Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Hai, 18 tháng 5, 2015

Trung Quốc “nịnh” Mỹ chia nhau Biển Đông?


Trước sức ép mạnh mẽ của Mỹ trong vấn đề Biển Đông, Trung Quốc dường như đang tìm cách “nịnh” Mỹ để hai bên chia nhau Biển Đông cũng như khu vực Thái Bình Dương. 
Ngoại trưởng Mỹ John Kerry (bên trái) và Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình
Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình hôm qua (17/5) đã nói với Ngoại trưởng Mỹ John Kerry rằng, mối quan hệ giữa hai nước Mỹ-Trung “ổn định” bất chấp những căng thẳng ở Biển Đông và rằng Thái Bình Dương “đủ rộng lớn” cho cả hai cường quốc. 

Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đã có cuộc gặp với nhà ngoại giao hàng đầu của Mỹ Kerry ở thủ đô Bắc Kinh khi căng thẳng giữa hai nền kinh tế lớn nhất thế giới đang leo thang vì việc Trung Quốc đẩy mạnh các hoạt động cải tạo, bồi đắp và xây dựng đảo nhân tạo ở khu vực Biển Đông chiến lược và giàu tài nguyên.

Mỹ đang cân nhắc khả năng đưa tàu chiến và máy bay do thám vào khu vực phạm vi 12 hải lý so với những đảo nhân tạo mà Bắc Kinh đang xây dựng ở Biển Đông. Một sự triển khai như vậy có thể dẫn tới một cuộc đối đầu giữa hai nước Mỹ-Trung ở khu vực ngoài khơi xa của vùng biển có những tuyến đường biển thiết yếu.

Bắc Kinh đang ngang nhiên đòi chủ quyền với hầu hết Biển Đông và các hình ảnh vệ tinh thu được cho thấy Trung Quốc đang nhanh chóng xây dựng một đường băng trên một hòn đảo nhân tạo ở quần đảo Trường Sa của Việt Nam.

Tuy nhiên, hôm qua, Chủ tịch Tập Cận Bình đã nói với Ngoại trưởng Kerry rằng, “theo quan điểm của tôi”, mối quan hệ giữa hai nước Mỹ và Trung Quốc “nói chung vẫn ổn định”, tờ Tân Hoa Xã đưa tin.

"Thái Bình Dương to lớn đủ rộng để cho cả hai nước Mỹ và Trung Quốc”, Chủ tịch Tập Cận Bình đã nói thêm như vậy.

Nhà lãnh đạo Trung Quốc kêu gọi hai bên xử lý những tranh chấp “theo một cách thích hợp để hướng chung trong quan hệ song phương giữa hai nước không bị ảnh hưởng. Mối quan hệ Mỹ-Trung kểu mới đã gặt hải những thành quả đầu tiên”, ông Tập Cận Bình phát biểu.

Theo Tân Hoa Xã, Ngoại trưởng Kerry “đồng tình” với nhận xét của Chủ tịch Tập Cận Bình về mối quan hệ song phương Mỹ-Trung trước khi hai bên tiến hành hội đàm kín.

Trước đó, giới lãnh đạo Trung Quốc bày tỏ thái độ thách thức trong cuộc gặp với Ngoại trưởng Kerry khi Ngoại trưởng Wang Yi tuyên bố rằng Bắc Kinh “không lay chuyển” trong việc bảo vệ chủ quyền.

Về phần mình, ông Kerry nói tại cuộc họp báo hôm 16/5 rằng, Washington “lo ngại về tốc độ và phạm vi của những hoạt động bồi đắp, cải tạo và xây dựng mà Trung Quốc đagn tiến hành ở Biển Đông”. Nhà ngoại giao hàng đầu Mỹ kêu gọi Bắc Kinh “hãy hành động để cùng với tất cả mọi người để làm giảm căng thẳng”.

Trước thềm chuyến thăm, giới chức cấp cao của Bộ Ngoại giao Mỹ đã nói rằng, Ngoại trưởng Kerry sẽ thể hiện lập trường cứng rắn để “phía Trung Quốc thấy rõ mà không có chút hoài nghi nào về cam kết của Mỹ đối với việc duy trì sự tự do hàng hải ở Biển Đông”.

Và rõ ràng, vấn đề Biển Đông là chủ đề nóng, gây căng thẳng trong cuộc gặp giữa ông Kerry với giới chức lãnh đạo ở Bắc Kinh.

Trung Quốc và Mỹ tỏ ra không hề nhân nhượng dù chỉ một bước trong vấn đề Biển Đông. Bất chấp sức ép của Mỹ, Bắc Kinh khăng khăng từ chối những cách thức mà phía Washington đề xuất nhằm làm dịu căng thẳng trong khu vực.

Sự đối đầu giữa Mỹ và Trung Quốc trong vấn đề Biển Đông là không thể che giấu và nó đã phủ bóng đen lên chuyến công du của Ngoại trưởng Kerry đến Châu Á.

Mỹ cùng với các nước thành viên của Hiệp hội Các Quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) muốn Trung Quốc ngừng các dự án ở Biển Đông. "Chúng tôi quan ngại về tốc độ và phạm vi của các hoạt động cải tạo, bồi đắp, xây dựng ở Biển Đông”. Ông Kerry kêu gọi Trung Quốc đẩy nhanh tiến trình đàm phán với ASEAN về bộ quy tắc để quản lý các hoạt động hàng hải ở những khu vực tranh chấp. Mục đích là nhằm để “giảm căng thẳng và gia tăng triển vọng tìm kiếm các giải pháp ngoại giao”, ông Kerry nhấn mạnh.

"Tôi cho rằng, chúng ta cần phải nhất trí với nhau về việc khu vực này cần nền ngoại giao thông minh để có thể đạt được một bộ quy tắc ứng xử giữa Trung Quốc và ASEAN thay vì là những tiền đồn và đường băng quân sự”, ông Kerry đã phát biểu thẳng thừng như vậy tại một cuộc họp báo chung với người đồng cấp Trung Quốc Wang Yi.

Biển Đông đang là nơi chứng kiến những cuộc tranh chấp lãnh thổ, lãnh hải gay gắt giữa Trung Quốc với 4 quốc gia Đông Nam Á gồm Philippines, Việt Nam, Brunei, Malaysia, và Vùng lãnh thổ Đài Loan.

Biển Đông là một trong những vùng biển quan trọng nhất thế giới bởi nó chứa các tuyến đường hàng hải sống còn. Đồng thời Biển Đông còn được cho là chứa đựng một trữ lượng tài nguyên thiên nhiên hấp dẫn, đặc biệt là dầu mỏ. Chính vì thế, Trung Quốc có tham vọng độc chiếm Biển Đông. Trong những năm gần đây, Trung Quốc có nhiều hành động quyết liệt và hung hăng nhằm thực hiện giành quyền kiểm soát gần như toàn bộ Biển Đông. Đặc biệt, gần đây, Trung Quốc đang đẩy mạnh các hoạt động bồi đắp, cải tạo và xây dựng trên 6 bãi san hô mà nước này chiếm đóng trái phép trên quần đảo Trường Sa vốn thuộc chủ quyền không thể tranh cãi của Việt Nam.

Việc Trung Quốc tăng cường hoạt động bồi đắp, cải tạo và xây dựng trên Biển Đông đang gây ra nỗi quan ngại rất lớn không chỉ với các nước có liên quan trong khu vực mà với cả cộng đồng thế giới.

Kiệt Linh (VnMedia)

http://vnmedia.vn/VN/quoc-te-24-7/diem-nong/trung-quoc-ninh-my-chia-nhau-bien-dong-17-3749963.html
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Chủ tịch nước: TQ làm vậy, sao giữ được hòa hiếu?


TQ đang ráo riết biến đảo chìm thành đảo nổi ở Trường Sa của VN, hơn 2.000 lao động làm suốt đêm ngày - Chủ tịch nước nói với cử tri TP.HCM.
Cử tri Huỳnh Anh Tuấn ở phường 4 nói: “TQ đang xây dựng bất hợp pháp trên các đảo thuộc chủ quyền của Việt Nam. Họ còn âm mưu mở rộng vùng trời ở đây. Chủ quyền của đất nước đang bị đe dọa. Nhà nước cần tăng cường theo dõi, có biện pháp bảo vệ chủ quyền lãnh hải, bảo vệ ngư trường cho ngư dân”.

Cử tri Nguyễn Thị Thu Vân ở phường 7 băn khoăn tình trạng doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động TQ.

Chủ tịch nước Trương Tấn Sang khẳng định với cử tri: Quan điểm, lập trường của Việt Nam trước sau như một về chủ quyền lãnh thổ. Trong luật Biển Việt Nam, chúng ta khẳng định rằng, Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam.


Chủ tịch nước Trương Tấn Sang: Chúng ta luôn mong muốn giữ gìn quan hệ hữu nghị với TQ nhưng chủ quyền của chúng ta thì không thể nhân nhượng

Hiện nay, Hoàng Sa bị TQ chiếm giữ bằng vũ lực. Với Trường Sa, các bên đã thỏa thuận giữ nguyên hiện trạng.

"Thế nhưng, TQ đang dùng 'tiêu chuẩn kép' trên Biển Đông. Là một bên ký DOC với ASEAN nhưng TQ đang ráo riết biến đảo chìm thành đảo nổi, sử dụng trên 2.000 lao động làm suốt đêm ngày, lấy san hô từ dưới biển bồi đắp lên đảo chìm, ngang nhiên tuyên bố đây là biển của TQ.

Hành động của TQ đã gây phức tạp tình hình trên Biển Đông, khiến nhiều nước liên quan và cả thế giới lo ngại. Vì đây là tuyến đường hàng hải của 50% lượng hàng hóa vận chuyển đi qua. Mặt khác, TQ nói ngược là VN 'vi phạm', âm mưu lôi kéo các nước khác vào gây phức tạp".

Cử tri Nguyễn Thị Thu Vân 

Người đứng đầu Nhà nước nhấn mạnh: “TQ làm như vậy thì sao mà giữ được hòa hiếu giữa 2 nước? Sao mà giữ được niềm tin giữa láng giềng với nhau?

Chúng ta luôn mong muốn giữ gìn quan hệ hữu nghị với TQ nhưng chủ quyền của chúng ta thì không thể nhân nhượng. Những gì tổ tiên, cha ông chúng ta để lại thì ta phải giữ”.

Chủ tịch nước cũng khẳng định: "Trong quan hệ với TQ, những chuyện ân nghĩa chúng ta không quên, nhưng giữa hai bên phải tôn trọng nhau. Chúng ta không thể chấp nhận nhà của mình, biển của mình, vùng trời của mình bị người khác quản lý. Không thể có chuyện TQ biến đảo chìm thành đảo nổi rồi tuyên bố chủ quyền 200 hải lý tới tận Bà Rịa - Vũng Tàu của chúng ta.

Chủ quyền của ta, ta phải bảo vệ tới cùng. Quyền đánh cá truyền thống của dân ta, quyền khai thác dầu khí của ta, ta phải giữ gìn. Nhưng đây là vấn đề hết sức phức tạp, bà con nhân dân cần bình tĩnh, tin tưởng vào Đảng, Nhà nước, Chính phủ.

Chủ tịch nước, Trương Tấn Sang, TQ, Biển Đông, chủ quyền, Tổng bí thư, giàn khoan, Hải Dương 981

Dứt khoát chúng ta không bao giờ chấp nhận bị mất chủ quyền. Chúng ta dựa vào luật pháp quốc tế, dựa vào cộng đồng thế giới, dựa vào sức mạnh chính nghĩa của mình".

"Việt Nam đang nỗ lực xây dựng đất nước, lo làm ăn để thoát nghèo, phát triển. Việt Nam không lôi kéo ai vào cuộc làm phức tạp tình hình. Chúng ta không để vừa bị chèn ép, lấn chiếm mà vẫn để cho những lời dụ dỗ 'giải quyết song phương' lọt lỗ tai. Biển Đông là tuyến hàng hải quan trọng của thế giới, liên quan đến nhiều nước nên không thể 'giải quyết song phương' được" - Chủ tịch nước Trương Tấn Sang khẳng định với cử tri.

Duy Chiến
Ảnh: Đinh Tuấn
(VNN)

http://vietnamnet.vn/vn/chinh-tri/237694/chu-tich-nuoc--tq-lam-vay--sao-giu-duoc-hoa-hieu-.html

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Quốc tế cảnh báo Việt Nam nên hạn chế vay nước ngoài


Báo Đất Việt
Thứ Bảy, 16/05/2015 08:07
Tốc kinh tế Việt Nam năm 2016 sẽ ở mức thấp hơn năm nay; Việt Nam nên hạn chế vay nước ngoài bằng ngoại tệ để giảm nợ quốc gia.

Huy động vàng trong dân:Có thể dùng để thế chấp đi vay

Cảnh báo này được ông Sanjay Kalra, Đại diện thường trực của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) tại Việt Nam đưa ra tại buổi họp báo ngày 15/5.

Theo đại diện IMF, Việt Nam bị thâm hụt ngân sách nhưng lại thặng dư tài khoản vãng lai năm 2014. Dự trữ ngoại hối quốc gia của Việt Nam hiện ở mức hợp lý.

"Tuy nhiên, Việt Nam nên hạn chế vay nước ngoài bằng ngoại tệ để giảm nợ quốc gia", ông Sanjay Kalra nhấn mạnh.

Cho rằng nợ công ở Việt Nam hiện nay đang ở mức cao và ông Sanjay Kalra khuyến cáo các nhà hoạch định chính sách cần lưu ý đến một số vấn đề như cải cách doanh nghiệp nhà nước, cải cách ngành tài chính - ngân hàng, cải thiện năng suất lao động, nâng cao hiệu quả đầu tư công để kích cầu nội địa và thu hút vốn đầu tư nước ngoài.

Chuyên gia quốc tế khuyến cáo Việt Nam không nên tiếp tục vay nước ngoài

Trên thực tế mới đây ông Trương Hùng Long, cục trưởng Cục Quản lý nợ và tài chính đối ngoại (Bộ Tài chính) cho biết, năm 2015, tỉ lệ trả nợ trực tiếp của Chính phủ dự kiến chiếm khoảng 16,1% so với tổng thu ngân sách, tăng so với hai năm trước đó (tỉ lệ này năm 2013 là 15,2% và năm 2014 là 13,8%).


Tuy nhiên, theo một báo cáo của Ủy ban Tài chính Ngân sách của Quốc hội mới đây, tỷ lệ trả nợ và viện trợ của Chính phủ năm nay đã lên tới 31% thu ngân sách, tức vượt ngưỡng cho phép.

Ông Long thừa nhận: Ngân sách nhà nước hiện nay đang trong giai đoạn căng thẳng, song hiện nguồn lực còn hạn chế nên vẫn cần huy động vốn vay để đầu tư.

“Do đó, nợ công có quy mô lớn là điều không thể tránh khỏi,” ông Long nói.
Phương Nguyên (Tổng hợp)

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Chủ Nhật, 17 tháng 5, 2015

Một người từng đóng giả Bác Hồ kể lại


Bài trên trang của Ban Quản lí lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, từ năm 2014, với tiêu đề và nguyên văn như ở dưới.

Nguyên chú: Ông Nguyễn Thế Văn (người đi sau) đóng giả Bác Hồ
 trên đường kháng chiến ( Ảnh chụp năm 1950)


---


Những chuyện chưa ai kể về Bác Hồ


Một lần, trong chuyến đi khảo sát, Bác Hồ ghé qua Định Hoá (Thái Nguyên) thăm hỏi cán bộ, anh em, lúc đó ông Nguyễn Thế Văn được lệnh pha tách cà phê mời Bác.
3. a1. Nhung chuyn chưa ai ke
Ông Nguyễn Thế Văn (người đi sau) đóng giả Bác Hồ
 trên đường kháng chiến ( Ảnh chụp năm 1950)
Để viết được bài này, trước tiên tôi xin cảm ơn bác Nguyễn Dư (Khâm Thiên - Hà Nội) đã nhiệt tình đưa tôi đến gặp ông Nguyễn Thế Văn, 94 tuổi, người đã đi theo chăm sóc Bác Hồ từ thời kháng chiến cho đến những năm 60 của thế kỷ XX. Đến giờ, hai vợ chồng ông Nguyễn Thế Văn vẫn sống đơn sơ, đạm bạc trong căn hộ 20m2 tại Khu tập thể Quảng Bá, Nghi Tàm, Hà Nội.
Những bức ảnh quý hiếm đăng tải trong bài viết này là ảnh độc quyền chưa công bố của ông Nguyễn Thế Văn.
Bài học lớn từ một tách cà phê
Ông Nguyễn Thế Văn quê ở Thái Bình, có thời được cử đi xây dựng ở An toàn khu cho Trung ương ở Định Hóa (Thái Nguyên). Vì thấy ông tính tình cẩn thận, chu đáo nên cấp trên chuyển ông sang làm người chuyên phụ trách lương thực tiếp tế cho cán bộ. Một lần, trong chuyến đi khảo sát, Bác Hồ có ghé qua Định Hoá thăm hỏi cán bộ, anh em, lúc đó ông Nguyễn Thế Văn được lệnh pha tách cà phê mời Bác.
Trong lúc pha cà phê ông cũng không biết đấy chính là Bác Hồ, khi anh em trong đội nói "Bác Hồ đấy..." ông mới giật mình, xúc động, tay run run pha cà phê mà trong lòng chỉ sợ mình pha ẩu Bác uống không thấy ngon. Nào ngờ, khi ông bưng tách cà phê lên mời Bác, Bác đã ngỏ ý hỏi ông có muốn đi theo Bác không? Còn gì vui hơn thế, về sau ông mới biết Bác rất tinh tường, chỉ cần ngửi mùi cà phê, cách pha và dáng điệu bưng của ông Bác đã biết ông là người cẩn thận, chu đáo và đáng tin cậy. Bắt đầu từ đó, ông là người thân cận duy nhất lo cho Bác từ giấc ngủ đến bữa ăn và theo Bác đi khắp nơi từ các vùng miền trong cả nước đến Trung Quốc, Liên Xô (cũ)...
3. a2. Nhung chuyn chưa ai ke
Ông Nguyễn Thế văn (ngoài cùng bên trái) cùng cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng
 phổ biến chủ trương của Bác trước nhân dân ( Ảnh chụp năm 1960)
Từ khi đi theo Bác, ông học được nhiều điều ở Bác, nhất là tinh thần tiết kiệm thì không ai bằng. Song có lẽ, ấn tượng sâu sắc nhất về tính thương người và tiết kiệm của Bác là ở bữa ăn, ông kể: "Mỗi bữa ăn của Bác chỉ có một niêu cơm nhỏ, một đĩa tai hoặc mũi lợn luộc, một chút mắm chua. Khi ăn, bao giờ Bác cũng gắp tai -mũi lợn ra một chiếc đĩa nhỏ rồi lấy chén đậy lại. Sau đó, Bác lấy dao khoanh tròn niêu cơn, lấy cháy ra ăn trước. Ăn xong, Bác bưng xuống bếp đưa cho tôi và anh em cán bộ phục vụ đĩa thịt tai lợn và bảo chỗ này Bác chưa gắp đến, các chú ăn đi. Chúng tôi nhìn nhau rơi nước mắt, chỉ có vài miếng thịt mỏng mà Bác còn phần chúng tôi thì..."
May áo cho... cái quạt
Những dịp theo Bác đi khảo sát tình hình thời sự ở Trung Quốc, ông mới thực sự nhận thấy tính hóm hỉnh của Người. Va li quần áo của Bác chỉ có hai chiếc quần đùi, hai chiếc áo may ô và một bộ trang phục để tiếp khách thế nhưng Bác luôn dặn ông phải hết sức cẩn thận cất giữ chiếc va li như báu vật, nếu đi đâu ra khỏi phòng phải cho vào tủ khoá lại. Thấy ông ngạc nhiên, Bác bảo "Đây là bí mật quốc gia, đừng tiết lộ ra ngoài". Sau này, ông mới hiểu, Bác không muốn người nước ngoài nhìn thấy sự quá giản dị của một vị lãnh tụ.
Khi về nước, Ban Chấp hành TƯ Đảng Trung Quốc có tặng Bác một chiếc quạt điện, Bác không dùng mà bảo ông: "Chú may cho cái quạt này một chiếc áo rồi cất đi, bao giờ dân có Bác mới dùng". Không dám cãi lời Bác, ông cất đi, trong lòng vừa thấy vui vì sự hóm hỉnh của Bác lại vừa thấy xót xa. Trong một lần đi quan sát tại Định Hoá - Thái Nguyên, khi ông đang "ngộp thở" trước tiếng reo hò của bà con trong xã thì thấy Bác chỉ tay lên khẩu hiệu bên trên và nói: "Này chú ơi, cái xã này giỏi lắm nhé, thấy Bác đến liền giăng ngay khẩu hiệu Hồ Chủ tịch muốn nằm". Ông nhìn theo tay Bác chỉ và chợt bật cười, thay cho "Hồ Chủ tịch muôn năm" là "Hồ Chủ tịch muốn nằm". Sau đấy, Bác nhắc nhở anh chị em phải chịu khó rèn rũa, học câu chữ cho chính xác, tránh những trường hợp sai sót đáng cười.
"Tiết kiệm tiền cho nhân dân Liên Xô"
3. a3. Nhung chuyn chưa ai ke
Bác Hồ cùng phái đoàn chính phủ thăm Liên Xô ( Ảnh chụp năm 1955)
Năm 1955, Hồ Chủ tịch cùng phái đoàn Việt Nam đi cám ơn các nước XHCN trong đó có Liên Xô, tại đây họ đã tiếp đón Hồ Chủ tịch theo đúng tiêu chuẩn một vị lãnh tụ, nhưng chính điều đó lại làm cho Bác rất phiền lòng. Hàng ngày, mỗi bữa ăn là một bàn tiệc. Hai lần Bác bảo ông Văn nhắc họ đừng làm như thế nữa nhưng phía bạn vẫn cứ theo lễ tiếp đón nguyên thủ quốc gia. Lần thứ ba, Bác mời tất cả những cán bộ trong nhà khách cùng bảo vệ vào ăn, khi ăn xong Bác mới mời người quản lý ra và bảo:"Đấy chú xem, cả chục người ăn còn không hết huống hồ chúng tôi chỉ có hai người. Lần sau, chú đừng làm như thế nữa, đây là tôi tiết kiệm tiền cho nhân dân Liên Xô". Về sau, trước khi đến bữa ăn, người phụ trách lại ra hỏi Bác xem hôm nay Người muốn ăn gì? Còn ông Văn lại có thêm một cơ hội để học hỏi đức tính của Người.
Giờ đây, khi đã ở tuổi 94, râu và tóc bạc phơ nhưng trông ông Văn vẫn nhanh nhẹn, hoạt bát, nhất là khi được hỏi về Người ông phấn chấn hẳn. Ông nói: "Tôi được như thế này là nhờ những năm tháng sống cận kề bên Bác". Có lẽ vậy mà giờ đây cuộc sống của hai vợ chồng ông đơn sơ, đạm bạc? Đồ đạc trong nhà không có gì đáng giá ngoài những bức ảnh chụp ông hồi trẻ bên cạnh Bác Hồ và nhưng tấm huân, huy chương ông treo khắp nhà. Khi tôi hỏi ông có mong muốn điều gì không trong suốt những năm tháng ông đi theo Người? Ông cười, nụ cười thật hiền hậu: "Sống được là tốt rồi" và như muốn chứng minh cho điều mình vừa nói, ông nhắc lại cho tôi nghe câu nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh mà ông luôn khắc sâu trong lòng: "Chú ạ, ở đời ai cũng có công nhưng không nên kể, kể ra là công không thật, nên bỏ chữ kể đi"./.
Trần Mạnh Hào
Theo Vietbao.vn
MinhThu (st)

Giao Bloger
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Khái quát là gì?

Căn bệnh sợ “chính trị” của người Việt


Phần nhận xét hiển thị trên trang

HÌNH ẢNH VỊ CHIẾN TƯỚNG CỦA CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI TRÊN LÃNH VỰC VĂN NGHỆ TRONG MẮT TÔI



Chào buổi sáng chủ nhật quý bạn!
Mấy hôm nay, nhân dịp các sự việc lùm xùm liên quan đến Hội Nhà Văn VN và cuộc Đại hội của Hội này đang sắp sửa, tôi đã post lại một số bài của mình viết và in trên tờ Văn Nghệ của Hội vào thập kỷ 80 của thế hỷ 20. Và chắc nhiều người đều nhớ rằng, linh hồn của tờ báo của Hội vào những năm ấy chính là nhà văn, TBT Nguyên Ngọc. Sự thật là, với tờ báo này, nhà văn của “Đất nước đứng lên” đã có đóng góp không nhỏ vào công cuộc đổi mới trên lĩnh vực văn học, nghệ thuật.
Năm 2012, nhân dịp kỷ niệm nhà văn Nguyên Ngọc tròn 80 tuổi, theo đề nghị của các anh bạn bè của nhà văn, tôi có viết một bài để tham gia vào cuốn sách mang tựa đề “Nguyên Ngọc vẫn trên đường xa”, được in làm món quà mừng sinh nhật của lão tướng trên văn đàn Việt Nam hiện đại này.
Hôm nay, xin post lại toàn văn bài viết đó, để có thể coi như chút tâm sự quý mến và biết ơn của tôi với nhà văn đàn anh mà tôi thực lòng rất yêu kính!
Xin mời quý bạn!
A.N.
*
ANH NGỌC
NHỮNG KỶ NIỆM TINH THẦN VỀ NHÀ VĂN NGUYÊN NGỌC
Nếu hiểu “kỷ niệm” là những sự việc diễn ra với ta trong đời thực, ở thì quá khứ, mà nay ta nhớ lại, - thì trong đời tôi cho đến nay, những sự việc liên quan đến nhà văn Nguyên Ngọc có rất ít, chẳng có gì để mà kể lể. Nhưng ngược lại, ở trong thế giới tinh thần của tôi, đặc biệt là trong những suy nghĩ, thì nhà văn Nguyên Ngọc lại đã từng hiện diện rất nhiều, rất gần gũi và có những tác động nhất định, dù là gián tiếp, lên một số suy nghĩ và việc làm cụ thể của tôi. Tôi tạm gọi đó là “những kỷ niệm tinh thần”, vừa vì nó có vẻ chính xác trong trường hợp này, vừa để đùa một chút với cái nhan đề tập thơ “Những kỷ niệm tưởng tưởng” của một người bạn, PGS-TS, nhà thơ Trương Đăng Dung ở Viện Văn.
Không thuần túy diễn ra trong trí tưởng tượng như trong thơ anh Trương Đăng Dung, những kỷ niệm của tôi về nhà văn Nguyên Ngọc mặc dù diễn ra trong thế giới tinh thần, nhưng chúng hoàn toàn có thật, thậm chí rất cụ thể và còn lưu lại dấu vết trong lời nói và trên giấy trắng mực đen. Trong bài viết nhỏ này, xin được nhớ lại một vài kỷ niệm như vậy:
Mặc dù đã đọc và biết đến nhà văn Nguyên Ngọc từ thuở còn là cậu học trò phổ thông, nhưng thực sự kỷ niệm đầu tiên của tôi dính dáng đến cái tên của ông mãi đến khoảng tháng 9 – 1979 mới diễn ra. Ấy là ngay trong lần ra mắt đầu tiên của tôi khi vừa chuyển từ Báo Quân đội nhân dân sang Tạp chí Văn nghệ quân đội. Trong buổi xuất hiện thuộc loại “màn chào hỏi” của cô dâu mới trước đông đủ các bậc đàn anh lừng lẫy ở cái “Hội nhà văn thứ hai” ấy, không hiểu sao tôi đã vội vã dốc hết gan ruột của mình về thực trạng văn học của ta ngày ấy theo kiểu điếc không sợ súng. Những ấp ủ, đúng hơn là bức bách của tôi về những khiếm khuyết của nền văn học, mà thật ra là còn vượt ra ngoài cả phạm vi văn học, được tôi phát biểu một cách thẳng thắn và thẳng thừng. Hăng lên, tôi còn đọc cả một đoạn trích trong trường ca “Sông Mê Công bốn mặt” mà lúc ấy tôi đang viết. Đó là cái đoạn nói về cải cách ruộng đất với những câu thơ mà cho đến bây giờ tôi còn ngạc nghiên về sự táo tợn của mình dạo đó:
…Năm 1956
trong cải cách ruộng đất
tôi đã được xem một vụ hành hình
người ta kéo ra pháp trường
một ông chủ tịch xã bị quy là Quốc dân đảng
một viên đạn trúng vào giữa trán
ném nửa mái đầu ông bay vút lên cao
cái mảnh đầu như một vì sao
vẽ ngang trời một đường cong ngoạn mục
vợ con ông quay đi không dám khóc
trước đám đông đang hò hét reo cười
và tôi, đứa trẻ lên mười
cùng hò hét với đám đông điên loạn
trước vẻ đẹp của một người bị bắn!...
Ngay khi tôi vừa phát biểu xong, nhiều nhà văn đàn anh của Văn nghệ quân đội đã phản ứng cũng thẳng thừng một cách không khoan nhượng với cái tay lính mới ất ơ là tôi. Tôi nhớ, một nhà văn kỳ cựu về tuổi nghề trong lúc phê phán tôi đã nhắc đến câu nói của ông Nguyễn Văn Thiệu (“hãy nhìn cộng sản làm, đừng nghe cộng sản nói”) khiến cho câu chuyện càng trở nên nghiêm trọng. Còn một nhà văn vào loại hàng đầu thì ngay lập tức không cần tìm hiểu đã cho rằng tôi bị ảnh hưởng của bản Đề Dẫn của nhà văn Nguyên Ngọc trình bày trong cuộc Hội nghi các nhà văn Đảng viên mà lúc ấy đang rất gây xôn xao. Mặc dù trong thực tế lúc ấy tôi chưa phải là hội viên Hội nhà văn, không hề biết gì về nội dung của bản Đề Dẫn, cũng chưa từng vinh dự quen biết nhà văn Nguyên Ngọc, mà tất cả chỉ là sự trùng hợp tự nhiên trong cách nghĩ của không ít người sống nghiêm túc và có ý thức trách nhiệm trước cuộc sống và công việc, nhưng thế cũng đủ để cho nhiều người vốn quen chia thiên hạ thành phe phái gạt phắt tôi về một phía, dĩ nhiên là cái phía có tên nhà văn Nguyên Ngọc! (Nếu hành văn theo lối “văn mạng” bây giờ, thì phải thêm một tiếng cười “hì hì …” vào chỗ này!).
Hì hì …
Và từ đó cho đến suốt hơn mười năm sau, trước và trong cuộc chuyển động to lớn ở Xứ sở này, cuộc chuyển động có tên là Đổi Mới – tôi càng có thêm những “kỷ niệm tinh thần” về (và đôi lúc là “với”) nhà văn Nguyên Ngọc. Cái cơn cớ cũng là bất đắc dĩ đã chia giới nhà văn dạo ấy thành hai phía mà ở giữa là một cái ranh giới thực ra rất mù mờ - rất mù mờ nhưng vẫn có thực. Chẳng hạn, trong một lần trò chuyện với một nhà lý luận phê bình quen biết vừa từ thành phố Hồ Chí Minh ra chơi, tôi đã đọc gần như ứng khẩu cho các vị có mặt hôm ấy nghe cho vui mấy câu (gọi là) thơ về nhà văn Nguyễn Huy Thiệp, người bấy giờ đang gây dư luận cực kỳ ồn ào trên Báo Văn nghệ của nhà văn Nguyên Ngọc:
Mười bốn năm sau ngày đất nước hết cắt chia
Anh là dòng sông Bến Hải
Chảy ngang qua giữa những cặp bạn bè
Giữa những cặp vợ chồng
Giữa cha con, mẹ con, ông cháu, bà cháu
Đồng đội xưa từ trong rừng trong rú
Giờ chia thành hai phe
Bạn bè bù khú rượu bia
Giờ sẵn sàng quay mặt
Tôi vừa đánh mất
Người bạn cuối cùng
Trong cuộc chiến tranh có tên là Đổi Mới…
Những ai còn nhớ đến không khí dạo ấy, có thể tin là tôi đã nói thật, mặc dù có… quá lên một tý – làm thơ mà. Đã phân chia ra hai phe thì dĩ nhiên phải có thủ lĩnh các phe. Về phía “phe Đổi Mới” (trong “Vè đại hội nhà văn”, Nguyễn Duy gọi là “phái vui tươi”), thì một trong những thủ lĩnh của “phe” này được nhiều người gán cho là nhà văn Nguyên Ngọc. Lối tư duy phe phái thô sơ muôn thuở ấy nhiều lúc rất nực cười. Chẳng hạn, chính nhà lý luận phê bình vừa nói ở trên hôm ấy có ý rủ tôi đi chơi với ông đến một vùng quê phía Bắc, khi nghe tôi kêu bận không đi được, ông liền cười chế diễu: “Chắc là thủ trưởng không cho đi phải không?!”. Tôi hiểu ý ông anh này muốn ám chỉ “thủ trưởng” là ai (các bạn đoán xem là ai nhé?) nên bật cười – không phải “hì hì …” mà là ha ha … Cười, rất to, nhưng trong bụng ngạc nhiên không để đâu cho hết: Sao trên đời lại có người, lớn tuổi hẳn hoi, thậm chí sắp già nữa, học vấn không ít, mà lại nghĩ ngợi như trẻ con vậy? Sao ông ấy không nghĩ rằng đã là người có chút tri thức và ý thức thì đều có những suy nghĩ độc lập, những suy nghĩ ấy có thể gần với suy nghĩ của người này và khác với suy nghĩ của người khác. Thế thôi. Không phải cứ hễ suy nghĩ giống nhau hay gần giống nhau thì cứ dính lấy nhau thành một phe, kể cả trong suy nghĩ cũng như trong đời thực. Tôi vốn là người dù có ít nhiều suy nghĩ độc lập, nhưng khi đem ra thực thi thì lại kém cỏi, rất dễ nản chí. Chẳng hạn như tôi luôn không tin vào việc có thể dùng lời lẽ mà thuyết phục được người khác thay đổi cách nghĩ. Ai đã nghĩ thế nào thì họ sẽ cứ thế mà nghĩ. Vì vậy, chẳng bao giờ tôi buồn “thanh minh thanh nga” về bất cứ điều gì mà thiên hạ nghĩ sai về mình. Nói dài dòng như thế, là vì câu chuyện trên thực ra rất liên quan đến nhà văn Nguyên Ngọc, nhân vật của bài viết này, người mà đích thực ông anh thích đùa dai muốn ám chỉ là “thủ trưởng” của phe Đổi Mới, mà ông đinh ninh trong đó có tôi. Hì hì … Ông ấy không biết rằng trước đó ít lâu, nhà văn Nguyên Ngọc đã có nhã ý xin tôi về làm cho báo Văn nghệ, ông nói rõ nhiệm vụ - “anh sang trông coi cho tôi mảng phóng sự” (một mảng mà sau này các bạn thấy nó quan trọng như thế nào trên Báo Văn nghệ của thời ông Nguyên Ngọc làm Tổng biên tập), nhưng… tôi đã từ chối. Từ chối vì tôi biết rõ sở trường và sở đoản của mình. Tôi biết rằng trong thế giới tinh thần có một số người rất gần với tôi, tôi rất yêu mến thậm chí cảm phục họ, nhưng trong đời thực thì lại là chuyện khác, nhiều khi cách hành xử rất khác nhau. (Ngay với nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, người mà tôi yêu quý và kính trọng có lẽ là nhất trên đời, cả về âm nhạc lẫn nhân cách, thì nghe nói cách sống thường ngày của ông vẫn là một “típ” khác hẳn với bản thân tôi. Tôi không có ý học đòi theo ông đã đành, mà điều khác nhau đó cũng chẳng phương hại chút nào đến cảm tình tôi giành cho ông). Có lẽ, với những vị ấy, mình xa ra một chút trong đời thực lại có cái hay của nó. Nói như thơ Chính Hữu: ‘Yêu không nói, ấy là yêu mãi”.
Như thế là trong đời thực suýt nữa tôi đã có cơ duyên gần gũi hơn với nhà văn Nguyên Ngọc, nhưng tính cách (cái làm nên số phận) của tôi đã giữ tôi lại với “cái con người này” của riêng tôi. Tôi còn nhớ là khi thấy tôi từ chối, nhà văn Nguyên Ngọc vẫn tươi cười và có lần ông còn nói đùa với mọi người rằng tôi đang “chạy trốn” ông!
Không sai!
Tôi gần với ông trong thế giới tinh thần bao nhiêu thì cũng khác ông trong cách hành xử trong đời thực bấy nhiêu. Tôi đã “chạy trốn” ông trong cái phần đời thực, mà ở đấy ông là một con người hành động quyết liệt, một người hùng ngay trong hành động chứ không chỉ trong lập ngôn. Làm được điều đó phải có một tố chất đặc biệt. Điều này không phải ai cũng có được, mà đã không có thì tốt nhất hãy cứ cầm chắc thứ vũ khí của chính mình, không nên cố cầm nhầm thêm thứ vũ khí của người khác.
Và tôi tiếp tục gần gũi ông theo cái cách là giành cho ông một chỗ trang trọng trong thế giới tinh thần của mình mà thôi.
Trong thế giới tinh thần ấy, đặc biệt là trong nhận thức và suy nghĩ, nhà văn Nguyên Ngọc luôn hiện lên trước mắt tôi là một con người như sau (những hình dung chắc chắn là sẽ rất chủ quan và thiếu sót, xin nhà văn Nguyên Ngọc và mọi người bỏ quá cho): Trước hết, đó là một nhà trí thức đúng nghĩa, tức là một người luôn luôn cố gắng nắm bắt cái bản chất, cái cốt lõi của đời sống, cố gắng nhìn ra và gọi đúng tên bản chất của sự vật và hiện tượng đang diễn ra quanh ta. Mà hồn vía của bản chất của Tồn tại là sự vận động theo quy luật. Nhìn ra quy luật vận động của xã hội (cũng như của tự nhiên), tôn trọng nó, góp sức thúc đẩy cho nó vận động thuận lợi hơn về phía trước là mục đích tối thượng cho mọi hoạt động của con người. Và để làm được điều đó, theo ông, người trí thức cần phải biết dấn thân. Nhà văn Nguyên Ngọc đã hành xử nhất quán theo lý tưởng sống ấy từ thuở mới bước vào đời, trải qua hai cuộc trường kỳ chiến đấu chống ngoại xâm của dân tộc, cho đến cuộc chiến đấu đang mở ra từ thời hậu chiến và hứa hẹn sẽ kéo dài bất tận - cuộc chiến đấu vì quyền sống đúng nghĩa của con người, và ông chiến đấu bằng cả hai thứ vũ khí của một nghệ sĩ và một chiến sĩ.
Những ngày ấy, nhà văn Nguyên Ngọc bận dốc sức vào làm tờ báo Văn nghệ và một số công việc ở Hội, ông rất ít viết và nói, nhưng toàn bộ tư tưởng chủ đạo của ông đã thể hiện rõ ràng và quyết liệt lên mặt tờ báo. Những ai đã theo dõi báo Văn nghệ dạo ấy chắc không thể quên được những bài vở đủ loại, từ văn xuôi, thơ, phóng sự, lý luận phê bình, dịch thuật, ngôn luận…đều mang khí thế hừng hực của một cuộc cách mạng thực sự, không thể và có lẽ không cần nhắc lại nhiều ở đây. Với tôi, chỉ cần nhớ lại một bài viết nhỏ, thậm chí chỉ cần một từ trong bài viết hiếm hoi ấy của nhà văn Nguyên Ngọc in trên tờ Văn nghệ dạo ấy là đủ nắm trọn chính kiến của ông về hồn vía đích thực của công cuộc Đổi Mới, đó là từ: “Trở Về”. Vâng, ông muốn gọi công cuộc Đổi Mới của chúng ta là một sự Trở Về - thế thôi. Tôi tin rằng chẳng cần diễn giải dài dòng thì rất, rất nhiều người – dĩ nhiên trong đó có tôi – cũng hiểu ngay, hiểu đúng ý của nhà văn, vì đó là một sự thực mà lúc này đã trở thành nhãn tiền, không thể che dấu được nữa.
Hoàn toàn không phải để khoe mẽ (vì không để làm gì, thậm chí còn có thể rước họa vào thân), nhưng sự thực những cách nghĩ như vừa nói ở trên của nhà văn Nguyên Ngọc cũng đã có trong tôi từ khá lâu, thậm chí chúng đã manh nha trong đầu tôi từ thuở mới biết suy nghĩ, tức là khi bước vào tuổi thành niên. Trong chiến tranh, mặc dù vẫn tuân thủ việc viết lách theo cung cách quen thuộc của nền “văn học minh họa” (theo chữ dùng của nhà văn Nguyễn Minh Châu), nhưng, dù vô cùng ít ỏi, tôi cũng đã cố gắng để giữ lại được đôi chút của “cái mình” (theo cách nói của nhà thơ Lưu Quang Vũ) trong tác phẩm, điều mà sau này tôi đã đề cập đến trong bài tạp bút “Hành trình đi tìm mình” (in cách nay gần mười năm). Khi đất nước bước vào kỷ nguyên hòa bình, con người được trở lại với cuộc sống bình thường như muôn thuở, lập tức những thuộc tính của “quy luật của muôn đời” liền rầm rộ nổi lên và từng bước đòi lại địa vị độc tôn của chúng. Và dĩ nhiên, những ai đã có lúc, vì lý do nào đó, xa rời con đường vận động của quy luật thì buộc phải làm một cuộc “Trở Về” - trở về, để hòa nhập trở lại vào lịch trình tiến hóa bất khả kháng của cả nhân loại. Vâng, chân lý chỉ giản dị như vậy. Nói theo kiểu “văn mạng” là: đơn giản như đan rổ.
Thế mà ở cái Xứ ta, để nói ra được và thực thi đúng cái điều đơn giản ấy là cả một điều không đơn giản chút nào. Công cuộc Đổi Mới, dù đến muộn màng một chút, cũng đã kịp mở cho ta cái cánh cửa để đi vào một thời kỳ mới trong sự phát triển đúng hướng của dân tộc. Và vào những ngày ấy, tờ báo Văn nghệ của Tổng biên tập Nguyên Ngọc thực sự là một diễn đàn đi tiên phong trong công cuộc Đổi Mới. Với uy tín văn học và uy tín về nhân thân, với trí tuệ, tâm huyết và lòng quả cảm, nhà văn của “Đất nước đứng lên” và “Rừng xà nu”, của “Đất Quảng” và “Đường chúng ta đi”… đã tập hợp được xung quanh tờ báo một đội ngũ người viết có nhiệt huyết và tài năng, đã đưa lên mặt báo những bài vở đầy sức nặng công phá và khai mở…, không chỉ tạo điều kiện cho văn chương nghệ thuật tham gia tích cực vào cuộc chiến đấu vì quyền sống của con người đang bước vào hồi nóng bỏng, mà còn góp phần tạo dựng nên một số tên tuổi sáng giá cho văn đàn và hứa hẹn sẽ có sức sống dài lâu trong nền văn học nước nhà.
Riêng với người viết những dòng này, chính nhuệ khí của nhà văn Nguyên Ngọc và sức lôi cuốn của tờ báo của ông đã hơn một lần khích lệ cho tôi chiến thắng được cái thói ngại ngần thâm căn cố đế, cái thói chỉ thích xem và bình luận bóng đá từ trên khán đài, để thỉnh thoảng liều mình xông vào cái sân đấu tóe lửa của Báo Văn nghệ, đâu vào khoảng dăm, bảy lần gì đó không hơn.
Đến đây, tôi phải bày tỏ sự biết ơn chân thành của mình với nhà văn Nguyên Ngọc và tờ báo Văn nghệ của ông vì đã tạo điều kiện cho tôi công bố được một số trang dòng, một số tác phẩm mà tôi đã viết từ trước đó khá lâu nhưng biết chắc không thể đem in ở bất cứ nơi đâu, cũng như đã khuyến khích tôi viết tiếp những ý tưởng mà mình đã ấp ủ từ lâu nhưng chưa dám viết ra. Xin các bạn đừng nghĩ rằng tôi đang lợi dụng bài viết về nhà văn Nguyên Ngọc để tranh thủ nói về mình, để khoe mình. Bạn mà nói thế thì tôi cũng đành chịu. Ở đây tồn tại một cái có thể gọi là “lợi ích chung” giữa người viết và người công bố. Chắc ai cũng biết rằng với những người viết, nếu chỉ mới viết ra được tác phẩm mà thôi, dù là viết hết mình, viết tâm huyết và dũng cảm đến đâu, mà bản thảo vẫn chỉ nằm trong ngăn kéo của mình thì giá trị và tác dụng của nó vẫn chưa là “cái đinh” gì cả - chỉ khi bản thảo được công bố thì nó mới thực sự sống cuộc sống của nó, mới đúng là một tác phẩm – cơ thể sống (điều này thì lý thuyết về tiếp nhận văn học đã khẳng định từ lâu).
Vâng, chỉ có trên tờ Văn nghệ của những năm ấy, tôi mới có thể in được những câu thơ mà ngay lúc này, tức là một phần tư thế kỷ sau, cũng không chắc đã in nổi ( hì hì …). Chẳng hạn những câu:
Tôi không bao giờ tha thứ cho mình
Đã có lúc tin niềm tin dễ dãi
Người khác nói còn tôi thì nhắc lại
Từng chữ từng lời như chiếc loa truyền thanh…
Hoặc đoạn này, trích trong trường ca “Điệp khúc vô danh” viết năm 1983:
Năm mươi ba năm sau cái chết của Mai-a
Nhân loại lại mừng ông lần thứ chín mươi ngày sinh nhật
Khẩu súng lục không còn dùng tự sát
Thì viên đạn sinh ra biết để làm gì
Chúng không ưa những cái đầu đần độn ngu si
Những cái hố cá nhân ngụy trang bằng mái tóc
Chúng chỉ ưa những cái đầu nhà thơ và bác học
Như để tìm xem trong đó chứa những gì
Vâng xin thưa đồng chí Maiacôpxki
Lũ con cháu hậu sinh đã hiểu lòng đồng chí
Rằng: Vũ khí chỉ thật là vũ khí –
Nếu không bắn kẻ thù ư
Thì hãy tự bắn vào đầu!...
Đây chỉ là một đoạn ngắn trong một chương dài in cả trang báo Văn nghệ. Không bàn chuyện hay dở, chỉ việc in được nó lên mặt báo đã là một chuyện lạ ở Xứ ta. Chính người viết những dòng này, sau cơn bốc lửa của cảm hứng, lúc tỉnh lại cũng không dám tin những gì mình viết lại có lúc có thể in ra. Ấy vậy mà nó đã in ra, ngay trên tờ báo chính thống của Hội nhà văn Việt Nam!… Và đó là vào khoảng cuối thập kỷ 80 của thế kỷ 20! Ở đây, người viết có thể là điếc không sợ súng, nhưng người in nó ra thì chỉ có thể gọi là can đảm. Nên nói cám ơn vẫn còn chưa đủ, phải nói là biết ơn và bái phục!
Không chỉ có thơ, tôi còn in được trên Văn nghệ ngày ấy tuy chỉ mấy bài viết theo lối tạp văn, tạp bút thôi, nhưng đã gửi gắm vào đấy rất nhiều những suy nghĩ, nói là chính kiến cũng không ngoa, về những vấn đề thực ra là then chốt nhất không chỉ về văn học, nghệ thuật, mà là cả chính trị, xã hội, văn hóa…, những chiêm nghiệm và suy nghĩ tôi đã dồn nén từ lúc biết làm người. Và thú thật, cho đến tận giờ này, khi đất nước đã có khá nhiều phương tiện để tự do tư tưởng, đã có mạng internet như một phép màu của tự do ngôn luận…, tôi vẫn có thể mỉm cười yên tâm vì những gì mình đã viết và in ra trên tờ báo của nhà văn Nguyên Ngọc ngày ấy vẫn chưa bị… bước qua, chưa bị đề mốt đê ! Ha ha …
Đấy là, từ một mẩu nhỏ theo kiểu “ý kiến nhà văn” trong đó tôi phản ứng gay gắt với cái “thói nhân danh người khác” như một xảo thuật ngôn từ, một lối nhận vơ, cả vú lấp miệng em rất vô lối trong ngôn ngữ tuyên truyền của chúng ta (mà cho đên bây giờ ta vẫn thường xuyên bắt gặp), cho đến một bài viết ghi lại cảm tưởng sau khi nghe lại “những ca khúc trữ tình” bất hủ mà một thời bị coi là nhạc vàng và bị cấm đoán, bài viết có nhan đề: “Trở lại cái bình thường”. Trong bài viết khá ngắn chỉ về câu chuyện của âm nhạc ấy, tôi đã kịp gói trọn bản chất của công cuộc Đổi Mới, và từ khái niệm “trở về” của nhà văn Nguyên Ngọc đến tinh thần “trở lại” của tôi thực chất là chẳng có khoảng cách nào. Còn nhớ, trong bài viết ấy tôi đã kịp biểu dương nhiệt liệt âm nhạc của Trịnh Công Sơn, và nhắc tới cả một thi sĩ trong quân đội Sài Gòn – thi sĩ Nguyễn Bắc Sơn ở Phan Thiết. Sau khi bài đăng ra, một buổi sáng tôi thấy một ông già đội mũ nan, dáng dấp nhanh nhẹn, đến gõ cửa phòng tôi ở 4 Lý Nam Đế. Ông tự xưng là Doãn Mẫn, nhạc sĩ, tác giả bài hát “Biệt ly” mà tôi nhắc tới trong bài viết nói trên. Ông bảo ông muốn gặp tôi chỉ để tán thưởng cái ý “trở lại cái bình thường” của tôi mà theo ông là rất đúng và chưa nghe ai nói tới bao giờ. Tôi vốn là người rất yêu quý và nể trọng các nhạc sĩ, nên thực sự cảm động vì người nhạc sĩ già, tác giả của ca khúc “Biệt ly” tuyệt vời và cung cách xử sự của ông.
Có một điều thú vị đặc biệt là những bài vở ít ỏi của tôi được in trên Văn nghệ những ngày ấy, từ sáng tác, phê bình hay tạp văn, tạp bút… đều không bao giờ bị thêm bớt hay sửa chữa dù một chữ. Cái quyền tối thượng của người viết là được công bố tác phẩm của mình đúng như nó vốn có tưởng từ lâu đã thành thông lệ ở mọi xứ sở văn minh, thì ở Xứ ta nó luôn bị coi khinh như mẻ! Và chính tôi đã bao lần tức giận điên đầu và ngán ngẩm lắc đầu vì sự can thiệp vô lối của những người tự cho mình cái quyền “nhào nặn” lại tác phẩm của người khác. Vì vậy, một cách ứng xử như của Báo Văn nghệ ngày ấy là một việc hy hữu và trên cả tuyệt vời.
Tôi biết, giờ này mà ngồi tỉ mẩn nhắc lại những chuyện buồn vui của cái “thời xa vắng” ấy là rất dễ sa đà, thậm chí sa vào lẩn thẩn. Vả lại, bài viết cũng đã khá dài, để ôn lại những “kỷ niệm tinh thần” về nhà văn Nguyên Ngọc, thông qua mối lương duyên tuy không dài nhưng khó quên của tôi với tờ báo mà ông là linh hồn, chỉ xin kể thêm một kỷ niệm nữa thôi: Ấy là việc ông ủng hộ và in trọn vẹn cho tôi bài “Đọc lại “Cửa mở” của Việt Phương”.
Đây là một bài viết rất tâm huyết mà tôi đã ấp ủ từ ngay khi tập thơ “Cửa mở” của nhà thơ Việt Phương mới ra đời vào năm 1970 và gây dư luận rất sôi nổi. Bởi vì đây không chỉ là chuyện của thơ. Đây là một tiếng nói mới mẻ và táo bạo về những vấn đề rất cốt tử trong thế giới tư tưởng, tình cảm của xã hội chúng ta, “mở” ra một cánh “cửa” cho ta có dịp nhìn lại chính mình, để nhận ra cả cái tốt lẫn cái xấu, cả cái đúng lẫn cái sai… Đúng là một tập thơ mang tinh thần “phản biện” đầu tiên trong nền thơ cách mạng của chúng ta. Câu chuyện này quá dài dòng và chúng ta, trong đó có tôi, đã nghĩ và nói tới quá nhiều rồi, xin không nhắc lại ở đây. Chỉ biết rằng, khi được nhà văn Nguyên Ngọc bật đèn xanh cho viết và in bài này, tôi đã cầm bút với tất cả sự xúc động và sung sướng khôn tả. Quả thực, với người viết không có gì cần thiết và hạnh phúc hơn là Tự Do. Trong những ngày cánh cửa của Tự Do cũng mới là mở he hé, mở một cách dè dặt… thế mà một người viết như tôi đã cảm thấy sung sướng đến như vậy. Bài viết khá dài này đã được in trên Báo Văn nghệ số 44, ra ngày 29-10-1988. Sau này có in lại trong tập tiểu luận, phê bình của tôi nhan đề “Từ thơ đến thơ” do NXB Thanh Niên ấn hành, năm 2000. Nếu phải nói thêm một lời về việc làm này, thì đó là: Tôi đã viết bài này với một trăm phần trăm những gì mình có trong đầu và trong tim, viết với ý thức chỉ nói một lần thôi, một lần rốt ráo để không bao giờ phải nói lại nữa. Nếu ai đã đọc qua bài này chắc sẽ nhận thấy điều ấy. Vì vậy, gần đây khi nhà thơ Việt Phương sắp cho ra mắt một tập thơ mới, một anh bạn làm thơ vốn rất yêu anh Việt Phương và có lẽ cũng quý tôi nữa, nên đã thay anh Việt Phương đề nghị tôi viết “Lời bạt” cho tập thơ ấy, tôi đã hết sức cám ơn, nhưng chân thành đề nghị các anh nên mời một…người khác viết. Và tôi đã nhận được tập thơ mới của anh Việt Phương, với lời bạt của nhà thơ Ý Nhi. Đọc những dòng của chị Ý Nhi, tôi rất vui vì tin rằng anh Việt Phương và anh bạn của tôi sẽ thấy sự rút lui của tôi là có ích cho tập thơ, cho tác giả và bạn đọc.
Những hồi ức xúc động quanh bài viết của tôi về tập thơ “Cửa mở” của nhà thơ Việt Phương in cách nay đã gần một phần tư thế kỷ trên tuần báo Văn nghệ đã khép lại bài viết “những kỷ niệm tinh thần về nhà văn Nguyên Ngọc” của tôi, theo cái cách đúng là chỉ diễn ra trong thế giới tinh thần: Ở đó, hình ảnh một con người cụ thể là nhà văn Nguyên Ngọc luôn được nhận thức một cách trừu tượng qua những suy nghĩ và cảm xúc, những cách nhìn và thái độ ứng xử, những tâm nguyện và những trăn trở… Với một con người như nhà văn nguyên Ngọc, tôi nghĩ, đó chính là cách để chúng ta xây dựng một bức chân dung hoàn hảo nhất về ông.
Và với tôi, đó cũng là cách duy nhất để tôi bày tỏ lòng yêu mến, quý trọng, cũng như sự biết ơn đối với một nhà văn đàn anh quá gần gũi trong thế giới tinh thần và là một tấm gương sáng láng về thái độ làm nghề và làm người mà tôi thành thực ngưỡng mộ.
Mong ông luôn khỏe mạnh để tiếp tục cuộc hành trình không mệt mỏi của mình về phía trước.
Hà Nội, 21-7-2012
A.N.
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thứ Bảy, 16 tháng 5, 2015

LAN MAN VỀ ĐỀ TÀI


       Tôi có thú chơi blog, hơn 8 năm chứ chẳng ít, ngày còn cái 360, Tôi biết blog Kênh Kịa cũng lâu rồi(Đéo nhớ từ năm nào). Anh ta viết ít nhưng viết miếng nào vừa mồm miếng ấy, mà không viết thì anh ta tha ở đâu về đọc cũng sướng vãi. Có lần tôi VIA từ blog của anh bài gì nhớ nội dung nhưng đầu đề quên mẹ! Cái tên Kênh Kịa ban đầu thấy ghét, nhưng hiểu ra Kênh Kịa là tên một cây cầu ở quê anh ta thì thôi không ghét nữa. Tôi đọc log Kênh Kịa đúng chức năng độc giả, đọc xong biến. Một hôm viết comments gần xong rồi, thế nào mất sạch. Tức mình, lại nghĩ nhẽ giời không cho mình còm blog này.
      Hôm rồi Kênh Kịa viết về đề tài phụ khoa, đọc phổ thông là L.. (Ai đọc đúng méo mồm luôn và ngay). Anh bạn Alaykum Salam (Chắc anh này dân Campots) cái tên bòong nghe không giống kiểu Nguyễn văn... Hay Phạm Thị... Anh rủ tôi : "Bên Kênh Kịa có bài hay lắm" Tôi lật đật quần đùi cởi trần chạy sang. Cái tạng của tôi rất hợp khi thưởng thức entry này... Hihi! Về chất lượng bài viết nhấm nha nhấm nhẳng, bù lại lối dẫn chuyện kiểu uống rượu có mồi ngon. Tóm lại Cứ hình dung bài viết có đầu đề "L... Là gì" mà các bạn đọc nó, cũng giống như có một á hậu trước mặt, nàng đang cong cớn hỏi "Anh có yêu em không?".  Mà tôi rất vô duyên khi dẫn chuyện, dài dòng, cốt nhắc các bạn ở cái đề tài L...nha
       Hơn chục ngày nay, đâu đâu cũng nói về vài chục nhà văn, tự họ từ bỏ hội. Bỏ thì bỏ, ở hay bỏ là quyền của họ, bàn luận xôn xao làm đéo gì. 921 hội viên khóa 8, cả chục năm nay các ông, các bà có viết được cái đéo gì ra hồn, Cái danh Nhà Văn chỉ để các ông các bà hù dọa thiên hạ. Có rất nhiều tác phẩm chất lượng kém, đọc như cứt. Có nhiều blogger đéo phải nhà văn nhưng chất lượng bài vở, còn hơn nhiều tác phẩm của các ông. Đọc blog tự do, tự nhiên chẳng mất xu đéo nào, viết blog cũng thoải mái, bạn bè blog rất chân thành, lại dập dìu đông đúc, Từ các bạn nhi đồng thối tai cho đến các bậc lão thành đái bỉm, tất cả ai ai cũng công nhận điều này.
       Lại quay về với Blog Kênh Kịa. Tôi khẳng định bài "L là gì"Trong blog Kênh Kịa là một bài cực hay. Tôi đố có ông hay bà nhà văn nào, viết được như vậy. Vậy thì các vị ra khỏi hội nhà văn là đúng rồi. Các vị là những người có lòng tự trọng đấy. Viết về cái L... mà còn đéo viết được thì ở hội danh giá cái gì...!
       Bạn đọc Kênh Kịa ở đây;  http://kenhkia.blogspot.com/2015/05/lon-la-gi.html
       Tôi lại nhớ nhà Văn Nguyễn Quang Lập. Anh ta cũng OFF mẹ nó hội rồi. Anh có một entry đăng 2008 tôi đã đọc. Cũng về đề tài L... nhạy cảm rất, lại liên quan trực tiếp đến cái hội nhà văn hay nhà mồ cũng có thể là nhà hậu môn hay nhà tình dục học.

       Đây ! Chuyện đây nó có tựa đề "VÀO HỘI NHÀ VĂN":

       ''Chẳng hiểu từ bao giờ có luật bất thành văn: ai là hội viên hội nhà văn mới được gọi nhà văn, còn lại là cây bút, cây bút trẻ, chiếu cố lắm mới được gọi nhà văn trẻ.
       Nghĩ cũng buồn cười, cây bút còn sang gấp vạn nhà văn nhưng chẳng mấy ai ưa, cứ thích người ta gọi mình nhà văn.
       Mình có vở kịch vừa dựng, nhà hát kịch Hà Nội, mở màn nghe giọng giới thiệu véo von: "tác giả- nhà văn Nguyễn Quang Lập" Nghe ngường ngượng thế nào ấy, nói với Hoàng Dũng ông bỏ hai chữ nhà văn cho tôi đi. Dũng cười nói thế mà có ông khi bọn tôi quên đọc hai chứ ấy là nhảy lên sừng sộ liền.
       Về các tỉnh lẻ thấy mấy ông đi đọc thơ, hội thảo thi nhau giới thiệu nhà văn này nhà văn nọ. Ông nào không được giới thiệu nhà văn nhà thơ thì tự ái văng cặc, bỏ về liền.
       Gọi nhà thơ chán thì đua nhau gọi là thi sĩ, gọi thơ ca chán thì gọi là thi ca. Chẳng hiểu cái chữ thi nó sang hơn chữ thơ ở chỗ nào.
       Thằng Thuấn đi Mỹ tự giới thiệu mình là thi bá, khốn nỗi thằng phiên dịch nó chẳng biết thi bá là cái đéo gì, dịch ra sao, cứ dịch bừa là poet, phí công ông Thuấn nghiền ngẫm chữ nghĩa.
       Tất nhiên cũng có nhiều văn tài chẳng coi hội nhà văn là cái gì. Nguyễn Mạnh Tuấn ra khỏi hội từ năm 1989, kể từ ngày anh ra khỏi hội hình như anh còn sang hơn, được trọng vọng hơn. Nguyễn Việt Hà, Phạm Xuân Nguyên bảo vào hội chúng nó còn mắng cho.
       Nhưng đa số là giấc mơ thiên đường, là khát vọng vô bờ bến.
       Ông HK được kết nạp, mở một cuộc nhậu lớn, đem cái thẻ ra bắt mọi người hôn cái thẻ, hôn hết một vòng, cạn một ly, lại hôn sang vòng khác, cạn một ly, lại hôn sang vòng khác, lại cạn một ly, lại hôn sang vòng khác.Ôi giời ơi là mệt.
       Ông TQT còn oách hơn, bắt cả làng bỏ cái thẻ lên kiệu vàng, rước từ cổng làng vào đến đình làng, cờ đèn kèn trống ầm ĩ.
       Ông ĐTC trước khi chết nói muốn nhìn thấy cái thẻ Hội viên Hội nhà văn, anh Khải phải hộc tốc bay ra Hà Nội khẩn khoản BCH kết nạp đặc cách, làm luôn cái thẻ bay vào, may ông chưa chết, còn kịp nhìn cái thẻ. Không biết lên thiên đường cái thẻ ấy dùng vào việc gì, hu hu.
       Anh VL nói với mình: tao nhà cao cửa rộng có rồi, vợ đẹp con khôn có rồi, quyền cao chức trọng có rồi, chỉ thiếu mỗi cái thẻ hội viên hội nhà văn là chưa có, mày giúp tao với. Nhiêù lần vì bạn bè, mình chạy chọt tướt bơ. May những người mình chạy giùm, vận động giùm đều xứng đáng cả, không mang tiếng chết.
       Có lần mình nói anh Khải anh phải ủng hộ thằng Tiến bạn em nhé. Anh Khải nói rồi, thằng đó giỏi, không ủng hộ nó thì ủng hộ thằng nào.
       Đến khi thằng Tiến trượt, mình trách anh sao không bỏ cho nó một phiếu. Anh cãi tôi bỏ rồi. Mình nói không phải thằng Tiến đó, thằng Tiến kia kìa. Anh ngồi ngẩn ra: cả một mớ Tiến tôi biết Tiến nào ra Tiến nào đâu.
       Anh T. rất tốt bụng, nhờ ai anh cũng ok nhưng tính hay quên. Một hôm bầu xong ra khoe với mình tao bầu nó rồi nhé. Mình hỏi lại tên hoá ra anh bầu lầm. Mình nói, anh ngồi ngẩn ra: ủa, thằng nào cho tao ăn lòng lợn?
       Thằng Đạo sĩ diện, vào hội nhà văn không thèm nhờ ai. Mình nói các vị BCH có đọc đéo đâu, mày không nói với người ta một câu làm sao người ta biết mày là thằng nào.
       Đạo không nghe, trật, năm sau trật tiếp. Nó uống rượu say chĩa mồm lên tầng ba nhà khách, nơi các vị BCH đang nghỉ, hét tướng lên: Hội nhà văn là cái L.! Mình với Nguyễn Nhật Ánh ra sức can ngăn, nó không chịu, cứ nói đi nói lại Hội nhà văn là cái L.
       Mình nói mày đừng nói thế L.. nó tự ái. Nó ngẩn ra: ờ nhỉ, tại sao mình lại đi xúc phạm L. nhỉ, ngu thế không biết."
       Đấy! tôi mượn truyện của Bọ Lập để khánh thành đề tài L này nha! Phải công nhận đề tài L thằng đéo nào viết cũng hay các bạn nhể nhể!!!

                                                                                                         Via Internet
Phần nhận xét hiển thị trên trang