Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Bảy, 16 tháng 5, 2015

Vong sát thủ và một đất nước giàu nước mắt!

Bức ảnh kỳ lạ trong đám tang Kim Jong Il: Cứ đứng gần Kim Jong Un là chết!

Cập nhật 06:37:19 - 15/05/2015
Docbao.com.vn -
5 trong 7 quan chức hàng đầu của Triều Tiên từng đứng cạnh ông Kim Jong Un bên xe tang lãnh tụ quá cố Kim Jong Il đã bị tử hình, bãi nhiệm và thậm chí là "biến mất" chỉ trong chưa đầy 4 năm.

Trong đám tang cố chủ tịch Kim Jong Il tháng 12/2011, những người đứng bên xe tang tiễn đưa thi hài ông cùng nhà lãnh đạo Triều Tiên Kim Jong Un gồm có Jang Song Thaek, Kim Ki Nam, Choe Tae Bok, Ri Yong Ho, Kim Yong Chun, Kim Jong Gak và U Dong Chuk. Đây đều là những quan chức hàng đầu nắm giữ những vị trí then chốt trong quân đội và Đảng Lao động Triều Tiên thời điểm đó.

Ông Kim Jong Un cùng các quan chức cao nhất trong chính quyền Triều Tiên đưa tang ông Kim Jong Il năm 2011 (Ảnh: KCNA/Reuters/Corbis/Daily Mail)

Trong số những người này, ông Jang Song Thaek là chú của Kim Jong Un lên "đoạn đầu đài" năm 2013. Chỉ huy quân đội Triều Tiên Ri Yong Ho bị bãi nhiệm 1 năm trước đó và được cho là đã chết. Kim Yong Chun, Kim Jong Gak và U Dong Chuk đều bị trục xuất hoặc lặng lẽ "biến mất". Hiện chỉ có ông Kim Ki Nam và Choe Tae Bok còn tại vị.

Sơ đồ những quan chức đứng bên xe tang thi hài ông Kim Jong Il (từ 1 đến 8): Kim Jong Un, Jang Song Thaek, Kim Ki Nam, Choe Tae Bok, Ri Yong Ho, Kim Yong Chun, Kim Jong Gak và U Dong Chuk (Ảnh: Cơ quan quan sát lãnh đạo Triều Tiên/Daily Mail)

Mới đây, báo chí quốc tế đưa tin ông Hyon Yong Choi, người giữ cương vị Bộ trưởng Quốc phòng Triều Tiên từ năm 2012, vừa bị xử tử bằng súng phòng không trước mặt hàng trăm quan chức tại thủ đô Bình Nhưỡng hôm 30/4 vì "ngủ gật và cãi lời lãnh đạo Kim Jong Un". Tuy nhiên phía tình báo Hàn Quốc cho biết họ chưa thể xác nhận thông tin trên.

Ông Kim Jong Un trong đám tang ông Kim Jong Il năm 2011 (Nguồn: Russia TV/YouTube)

Cùng nhìn lại những quan chức cấp cao đã bị thanh trừng sau 4 năm đứng bên cạnh ông Kim Jong Un trong tang lễ ông Kim Jong Il.

Jang Song Thaek

Ông Jang Song Thaek, 67 tuổi, chú của nhà lãnh đạo Kim Jong Un đã bị xử bắn sau một phiên toà công khai năm 2013. Tuy vậy, báo giới phương Tây và Trung Quốc loan tin ông Jang cùng 5 trợ lý thân cận "bị lột truồng và ném vào lồng sắt có 100 con chó đói".

Ông Jang Song Thaek đứng ngay sau Kim Jong Un trong đám tang ông Kim Jong Il năm 2011 (Ảnh: AP/Daily Mail)

Hãng thông tấn KCNA của Triều Tiên sau đó thông báo ông Jang bị xử tử vì tội "làm mất ổn định đất nước" và "tiến hành đảo chính". Bình Nhưỡng cũng gọi ông là "kẻ phản bội dân tộc" khi cố gắng tranh giành quyền lực với lãnh đạo tối cao, đồng thời tiết lộ ông có cuộc sống chìm trong tham nhũng, bồ bịch, cờ bạc và nghiện ngập.

Thông tin này khác xa với hình ảnh một người quan tâm dìu dắt, hỗ trợ nhà lãnh đạo trẻ tuổi Kim Jong Un lúc mới lên nắm quyền. Vào tháng 4 năm ngoái, 11 quan chức trung thành với ông Jang cũng bị xử tử.

Ông Kim Jong Un cùng cựu Bộ trưởng Quốc phòng Ri Yong Ho (bên trái) năm 2012 (Ảnh: AP/Daily Mail)

Ri Yong Ho

36 binh lính Triều Tiên đã thiệt mạng trong cuộc đấu súng bên ngoài văn phòng cựu Bộ trưởng Quốc phòng Triều Tiên Ri Yong Ho tháng 7/2012. Ông là nhân vật đầu tiên trong 7 người đưa tang cùng ông Kim Jong Un phải lên "đoạn đầu đài".

Báo Chosun Ilbo của Hàn Quốc cho biết vụ đọ súng diễn ra giữa những binh lính trung thành với ông Ri Yong Ho và quân đội chính phủ do tướng Choe Ryong Hae dẫn đầu khi đó đang truy bắt ông Ri. Phía Triều Tiên cũng từ chối tiết lộ lý do ông Kim Jong Un bãi nhiệm ông Ri Yong Ho. Kể từ đó ông không còn xuất hiện nữa.

Không có thông tin nào cho thấy ông bị thương hay bị bắn chết trong cuộc đấu súng. Phía Triều Tiên thông báo ông Ri đã "từ chức vì lý do sức khoẻ".

U Dong Chuk, Kim Yong Chun và Kim Jong Gak:

Từ trái sang: U Dong Chuk, Kim Yong Chun và Kim Jong Gak (Ảnh: KCNA/Reuters/Corbis/Daily Mail)

Ông U Dong Chuk, cựu Cục phó Cục An ninh Quốc gia đã bị bãi nhiệm tháng 3/2012 bởi Jang Song Thaek. Từ đó không ai biết thêm thông tin gì về ông nữa. Ông Kim Yong Chun, cựu Thứ trưởng Bộ Quốc phòng bị bãi nhiệm tháng 4/2012 "vì lý do sức khoẻ" và cũng "biến mất" kể từ đó. Cũng trong năm 2012, Bình Nhưỡng thông báo ông Kim Jong Gak bị bãi nhiệm.

Những ai còn sống?

Thông tin tình báo Hàn Quốc cho biết trong năm nay ông Kim Jong Un đã xử tử 15 quan chức cấp cao, nâng tổng số người bị thanh trừng từ năm 2011 đến nay lên con số 70.

Trong năm nay, trong số 15 người bị xử tử có một Thứ trưởng vì đã lên tiếng phản đối chính sách trồng rừng, một quan chức thiết kế sai hình mái nhà của một toà nhà mới, và 4 nhạc công trong một ban nhạc bị kết tội gián điệp. Những thành viên này là người của một ban nhạc mà phu nhân ông Kim Jong Un từng tham gia.

Ông Kim Jong Un từng ra lệnh đầu độc cô ruột mình?

Bà Kim Kyong Hui bị Kim Jong Un đầu độc chết? (Ảnh: AP/Daily Mail)

Một vài tướng lĩnh đào thoát trong quân đội Triều Tiên cho biết vào ngày 5-6/5 năm ngoái, ông Kim Jong Un đã ra lệnh cho thuộc cấp đầu độc bà Kim Kyong Hui, cô ruột và là vợ Jang Song Thaek. Về phía Triều Tiên, trong tháng 11 năm ngoái họ xác nhận bà Kim, 68 tuổi, chết vì đột quỵ.

Bà Kim Kyong Hui là em ruột cố chủ tịch Kim Jong Il, từng giữ chức cố vấn chính phủ trong nhiều thập niên và nhận hàm Đại tướng năm 2010.

Ông Kim Jong Un từng thiêu sống một "kẻ thù quốc gia"?

Một quan chức cấp cao của Triều Tiên, ông O Sang Hon, đã bị thiêu sống hồi năm ngoái sau khi bị ông Kim Jong Un kết tội "kẻ thù quốc gia". Được biết, ông là một quan chức trung thành với Jang Song Thaek. O Sang Hon bị bắt với tội "tham nhũng" và "âm mưu đảo chính".

Ông O Sang Hon (trái) bị thiêu sống? (Ảnh: AP/Daily Mail)

Bị xử tử vì say xỉn trong tang lễ ông Kim Jong Il?

Ông Kim Chol bị xử bắn vì tội say xỉn (Ảnh: Daily Mail)

Năm 2012, một viên tướng Triều Tiên đã bị xử tử vì tội say xỉn trong thời gian 100 ngày để tang sau cái chết của ông Kim Jong Il. Người này sau đó được giới truyền thông nước ngoài xác định là Kim Chol, cựu Thứ trưởng Bộ Quốc phòng.

Theo báo chí phương Tây, ông Kim Chol bị cạo đầu và hành hình bằng súng cối.


Thực hiện: Phi Yến / Nguồn: MASK Online
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Lưu Quang Vũ và những bài thơ "viển vông cay đắng u buồn" viết trong những năm chiến tranh

Lời dẫn

 Năm 1993, Bầy ong trong đêm sâu  tập hợp những bài thơ Lưu Quang Vũ mà trước đó ít người biết tới  được xuất bản. 

Sở dĩ một tiếng nói mà suốt những năm chiến tranh bị vùi dập bị quên lãng nay được khôi phục, đó cũng là  nhờ vào uy tín của tác giả bên sân khấu. Thêm nữa, cái chết bất ngờ của Vũ và gia đình lại càng làm cho người ta muốn biết thêm về cả những bước đường đời đã qua.

Bản thân tôi có may mắn được viết ít dòng dùng làm lời bạt cho tập thơ. Bài bạt Lưu Quang Vũ và những bài thơ "viển vông cay đắng u buồn" viết trong những năm chiến tranh này  sau đó đã  đổi tên thành Lưu Quang Vũ và một mảng đời một mảng thơ thường bị quên lãng được đưa vào  tập Cây bút đời người 2002.      

Với bản thân tôi và một số bạn bè khác, chính ra, những vần thơ mà Lưu Quang Vũ làm không để đăng báo, làm cho riêng mình, làm trong lúc bĩ này  mới lại là phần sáng giá nhất trong sự nghiệp của anh. Năm 1993 tôi đã nghĩ thế và nay, 40 năm sau chiến tranh, vẫn nghĩ thế. 

Chúng tôi sẽ trở lại với đề tài này trong một bài viết tiếp.

                                                                                                                     

Trước khi vùng vẫy tung hoành trên sân khấu, Lưu Quang Vũ đã được biết tới như một người làm thơ. Ấy là một nhà thơ thuộc loại bẩm sinh, dễ dàng giãi bày mọi vui buồn của mình trên trang giấy. Những lúc mở lòng ra chan hoà tâm tình với người thân, với bè bạn, với cuộc đời, anh đã có thơ; những lúc buồn bã quay về một mình đơn độc, anh lại cũng chỉ có cách tìm tới thơ để tự an ủi. Nhất là khoảng từ đầu những năm 1970 trở đi, trong khi cuộc đời đa đoan phiền phức của mình gặp nhiều khó khăn, Vũ đã làm thơ như ghi nhật ký, làm khá nhiều. Vì những nguyên cớ khác nhau, các bài thơ hồi đó chưa được công bố, nhưng một số vẫn được ghi trong sổ tay và nhất là đi về trong trí nhớ của bè bạn
Hôm nay đây, đối diện với những bài thơ sống sót, những bài thơ từ cõi im lặng bước ra ấy, tôi có cảm tưởng như được thấy lại những vật kỷ niệm của chính mình. Tôi nhớ lại một thời Hà Nội và một thời văn nghệ mà mình và bạn bè đã chứng kiến, đã sống. Quả thật là đặt bên cạnh những bài thơ đã biết, cả những bài rất hay của thời chiến, thì những dòng thơ riêng tư của Vũ có được cái vẻ độc đáo không gì thay thế được. Chúng – và những gì tương tự như chúng – là một phần cuộc đời ta, vì lý do nào đó, có lúc ta đã phải lảng tránh, phải lãng quên, nhưng không phải vì thế mà nên chối bỏ chúng mãi mãi! Ở đây chúng ta bắt gặp một Lưu Quang Vũ khác với thông thường mọi người vẫn nghĩ. Vũ của dằn vặt, đau xót, lầm lỡ, cô đơn, mà cũng là Vũ của những tha thiết muốn vượt lên trên mọi mệt mỏi, mọi hoài nghi để sống, để tồn tại. Hai chặng khác nhau nhưng đều là của một con người thống nhất.
*
* *
Những bài thơ đầu tay của Lưu Quang Vũ được tập hợp lại thành phần Hương cây và ra chung với Bếp lửa của Bằng Việt vào cuối năm 1968. Dù có chóng quên đến đâu, thì những ai đã sống qua thời đó ở Hà Nội đều biết rằng đại khái đó là thời mà mọi sinh hoạt còn rất đạm bạc, chẳng hạn, với một cán bộ nhà nước, việc mua được chiếc xe đạp phải được xem là một việc lớn trong đời, và chỉ những gia đình có máu mặt, mới có chiếc radio Melodia Liên Xô nặng nề, hoặc chiếc Orionton của Hungary xách tay được để nghe ca nhạc.
 Không thể tưởng tượng nổi là một tập thơ lúc ấy lại gây chấn động đến như thế nào. 
Bọn tôi, một số anh em mới viết, muốn ướm thử đời mình vào nghề văn, chúng tôi nghĩ rằng một tập sách, nó là cái danh thiếp tốt nhất, để người ta tự giới thiệu với chung quanh, để khẳng định mình, để có bạn. 
Với việc có một tập sách, chính là Vũ, cùng với Bằng Việt – trong Bếp lửa Hương cây; cùng với Đỗ Chu – trong tập truyện ngắn Phù sa, – là những bạn đầu tiên trong chúng tôi thành người. Thành nhà văn nhà thơ. Thành tác giả. Thành tất cả những gì, mà chúng tôi hằng ao ước. Làm sao mà không cảm động cho được!

Lúc bấy giờ, nhà Vũ đã ở căn gác 96 phố Huế như hiện nay. Trong cảnh sơ tán, thành phố những năm đầu mới chuyển sang thời chiến lại có vẻ thưa vắng đáng yêu riêng của nó. Phố xá sạch sẽ. Người không phải chen với người. Dắt cái xe đạp qua cổng, có thể khoá tạm rồi lên gác hai, không lo suy suyển gì hết. Giữa cái không khí dễ chịu ấy, căn phòng của người làm thơ trẻ Lưu Quang Vũ là một tổ ấm đích thực. Tôi nhớ đã gặp ở đấy rất nhiều người quen. Các bậc đàn anh: Trần Việt Phương, Nguyễn Khải, Chính Hữu. Các bạn trẻ hơn, Nguyễn Xuân Thâm, Tạ Vũ, Vũ Quần Phương, Phan Thị Thanh Nhàn… Rồi Nghiêm Đa Văn, Quốc Anh ở khu Bốn ra, Phạm Tiến Duật ở chiến trường về, Thi Hoàng ở Hải Phòng lên… 
Các bậc đàn anh đến có việc mà cũng là để xem xem lớp trẻ ra sao. 
Còn các bạn làm thơ trẻ, thì đến để gặp Vũ mà cũng là để gặp nhau, thời nào mà lớp trẻ chẳng ồn ào và thích đi thành lũ thành bọn!
 Đám cưới Vũ – Tố Uyên chỉ gồm có ít bạn quen, mà sao vui vẻ lạ! Trong trí nhớ của nhiều người, đám cưới ấy đồng nghĩa với hạnh phúc, thứ hạnh phúc bé nhỏ và trong sáng, mà thời chiến còn dành cho chúng tôi. 
Với vẻ mãn nguyện không che giấu, Vũ tận hưởng sự chiều đãi của mọi người chung quanh và gửi gắm niềm tin yêu đời sống của mình vào những bài thơ bồi hồi “hương cây hương đất”, thoang thoảng “lá bưởi lá chanh”:
Ta đi giữ nước yêu thương lắm
Mỗi xóm thôn qua mỗi nghĩa tình
Đọc trong sự tha thiết của Vũ một vẻ gì rất thành thật, người ta đã tưởng tất cả Vũ chỉ có vậy.
Nhưng chúng tôi, đám bạn bè thường vẫn đàn đúm với nhau, biết nhau không chỉ qua thơ mà cả những gì sau các câu thơ, chúng tôi sớm mang máng nhận ra rằng không hẳn vậy. 
Mặc dù trẻ nhất “hội”, nhưng bên cạnh con người ngây thơ trong trắng, ở Vũ còn có con người của thành thạo, từng trải. 
Từ nhỏ, trong gia đình, Vũ đã sống hết với mọi ấm lạnh của giới văn nghệ. 
Cái nhìn của Vũ về sự đời vượt xa tầm hiểu biết của một thanh niên 19-20 thông thường.

- Chuyện nhân thế nhờ em anh biết được
Anh nhìn đời theo con mắt của em


- Hỡi em của anh em của anh chỉ em là còn lại

Trong hoàng hôn buồn bã của cuộc đời
Khi anh mất cả dòng thơ êm ái
Cả dòng đời cả tiếng nói niềm vui
Vì anh muốn tiếng yêu em anh nhắc lại
Tiếng mới đau sao khi thiếu mất em rồi


Những câu thơ ấy là của L. Aragon và do các nhà thơ Tế Hanh, Nguyễn Viết Lãm dịch ra tiếng Việt. Ở Hà Nội năm ấy, việc giới thiệu văn học nước ngoài còn rất hạn chế, Aragon được dịch đã là may, chứ có ai để công kể với đám trẻ chúng tôi về con người tác giả (vốn mang tiếng là phức tạp) hoặc giảng giải kỹ chung quanh một ít câu thơ chứa chất những vui buồn của cả đời người như vậy.
 Một người nông nổi như tôi đã bỏ qua những câu thơ sâu sắc ấy, để rồi mãi lúc được Vũ chỉ cho, tôi mới ngớ ra vì sự khờ khạo của mình.
- Tôi thở ra làm nhiều người không sống được
Giấc ngủ chừng khuấy động bởi âu lo
Hình như thơ tôi vang tiếng đồng tiếng sắt

Làm đứng lên những người chết trong mồ

Tôi nói tình yêu tình tôi làm các ông nhăn nhó
Tôi nói trời trong, các ông bảo trời mưa

Các ông nói đồng tôi nhiều hoa quá
Đêm tôi lắm sao trời tôi chẳng xanh vừa


- Tôi nghe tiếng gà trong cùng tận đau thương
Trong đổ nát tôi vẫn mang chiến thắng
Dù khoét mắt những vì sao xa vắng
Trong đêm dài tôi vẫn chói vừng dương


Aragon là vậy, si mê, cuồng nhiệt, sẵn sàng gây sự thách thức mọi người. Aragon luôn có chút gì đó quá đáng. Và, Vũ của chúng tôi, thường cũng quá đáng. Tôi có cảm tưởng rằng sau giai đoạn thơ mộng (mang dấu vết của thơ tiền chiến), trong những bài thơ đau đớn của Lưu Quang Vũ về sau, luôn luôn có cái âm hưởng mà Aragon đã để lại trong tâm hồn anh.

Và không chỉ thơ, mà cả cuộc đời Vũ cũng giống như thơ Aragon, cũng là minh chứng cho sự đa đoan phức tạp của cuộc đời, mặc dù lý do khiến cho có sự phức tạp ấy thì khác hẳn.
Những phiền toái đã đến với Vũ khá nhanh chóng, những phiền toái do lỡ lầm hư hỏng của chính anh gây ra cũng có, mà do cái ngặt nghèo của hoàn cảnh cũng có.
Tôi không nhớ thật rõ, nhưng hình như ngay vào khoảng đầu những năm 70, khi Vũ mới 22-23, trong đầu óc một số chúng tôi, cái hình ảnh mơ mộng của một nhà thơ được ái mộ nơi anh đã nhoà đi gần hết. 
Thay vào đấy là hình ảnh một kẻ long đong giữa cuộc đời vô định.
 Những hoang tưởng ngớ ngẩn đã đẩy Vũ đến chỗ vượt ra khỏi những quy định thông thường mà một người làm thơ trẻ phải tuân thủ.
 Và Vũ bị trả giá đích đáng.
 Báo chí không in thơ Vũ nữa. 
Vũ rơi vào tình thế cô độc, hầu như lạc lõng giữa dòng người sôi nổi.

 Một điều khốn khổ nữa là chính lúc ấy, cái gia đình riêng của Vũ cũng rạn vỡ. Nếu hồi trước với Lưu Quang Vũ, ngày nào cũng là ngày vui, sau khi đèo người vợ mới cưới đi làm, chàng thi sĩ trẻ rẽ vào một quán cà phê sang trọng, ngồi làm thơ, đến giờ lại rẽ lên Xưởng phim đón vợ về, thì về sau, tất cả đã thay đổi. Nơi người ta thường gặp anh là những quán nghèo “quán cà phê dưới gầm cầu xe lửa”, người con gái đi bên cạnh anh là một cô bạn gày guộc “em gầy như huệ trắng xanh”, cô gái như hiện thân của cuộc đời vất vả phiền phức mà Vũ không thể lìa bỏ. Và “phố Hạ Hồi bữa ấy mưa rơi” – những ngày ấy sao mà trời hay mưa:
- Thành phố nghèo mù mịt những mưa rơi
Cánh hoa nhoè trong mưa tơi tả
- Chiều nay bốn bề mưa xám
- Nay một mình trở lại ngoại ô mưa
- Anh chỉ sợ rồi trời sẽ mưa
Xoá nhoà hết những điều em hứa.


Trong các thi sĩ đương thời, Vũ là người nhạy cảm với mưa, thân thuộc với mưa hơn ai hết. Ở anh, mưa cho thấy sự trôi qua của thời gian mà con người bất lực, không sao níu kéo nổi. Mưa làm cho hiện tại trở nên vô nghĩa và tương lai trở nên lờ mờ, không xác định. Sở dĩ Vũ nói nhiều đến mưa vì cảm giác bao trùm trong anh lúc này là ngán ngẩm, thất vọng, không tin vào điều gì, không biết hướng đời mình vào việc gì.
- Thành phố thời anh 17 tuổi
Viển vông cay đắng u buồn
Tôi còn nhớ rất rõ cái cảm tưởng nước đôi giày vò bản thân mình khi nghe những bài thơ đó của Vũ: một mặt e ngại, cảm thấy nó đi ngược với tâm trạng chung, cái lạc quan chung nên không cần ai bảo, đã thấy là không phải. Nhưng mặt khác lại thích thú, cảm thấy ở đó có một phần vui buồn của mình nên tìm kiếm vụng trộm, tán thành vụng trộm, thèm muốn trở lại với những dòng thơ đó, như thèm muốn nhìn thấy chính hình ảnh của mình. 

Từ đầu 1970, cuộc sống Hà Nội đã bắt đầu phô ra tất cả cái khó khăn phiền phức mà thời chiến phải có. Thành phố như một người ngấm bệnh. Mỗi lần còi báo động, phố xá hiện ra đơn côi bé nhỏ đã đành, ngay những lúc yên lành, thành phố tài hoa của chúng tôi cũng quá lầm lụi nhem nhuốc. 
Các tường nhà lâu không quét lại, phô ra hết vẻ mốc meo. Những hầm cầu thang trú ẩn tăm tối. Túp lều che tạm trên gác thượng, tơi tả trong gió. Chỉ có trời mây trong xanh, nhưng trời mây xa xôi quá, có ích lợi gì đâu trong việc giải quyết những việc lặt vặt hàng ngày!
 Đáng sợ hơn nữa là cũng do cuộc sống khó khăn, những thói xấu cố hữu của con người như nhút nhát tham lam vụ lợi có dịp thức dậy, càng giấu giếm càng đê tiện. Từ đủ mọi phía, hoài nghi len lỏi tới, những hoài nghi đủ sức làm bủn rủn con người và không cho người ta vững tâm làm việc gì cả. Thơ Vũ bắt lấy những cái đó rất nhanh. Từ hoàn cảnh riêng, Vũ suy ra cả cuộc đời chung và diễn tả những tan nát đổ vỡ với tất cả cái đắm đuối của tuổi trẻ. Chúng tôi đã thử tìm cách chống lại thứ thơ ấy. Chẳng phải là đôi lúc, Vũ đã không khỏi có chút huênh hoang? Đã vay mượn chắp vá? Đã tố cái khốn khó của mình lên? Đã rên rỉ nhiều hơn là kiên nhẫn chịu đựng và dìm nỗi đau của mình trong nước lạnh? Chúng tôi biết cả.
 Nhưng tận trong thâm tâm, mỗi người vẫn biết là có lòng mình, tâm trạng của mình ở trong những dòng thơ rách xé đó. 
Vốn xa lạ với mọi thứ giáo huấn, dạy bảo, Vũ không hẳn cố ý làm lây truyền cái nôn nao buồn bã của mình. Nhưng có lẽ chính vì thế mà tiếng kêu của anh càng tội nghiệp. Nó giống như một tiếng nức nở.

Ở đây, sở dĩ đôi lúc người viết bài này xưng “chúng tôi” bởi lẽ: do cái cái giọng riêng độc đáo của những dòng Vũ viết lúc ấy, thơ anh đã được mang ra để anh em bạn bè cùng lứa bàn bạc tranh cãi. Làm sao không luôn luôn nghĩ về nhau được khi hàng ngày gặp gỡ chia sẻ mọi vui buồn, và hiểu nhau từ mọi chuyện nhỏ nhặt trong gia đình đến những dự định ao ước lớn lao? Tôi nhớ một lần nào đó, Vũ Quần Phương khái quát:
- Nổi lên ở Vũ là một cái gì rất đau đớn, thấy cuộc đời cay cực mà vẫn yêu đời và quyết bám lấy cuộc đời thô nhám này.
Xuân Quỳnh – khi đó còn là một người hàng xóm, một đồng nghiệp – Xuân Quỳnh thông cảm:
- Giá kể Vũ thích một cái gì đó thì có thể Vũ cũng làm được. Đằng này Vũ không thích gì hết, đấy mới là điều đáng sợ.
Với bản tính chừng mực, đi sát với một quan niệm trung dung, Bằng Việt chép miệng:
- Ông Vũ này, lúc chiều đời quá lúc khinh bạc quá, đều là không phải. Thực ra, cuộc sống luôn luôn là một cái gì cân bằng, phải chăng…
Bàn bạc vậy thôi, song các ý nghĩ đều để ngỏ, và một điều mà mọi người thường xót xa trong lòng, khi nghĩ đến Vũ, là thấy Vũ già đi rất nhanh.

Dáng người béo đậm, Vũ của tuổi 19, môi đỏ, má lông tơ, hiện thân của một tuổi thanh xuân đầy thơ mộng. 
Nay bước sang tuổi 20 - tuổi hai mươi khốn khổ của tôi ơi / Tuổi tai ương dằng dặc trận mưa dài; trong một bài thơ nào đó, hình như nay đã thất lạc, Vũ viết vậy – bước sang tuổi 20, giờ đây người anh đanh lại, xạm đi, trên nét mặt nhiều khoảng tối u uất. Lúc nào Vũ cũng như đăm chiêu không bằng lòng một điều gì, để rồi khi chịu không được, lại buột ra một câu thật suồng sã, láo lếu. 
Ngay ngồi giữa đám đông mà trong Vũ vẫn có những thoáng buồn xa vắng. May là ngoài đám bạn thơ quen từ mấy năm trước, từ đầu 1970, Vũ có thêm nhiều bạn thơ mới. 
Hải Phòng lúc ấy là một thứ Sài Gòn bây giờ. Hải Phòng là một cái gì đó, không phải Hà Nội, nhưng sẵn sàng chào đón người ta, khi người ta muốn từ bỏ Hà Nội. 
Hải Phòng có cuộc sống của than bụi, lại có biển, có trùng khơi, rất hợp với Vũ. 
Ở Hải Phòng, Vũ tìm thấy những người bạn vừa phóng túng, vừa bao dung, như đạo diễn điện ảnh Đào Nguyễn (Đào Trọng Khánh), như Nguyễn Khắc Phục. Nhiều bài thơ Vũ làm hồi này nhắc tới Hải Phòng, hổn hển kể chuyện Hải Phòng, là từ những chuyến lãng du đất Cảng với các bạn ấy.

 Còn ở Hà Nội, người bao dung hơn cả, là Nguyễn Lâm. Căn phòng nhỏ của Lâm ở Triệu Việt Vương là nơi Vũ thường xuyên lui tới. Những lúc vui, Vũ đi những đâu đâu, khi buồn quá, lại trở về với Lâm. 
Lâm có thể nghe Vũ kể đủ chuyện, có thể nghe Vũ chửi bới kêu than, lại có thể lặng đi chờ đợi khi Vũ đờ đẫn không nói gì. 
Lần ra ga Hàng Cỏ cùng Vũ trong một đêm trời lạnh, đó là Lâm. 
Ngồi xe xích lô cùng Vũ đi rong, để rồi lại trở về trầm ngâm bên chiếc điếu cày hay chén rượu nhạt, lại cũng là Lâm, ”Lâm rùa” như chúng tôi đã đặt tên.
 Bao nhiêu ngang ngược của Vũ, Lâm chịu được hết.
 Trong những năm tháng tơi tả của Vũ, Lâm là hiện thân của sự chứa chấp thông cảm mà Vũ khao khát, nhưng lại thường tự đánh mất. 

Cố nhiên, nói về thơ Vũ lúc này, còn phải nói về gia đình và những người đàn bà, nơi nương tựa về tâm lý của Vũ, những khi đặc biệt cơ cực. Đó là những chuyện mà ở ta ít có thói quen nói ra công khai, song thật ra, lại liên quan trực tiếp đến nhiều sáng tác cụ thể của các nghệ sĩ nói chung và Lưu Quang Vũ nói riêng.
 Đọc những bài thơ tình hay nhất của Vũ viết khoảng sau 1970, tôi nhớ tới lời tự thú của Picasso: “Cũng như tất cả các hoạ sĩ khác, tôi trước tiên là hoạ sĩ của phụ nữ, và với tôi, phụ nữ trước tiên là một cơ chế của sự đau khổ”.
*
* *
Vào thuở mới bắt tay viết lách, phần lớn những người cầm bút ở ta đều có làm thơ, sau đó mới bỏ đi sang các nghề khác. Vì những lý do gì mà bỏ? Có thể mỗi người là một trường hợp riêng, ở mỗi người có nguyên cớ riêng. Như với Nghiêm Đa Văn – một người bạn chung của chúng tôi, cũng có làm thơ vào những năm 1965-70, sau đi viết chuyện thiếu nhi, và làm nhiều nghề đa tạp khác – ngay từ trước 1975, một lần tình cờ, tôi nghe Nghiêm Đa Văn trầm ngâm kể:
- Một trong những thằng khiến tao bỏ làm thơ là Lưu Quang Vũ.
Ý Văn muốn nói tài năng ở Vũ có một vẻ gì tự nhiên, mà không sự dụng công nào có được, và ai không có, thì nên từ giã thơ cho sớm.

Về phần mình, tôi có những kỷ niệm yêu thơ Vũ theo một cách khác. Cũng như nhiều người, trong tâm trí tôi, thỉnh thoảng lại vang lên những câu thơ đâu đâu, nó đã ăn sâu vào tiềm thức, không cần nhớ tên tác giả, không thuộc cả bài, nhưng cứ nhớ và khi gặp hoàn cảnh tương đồng thì lại ngâm ngợi.
Một kỷ niệm tưởng không đâu mà lưu luyến mãi trong lòng:
- Có lẽ nào có thể quên được nhỉ
Cuộc đời mình còn có cỏ tóc tiên
Những lúc run rẩy xúc động:
- Trời xanh quá, tim tôi hồi hộp quá
Tiếng Việt ơi, tiếng Việt ân tình
Nỗi ước nguyền được hết lòng cho một người con gái:
- Không làm thơ, anh sẽ làm lá cỏ
Chỉ xanh thôi, cũng mát mắt em nhìn
Từ một chi tiết có vẻ nhỏ nhặt:
- Ngày hạnh phúc có nụ cười mỏi mệt
Đến một cái gì giống như là cảm giác chung về cuộc đời này, nó đã làm khổ ta, mà ta không dứt bỏ được :
- Có ai nói cho lòng ta hiểu nổi
Về cuộc đời ghê gớm ta yêu
Tất cả những câu thơ đó là Lưu Quang Vũ, Lưu Quang Vũ của Hương cây và nhất là Lưu Quang Vũ sau Hương cây, Lưu Quang Vũ của những năm bảy mươi hào hùng và cay đắng.

 Nên đánh giá những bài thơ này của Vũ như thế nào? Tôi nhớ một câu nói của Chế Lan Viên đại ý: nếu tất cả văn học chúng ta viết như Nguyễn Tuân thì chắc chắn không được, thậm chí còn phát chán nữa. Nhưng nếu trong toàn bộ nền văn học, không có một Nguyễn Tuân, thì cũng rất thiếu sót.
 Cũng tương tự như vậy, báo chí những năm chiến tranh không thể cho in những dòng thơ mang tâm sự cá nhân, điều ấy là đúng, giọng thơ chủ yếu của những năm chiến tranh phải là giọng thơ hùng tráng. Nhưng cùng với sự lùi xa của thời gian, sẽ là công bằng hơn nếu giờ đây chúng ta dành “một chỗ đứng dưới ánh mặt trời” cho những bài thơ xé lòng lâu nay chỉ chép trong sổ tay của nhiều người – đại loại như những bài thơ của Vũ.
Nói bản chất của con người là luôn luôn vươn tới sự hoàn thiện, niềm vui, ánh sáng tức cũng có nghĩa con người không bao giờ thoát khỏi lầm lỗi, nỗi buồn, bóng tối, nhất là đôi khi trong những hoàn cảnh đặc biệt, ánh sáng càng rực rỡ, thì bóng tối càng nặng nề và trông thấy ánh sáng trước mắt đấy mà con người vẫn không vươn tới được.
 Có lẽ vì rất hiểu điều đó, nên một người như thi hào Đức B. Brecht, trong bài thơ nổi tiếng mang tên Gửi người mai sau đã nói rất hay về sự độ lượng. 
Sau khi kể lại những nỗi khốn khổ mà thế hệ mình phải gánh chịu, nào nạn đói hoành hành, nào con người cướp giật của nhau để sống, nhiều người lang bạt “thay đổi nước như thay đổi giày” nhất là sau khi kể lại những yếu hèn của thế hệ mình, Brecht viết tiếp:
Nhưng các anh, khi đã đến cái thời ao ước đó
Khi con người là bạn của con người
Hãy nghĩ đến chúng tôi
Cho độ lượng
Ngay từ những năm chiến tranh, sống trong cái tranh tối tranh sáng nửa hậu phương, nửa chiến trường của Hà Nội, đám bạn mới bắt đầu làm văn chương thuở ấy, khi nghĩ về thơ Vũ đã thường tìm chỗ dựa ở bài thơ nói trên của Brecht. Còn như giờ đây khi mà những người 20-25 hôm qua đã sang tuổi 50-60, cái ý tưởng về sự độ lượng càng có sức kêu gọi, như một ám ảnh: Chúng ta vốn chẳng giàu có gì, đừng làm cho chúng ta nghèo thêm đi một lần nữa, ngay trên phương diện tinh thần.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Báo TQ dọa chiến tranh hạt nhân với Mỹ ở Biển Đông


(TNO) Thời báo Hoàn Cầu của Trung Quốc ngày 15.5 đã hung hăng cảnh cáo nguy cơ xảy ra chiến tranh hạt nhân sau khi Mỹ đề xuất cho tàu chiến và máy bay trinh sát áp sát các đảo nhân tạo Bắc Kinh xây phi pháp ở Biển Đông.
Tàu tác chiến cận bờ USS Fort Worth (LCS 3) tuần tra gần quần đảo Trường Sa, phía sau bên trái là tàu hộ vệ tên lửa Yancheng (FFG 546) của Trung Quốc bám theo, ngày 11.5.2015 - Ảnh: Hải quân Mỹ

Báo Wall Street Journal (Mỹ) mới đây dẫn lời một quan chức quốc phòng giấu tên của Mỹ tiết lộ rằng Bộ trưởng Quốc phòng Ash Carter đã yêu cầu Lầu Năm Góc soạn phương án mở rộng hoạt động tuần tra tại Biển Đông, bao gồm cả việc cho máy bay trinh sát bay trên các đảo nhân tạo do Trung Quốc xây phi pháp và điều tàu chiến áp sát trong phạm vi bán kính 12 hải lý (22 km) của các hòn đảo này.

Trong bài xã luận đăng ngày 15.5, Thời báo Hoàn Cầu (ấn bản phụ của Nhân dân Nhật báo) cho rằng nếu Nhà Trắng thông qua đề xuất nói trên, “Mỹ sẽ biến Biển Đông thành một thùng thuốc súng”.

“Washington sẽ quá ngây thơ nếu nghĩ rằng Trung Quốc sẽ kiên nhẫn kiềm chế trong trường hợp này. Mỹ nên nhớ Trung Quốc là một cường quốc có vũ khí hạt nhân, và quân đội Mỹ chẳng có đường nào để triển khai những hành động liều lĩnh tại Biển Đông”, báo Hoàn Cầu lớn giọng nói.

“Với việc Trung Quốc ở gần Biển Đông hơn và quyết tâm bảo vệ chủ quyền của mình, Mỹ, mặc dù có đội quân hùng mạnh nhất thế giới, cũng sẽ không có cơ hội áp đảo Trung Quốc. Ngoài ra, xung đột kéo dài cuối cùng sẽ tước đi quyền bá chủ của Mỹ đối với những quốc gia khác trong khu vực, vốn chỉ là nạn nhân của cuộc chiến”, theo Thời báo Hoàn Cầu.

Tờ báo Trung Quốc này còn khẳng định Bắc Kinh “không có ý định trở thành phía thách thức, nhưng Trung Quốc sẽ không tránh né bất kỳ thách thức nào nhằm vào chủ quyền lãnh thổ của mình từ phía Mỹ”.

Thời báo Hoàn Cầu còn “khuyên răn” rằng “Chúng tôi yêu cầu Mỹ nên suy nghĩ kỹ trước khi thực thi chính sách châu Á-Thái Bình Dương mang tính giữ thể diện này”.

Trong bài xã luận, tờ báo Trung Quốc cũng dẫn lời ông Jin Canrong, một chuyên gia Trung Quốc chuyên nghiên cứu nước Mỹ, nhận định: “Nếu đề xuất của Lầu Năm Góc được thông qua, Trung Quốc chắc chắn sẽ có biện pháp đáp trả, chẳng hạn như dùng vũ lực xua đuổi tàu và máy bay Mỹ đi. Mỹ cần nhận ra rằng đại đa số các nước ASEAN không muốn Mỹ phá hủy sự ổn định của khu vực”

http://www.thanhnien.com.vn/the-gioi/bao-trung-quoc-doa-chien-tranh-hat-nhan-voi-my-o-bien-dong-563127.html

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thư giãn cuối tuần:


NHÀ THƠ TỐ HỮU MẦN NGHỀ CHI?

Phạm Xuân Cần


Năm ấy có Đại hội Hội nhà văn Việt Nam. Một hôm cố nhà văn Bá Dũng gặp mình: “Bọn mình là những nhà văn thuộc Chi hội Nhà văn Việt Nam ở Vinh, chuẩn bị đi Đại hội. Ông xem Thành ủy có gặp gỡ chỉ đạo chi không?”. Mình cười: “Chỉ đạo, chỉ điếc chi bác. Em sẽ có quà cho các bác, đồng thời tối mai mời các bác ra Nhà hàng Hoa Phượng Đỏ ta mần bựa”. Ông Bá Dũng cũng cười: “Chỉ có chú mi là hiểu bác”. Tối hôm đó vui lắm, chả phân biệt chủ khách gì, tuổi tác, chức vụ gì, chỉ thi nhau uống và thi nhau nói phét. Đặc biệt là các bác nhà văn, nhà thơ, thôi thì trên trời dưới đất, đủ thứ chuyện. 


Hôm đó nhà văn Bá Dũng kể giai thoại về nhạc sỹ An Thuyên viết bài Huế Thương. Té ra là do ngồi bờ sông Hương uống bia hơi nhiều quá, mà lại thiếu “đầu ra”, cho nên mới phải “Anh cầm trong tay, ra đứng bờ sông. Sông Hương tấp nập, mần răng đặng chừ?”. May mà có một cô “Em che nón đợi và em thẹn thùng”. Rứa là ra Huế Thương để đời. 


Nhà thơ Thạch Quỳ thì nhấp chén rượu rồi thủng thẳng hỏi mọi người: “Tui đố các ông nhà thơ Tố Hữu hồi trước mần nghề chi?”. Mình đoán chắc là câu hỏi mẹo của bác Huấn nên không nói gì. Mấy thằng cùng đi với mình láu táu kể ra các chức vụ Đảng và Nhà nước của bác Tố Hữu.. “Trật!”, nhấp tiếp, nhà thơ Thạch Quỳ mới nói: “Nhà thơ Tố Hữu trước làm lái xe cho Bác Hồ!”. Mọi người ngớ ra: “Mần chi có chuyện nớ!”. Tranh cãi nhau ỏm tỏi. Bác Huấn khi đó mới đủng đỉnh: “Rứa là các ông không đọc thơ Tố Hữu rồi. Này nha, ông Tố Hữu viết: “Bác bảo đi là đi/ Bác bảo thắng là thắng”. “Thắng” tiếng miền Nam là phanh. Bác bảo phanh là phanh. Không lái xe cho Bác thì mần chi nựa!”.


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Tư liệu: XEM LẠI BÀI BÁO ĐÃ ĐEM LẠI TAI HỌA CHO HOÀNG NGỌC HIẾN


.
Về bài của Hoàng Ngọc Hiến

Lại Nguyên Ân

Đây là bài báo nổi tiếng nhất trong đời văn của Hoàng Ngọc Hiến, cũng là bài báo đem lại cho ông một tai họa vào loại nặng nề nhất.

Cần lưu ý rằng, bài báo của ông xuất hiện vào thời mà xã hội bao cấp đã phân hóa ở mức đáng kể; ngay xã hội viên chức cũng tự phân đôi: hầu hết viên chức đều ứng xử theo cách: nói năng “theo nghị quyết” ở nơi họp hành chính quy, nói năng “theo hiểu biết riêng” ở các xúc tiếp riêng tư, tin cậy. Vì thế, một mặt, bài báo của Hoàng Ngọc Hiến khiến ông bị đối xử tàn tệ trong cơ chế quan chức, trong xã hội viên chức; song, mặt khác, bài báo lại khiến ông càng được kính trọng hơn trong các giao tiếp mang tính cá nhân, dân sự, đời thường, không chỉ ở giới chuyên môn hẹp của những người nghiên cứu xã hội nhân văn, giới sáng tác văn nghệ, mà cả giới trí thức nói chung.

Đây là một tiểu luận mỹ học xuất sắc.

Tác giả đã đem thực trạng các sáng tác văn nghệ xã hội chủ nghĩa ra soi rọi dưới ánh sáng của các nguyên lý mỹ học cổ điển, chỉ ra cho người ta thấy ở văn nghệ này “sự miêu tả cái phải tồn tại lấn át sự miêu tả cái đang tồn tại”, và do vậy, “chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa ở ta trong giai đoạn vừa qua mang khá đậm dấu ấn của cái cao cả (le sublime)”.

Theo lập luận của nhà mỹ học Hoàng Ngọc Hiến, “loại hình quan hệ lấn át của một loạt cặp phạm trù hết sức cơ bản mô tả những mâu thuẫn cốt yếu nhất thúc đẩy sự phát triển nội tại của nghệ thuật vừa được nêu lên là đặc trưng khái quát nhất của cái cao cả. Đến lúc quan hệ lấn át chuyển hóa thành quan hệ cân bằng, hài hòa thì sự vận động của nghệ thuật tiếp cận với cái đẹp như là lý tưởng”.

Một sự luận chứng đầy chất hàn lâm, cũng đầy sự trọng thị (đối với đối tượng luận bàn là văn nghệ xã hội chủ nghĩa) như vậy, vì sao lại gây nên những phản ứng mạnh mẽ của nhiều người trong giới nhà văn, nhất là nhiều người trong giới những cán bộ quản lý tư tưởng-văn hóa-văn nghệ?

Những lý do sẽ phần nào được thấy, khi ta đọc lại những bài viết của Tô Hoài, Hà Xuân Trường, Trần Độ, Phan Cự Đệ, Chế Lan Viên, Chính Hữu.

Nhưng, có thể, giọt nước làm tràn ly không hẳn nằm ở hệ thống lập luận kể trên, mà lại nằm ở đoạn diễn dịch này:

“Đứng ở bình diện cái phải tồn tại, người nghệ sĩ dễ bị cuốn hút theo xu hướng miêu tả cuộc sống “cho phải đạo”, còn đứng ở bình diện cái đang tồn tại thì mối quan tâm hàng đầu là miêu tả sao cho chân thật. Đọc một số tác phẩm chúng tôi thấy tác giả dường như quan tâm đến sự phải đạo nhiều hơn tính chân thật. Có thể gọi loại tác phẩm này là “chủ nghĩa hiện thực phải đạo”. Thực ra, ngay trong đời sống thực tại, do quy luật của sự thích nghi sinh tồn, dần dần được hình thành những kiểu người “phải đạo” với những cung cách suy nghĩ, nói năng, ứng xử được xem là “phải đạo”. Khái quát những hiện tượng hết sức thực tại này vẫn sản sinh ra chủ nghĩa hiện thực phải đạo”. (trích bài Hoàng Ngọc Hiến)

“Phải đạo” không phải một tổ hợp gồm 2 từ mà chỉ là một từ; ngay “Đại Nam quấc âm tự vị” (1895-96) đã ghi nhận “phải đạo” như một từ mà hàm nghĩa là “phải phép, phải lẽ, phải việc, bổn phận”; hàm nghĩa của từ này, ở các giới xã hội người Việt, sau đó sẽ còn tiến triển.

Tôi biết, khá nhiều nhà văn, khá nhiều cán bộ trong ngành tư tưởng, văn hóa đương thời những năm 1960-80, vốn ít nhiều đã từng là học trò dăm bảy năm của nhà trường Pháp-Việt, họ đủ biết những câu chữ tiếng Pháp tương đương với “phải đạo” là gì. − Là “comme il faut”, là “conformiste”, “conformisme”. Rồi lại có thể hiểu (dịch) ngược lại ra tiếng Việt là “tùy thời”, “xu thời”!

Đem định ngữ này (“phải đạo” hay “tùy thời”, “xu thời”) gắn cho văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa, vốn được cả một lớp người (nhà-văn-cán-bộ, cán bộ văn nghệ) khi ấy xem như (và bắt cả xã hội phải xem như) thứ nghệ thuật phụng sự một sự nghiệp cao cả thiêng liêng (giải phóng giai cấp! giải phóng dân tộc! giải phóng nhân loại!) – đối với họ, gắn định ngữ “phải đạo” cho văn nghệ này là một sự sỉ nhục, thóa mạ, báng bổ, cũng có thể xem một sự vạch mặt, lột trần chân tướng, mà tính đến lúc ấy chưa ai trong hàng ngũ họ dám làm!

Tất nhiên, cái “giọt nước tràn ly” kia không hề làm giảm ý nghĩa nghiêm túc của lập luận mỹ học chủ đạo ở tác giả, xem văn nghệ xã hội chủ nghĩa chủ yếu như là nền nghệ thuật của cái cao cả (le sublime).

Người ta biết, Hoàng Ngọc Hiến viết bài này ở đương thời chiến tranh lạnh, thời của hai hệ thống giá trị và ý thức hệ đối lập nhau trên quy mô thế giới, theo đó, văn nghệ XHCN được đặt trong thế đối lập với nghệ thuật suy đồi và/hoặc hiện đại chủ nghĩa. Trong thời ấy, mọi suy nghĩ và phát ngôn của nhà lý luận đứng ở phía thế giới XHCN như Hoàng Ngọc Hiến là luận chứng cho tính chính đáng của “bên mình” so với “bên kia”.

Ông cũng đã đem lý luận về sự lấn át áp dụng đảo ngược cho những văn nghệ gọi là “tư sản hiện đại”, “suy đồi”, “văn nghệ thực dân mới”, dù chỉ làm qua loa chiếu lệ.

Đáng lưu ý nữa là bài của Hoàng Ngọc Hiến bắt đầu nói đến kiểu văn nghệ của “cách mạng văn hóa” trên đất Trung Hoa, đến việc những người kế tục “Người cầm lái vĩ đại” của họ “tính kế vay mượn phấn son của văn nghệ tư sản phương Tây hiện đại”. Phải chăng ranh giới thép của thời đại đang biến đổi, phải chăng chính ngay nửa thế giới “bên mình” cũng có vấn đề? Những điều ấy Hoàng Ngọc Hiến khi đó có thể đã bắt đầu ít nhiều cảm thấy, nhưng còn khá xa mới đến lúc có thể luận bàn. Bài báo của ông, vì thế, vẫn hoàn toàn thuộc về văn nghệ phê bình (hoặc phê bình văn nghệ) thời… bao cấp, dù nó chính là một trong những biểu tượng nổi loạn đối với nền văn nghệ quan liêu – bao cấp – chỉ huy.

Về văn bản

Điều hơi ngạc nhiên là tìm trên mạng internet hiện nay không thấy bài báo này, tức là từ khi có internet thì hầu như chưa hề có ai tiếp cận bài này ở bản đăng báo (?). Cũng không thấy tác giả đưa bài này vào tập sách mang tính sơ tuyển: “Hoàng Ngọc Hiến, Tác phẩm chọn lọc” (Tạ Duy Anh biên tập, Nxb. Hội Nhà Văn, 2008).

Cùng với việc xem lại bản đánh máy sao cho đúng với bản đăng báo, tôi (LNA) có “can dự” hai điều vào văn bản: một là xuống dòng cho một số đoạn (bởi bản in báo Văn Nghệ năm 1979 dường như quá tận dụng diện tích giấy in nên cả cột báo gần 100 dòng không hề xuống dòng); hai là viết lại mấy tên riêng Âu châu trong bài theo dạng latin để tiện cho việc tra cứu.

20/04/2015

VỀ MỘT ĐẶC ĐIỂM CỦA VĂN HỌC VÀ NGHỆ THUẬT Ở TA TRONG GIAI ĐOẠN VỪA QUA HOÀNG NGỌC HIẾN

(Báo Văn Nghệ, Hà Nội, số 23, thứ bảy, 9/6/1979, tr. 2-3)

Để xác định những đặc điểm của văn học, nghệ thuật ở ta trong giai đoạn vừa qua, chúng tôi xuất phát từ một số quan niệm và thị hiếu văn học có ảnh hưởng sâu rộng trong công chúng Việt Nam được nêu trong bài “Viết về chiến tranh” của Nguyễn Minh Châu. Theo ý chúng tôi, đó là một trong những bài phê bình văn học đáng chú ý nhất thời gian gần đây. “Hình như – Nguyễn Minh Châu viết – trong ý niệm sâu xa của người Việt Nam chúng ta, hiện thực của văn học có khi không phải là cái hiện thực đang tồn tại mà là cái hiện thực mọi người đang hy vọng, đang mơ ước”. (1)

Đây là một vấn đề cổ điển của lý luận văn học. Aristoteles đã từng nói đến hai phương thức miêu tả trong nghệ thuật: “miêu tả sự vật như nó vốn tồn tại và đang tồn tại … hoặc miêu tả sự vật như nó phải tồn tại”. Aristoteles có dẫn ra những tác giả tiêu biểu cho hai phương thức (hoặc phong cách) nghệ thuật nói trên: “Sophokles … miêu tả con người như họ phải tồn tại còn Euripides miêu tả con người như họ đang tồn tại”. (2) “Polignotus miêu tả những con người tốt hơn [thực tế – H.N.H.] … còn Dionysus miêu tả những con người thông thường [như trong thực tế – H.N.H.]” (3)

Phương pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa không đặt vấn đề lựa chọn hoặc phương thức này hoặc phương thức kia, hoặc Sophokles hoặc Euripides. Vấn đề đặt ra là kết hợp cả hai phương thức (hoặc bình diện) mô tả. Dường như chúng ta chưa tìm được một mức độ thoả đáng cho sự kết hợp. Nhìn chung trong sáng tác hiện nay, sự miêu tả cái phải tồn tại lấn át sự miêu tả cái đang tồn tại. Và chúng tôi tán thành ý kiến của Nguyễn Minh Châu cho rằng sự lấn át này đương là một cản trở “trên con đường đi đến chủ nghĩa hiện thực”, đặc biệt trong thể loại tiểu thuyết. Đứng ở bình diện cái phải tồn tại, người nghệ sĩ dễ bị cuốn hút theo xu hướng miêu tả cuộc sống “cho phải đạo”, còn đứng ở bình diện cái đang tồn tại thì mối quan tâm hàng đầu là miêu tả sao cho chân thật. Đọc một số tác phẩm chúng tôi thấy tác giả dường như quan tâm đến sự phải đạo nhiều hơn tính chân thật. Có thể gọi loại tác phẩm này là “chủ nghĩa hiện thực phải đạo”. Thực ra, ngay trong đời sống thực tại, do quy luật của sự thích nghi sinh tồn, dần dần được hình thành những kiểu người “phải đạo” với những cung cách suy nghĩ, nói năng, ứng xử được xem là “phải đạo”. Khái quát những hiện tượng hết sức thực tại này vẫn sản sinh ra “chủ nghĩa hiện thực phải đạo”.

Chủ nghĩa hiện thực chân chính đòi hỏi người nghệ sĩ phải biết phân biệt đâu là những hình thức “phải đạo”, và đâu là nội dung chân lý phù hợp với quy luật phát triển cách mạng của bản thân cuộc sống. Sự lấn át của bình diện cái phải tồn tại đối với bình diện cái đang tồn tại trong sự phản ánh nghệ thuật là một đặc trưng của cái cao cả (le sublime) như là một phạm trù mỹ học. Với ý nghĩa này, có thể nói rằng chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa ở ta trong giai đoạn vừa qua mang khá đậm dấu ấn của cái cao cả. Nguyễn Minh Châu mới chỉ nêu lên những biểu hiện của cái cao cả trong phương thức miêu tả nghệ thuật. Thực ra trong đời sống văn học nghệ thuật của ta hiện nay, cái cao cả còn biểu hiện một cách phổ quát ở nhiều mặt khác: cấu trúc của chủ thể và khách thể mỹ học, đặc điểm của cấu trúc hình tượng và tác phẩm nghệ thuật, đặc điểm cấu trúc của hình tượng con người mới và cuộc sống mới được phản ánh vào tác phẩm…

Trong lĩnh vực mỹ học mang dấu ấn của cái cao cả thì tương ứng với sự lấn át của bình diện cái phải tồn tại đối với bình diện cái đang tồn tại trong phương thức miêu tả nghệ thuật là sự lấn át của cấp lý tính đối với cấp cảm tính trong sự nhận thức của chủ thể mỹ học, sự lấn át của nội dung đối với hình thức trong cấu trúc của hình tượng và tác phẩm nghệ thuật, sự lấn át của lý trí đối với cảm xúc trong hình ảnh con người mới, cũng như sự lấn át của bản chất đối với hiện tượng trong hình ảnh cuộc sống mới được phản ánh vào tác phẩm… Loại hình quan hệ lấn át của một loạt cặp phạm trù hết sức cơ bản mô tả những mâu thuẫn cốt yếu nhất thúc đẩy sự phát triển nội tại của nghệ thuật vừa được nêu lên là đặc trưng khái quát nhất của cái cao cả. Đến lúc quan hệ lấn át chuyển hóa thành quan hệ cân bằng, hài hòa thì sự vận động của nghệ thuật tiếp cận với cái đẹp như là lý tưởng.

Xác định giai đoạn vừa qua của nền văn nghệ ta bằng phạm trù cái cao cả, chúng tôi muốn nêu lên những mâu thuẫn nội tại cần phải giải quyết và quy luật phát triển của nó đi từ cái cao cả đến cái đẹp.

Song song với những biểu hiện của cái cao cả trong văn học nghệ thuật thì ngay trong đời sống hàng ngày của chúng ta, trong lối sống và cách cảm nghĩ, trong tác phong công tác và sinh hoạt ở những lĩnh vực phi nghệ thuật có thể dễ dàng tìm thấy những hiện tượng tương tự. Ở trên chúng tôi có nói đến sự biểu hiện của cái cao cả trong nhận thức của chủ thể mỹ học: đó là sự lấn át của cấp lý tính (khái niệm, biểu tượng, tri giác) đối với cấp cảm tính (cảm giác), cụ thể hơn, đó là xu thế cấp nhận thức cao lấn át cấp nhận thức thấp: khái niệm lấn át biểu tượng, biểu tượng lấn át tri giác, tri giác lấn át cảm giác… Với một xu thế nhận thức nghệ thuật như vậy, không ít tác phẩm đã ra đời chủ yếu như là kết quả của sự suy nghĩ bằng trí óc (Maiakovsky gọi đó là những tác phẩm “làm bằng đầu”) và trong sự sản xuất thơ ca hiện nay chẳng hạn có những bài khiến ta nghĩ rằng thời buổi này làm thơ hà tất phải có cảm xúc phong phú và cảm giác tinh nhạy.

Cũng từ xu thế nhận thức nghệ thuật này, thông tin mỹ học của những tác phẩm nghệ thuật có xu hướng xích gần lại thông tin lý thuyết mà đặc trưng đáng chú ý ở đây là tính chất đơn trị, tính chất đơn nghĩa. Chúng ta biết rằng sự nhận thức nghệ thuật đích thực trong bản chất của nó có tính toàn vẹn, có nghĩa là mọi cấp của nhận thức đều tham gia vào đó và giao lưu với nhau, hơn nữa mọi cấp đều quan trọng như nhau, không có sự cố định ưu tiên ở một cấp nào cả. Do sự giao lưu giữa các cấp nhận thức, hình tượng nghệ thuật chân chính thường lung linh lấp lánh vô vàn sắc thái ý nghĩa, sự phong phú ý nghĩa của nó dường như vô tận, mỗi độc giả phát hiện ở nó một ý nghĩa riêng, mỗi thế hệ khám phá ở nó những ý nghĩa mới mẻ tương ứng với thời đại mình. Đó là nguồn gốc của tính đa trị, đa nghĩa của hình tượng nghệ thuật và thông tin mỹ học. (4)

Với xu hướng cao cả trong nhận thức nghệ thuật (còn có thể gọi là xu hướng lý thuyết), chủ thể mỹ học (ở người sáng tác) có khuynh hướng dướn lên những cấp cao của nhận thức và cố định ở đó. Nói theo ngôn ngữ của toán học hiện đại, đối tượng nhận thức được quy vào những tập hợp cao của nó và chủ yếu được nhận thức ở cấp độ của những tập hợp này. Tương ứng với cách sáng tác này là cách cảm thụ dửng dưng với máu thịt của hình tượng, cố công quy nó vào những khái niệm, phạm trù.

Chúng tôi lấy sự miêu tả nhân vật trong tiểu thuyết là ví dụ. Nhân vật tiểu thuyết sinh động nhất thiết phải là một cá nhân con người. Mỗi cá nhân, như chúng ta biết, bao giờ cũng gắn với nhiều tập hợp, những tập hợp quen thuộc trong số này thường vẫn được nêu lên trong lý lịch văn học dưới các mục: thành phần giai cấp, dân tộc, tôn giáo, giới tính, nghề nghiệp, Đoàn, Đảng … Nhân vật được nghiên cứu và xây dựng từ cấp độ cố định những tập hợp nói trên cách này cách nọ được gán cho những thuộc tính bản chất của những tập hợp đó. Nhưng, như chúng ta biết, số cộng những thuộc tính đó không tạo ra được cá nhân con người, không thuyết minh được cá tính riêng, bản lĩnh độc đáo và bộ mặt đặc sắc của nó. Tác giả bài báo đã dẫn đặt vấn đề vì sao trong các tác phẩm viết về chiến tranh ở ta “nhân vật mờ nhạt” và đưa ra giả thiết là “các nhân vật đã bị sự kiện lấn át”. Chúng tôi tán thành nhận định của tác giả nhưng muốn xem xét vấn đề từ một giác độ khác.

Nhân vật bị mờ nhạt vì nhân vật không được nhìn nhận và xây dựng như là một cá nhân và sở dĩ như vậy là do cách nhìn cao cả của chủ thể mỹ học như đã nói ở trên. Thực ra, trong đời sống hàng ngày, chúng ta cũng thường hay nhìn nhận sự vật như vậy. Tìm hiểu và đánh giá một con người, ta quan tâm đến những tập hợp bao gồm con người đó hơn là bản thân nó, cuối cùng ta biết được những thuộc tính chung của thành phần giai cấp, thành phần nghề nghiệp, của cộng đồng dân tộc, cộng đồng tôn giáo… của nó, nhưng chính bản thân nó, tức là cá tính và bản lĩnh của nó, những sở trường sở đoản của nó, sự tự nhận thức của nó… thì ta lại không nắm được. Cung cách nhận thức này rất gần với phương pháp nhận thức “tiên thiên” đã từng được F. Engels phê phán và định nghĩa như sau: những đặc điểm của sự vật như vậy cũng là cơ sở của bệnh sính lý luận khá phổ biến hiện nay mà thực chất là sự coi thường việc tìm hiểu sự vật ở cấp độ sự kiện, cấp thực chứng, là sự thoát ly thực tiễn đời sống thực tại để chơi vơi trong cõi mông lung của những tập hợp mênh mông, những phạm trù mơ hồ.

Tóm lại, cách nhìn “cao cả” trong văn học, nghệ thuật cùng một thanh khí với phương pháp “tiên thiên” và phong cách lý luận “chung chung” trong công tác và sinh hoạt thường ngày. Sự lấn át của nội dung đối với hình thức mà chúng tôi nêu lên ở trên như là đặc trưng của hình tượng cao cả biểu thị một trạng thái không cân xứng. Một mặt, cuộc sống của đất nước và dân tộc được phản ánh vào những tác phẩm của ta có thể chưa lớn ở quy mô bên ngoài nhưng mang một nội dung tinh thần tuyệt vời do quy mô bên trong của nó: đó là ý chí quật cường bất khuất của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, đó là nhân phẩm cao đẹp của những con người sẵn sàng xả thân vì độc lập tự do, tóm lại, đó là những sức mạnh tinh thần cao quý nhất của người Việt Nam tích tụ trong bốn nghìn năm lịch sử và được phát huy tới những đỉnh cao rạng rỡ tuyệt vời trong một cuộc cách mạng vô cùng gian khổ và oanh liệt với những cuộc chiến tranh thần thánh có ý nghĩa lịch sử thế giới to lớn. Nhưng, mặt khác, các nghệ sĩ của ta hầu như chưa tìm và chưa sáng tạo ra được những hình thức tương xứng. So với nội dung tinh thần tuyệt vời được khẳng định trong tác phẩm thì những hình thức diễn đạt nó còn đơn sơ, vụng về thậm chí thô thiển. (5) Có những nguyên nhân dễ thấy: thiếu thời gian, tiềm lực văn hóa yếu, thiếu phương tiện và cả sức lực vật chất nữa. Nhưng ở đây, theo ý chúng tôi, còn có những nguyên nhân sâu xa. Đối chiếu với đời sống thực tế, tình trạng không cân xứng giữa nội dung và hình thức trong hình tượng và tác phẩm nghệ thuật tương đồng với tình trạng tương phản giữa đời sống tinh thần và đời sống vật chất của nhân dân ta trong những năm chiến đấu vô cùng gian khổ và oanh liệt vừa qua.

Vấn đề cuối cùng là sự phản ánh “cao cả” con người mới và cuộc sống mới. Trong tác phẩm nghệ thuật “đẹp”, thế giới hiện tượng phong phú và phức tạp được mô tả trong tác phẩm tự nó bộc lộ đầy đủ và sinh động bản chất ưu việt của cuộc sống mới. Nhưng trong nhiều tác phẩm nghệ thuật của ta mang dấu ấn của cái cao cả mà đặc trưng đáng chú ý ở đây là sự lấn át của bản chất đối với hiện tượng – thế giới hiện tượng dường như được đơn giản hóa cho phù hợp với bản chất của cuộc sống mới, hơn nữa, bản chất này còn được tác giả khẳng định ở bên ngoài và bên trên các hiện tượng nữa, quá một mức độ nào đó xu hướng này đẻ ra chủ nghĩa minh họa.

Trong đời sống thực tại cũng có tình trạng tương tự. Bản chất tốt đẹp của chế độ mới là điều hiển nhiên, không một ai nghi ngờ. Nhưng thế giới hiện tượng ngoài cuộc đời quá ư phức tạp, rối ren. Nhiều khi đứng trước những hiện tượng không lý giải nổi, chúng ta bèn vội vàng khẳng định bản chất bằng những câu nói quen thuộc: căn bản là tốt, ưu điểm là căn bản, bản chất là tốt đẹp, v.v. và v.v. Điều này đã trở thành một tác phong thường thấy, nhất là ở những cán bộ có nhiệm vụ làm công tác tư tưởng. Ở hình ảnh con người mới được phản ánh trong những tác phẩm nghệ thuật của ta, đặc trưng cao cả biểu hiện ở sự lấn át của lý trí đối với cảm xúc. Tác giả thì quá dè xẻn, nhân vật thì quá dè dặt trong sự biểu hiện cảm xúc. Ngoài đời sống cũng thấy những cách ứng xử như vậy.

Đến đây, tổng kết lại sự đối chiếu song song một loạt biểu hiện của cái cao cả trong văn học nghệ thuật và một loạt hiện tượng tương đồng trong đời sống thực tại, chúng tôi muốn nhìn thấy ở cái cao cả một xác định rộng lớn vượt ra ngoài phạm vi mỹ học. Nói như Hegel, cái cao cả chính là “trạng thái nhân thế” của xã hội ta trong giai đoạn vừa qua. Nói tóm lại, chúng ta viết văn như vậy, làm nghệ thuật như vậy và “thế thái” cũng phảng phất như vậy. Từ đó để cắt nghĩa xu hướng cao cả, không thể chỉ vin vào thị hiếu nghệ thuật, cần đi tìm căn nguyên của nó ngay trong đời sống xã hội thực tại.

Xu hướng cao cả được chúng tôi xác định như là khuynh hướng mỹ học chủ đạo trong văn học nghệ thuật của ta giai đoạn vừa qua, dĩ nhiên không phải định mệnh. Sự thực hiện của xu hướng này trong sáng tác có những mức độ rất khác nhau, điều này phụ thuộc vào cá tính sáng tạo và sự tự nhận thức của người nghệ sĩ mà bài báo của Nguyễn Minh Châu là một ví dụ. Trong những thành tựu văn học nghệ thuật giai đoạn vừa qua, những tác phẩm trong đó xu hướng lấn át như đã xác định ở trên được dừng lại ở mức độ thỏa đáng. Tức là những tác phẩm cao cả đẹp hoặc là đẹp một cách cao cả không phải là ít. Nhìn chung, xu hướng cao cả mà quan hệ lấn át như đã được nêu lên ở trên là đặc trưng tiêu biểu có thể phát triển theo hai chiều hướng: chiều hướng quan hệ lấn át chuyển hóa thành quan hệ cân bằng hài hòa, tiếp cận với cái đẹp như là lý tưởng. Và chiều hướng quan hệ lấn át vượt quá mức độ mà nghệ thuật có thể chấp nhận được để biến thành phản nghệ thuật. Phát triển quá trớn theo chiều hướng thứ hai, trong cấu trúc của hình tượng chẳng hạn, nội dung có thể lấn át hình thức tới mức không còn là hình tượng nghệ thuật nữa, hoặc giả ở nhân vật, lý trí sẽ lấn át cảm xúc tới mức nhân vật không còn là một con người sống nữa.

Hai chiều hướng nói trên đồng thời cũng là hai con đường được đặt ra trên bình diện mỹ học cho sự lựa chọn của những người làm công tác văn học nghệ thuật ngày nay. Nền văn học nghệ thuật của ta có những điều kiện hết sức căn bản để xu hướng cao cả phát triển theo chiều hướng lành mạnh, hoàn thiện. Ngăn ngừa chủ nghĩa sơ lược, bệnh công thức, chủ nghĩa minh họa, phê phán những quan niệm dung tục về văn nghệ, coi trọng những đặc trưng của sáng tác nghệ thuật, là những điều thường xuyên được chú ý trong sự lãnh đạo văn nghệ của Đảng ta.

Mặt khác, ngay trong những năm trước đây, khi chân tướng phản bội và phàm tục của tư tưởng và đường lối của tập đoàn phản động Bắc Kinh chưa lộ hẳn ra, trong tuyệt đại đa số trí thức sáng tác ở ta, kể cả những người đã lĩnh hội sâu sắc tinh hoa của văn hóa Hoa Hạ, thị hiếu nghệ thuật chưa bao giờ ngả về phía nền văn học nghệ thuật mang dấu ấn của cuộc “đại cách mạng văn hóa”.

Đáng chú ý hơn là ảnh hưởng tiêu cực của xu hướng cao cả tới thị hiếu đông đảo công chúng ở ta. Một ý quan trọng trong bài báo đã dẫn là tác giả cho ta thấy rằng áp lực của công chúng tới người sáng tác nhiều khi cũng độc đoán và ghê gớm lắm, không đơn giản như ta tưởng. Bằng chứng có thể thấy ngay được là lời lẽ thưa gửi giãi bày của chính Nguyễn Minh Châu trước khi ngỏ lời khai chiến với thị hiếu của độc giả (mà tác giả xin nhận là của chính mình).

Không phải là định mệnh, xu hướng cao cả càng không phải là yếu tố quyết định giá trị tư tưởng và giá trị nghệ thuật của tác phẩm. Chỉ ra quy luật vận động của nghệ thuật từ cái cao cả đến cái đẹp, chúng tôi hoàn toàn không muốn nói rằng tác phẩm tiếp cận với cái đẹp thì đẹp hơn tác phẩm mang dấu ấn của cái cao cả. Tất cả phụ thuộc vào tài năng, vốn sống, giác quan về “mức độ” và những nhân tố khác trong cá tính và bản lĩnh của người nghệ sĩ, như chúng ta đều biết. Một nhân vật kiểu người cao cả (lý trí lấn át cảm xúc) vẫn có cái đẹp riêng của nó, cũng như một hình tượng cao cả (nội dung lấn át hình thức) có thể có giá trị nghệ thuật rất độc đáo. Biết đâu, có những tác phẩm thời đại nghệ thuật chúng ta trở nên bất hủ chính vì chúng mang dấu ấn của cái cao cả, chính vì chúng mang những giá trị tư tưởng-nghệ thuật độc đáo mà những thời đại nghệ thuật sau không thể tạo ra được vì “trạng thái nhân thế” tương ứng không còn nữa.

Xác định xu hướng cao cả như là một đặc tính phổ quát của nền văn học nghệ thuật của ta hiện nay, chúng tôi muốn khẳng định rằng nền văn nghệ của ta đương ở giai đoạn trưởng thành. Những mâu thuẫn ở dạng quan hệ lấn át như đã được mô tả (bình diện cái phải tồn tại lấn át bình diện cái đang tồn tại, cấp nhận thức lý tính lấn át cấp nhận thức cảm tính, lý trí lấn át cảm xúc, bản chất lấn át hiện tượng, nội dung lấn át hình thức…) có thể quy vào loại mâu thuẫn trong đó cái chung lấn át cái đặc biệt, có nghĩa là thuộc loại mâu thuẫn hình thức không đối kháng và chúng có tiềm năng phát triển tới sự thống nhất trong quan hệ cân bằng và hài hòa. Đó là mâu thuẫn của sự hình thành. Khái quát một cách triết học, chuyển từ quan hệ lấn át đến quan hệ hài hòa có nghĩa là chuyển từ giai đoạn hình thành (devenir) đến giai đoạn tồn tại (étre).

Trong những nền nghệ thuật suy đồi, quan hệ lấn át bị đảo ngược lại và trước mắt ta cũng những mâu thuẫn ấy, nhưng đó là những mâu thuẫn hình thức đối kháng mà sự phát triển chỉ có thể dẫn tới sự suy thoái mà giới hạn là phi tồn tại (non-étre). Trong nghệ thuật tư sản hiện đại chẳng hạn, là một nền nghệ thuật đương suy thoái một cách toàn diện và nghiêm trọng, sự lấn át của cấp nhận thức cảm tính tới cấp nhận thức lý tính để sản sinh ra nào là nghệ thuật “pốp”, nào là “âm nhạc cụ thể”, “trữ tình cụ thể”…, sự lấn át của hình thức đối với nội dung đã đẻ ra đủ các loại chủ nghĩa hình thức, sự lấn át của cảm xúc đối với lý trí cuối cùng đã phi nhân hóa nhân vật, sự lấn át của hiện tượng đối với bản chất đã mở đường cho chủ nghĩa tự nhiên, nó cũng là một dấu hiệu sự suy đồi của nghệ thuật. Tóm lại, các thứ “phi” này “phi” nọ, các thứ “phản” này “phản” nọ, được tung ra loạn xạ trong nghệ thuật tư sản hiện đại là triệu chứng của quá trình suy thoái của nền nghệ thuật này đương dẫn tới sự phủ định bản thân nghệ thuật.

Đứng trước những hiện tượng suy đồi có vẻ “là lạ” của văn nghệ thực dân mới được tạo ra dưới chế độ Mỹ-ngụy, liên tưởng đến những biểu hiện tiêu cực của xu hướng cao cả trong nền văn nghệ cách mạng ở ta, do sự tương phản của những quan hệ lấn át, dễ lầm tưởng rằng ở đây có thể có quan hệ bổ sung. Thực ra như đã phân tích so sánh ở trên, đó là những biểu hiện của những mâu thuẫn bản chất hoàn toàn khác, của những quá trình trái ngược hẳn với nhau. Không thể lấy cái “màu mè” của chủ nghĩa hình thức để bổ sung cho sự lấn át của nội dung đối với hình thức, cũng như không thể lấy cái “ướt át” của sự buông lỏng bản năng và tình cảm để bổ sung cho sự lấn át của lý trí đối với cảm xúc. Lẽ nào lại đi lấy những biểu hiện bệnh hoạn của một quá trình suy thoái, tan rã để “sửa sang” cho những non yếu của một quá trình trưởng thành. Chỉ những “người cầm lái” cũ và mới của tập đoàn phản động Bắc Kinh hiện nay mới phải tính kế vay mượn phấn son của văn nghệ tư sản phương Tây hiện đại – gần đây được họ bỗng dưng mở rộng cửa đón nhận về hết sức vồ vập – để hóa trang cho cái bộ mặt quá ư ngán ngẩm và gớm ghiếc mà tự họ đã tạo ra dưới triều đại của “Người cầm lái vĩ đại”.
___________

Chú thích

(1) Nguyễn Minh Châu: Viết về chiến tranh // Văn nghệ quân đội, H., s. 11/1978, tr. 114

(2) Aristoteles: Thi pháp (bản tiếng Nga), M., 1967, tr. 177.

(3) Aristoteles: Thi pháp (bản tiếng Nga), M., 1967, tr. 44.

(4) Khái niệm hình tượng đa nghĩa được xác định từ một bình diện hoàn toàn khác với khái niệm biểu tượng hai mặt. Tính chất hai mặt của loại biểu tượng sau biểu thị tính chất lập lờ của nó; thực ra hình tượng hai mặt bao giờ cũng chỉ có một ý nghĩa hoàn toàn xác định, đó là ý nghĩa xỏ xiên. Dĩ nhiên cần phê phán nghiêm khắc loại biểu tượng này. Tuy vậy từ sự phê phán biểu tượng hai mặt mà suy ra rằng hình tượng nghệ thuật chỉ được phép có một mặt, một ý nghĩa, thông tin mỹ học phải có tính chất đơn nghĩa, tức là truyền đạt một ý nghĩa cố định như thông tin lý thuyết, − là hoàn toàn không đúng.

(5) Tình trạng nội dung lấn át hình thức thể hiện đặc biệt rõ trong văn nghiên cứu. Về nội dung có xu hướng đề cập đến những đề tài lớn, những vấn đề to, đưa ra những ý bao trùm, trong khi đó câu kéo lô-gich hình thức và bố cục thường cẩu thả và rất yếu.

(Nguồn: FB Lại nguyên Ân)

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Không phải lúc nào củ cải cũng nghe được!

van_doan.jpg
Nếu ai nghĩ rằng việc hơn hai mươi tác giả vừa tuyên bố ly khai Hội Nhà văn Việt Nam, trong đó có những tên tuổi như Nguyên Ngọc, Đỗ Trung Quân, Dạ Ngân…, sẽ dẫn tới sự sụp đổ nhanh chóng của kỷ nguyên Hữu Thỉnh và đế chế văn nghệ Hội Nhà văn, người đó sẽ thất vọng. Đâu đó người ta sẽ sớm có những biện pháp. Đại hội sẽ vẫn diễn ra như dự kiến. Một Ban Chấp hành mới sẽ thay thế ban chấp hành cũ, và tất cả sẽ trở về trong vòng kiểm soát, ít nhất là trong thời gian trước mắt. Nhưng nếu ai coi nhẹ sự kiện này thì cũng là sai lầm. Nó hoàn toàn có thể là một khởi đầu. Khởi đầu cho mùa Thu của Hội Nhà văn, và khởi đầu cho mùa Xuân của một kỷ nguyên mới.
Đứng từ vũ đài thế giới nhìn vào, ở đầu thế kỷ 21, Hội Nhà văn Việt Nam hiện ra như một sân kho văn nghệ tỉnh lẻ, cô đơn, mục ruỗng, quái gở của những trạng thái bệnh lý tâm thần tập thể. Cứ 5 năm một lần, những con người tự coi mình là đại diện của lương tâm và tự do lại nhóm họp nhau lại, không phải để bàn cách làm thế nào để nuôi nấng hay làm tỏa rạng lương tâm và tự do, mà để duy trì tình trạng dối hèn và nô lệ. Trong lịch sử của mình, chưa bao giờ Hội Nhà văn, tiếng nói của các nhà văn Việt Nam, dám đứng ra đối đầu với quyền lực để đòi những quyền căn bản nhất của người cầm bút: quyền tự do ý kiến, tự do lập hội, tự do báo chí và tự do xuất bản. Chưa bao giờ Hội Nhà văn dám lên tiếng bênh vực cho những bất công mà các tác giả, tác phẩm phải chịu đựng chỉ vì chúng cất lên tiếng nói của lương tâm và tự do sáng tạo, từ Nhân văn – Giai phẩmDương Thu Hương, Chuyện kể năm hai nghìn, hay gần đây như Luận văn Nhã Thuyên. Chưa bao giờ Hội Nhà văn bày dám tỏ ý kiến về tình trạng đối xử tàn bạo, gần như là thủ tiêu cả một nền văn nghệ: văn nghệ Miền Nam 54 - 75. Ngược lại, Hội Nhà văn luôn đồng tình với quyền lực, thậm chí, một cách công khai, tự nguyện là công cụ đắc lực của quyền lực và tự hào vì luôn tận tụy phục vụ ý chí của quyền lực.
Nhưng mặt khác, Hội Nhà văn không phải không hấp dẫn, có khi còn đặc biệt gợi cảm nữa. Chẳng phải những tên tuổi lớn nhất của nền văn học Việt Nam đương đại vẫn đang góp mặt ở trong đó, kể cả tác giả của Tướng về hưu lẫn Nỗi buồn chiến tranh, hay sao? Phải giải thích sức gợi cảm này như thế nào?
Vì quyền lợi (việc làm ở các cơ quan thuộc Hội, báo Văn nghệ, nhà xuất bản, tài trợ sáng tác, trại viết văn, công du nước ngoài, đi thực tế, những chương trình dịch hoặc quảng bá sách…), hay vì tránh cô đơn và tìm cảm hứng (những rạo rực hội hè, lửa trại, bia rượu, váy áo …)? Tóm lại là tiện, như lời nhà văn Phạm Thị Hoài nói năm 1990 khi bà muốn gia nhập Hội nhưng bị bác đơn? Có thể. Có thể đúng là tiện thật. Bởi nếu không phải là hội viên Hội Nhà văn thì những quyền lợi đó hoặc là nằm xa tầm tay, hoặc rất khó với, đặc biệt nếu ta nhớ về cái thời trước 1990, khi mà tấm thẻ hội viên không những đi kèm quyền lợi vật chất, mà còn có ý nghĩa như một chứng chỉ xác nhận nghề nghiệp và địa vị xã hội. Không có thẻ, không an tâm được. Vả lại, vào Hội thì có mất gì đâu? Vẫn sáng tác, vẫn in sách (nếu qua được kiểm duyệt), vẫn xuất bản ở nước ngoài (nếu muốn), vẫn phê phán Đảng và chế độ (trong khuôn khổ), nhưng lại được thêm bảo kê, dễ hơn, tiện hơn.
Xét thế thì Hội Nhà văn là một hội vui, những thành viên của nó là những con người thỏa mãn và hạnh phúc đấy chứ, và cũng chẳng có gì để bàn nếu đôi khi những đòi hỏi của lương tâm và lý trí – những phẩm tính của nhà văn như là những con người trăn trở – lại trỗi dậy. Lương tâm khiến họ không yên ổn trước bất công, còn lý trí khiến họ đặt ra câu hỏi: Tại sao chúng ta cứ phải mãi như thế? Tại sao chúng ta không thể làm khác đi? Tại sao chúng ta tự tước đi quyền nghĩ, quyền nói, quyền làm của mình? Chẳng phải tình trạng lâu nay là cực kỳ quái gở hay sao? Vì lý do gì mà chúng ta chấp nhận Văn nghệ, Văn nghệ Công an, Văn nghệ Quân đội – những cái tên tạp chí mà nếu dịch ra tiếng Anh có thể khiến cho các nhà văn thế giới rùng mình – là những diễn đàn đại diện cho chúng ta? Tại sao chúng ta không được quyền lập ra các hội văn bút để truyền tải quan điểm văn nghệ của mình? Tại sao chúng ta không được mở những tờ báo hay nhà xuất bản để in ấn tác phẩm? Tại sao chúng ta phải để cho những kẻ mù tịt về văn chương chăn dắt, chỉ bảo cho chúng ta về sáng tạo? Tại sao chúng ta không thể đi đứng, nói năng một cách đĩnh đạc, đường hoàng, mà chỉ biết dỗi vặt hay hờn mát? Tại sao chúng ta lại tự biến mình thành trẻ con như thế? Tại sao chúng ta không yêu cầu Hội Nhà văn, thay vì phủ phục trước quyền lực, hãy là cơ quan đại diện cho các quyền căn bản của chúng ta, mà nếu Hội không muốn hoặc không thể đáp ứng, hãy dõng dạc ly khai? Tại sao chúng ta run sợ, sao chúng ta không dám đứng trên đôi chân của mình, tìm đường cho mình?
Những câu hỏi như vậy sẽ phải bật ra, và chúng thực sự đã bật ra, và một khi chúng đã được bật ra thì, như ánh sáng khai minh, chúng sẽ rất khó bị thu hồi. Con người tự do ban đầu có thể chông chênh, run rẩy, vì đã bị trói buộc quá lâu, nhưng rồi nó sẽ quen, sẽ trở nên mạnh mẽ, vì hiểu rằng chỉ có Tự Do mới đảm bảo được cho con người quyền sống trong phẩm giá, lẽ phải và công bằng.

Vũ Soan
(Vũ Soan là bút hiệu của một nhà văn đang sống tại Hà Nội.)

Phần nhận xét hiển thị trên trang