hầu như bất cứ người sáng suốt và có tầm nhìn chiến lược nào cũng đều thấy rõ một điều: mọi người, từ cả hai phía, đều cần vượt qua quá khứ để cùng hợp tác với nhau nhằm đối phó với những thử thách nghiêm trọng trong hiện tại, trong đó, thử thách lớn nhất là những âm mưu bành trướng của Trung Quốc. Với Mỹ, cũng giống như thời chiến tranh lạnh, Việt Nam lại nằm ở tuyến đầu trong chiến lược chống lại sự bành trướng ấy. Với Việt Nam, âm mưu bành trướng ấy trực tiếp đe doạ đến chủ quyền của Việt Nam trên biển và đảo, thậm chí, có thể cả trên đất liền.
Ý thức được điều đó, lâu nay Mỹ cố gắng bày tỏ nỗ lực hoà giải với Việt Nam. Cả ba tổng thống Mỹ, từ Bill Clinton đến Georges W. Bush và Barack Obama, khi đến Việt Nam, đều nhấn mạnh đến nhu cầu hoà giải để một mặt, gác bỏ những hận thù trong quá khứ; mặt khác, hướng tới tương lai với những sự hợp tác để cả hai bên cùng có lợi. Nói cách khác, Mỹ là những người chìa tay ra trước. Khi chìa tay ra như vậy, họ chấp nhận cả sự nhượng bộ. Có hai sự nhượng bộ lớn: Một là công khai nhìn nhận tính hợp pháp và chính đáng trong vị thế lãnh đạo tuyệt đối của đảng Cộng sản Việt Nam, và hai là nhiều lúc nhắm mắt làm ngơ trước những hành động vi phạm nhân quyền một cách trắng trợn của chính quyền Việt Nam. Biểu hiện chính của sự nhượng bộ thứ nhất không những chỉ qua các lời tuyên bố tôn trọng thể chế chính trị của nhau mà còn qua việc chính thức tiếp đón Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tại Nhà Trắng vào giữa năm 2015. Biểu hiện của sự nhượng bộ thứ hai là Mỹ quyết định bãi bỏ lệnh cấm vận vũ khí sát thương đối với Việt Nam ngay cả khi vấn đề nhân quyền chưa được cải thiện dù, trên nguyên tắc, nó vốn được xem là một trong những yêu sách đầu tiên của Mỹ.
Còn phía Việt Nam thì sao? Nhớ, năm 2000, sau khi Tổng thống Bill Clinton phát biểu với nội dung kêu gọi mọi người cố quên quá khứ thù nghịch giữa hai nước để cùng nhau hướng về tương lai, Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu phản đối ngay: Theo ông, người Việt Nam không thể và cũng không nên quên cuộc chiến tranh bảo vệ tổ quốc đầy chính nghĩa của mình. Bill Clinton ngơ ngác. Giới bình luận chính trị quốc tế, sau đó, cho bài đáp từ của Lê Khả Phiêu là một sự vụng về, phá hỏng không khí hoà giải mà Bill Clinton muốn mang lại. Trong cuốn Bên Thắng Cuộc, Huy Đức kể lại lời của Phan Văn Khải, nguyên Thủ tướng, lúc chuẩn bị đón tiếp Tổng thống Bill Clinton năm ấy, đại khái: Bộ Chính trị ra chỉ thị là, khi gặp Bill Clinton, ông không được cười! Trong cuộc đón tiếp Tổng thống Barrack Obama vừa rồi, không biết Bộ Chính trị có ra chỉ thị gì không nhưng mặt mày của giới lãnh đạo Việt Nam trông rất thiếu thân thiện. Có vẻ như Việt Nam còn khá miễn cưỡng trong tiến trình hoà giải với Mỹ.
Sự khác biệt trong vấn đề hoà giải thể hiện rõ nhất qua thái độ của nhiều người Việt Nam đối với việc ông Bob Kerrey được bổ nhiệm làm Chủ tịch Hội đồng Quản trị của đại học quốc tế Fulbright Việt Nam. Về phía Mỹ, người ta xem vai trò của Kerrey, một cựu quân nhân từng tham chiến tại Việt Nam, như một bằng chứng của hoà giải. Phía Việt Nam, ít nhất là đối với một số thành phần nào đó, ngược lại, người ta từ chối cử chỉ hoà giải ấy với lý do bàn tay của Kerrey đã từng dính máu trong cuộc chiến tại Việt Nam. Điều đáng nói là cái gọi là thành phần từ chối ấy dường như không phải nhỏ. Một cách công khai, chỉ có một mình bà Tôn Nữ Thị Ninh lên tiếng. Tuy nhiên, việc bài phỏng vấn ông Đinh La Thăng, trong đó, ông ủng hộ việc Bob Kerrey, bị gỡ ra khỏi các báo, cho thấy thế lực từ chối hoà giải tại Việt Nam rất lớn, ít nhất cũng lớn hơn ông Đinh La Thăng, một uỷ viên Bộ Chính trị và là Bí thư Thành uỷ thành phố Hồ Chí Minh.
Tại sao chính quyền Việt Nam có vẻ miễn cưỡng trong tiến trình hoà giải với Mỹ như vậy?
Thực tình, tôi không hiểu.
* Blog của Tiến sĩ Nguyễn Hưng Quốc là blog cá nhân. Các bài viết trên blog được đăng tải với sự đồng ý của Ðài VOA nhưng không phản ánh quan điểm hay lập trường của Chính phủ Hoa Kỳ.

Phần nhận xét hiển thị trên trang