Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Bảy, 16 tháng 5, 2015

nhà văn Đại Việt bây giờ chỉ giỏi ta thán

Văn nghệ Thứ Bảy : 

Giaovn


Đó là chuyện của nhà văn Hồ Anh Thái. Một người ở ngành ngoại giao, đi đó đi đây. Mình bất ngờ với cách nhìn của ông (xem ở dưới).

Ông ta thán dân Việt, nhưng hình như, cái đám Vịt ấy không có Hồ Anh Thái ở trong đó ?

Ông thử nghĩ xem, trong khoảng 30 năm nay, một người dân Vịt mỗi tháng lĩnh bằng ấy lương (cả cơ quan nhà nước, cả cơ quan tư nhân), thì ngửa mặt lên giời với ai ? Dân chúng hắn nghèo nên thành ra hèn thế đấy. Người có thể liếc ngang liếc dọc, ai mà chả đau. 

Sao bảo văn chương xứ ta bây giờ kém. Kém là phải rồi. Nhà văn như thế, mà văn chương không kém, mới là lạ. Ra cái dáng bắt chước cụ Lỗ Tấn, nhưng kém quá, thành lố.

---

Vang danh xứ người


Tiểu luận của Hồ Anh Thái

08:48 | 28/04/2015
Câu ca dao này có dạo lan truyền trong cộng đồng người Việt ở châu Âu: Ăn nhanh, đi chậm, hay cười / Hay mua đồ cổ là người Việt Nam.

1. Ăn nhanh: trong nước với nhau, đã thành quen, ít để ý, nhưng ra nước ngoài thì mới thấy lộ. Tây với ta ngồi ăn trong cùng một quán, thì ta ăn sao mà nhanh, như chảo chớp. Ăn cho xong rồi đi làm việc khác, một chủ trương, một triết lý, coi ăn uống chỉ là việc đệm giữa những công việc quan trọng hơn lớn lao hơn. Sau khi đã bỏ công sức lao động, thế thì còn sự hưởng thụ nào quan trọng hơn là ăn nữa? Khi ấy ăn nên là một sự thưởng thức, ăn nhẩn nha, ăn theo kiểu thụ hưởng, miếng ngon trong miệng thì phải biết là ngon. Đấy là thái độ hiện sinh mà nhà Phật vẫn thường khuyên. Đừng nên vừa nhai vừa nghĩ những điều đã qua và những việc sắp làm, ăn mà có khi quên mất là mình đang ăn cái gì. Chiến tranh, nghèo đói, vất vả nhiều, đến lúc sướng thì không biết hưởng cho trọn. Dấu ấn của một thời đầu tắt mặt tối chưa xa. Nó lan truyền thành một tính cách cộng đồng, ngay cả người không vất vả cũng lây nhiễm tính vội vàng gấp gáp trong ăn uống.

2. Đi chậm: cũng là một căn tính tiểu nông, vác cuốc đi thăm đồng thì có gì phải vội vàng, đi sau con trâu từng bước cày bừa nặng nề không thể vội vàng. Đến khi ra phố phường, thành người phố phường rồi, đi trên vỉa hè cũng chẳng phải vội vàng. Sang đến nước bạn thì xem kìa, đi đứng dềnh dàng như rùa bò trên đường. Người Tây người Nhật người Hàn đi vùn vụt trên vỉa hè, vượt qua ta rất lâu rồi mà ta vẫn cụm lại một đống với nhau lê chân chậm chạp đằng sau. Không thể đổ cho sải chân ta ngắn, ngắn nhưng vẫn có thể đi nhanh. Đây đang nói tốc độ đi chậm, nhịp độ đi chậm, tư duy chậm, trung ương đầu não chỉ đạo chậm thì xuống đến địa phương bàn chân bước đi cũng chậm.

Minh họa của Kim Duẩn
3. Hay cười: đúng là nhiều khi bí quá, ở thế khó xử quá, ở thế trớ trêu quá, chỉ còn biết cười. Đang đi trượt chân ngã, còn đang tô hô trên đường, chưa đứng dậy được, cười. Giẫm lên chân người khác, phản ứng đầu tiên phải là câu xin lỗi, thì lại cười. Người nước ngoài rất lạ, rất phẫn nộ, sao giẫm lên chân người ta lại cười, sao ngã lại cười. Thì thế, cái cười vô duyên thực ra là như xin lỗi, như để đỡ ngượng. Người ta nói gì mình không hiểu, tất nhiên là chỉ còn biết cười. Không hẳn là cười, có nhiều cái cười đúng ra chỉ là nhe răng.
4. Cười là một cách, gây ồn ào nơi công cộng là cách khác. Một nhóm người Việt đi với nhau là chỉ thấy xoe xóe chiu chiu tiếng Việt trong tai người nước ngoài. Ở nơi công cộng, bến xe bến tàu sân bay, vẫn còn đó thói quen gọi nhau qua cánh đồng, trên thuyền trên ghe trên xuồng, phải gọi to nói to nghe mới thủng. Một cô đi máy bay bị nôn, mỗi lần rặn ra nôn là cô ôi ôi nghẹn ngào như khóc, ôi ôi như bị bóp cổ. Cả khoang máy bay phải nghe, cả khoang máy bay ai cũng tưởng bệnh trạng của cô đã đến mức phải hỏi xem hành khách có ai là bác sĩ xin hãy đến giúp đỡ. Cộng đồng làng xóm, một người hắt hơi sổ mũi thì phải hắt hơi thật to để các nhà trong xóm biết mà chạy sang. Không ai sang thì cũng coi như đánh tiếng cho cả xóm biết là tôi đang ốm đây. Chuyến ấy tôi đi cùng máy bay với cô này từ Đài Bắc quá cảnh về Hà Nội, máy bay hạ cánh, thấy cô đứng lên cười, người Việt hay cười, nói lưu loát giọng đồng bằng Bắc bộ: Chẳng hiểu thế nào, mọi lần iem vẫn đi máy bay thoải mái.
Vẫn là chuyện âm thanh của người Việt, ngồi dự chiêu đãi ngoại giao, một ông sứ vẫn có thể ợ một cái thật to mà không xin lỗi như tập quán xã giao phải sorry. Người Việt tập quán Việt, việc gì xin lỗi ai. Xỉa răng, cắm cái tăm vào miệng đi khắp đường phố trước mặt Tây mặt Mỹ, công khai, phơi lộ, ấy thế nhưng khi xỉa răng thì lại lấy tay che miệng, như che một cái buồng thay quần áo. Cái che tay này người ta mới thấy lạ, đâu cần đến thế, chỉ cần anh xỉa răng mà đừng ngoác miệng ra là đủ rồi.
5. Hay mua đồ cổ: đồ cổ là nói cho sang, đồ cổ bao giờ cũng đắt tiền, đúng ra người Việt có tính sưu tầm đồ cũ. Đồ xé cần hen. Quần áo si đa. Những đồ rẻ tiền mua về nước bán để kiếm tí lợi nhuận. Đấy là chuyện thời trước, thời nay quần áo Tàu còn rẻ hơn đồ si đa xé cần hen. Nhà ngoại giao được nhà nước cấp cho cả nghìn đô mua trang phục, trang phục là công cụ lao động của nhà ngoại giao, ấy thế vẫn không chịu đầu tư vào công cụ lao động, ấy thế vẫn mua bộ vét Tàu dăm ba chục đô, vẫn mua quần áo đồng hạng một vài đô ở chợ đồ cũ. Giới quan chức trong phòng khách ngoại giao chỉ thoáng nhìn là biết bộ củ ông khoác trên người đáng mấy tiền, chắc chắn mua ở chợ đồ cũ. Ông ấy không nghèo, ở Việt Nam ông có một căn nhà mặt phố đang cho thuê và một miếng đất nghỉ cuối tuần ở quê.
*
*    *
Những thứ này cũng đã thành ca dao: Hôi mồm, ngồi xổm, hôi chân / Rung đùi động đất xa gần đều kinh.
1. Rung đùi: hễ ngồi là rung đùi bần bật, rung công khai rung sảng khoái. Hình như người Việt tán tụng rung đùi như vậy là số sướng. Bà ngồi bà rung đùi, bà ngồi bà rung chân… đã thành câu hát. Ngồi họp hội nghị cũng rung đùi làm cái bàn viết rung bần bật. Đám Âu - Mỹ trố mắt bảo là bị bệnh liệt rung pa kin xân. Không phải liệt rung bệnh tật thì cũng bị coi là bất lịch sự.
2. Ngồi xổm: chẳng may ở những chỗ không có ghế ngồi, thì sẵn sàng dàn một hàng ngang, ngồi xổm, đúng kiểu xí xổm châu Á. Đến mức đám Âu - Mỹ kia đã kết luận chuyện ngồi xổm là tập quán của dân Á Đông, một thứ thuộc tính mãn tính. Kiểu Việt Nam, Vietnam style, họ bảo thế.
3. Hôi mồm: có lần trên mạng tiếng Việt dấy lên một cuộc hội thảo về việc nhiều người Việt hôi mồm. Nhưng nếu nói chỉ có người Việt hôi mồm thì hơi thiếu công bằng. Tôi phải nhiều lần chịu những trận hôi mồm của các nhà ngoại giao Nhật, Triều Tiên, Thụy Điển… Tiệc trưa tiệc tối đều vào những giờ dạ dầy rỗng. Sau bữa ăn khoảng hai tiếng đồng hồ, thức ăn đã được đẩy ra khỏi dạ dầy rồi. Đói thối mồm như người Việt vẫn nói. Mùi dạ dầy hào phóng trực tiếp đẩy lên qua thực quản qua mồm mà phụt ra. Giờ ấy nói chuyện với ai thì đừng có chĩa thẳng mồm vào mặt người ta như ngắm bắn người ta. Nhiều nhà ngoại giao vẫn vô ý như mấy ông kể trên đã ngắm thẳng vào mặt người khác. Tôi từng phải kín đáo ne né cái mặt, nghiêng nghiêng cái đầu để tránh bị luồng hơi phun trực diện.
Thế thì mình không hôi hay sao?
Phải có cách khắc phục: trước khi đi chuyện trò vào cái giờ đói bụng, phải biết lót dạ, dứt khoát phải ăn một cái gì đó. Ăn không phải vì đói, ăn là vì người đối diện, ăn là để không phun cái mùi dạ dầy vào mặt họ. Tất nhiên là ăn xong phải có cách để tẩy cả mùi thức ăn.
Có ông đồng nghiệp hôi mồm, cái này là bệnh, không phải là vô ý khi đói bụng. Hình như ông hở một cái gì đó ở chỗ thực quản, như kiểu hở van tim. No bụng rồi mồm vẫn hôi. Đã thế lại không biết ý, gặp các nhà ngoại giao khác, cứ tiến sát mặt người ta mà nói. Mình là đồng nghiệp, mình nói gần nói xa ông vẫn chẳng chịu hiểu. Một ông nhà thơ cũng vậy, bệnh của ông, ngồi cách ông cái mặt bàn rộng một mét rưỡi vẫn phải chịu mùi hôi. Mỗi lần họp giao ban, ông đều đến ngồi bên cạnh tôi. Có lần ông đến muộn, tôi phòng tránh bằng cách đặt cái cặp của mình lên chiếc ghế ông thường ngồi, tin rằng ông sẽ phải ngồi cách tôi một chiếc ghế. Lát sau ông đến, ông thò tay nhấc cái cặp của tôi lên, đặt sang cái ghế khác, rồi lại ngồi xuống đúng chỗ cũ, đúng cái ghế cạnh tôi. Tôi cứ cười thầm tự giễu: mình tự cho là mình khôn, nhưng khôn ngoan chẳng lại với giời.
4. Hơi người: thì vẫn là chuyện ta ở Tây. Ông kém tắm, người toát ra cái mùi vài ngày không tắm, lại trộn với dầu gió dầu cao nữa thì nhất hạng đế vương. Cứ thế mà gieo gió thành bão, cứ thế mà tấn công cái mũi bọn bản xứ. Bọn chúng rất sợ cái nặng mùi của hơi người. Ta có truyền nhau rằng người da đen khen khét, người da trắng gây gây, người da nâu hăm hăm. Mình không ngửi được mùi của mình, nhưng đừng có chủ quan ta thơm ta ngon. Đến lượt người ta bảo người da vàng tanh tanh, như cá lôi từ ngăn đá ra đang để cho rã đông. Ai cũng sợ mùi hơi người. Phải biết vậy mà có cách khắc phục.
*
*    *
Còn một câu ca dao thuộc loại tự trào khác: Đi Tây thì sống như ta / Đến khi về nhà lại sống như Tây.
1. Đấy là chuyện một thời. Mà vẫn còn là chuyện bây giờ. Như cái ông làm đối ngoại đã kể ở trên. Một căn nhà cho thuê, một miếng đất nghỉ cuối tuần ở quê. Ấy thế vẫn mặc bộ vét cũ rích và bộ vét mới đồ Tàu rẻ tiền. Ra nước ngoài ăn chẳng dám ăn, mặc chẳng dám mặc, chơi chẳng dám chơi. Mấy năm ở xứ người có khi chỉ biết đường từ nhà đến chợ, chấm hết. Phải ăn nhịn để dành. Gom tiền gom đồ để về xây dựng tiền đồ ở nhà. Tiết kiệm là điều đáng được khuyến khích. Nhưng chắt bóp đến mức khác thường trước mặt người ta mới là chuyện. Cái nghiến răng chắt bóp đã làm ảnh hưởng hình ảnh một đám con dân một dân tộc. Có thể được người có tấm lòng bao dung cảm thông, nhưng khó mà được trọng.
2. Lối sống ấy lại dẫn đến một đối cực: đến khi khuân được tiền đồ về nhà thì lại hoắng lên. Xây nhà phô trương lòe loẹt, trang phục khoe khoang cho có vẻ đã đi khắp Đông Tây, dàn karaoke âm thanh nổi inh tai hàng xóm, lối sống cũng trưởng giả ra cái vẻ ra cái điều. Ta ở Tây về.
Đi Tây thì sống như ta / Đến khi về nhà lại sống như Tây.
Xuất khẩu một lối sống tiểu nông thâm căn cố đế sang xứ người, làm ngứa mắt nhức tai xứ người. Nhập khẩu về ta một cung cách xứ người. Tưởng là xứ người, nhưng thực ra vẫn là cách phô trương trưởng giả học đòi. Vẫn là bộ cánh quê mùa của xứ ta đấy thôi. Người có văn hóa dù ở thành thị hay nông thôn thì cũng không đời nào có cách sống vừa bám chặt những thứ cố hữu vừa học đòi nửa mùa như vậy.

http://daibieunhandan.vn/default.aspx?tabid=80&NewsId=347838

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Ngày tàn của chế độ điên loạn Bắc Hàn


NGUYỄN TRẦN SÂM
UN 
Tin tức về việc những quan chức cao cấp Bắc Hàn thường xuyên bị sát hại bởi kẻ cầm quyền Kim Jong Un báo hiệu giai đoạn tồn tại cuối cùng của chế độ cộng sản điên loạn họ Kim ở Bắc Hàn đã đến.
Mới đây nhất, truyền thông đưa tin bộ trưởng quốc phòng Hyon Yong Chol bị xử tử bằng pháo phòng không. Mặc dù sau thông tin về việc hành quyết ông Hyon, đài truyền hình nhà nước Triều Tiên vẫn chiếu vài cảnh có ông này – một chuyện mà từ trước đến giờ chưa hề có, một khi nhân vật như vậy đã bị giết bởi “lãnh tụ” – nhưng như nhiều cơ quan truyền thông cho biết thì chính đài truyền hình nói trên đã cho chiếu cảnh Hyon bị bắn bằng pháo cao xạ.

Cho dù tin về cái chết của Hyon Yong Chol có xác thực hay không thì người ta cũng đã biết được rằng từ khi Kim Jong Un nối ngôi cha, y đã giết trên 70 quan chức cao cấp, trong đó có nhiều tướng lĩnh, và đặc biệt là có cả người chồng của bà cô ruột, người từng dìu dắt Kim trong những tháng đầu nắm quyền, dường như bị xé xác trong một chiếc cũi lớn bởi đàn chó ngao bị bỏ đói mấy ngày liền.
Những tin tức như vậy làm cho cả người sống bên ngoài Triều Tiên thấy ghê sợ. Còn tại đất nước địa ngục trần gian này thì những vụ tàn sát như thế làm những con người sống ở đó mụ đi vì quá hãi hùng. Sự kinh hoàng làm người ta mất đi sự tỉnh táo cuối cùng, chỉ còn nhớ được một điều: Phải giấu, giấu kín tuyệt đối những suy nghĩ thực của mình. Từng giây từng phút phải ở trong trạng thái đóng kịch, sắm vai những tín đồ tuyệt đối tin tưởng và tôn thờ Con Chó Ngao Bị Bệnh Dại được gọi bằng cái danh xưng mỹ miều “lãnh tụ anh minh”.
Nhưng dù giấu kín ý nghĩ thực bao nhiêu thì nguy cơ bị giết hại vẫn luôn hiện hữu. Việc nắm giữ một chức vụ cao chót vót, “dưới một người, trên vạn người”, cũng không bảo đảm được sự an toàn tính mạng. Thậm chí, chính những kẻ có vị trí gần nhất với Kim Jong Un lại có nguy cơ cao nhất để bị giết hại, theo cách kinh hoàng nhất. Còn những người dân thấp cổ bé họng thì ít có nguy cơ hơn, nhưng cũng luôn bị những mối nguy hiểm rình rập, trong khi ngay cả miếng ăn của họ cũng không bằng của con vật ở những nước khác. Và một khi có một biểu hiện nhỏ nhất về sự bất kính thì ai cũng sẽ bị khép vào tội chết, và bị giết một cách man rợ bởi chính bàn tay của những kẻ giống mình, những kẻ cũng không hề tôn thờ “lãnh tụ” nhưng vẫn phải luôn làm ra vẻ tôn thờ, và vì vậy phải thực thi bản án giết kẻ giống mình nhưng để sơ sảy trước mình.
Chắc chắn vào những ngày này không còn bất cứ ai ở Bắc Hàn có thể yên tâm về sự an toàn của mình. Không ai có thể có được giây phút nào thanh thản.
Một xứ sở không có ai sống ra người, từ kẻ có quyền lực nhất cho đến đám dân đen! Một cuộc sống còn tệ hại hơn của loài vật. Trong khi đó, mọi người dân đều phải tỏ ra hạnh phúc được đồng thanh ca ngợi công đức của “lãnh tụ”, ca ngợi cuộc sống do “lãnh tụ” mang lại, dường như đó là cuộc sống nơi thiên đường. Ở nơi đó, mỗi tiếng sủa của loài chó ngao được tất cả các quan chức vây quanh nó vội vã ghi vào sổ tay, như ghi lại những chân lý được “lãnh tụ” liên tục phát hiện.
So với đám dân của xứ sở này, ta có quyền nghĩ rằng chúng ta hãy còn sướng chán!
Xã hội Bắc Hàn hiện đang giống như một bãi cỏ khô chất cao dưới cái nắng thiêu đốt kéo dài. Chỉ cần có một đốm lửa nhỏ xuất hiện tại đây, tất cả sẽ bùng lên cháy dữ dội. Họ Kim chắc chắn sẽ bị hành quyết một cách đau đớn bởi bàn tay của những con người bao năm chất chứa căm thù. Cái kết cục của hắn sẽ thê thảm và nhục nhã hơn cả cái chết của những Saddam Hussein và Muammar Gaddafi!

Nguồn: Daohieu

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thứ Sáu, 15 tháng 5, 2015

Tư liệu quan hệ Việt Mỹ:

Tìm hiểu vì sao VN vuột mất 3,25 tỷ đô viện trợ như TT Nixon đã hứa...

Hiệp định Paris - Điều 21:
"Hoa Kỳ tin tưởng rằng hiệp định này sẽ mở ra một kỷ nguyên mới cho hòa giải dân tộc của nước Cộng Hòa Dân Chủ Việt Nam cũng như toàn thể nhân dân trên bán đảo Đông Dương. Vẫn theo đuổi những chính sách truyền thống, Hoa Kỳ sẽ đóng góp vào công cuộc hàn gắn vết thương chiến tranh và tái thiết sau chiến tranh tại Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa cũng như trên toàn Đông Dương."
Nội dung thư của TT Nixon gửi Thủ tướng Phạm Văn Đồng - Xem bản tiếng Anh
___________

11 Tháng 5 2008 - Cập nhật 19h25 GMT
Lê Quỳnh BBC Việt ngữ 
Lá thư mật Nixon và quan hệ Việt - Mỹ 

Sau khi hai bên ký kết Hiệp định ngừng bắn ở Paris năm 1973, Tổng thống Mỹ Richard Nixon đã viết một lá thư mật gửi Thủ tướng Bắc Việt Phạm Văn Đồng, hứa với Hà Nội 3.25 tỉ đôla viện trợ tái thiết sau khi chiến tranh kết thúc.
Lá thư này sau đó đã trở thành một trong các trở ngại chính, bên cạnh vấn đề người Mỹ mất tích, khi hai nước có một số động thái tìm cách phục hồi quan hệ sau 1975.
Sự ra đời của lá thư
Tổng thống Johnson là người đầu tiên đề cập khả năng viện trợ sau chiến tranh cho Việt Nam vào tháng Tư 1965, nhưng Hà Nội không trả lời. Năm 1969, trong một diễn văn tại Đại Hội đồng Liên Hiệp Quốc, Nixon cũng nhắc tới vấn đề này. Nhưng vấn đề chỉ trở thành chính thức vào ngày ký Hiệp định Paris tháng Giêng 1973, khi Lê Đức Thọ đòi có cam kết từ phía Mỹ.
Sau ba tiếng tranh cãi, Henry Kissinger đề nghị dùng viện trợ để đổi lấy giải trình của Hà Nội về tù binh Mỹ tại Lào. Kissinger cũng đề xuất dùng cuộc họp sắp diễn ra tại Hà Nội trong tháng Hai để bàn về chi tiết cam kết.

Ngày 1 tháng Hai, Nixon viết lá thư gửi cho Thủ tướng Phạm Văn Đồng. Phía Việt Nam đã đòi là không dùng sự thông qua của Quốc hội làm điều kiện cho cam kết viện trợ. Mẹo của Kissinger là không đưa chi tiết này vào phần chính lá thư, nhưng lại đặt nó vào phần phụ lục, theo đó, cam kết “sẽ được thực hiện bởi mỗi bên theo các điều khoản hiến pháp của mỗi nước.” Trong hồi ký của mình, Kissinger kể lại: “Chúng tôi ‘thỏa hiệp’ bằng cách nêu sự cần thiết có sự thông qua của Quốc hội ở một trang riêng, được gửi đồng thời và có cùng sức nặng.”
Khi đến Hà Nội từ 10 đến 13 tháng Hai, Kissinger đã trao cho Phạm Văn Đồng lá thư của Nixon. Mặc dù Kissinger nhấn mạnh đến yếu tố Quốc hội, nhưng như những sự kiện về sau cho thấy, Hà Nội tin rằng Quốc hội chỉ là cái cớ để Mỹ từ chối chi tiền. Những người Cộng sản, hoạt động trong một văn hóa chính trị khác, không thể hiểu nổi làm sao Quốc hội Mỹ lại có thể từ chối cấp vài tỉ đôla trong khi Washington dễ dàng đổ hàng trăm tỉ đôla vào miền Nam Việt Nam trong thời chiến.
Nỗ lực ngoại giao thời hậu chiến
Tháng 12 năm 1975, lần đầu tiên từ khi chiến tranh kết thúc, một phái đoàn dân biểu Mỹ đến Hà Nội, do Dân biểu Gillespie “Sonny” Montgomery dẫn đầu. Khi phía Mỹ đặt câu hỏi về sự tồn tại của những cam kết viện trợ mật từ phía Mỹ, họ đã ngạc nhiên khi Việt Nam tiết lộ lá thư của Nixon gửi Phạm Văn Đồng ngày 1-2-1973, chưa đầy hai tuần sau lễ ký Hiệp định Paris. Trong thư, Nixon hứa sẽ có 4.75 tỉ đôla viện trợ tái thiết, gồm 3.25 tỉ viện trợ kinh tế và 1.5 tỉ viện trợ thực phẩm và hàng hóa.
Hoàn toàn bất ngờ, Montgomery, sau khi quay về Mỹ, có cuộc điện đàm với Nixon ngày 2-2-1976. Sau đó ông báo cáo là “chương trình tái thiết, vốn đã được xem xét từ nhiều năm, phụ thuộc vào phía Việt Nam tuân thủ Hiệp định Hòa bình Paris và vào sự thông qua của quốc hội.” Vì lý do nào đó, chính phủ của Tổng thống Ford không công bố nội dung lá thư cho quốc hội.
Một chuyến thăm Hà Nội của Thượng Nghị sĩ George McGovern, nhằm đánh giá khả năng phục hồi quan hệ, diễn ra từ 15 đến 17 tháng Giêng 1976. Phái đoàn Mỹ một lần nữa được cho biết về lá thư của Nixon. Thủ tướng Đồng nhấn mạnh “khoản tiền cụ thể không được nhắc trong Hiệp định Paris, nhưng đây là vấn đề danh dự, trách nhiệm và lương tâm.”
Trong báo cáo gửi quốc hội sau khi trở về từ Hà Nội, McGovern khuyến nghị dỡ bỏ cấm vận, cho Việt Nam vào Liên Hiệp Quốc và bình thường hóa quan hệ. Mặc dù McGovern không đòi làm rõ câu hỏi về khoản tiền 4.75 tỉ đôla, nhưng ông nói “ban đầu chúng ta nên thể hiện là chúng ta sẵn sàng gia nhập cùng các nước ít nhất là bằng một chương trình viện trợ khiêm tốn.”
Tổng thống Ford vẫn không chịu công bố nội dung lá thư của Nixon cho quốc hội. Ngày 17-4 năm 1976, báo Nhân Dân ở Hà Nội đăng trích đoạn lá thư Nixon trong một phần chiến dịch công kích sự lạnh nhạt của chính quyền Ford. Có điều, truyền thông nước ngoài khi ấy không tường thuật gì về chi tiết này, khiến nó không có chút tiếng vang tại Washington. Tháng Bảy năm đó, trong phiên điều trần trước Ủy ban Montgomery (tên tắt của Ủy ban Quốc hội về người Mất tích ở Đông Nam Á), trợ lý ngoại trưởng về Đông Á – Thái Bình Dương Philip Habib giải thích việc giữ kín lá thư Nixon không phải là để nhánh hành pháp thọc gậy sau lưng Quốc hội mà là điều cần thiết để đạt được nỗ lực hòa bình tại Đông Dương. Sự giải thích này có vẻ làm hài lòng Ủy ban, và phải gần một năm sau, lá thư Nixon mới trở thành tài liệu lớn tác động tiêu cực đến quan hệ tương lai giữa hai nước.
Cuộc tranh cử tổng thống Mỹ cuối năm 1976 mang lại chiến thắng cho Jimmy Carter của đảng Dân chủ, trước Gerald Ford. Trong những tháng đầu sau khi nhậm chức tổng thống, Carter có vẻ sẵn sàng làm hòa với Việt Nam. Tháng Ba năm 1977, một phái bộ Mỹ sang Việt Nam, với trưởng đoàn là Leonard Woodcock, chủ tịch nghiệp đoàn công nhân các hãng xe hơi.
Báo cáo của Woodcock sau khi về từ Hà Nội tạo cho Tổng thống Carter cảm giác (sai lệch) rằng Hà Nội đã bỏ lập trường xem viện trợ kinh tế là điều kiện tiên quyết trước khi nối lại quan hệ. Cuộc đàm phán về bình thường hóa quan hệ được tổ chức tại Paris trong hai ngày 3 và 4 tháng Năm 1977. Dẫn đầu phái đoàn Mỹ là Richard Holbrooke, người bắt đầu sự nghiệp ngoại giao bằng bốn năm ở Việt Nam (1962-66). Đoàn Việt Nam do Thứ trưởng Ngoại giao Phan Hiền dẫn đầu.
Washington tỏ ra lạc quan về triển vọng cuộc họp tại Paris. Bình luận về cuộc họp sắp diễn ra, Tổng thống Carter, nói vào tháng Tư, rằng ông sẽ “hăng hái” vận động cho Việt Nam gia nhập Liên Hiệp Quốc và bình thường hóa quan hệ nếu Việt Nam “hành động có thiện chí.”
Trong ngày đầu cuộc họp tại Paris, Holbrooke hồ hởi nói với Phan Hiền: “Ngài thứ trưởng, ta hãy bỏ qua những vấn đề gây chia rẽ. Ta hãy ra ngoài và cùng tuyên bố với báo giới là chúng ta đã quyết định bình thường hóa quan hệ.” Nhưng ông Hiền từ chối, khẳng định Mỹ trước hết phải cam kết giúp tái thiết Việt Nam như nội dung lá thư của Nixon và hiệp định Paris. Như cựu Thứ trưởng Ngoại giao Trần Quang Cơ, có mặt trong cuộc họp với tư cách vụ trưởng Vụ Bắc Mỹ, tiết lộ trong hồi ký, Bộ Chính trị ở Hà Nội đã chỉ thị phải đòi giải quyết cả ba vấn đề: “ta và Mỹ bình thường hoá quan hệ (bao gồm cả việc bỏ cấm vận và lập quan hệ ngoại giao đầy đủ), ta giúp Mỹ giải quyết vấn đề MIA và Mỹ viện trợ 3.2 tỷ đô-la cho Việt Nam như đã hứa hẹn trước đây.” Nhưng Holbrooke, trước đó đã nhận chỉ thị tìm kiếm sự khôi phục ngoại giao vô điều kiện, bác bỏ yêu cầu của Việt Nam, nói rằng cả Quốc hội và chính phủ Mỹ sẽ không đồng ý vấn đề viện trợ.
Công bố lá thư
Hai bên đồng ý tạm hoãn cuộc họp để Holbrooke quay về xin chỉ thị từ Washington. Nhưng khi phát biểu với báo chí, Phan Hiền lần đầu tiên khẳng định công khai là Hà Nội vẫn kiên quyết đòi hỏi có viện trợ, ngược hẳn tuyên bố của Carter sau chuyến đi của Woodcock rằng Hà Nội đã bỏ vấn đề này.
Tiết lộ của Phan Hiền đưa ra đúng lúc đang có cuộc tranh luận ở Quốc hội Mỹ về dự luật cấp 1.7 tỉ đôla cho viện trợ hải ngoại. Trong cuộc họp của Hạ viện ngày 4 tháng Năm, dân biểu Cộng hòa John Ashbrook đòi có biện pháp cấm Bộ Ngoại giao có thêm nhượng bộ với Việt Nam. Chỉ sau 10 phút tranh luận, Hạ viện Mỹ bỏ phiếu cấm có bất kỳ viện trợ nào cho Việt Nam. Dự luật do Ashbrook bảo trợ (HR 6689) cấm cả việc thương lượng về “bồi thường, viện trợ hay mọi hình thức chi trả khác”.
Hai hôm sau, ngày 6 tháng Năm, báo Nhân Dân cho đăng trích đoạn thư của Nixon và lá thư trả lời của Phạm Văn Đồng. Cũng trong số báo này là bài viết lên án rằng sự từ chối thực hiện lời hứa của Nixon đã “chà đạp” luật pháp quốc tế.
Lần này, việc Hà Nội công bố trích đoạn lá thư gây ra sóng gió ở Đồi Capitol. Lester L. Wolff, tân chủ tịch Phân ban Hạ viện về châu Á – Thái Bình Dương, dọa đưa Nixon ra tòa nếu cựu tổng thống không xuất trình lá thư. Nixon gửi cho Wolff một lá thư đề ngày 14 tháng Năm, nhấn mạnh: “Không có bất kỳ cam kết nào, dù là đạo đức hay pháp lý, để cung cấp bất kỳ viện trợ nào cho chính phủ Hà Nội.”
Ngày 19 tháng Năm, trước sức ép của Wolff, Bộ Ngoại giao Mỹ công bố toàn văn lá thư mật năm 1973 của Nixon. Đây cũng là ngày phát đi cuộc trò chuyện thứ ba trong loạt phỏng vấn truyền hình giữa nhà báo David Frost và Richard Nixon. Cựu tổng thống đã dùng cơ hội này để biện bạch ông đã cảnh báo Hà Nội vào ngày 12 tháng Hai 1973 là việc cấp viện trợ kinh tế phụ thuộc vào việc Bắc Việt nghiêm túc thực thi hiệp định hòa bình và vào sự thông qua của Quốc hội Mỹ.
Hai ngày sau, Bộ Ngoại giao Việt Nam chính thức công bố trọn vẹn nội dung thư của Nixon, cùng trả lời của Phạm Văn Đồng. Trong cái nhìn của Hà Nội, việc công bố toàn văn, cũng như những lần hé lộ văn bản lá thư trước đó, là cách buộc Hoa Kỳ thực thi trách nhiệm. Tuy nhiên, nó cũng chứng tỏ Hà Nội không hiểu được những đổi thay trong dư luận cũng như chính trường Mỹ sau 1975. Trong những năm chiến tranh, Hà Nội có thể tận dụng cảm tình của phong trào phản chiến quốc tế - trong khi giờ đây, Việt Nam chỉ là một trong vô vàn các nước Thế giới thứ Ba có tiếng nói yếu ớt. Trong những năm chiến tranh, Quốc hội Mỹ là một định chế phóng khoáng đối lập với nhánh hành pháp bảo thủ; nhưng sau cuộc chiến Việt Nam, cán cân giữa hai nhánh lập pháp và hành pháp quay ngược hẳn. Cam kết của một tổng thống đã mất hết uy tín lại càng bị xem như một sai lầm, một cam kết không giá trị.
Ảnh hưởng của Brzezinski
Vòng hai hội đàm Mỹ - Việt diễn ra trong hai ngày 2 và 3 tháng Sáu tại sứ quán Mỹ ở Paris. Không khí giờ đây hoàn toàn đổi khác: Việt Nam bị Mỹ nhìn với con mắt nghi kỵ. Sau vòng hai, Phan Hiền bay về Hà Nội xin cấp trên mềm dẻo hơn, nhưng không được chấp thuận.
Zbigniew Brzezinski, ngày càng gây ảnh hưởng lên Carter ở cương vị cố vấn an ninh quốc gia, lấy ưu tiên là việc làm thân với Bắc Kinh, và xem Việt Nam là lá bài để khuấy động mâu thuẫn Trung – Xô.
Cùng lúc đó, căng thẳng biên giới với Campuchia và sự bất mãn gia tăng của Hà Nội đối với Bắc Kinh đẩy Hà Nội ngả về phía Moscow. Trong tháng Năm và tháng Sáu 1977, Phạm Văn Đồng thăm Liên Xô. Đàm phán thất bại với Mỹ và dấu hiệu làm thân giữa Washington và Bắc Kinh, tiêu biểu là chuyến thăm của Ngoại trưởng Vance đến Bắc Kinh trong tháng Tám, đưa Liên Xô trở thành giải pháp để đối chọi với đe dọa từ Trung Quốc.
Dù bị quốc hội phê phán vì cuộc hội đàm với Việt Nam ở Paris, Tổng thống Carter giữ lời hứa không ngăn chặn tấm vé gia nhập Liên Hiệp Quốc của Hà Nội vào tháng Chín năm 1977. Và chỉ vài ngày sau khi vào LHQ, Việt Nam giao cho phía Mỹ 22 bộ hài cốt quân nhân Mỹ. Tình hình vẫn nhùng nhằng giữa sự thù nghịch và động thái ve vuốt.
Vòng ba hội đàm Mỹ - Việt tại Paris tháng 12-1977 cũng không khá hơn. Holbrooke đề xuất khả năng lập Phòng quyền lợi tại thủ đô hai nước. Điều này tương tự việc Trung Quốc đồng ý cho mở Phòng quyền lợi của Mỹ tại Bắc Kinh năm 1973. Và vào tháng Sáu 1978, Cuba cũng đồng ý với ý tưởng này của Mỹ. Nhưng đoàn Việt Nam bác bỏ, khẳng định Hà Nội “sẽ không bao giờ làm cái việc mà Trung Quốc đã làm.”
Ở đây để lộ ra tâm trạng say men chiến thắng của ban lãnh đạo Hà Nội thời hậu chiến. Đề nghị của Mỹ chứng tỏ Washington đặt Việt Nam cùng hàng ngũ với Cuba, tức những quốc gia vệ tinh cộng sản khá quan trọng với Mỹ về chiến lược. Nhưng Việt Nam lại so sánh mình với Trung Quốc, tin rằng cả hai cùng đáng kể như nhau trong mắt người Mỹ.
Chuyến thăm Trung Quốc tháng Năm 1978 của Brzezinski đánh dấu việc Mỹ chọn con đường bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc. Nó cũng chứng tỏ cán cân quyền lực về đối ngoại đã chuyển từ Bộ Ngoại giao sang Hội đồng An ninh Quốc gia – dẫn tới sự từ chức của Ngoại trưởng Cyrus Vance tháng Tư năm 1980. Brzezinski đặt xung đột Việt Nam – Campuchia trong xung đột lớn hơn giữa Liên Xô và Trung Quốc. Vì thế, quanh câu hỏi làm thân với Hà Nội, Brzezinski thừa nhận “tôi…liên tục nói với tổng thống là một hành động như thế sẽ bị Trung Quốc diễn giải là động thái ‘thân Xô, chống Trung.”
Quân cờ giữa Mỹ - Xô – Trung
Việt Nam đề nghị có thêm vòng đàm phán khác trong tháng Tám 1978 tại Paris, nhưng giữa lúc đang căng thẳng giữa Hà Nội và Bắc Kinh, Mỹ từ chối đề nghị này và muốn có hình thức họp kín đáo hơn. Đến tháng Chín 1978, các cuộc gặp bí mật giữa Mỹ và Việt Nam diễn ra tại New York bên lề phiên họp của Liên Hiệp Quốc.
Trưởng đoàn Việt Nam, Thứ trưởng Ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch, lần này chính thức rút bỏ đòi hỏi Mỹ bồi thường – viện trợ 3.25 tỷ đôla. Đoàn Việt Nam hy vọng có thể ký kết thỏa thuận trong tuần đầu của tháng Mười khi Ngoại trưởng Nguyễn Duy Trinh đang ở New York.
Nhưng Holbrooke từ chối đưa ra ngày cụ thể, nói rằng có thể sẽ họp thêm sau bầu cử quốc hội ngày 7-11. Nguyễn Cơ Thạch ở lại Mỹ cho đến ngày 20-10, nhưng cũng ra về mà không nhận được tin từ phía Mỹ. Trần Quang Cơ, người tiếp tục ở lại New York, cho biết vào ngày 30-11, Robert Oakley, trợ lý ngoại trưởng Mỹ, trả lời ông: “Mỹ không thay đổi lập trường bình thường hoá quan hệ với Việt Nam, nhưng phải chậm lại vì cần làm rõ 3 vấn đề Campuchia, Hiệp ước Việt-Xô và vấn đề người di tản Việt Nam.”
Mỹ và Trung Quốc chính thức phục hồi quan hệ ngoại giao vào ngày đầu tiên của năm 1979. Ngày 7-1, quân đội Việt Nam tiến vào thủ đô Phnom Penh. Một tháng sau đó, nổ ra cuộc chiến biên giới Việt – Trung. Cũng từ đây, khả năng bình thường hóa quan hệ giữa Mỹ và Việt Nam phụ thuộc vào vấn đề Campuchia, một vấn đề còn tồn đọng cho tới đầu thập niên 1990.
...................................................................................
Tài liệu tham khảo:
Zbigniew Brzezinski, Power and Principle: Memoirs of the National Security Advisor 1977-1981 (1983)
Nayan Chanda, Brother Enemy: The War After the War (1988)
Trần Quang Cơ, Hồi ức và Suy nghĩ (2003)
Henry Kissinger, Years of Upheaval (1982)
_____________

GS Thayer và câu chuyện Tháng Hai

Nguyên nhân sâu xa chính là việc Việt Nam và Liên Xô ngày 3.11.1978 đã ký hiệp ước hữu nghị và hợp tác, trong đó có điều 6 thoả thuận rằng "trong trường hợp một trong hai bên bị tiến công hoặc bị đe doạ tiến công, thì hai bên ký hiệp ước sẽ lập tức trao đổi ý kiến với nhau, nhằm loại trừ mối đe doạ đó và áp dụng các biện pháp thích đáng có hiệu lực, để bảo đảm hoà bình và an ninh của hai nước".
LTS: TVN xin đã gặp và phỏng vấn GS Carl Thayer của Học viện Quốc phòng Úc, nhân dịp ông sang Việt Nam tham gia đàm thoại trên VTV6. Câu chuyện bắt đầu từ lễ kỷ niệm bỏ cấm vận vừa được tổ chức ở Mỹ...
"Đến bù chiến tranh"?
Thưa ông, vừa rồi bên Mỹ có tổ chức rất hoành tráng ký niệm 20 năm quan hệ kinh tế Mỹ - Việt (người Mỹ không thích dùng từ gỡ bỏ lệnh cấm vận kinh tế với Việt Nam - 3.2.1994). Trong suốt một thập kỷ rưỡi cấm vận kinh tế, ngoài lý do  rút quân khỏi Căm-pu-chia, người Mỹ đã yêu cầu Việt Nam phải đạt được thành tích tốt trong kiểm điểm quân nhân Mỹ mất tích tại Việt Nam. 
Mỹ đã tham gia nhiều cuộc chiến trên thế giới, chuyện chết không tìm thấy xác cũng thường tình trong chiến tranh, vậy tại sao kiểm điểm người Mỹ mất tích tại Việt Nam lại quan trọng như vậy, là điều kiện tiên quyết cho việc gỡ bỏ cấm vận kinh tế?
Bởi vì tại cuộc chiến tranh Việt Nam lần đầu tiên người Mỹ đã thua trong tủi nhục, và họ không chịu được chuyện đó. Họ dùng chuyện kiểm điểm những lính Mỹ mất tích làm một trong những cái cớ để làm khó Việt Nam, và cũng là cái cớ để xoa dịu những gia đình có người bị chết trong cuộc chiến bại này.
chiến tranh biên giới, cuộc chiến 1979, quan hệ Việt Mỹ, quan hệ Việt Trung
Bộ đội và dân quân Việt Nam sẵn sàng đánh trả quân Trung Quốc xâm lược tại Lạng Sơn năm 1979. Ảnh tư liệu
Trong những năm 1976 -1978, việc Việt Nam bỏ lỡ cơ hội bình thường hóa quan hệ với Mỹ, bằng cách đặt ra điều kiện tiên quyết cho việc này là Mỹ phải trả khoản 3,25 tỷ USD để tái thiết Việt Nam, theo tinh thần của Hiệp định Paris.Ông nghĩ về sự lỡ hẹn đó như thế nào?
Cũng là tâm lý của người thua cuộc thôi, bởi người Mỹ hiểu rằng khoản tiền này giống như tiền "đền bù chiến tranh" của nước thua cuộc. Và họ đã viện cớ chính Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã vi phạm hiệp định hòa bình Paris để giải phóng miền Nam và thống nhất đất nước.
Còn phía Việt Nam thì không hiểu vai trò Quốc Hội ở Mỹ lại lớn như vậy, khi quyết định các khoản tín dụng như vậy, chứ không phải họ thực hiện theo ý chí của đảng cầm quyền.
Thế tại sao khi Việt Nam đã xuống nước, khi Thứ trưởng Ngoại giao Phan Hiền đã tuyên bố ở Tokyo rằng sẵn sàng đàm phán bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Mỹ vô điều kiện vào tháng 7.1978, Mỹ lại từ chối?
Lúc này, Tổng thống Jimmy Carter đứng trước ba sự lựa chọn:
-       Bình thường hóa quan hệ đồng thời với cả Trung Quốc và Việt Nam.
-       Bình thường hóa với Trung Quốc trước.
-       Bình thường hóa với Việt Nam trước.
Do quyết tâm chơi với Trung Quốc để chống lại Liên Xô, Tổng thống Carter đã chọn khả năng thứ hai, và trong đó có vai trò đặc biệt của Cố vấn An ninh Quốc gia Zbigniew Brzezinski. Và việc Việt Nam đưa quân sang Căm-pu-chia tháng 12.1978 và cuộc chiến ở biên giới phía Bắc sau đó 2 tháng đã làm thay đổi tất cả. Mỹ chống lại việc Việt Nam đưa quân vào Căm-pu-chia, và sự việc diễn tiến như thế nào thì anh biết rồi đó.
Nhưng chính quyền của Tổng thống Carter đã ủng hộ Đặng Tiểu Bình trong sự kiện đầu năm 1979?
Đây là sự nhầm lẫn hoàn toàn. Khi Đặng Tiểu Bình, từ Mỹ về qua Tokyo, đã tuyên bố như vậy, và Washington đã rất tức giận. Mỹ không ủng hộ một nước mang quân sang một nước khác.
Khi Đặng Tiểu Bình trong chuyến thăm một số nước Đông Nam Á vào tháng 11.1978 đã tuyên bố quan điểm của ông ta về Việt Nam, Cố vấn An ninh Quốc gia Brzezinski đã vui mừng nhắc lại với báo chí Mỹ cơ mà?
Brzezinski có quan điểm chống Việt Nam và Liên Xô rất quyết liệt. Lúc đó, Việt Nam vừa mới ký hiệp định đồng minh với Liên Xô.
Như vậy, trong sự kiện đầu năm 1979 ở biên giới phía Bắc Việt Nam, quan điểm của phía Mỹ thế nào?Mỹ yêu cầu phía Trung Quốc rút quân khỏi Việt Nam, và Việt Nam rút quân khỏi Căm-pu-chia.
Đó là trên lời nói?
Trên thực tế, cuộc đụng độ giữa Trung Quốc và Việt Nam, với Mỹ, là chuyện của hai nước cộng sản, không mấy đáng quan tâm với Mỹ.
Còn việc Việt Nam rút quân khỏi Căm-pu-chia là đòi hỏi có thực. Bởi ngoài ý nghĩa quân đội Việt Nam có mặt trên đất Căm-pu-chia, các nước ASEAN, nhất là Thái Lan, phản đối rất dữ dội, và họ sợ Việt Nam nhân đà làm tới. Một số nước lại là đồng minh của Mỹ.
Mỹ có ủng hộ Khmer Đỏ không?
Không. Tội ác diệt chủng của Khmer Đỏ khiến mọi người ghê tởm, và với chính quyền Mỹ cũng vậy.
Thế sao năm 1982, Mỹ ủng hộ Liên minh Dân chủ của Sihanouk, Son San và Khmer Đỏ giữ ghế của Căm-pu-chia trong Liên Hợp Quốc?
Liên minh này do Trung Quốc dựng lên nhằm lấy cái danh tiếng của Sihanouk và Son San để che đi cái tội ác của Khmer Đó. Nhưng Khmer Đỏ lại là lực lượng có thực lực duy nhất ở Căm-pu-chia trong cuộc chiến chống lại quân đội Việt Nam và chính quyền do Việt Nam dựng nên. Mỹ ủng hộ liên minh này vì lý do như vậy, nhưng chính quyền Mỹ đã ra lệnh cho các quan chức không được bắt tay với người của Khmer Đỏ.
Nguyên nhân sâu xa..
Theo ông, sự kiện ở biên giới phía Bắc Việt Nam đầu năm 1979 có hoàn toàn là sự trả đũa? 
Việc Việt Nam bất ngờ tấn công Khmer Đỏ và 7.1.1979 giải phóng Phnom - Penh chỉ là nguyên nhân trực tiếp.
Nguyên nhân sâu xa chính là việc Việt Nam và Liên Xô ngày 3.11.1978 đã ký hiệp ước hữu nghị và hợp tác, trong đó có điều 6 thoả thuận rằng "trong trường hợp một trong hai bên bị tiến công hoặc bị đe doạ tiến công, thì hai bên ký hiệp ước sẽ lập tức trao đổi ý kiến với nhau, nhằm loại trừ mối đe doạ đó và áp dụng các biện pháp thích đáng có hiệu lực, để bảo đảm hoà bình và an ninh của hai nước".
Qua điều 6 của bản hiệp ước dường như người ta hiểu liên minh này nhằm ngăn ngừa mối họa từ đâu. Trong khi đó, Trung Quốc coi Liên Xô là kẻ thù trực tiếp và số một.
chiến tranh biên giới, cuộc chiến 1979, quan hệ Việt Mỹ, quan hệ Việt Trung
GS Carl Thayer. Ảnh: Huỳnh Phan
Thế những sự kiện trước đó, như vấn đề nạn kiều, hay việc Trung Quốc cắt hết viện trợ cho Việt Nam vào giữa năm 1978, được nhìn nhận thế nào?
Đó là những sức ép lên Đảng Cộng sản Việt Nam nhằm làm cho tình hình Việt Nam thêm khó khăn, và bắt Việt Nam phải nhượng bộ. Thế nhưng, sau khi gia nhập khối Comecon (Hội đồng Tương trợ Kinh tế), do Trung Quốc cắt hoàn toàn viện trợ, Việt Nam đã ký hiệp ước liên minh với Liên Xô.
Chính vì vậy, tại Đại hội 6 của Đảng Cộng sản Việt Nam, tổ chức vào 12 năm 1986, Việt Nam đã quyết định đổi mới, và trong chính sách đối ngoại đã xác định "Việt Nam là bạn với tất cả", đặc biệt là không liên minh với nước nào để chống một nước nào.
Lúc đó, hiệp ước với Liên Xô vẫn còn hiệu lực?
Đúng. Nhưng Liên Xô dưới thời Gorbachev (lên từ 3.1985) có đường lối hòa hoãn với Trung Quốc, chủ yếu tập trung cải cách trong nước.
Hiệp ước này, về mặt an ninh, không còn giá trị khi một số hòn đảo tại Trường Sa bị chiếm đóng đầu năm 1988.
Xin cám ơn ông!
Huỳnh Phan (Thực hiện)/ Vietnamnet



Báo cáo của một Thượng nghị sĩ gửi Quốc hội Mỹ tháng 2/1976:
“Việt Nam không cần bất cứ ngoại lực nào chi phối” 
17:25 05/05/2015
Hơn nửa năm sau ngày giải phóng miền Nam, rất ít người biết về chuyến viếng thăm Việt Nam vào tháng 12/1975 của đoàn nghị sĩ Mỹ do ông Gillespie “Sonny” Montgomery dẫn đầu và đáng kể nhất là chuyến đi tiếp theo sau đó của Thượng nghị sĩ George McGovern thuộc đảng Dân chủ vào ngày 15/1/1976. Kết quả của chuyến đi kéo dài 5 ngày này của ông George McGovern là một bản điều trần dài 20 trang gửi Quốc hội Mỹ những gì mà ông đã chứng kiến ở Hà Nội và Sài Gòn.
Ngay từ trang 2 của bản báo cáo, điều đầu tiên ông khuyên Quốc hội Mỹ ngay lập tức từ bỏ các biện pháp hạn chế về thương mại và đóng băng tài khoản của Việt Nam ở nước ngoài. Mỹ phải công nhận chính phủ mới của Việt Nam sẽ được thành lập sau khi các cuộc bầu cử toàn quốc dự kiến diễn ra trong nửa đầu năm 1976.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Việt Nam luôn mong muốn và coi Cam puchia là bạn tốt. Những thế lực thù địch VN chỉ phí công gây oán thù giữa hai nước đã từng chia sẻ ngọt bùi qua nhiều quá khứ tang thương!

Các lực lượng chống Việt Nam ở Campuchia và những nước nào đứng sau là vấn đề không hề đơn giản!

Các lực lượng khmer chống quân đội và chuyên gia VN ở CPC kể cả quân sự lẫn chính trị, bao gồm những người cộng sản và phi công sản, dưới nhiều hình thức tổ chức, họ vừa chống nhau vừa hổ trợ nhau tạo thành mạng lưới rất phức tạp. 
Đáng kể có lực lượng Khmer đỏ do Trung Quốc chống lưng, Khmer 
Serei (tự do) do Hoa Kỳ tài trợ, ngoài ra còn có phong trào MOLINAKA. Các tổ chức Khmer này có mối quan hệ phối hợp với phong trào FULRO Việt Nam qua mạng tình báo.  
Các nước hậu thuẫn trực tiếp có, gián tiếp có, tổ chức phức tạp không kém. Thái Lan là nước trung gian và cho mượn đất lập căn cứ huấn luyện và làm bàn đạp xâm nhập nội địa Campuchia, thêm tình báo Pháp, vài nước Đông Nam Á và có dính đến vai trò của Liên Hiệp quốc.
Biết rõ nhất là TC II Việt Nam, các nhà báo nước ngoài không thể hiểu hết tính phức tạp của các lực lượng chống VN nên nhìn nhận đánh đồng chung là Khmer đỏ.
(Thợ Cạo)

Tham khảo:


Trung Quốc, Hoa Kỳ, Anh Quốc: tòng phạm của Khmer đỏ    
01/03/2009 Mai Vân - RFI
Nhân dịp Toà Án Quốc tế xét xử tội ác Khờ Me Đỏ mở ra tại Phnom Penh, và những kẻ phạm tội diệt chủng lần lượt ra trước vành móng ngựa, các tuần báo Pháp đã nhìn lại thời kỳ đen tối của lịch sử Cam Bốt, để tìm hiểu và đưa ra ánh sáng những tòng phạm, đã từng đứng sau lưng hỗ trợ chế độ này
Tạp chí Le Courrier International đặt câu hỏi : Những kẻ đồng lõa với Khmer Đỏ sao không không thấy đâu cả ? Nêu bật thắc mắc của một chuyên gia về Khmer Đỏ, ông John Pilger, đã không thấy nhắc đến những lãnh đạo phương Tây, đã từng hỗ trợ cho chế độ Pol Pot nhân phiên tòa, Le Courrier Inetrnational đã trích đang bài viết của chuyên gia này trên tờ báo anh ngữ độc lập, Phnom Penh Post xuất bản ở thủ đô Cam Bốt.
Nixon và Kissinger đã gián tiếp giúp Pol Pot lên cầm quyền

Tác giả bài báo có vẻ lấy làm tiếc là hiện nay chỉ có các lãnh đạo Khmer Đỏ  bị đem ra xét xử, trong lúc thảm kịch Cam Bốt bao gồm 3 giai đoạn, trong vụ diệt chủng chỉ là một giai đoạn, và duy nhất được ghi lại trong ký ức chính thức. Theo John Pilger, Pol Pot không thể nào lên nắm quyền nếu tổng thống Mỹ thờI đó Richard Nixon và cố vấn  của ông là Henry Kissinger đã không mở chiến dịch tấn công tại Cam Bốt, vào thời nước này còn là một quốc gia trung lập.
Năm 1973, pháo đài bay B.52 đã dội xuống Cam Bốt một lượng bom còn cao hơn số bom mà Nhật Bản hứng chiụ trong suốt Đệ nhị Thế chiến. Theo Pilger, số người Cam Bốt bị chết ước tính khoảng 600.000 người. Một số hồ sơ đã cho thấy là cơ quan tình báo Mỹ CIA đã đo lường đươc hậu quả chính trị  của chiến dịch. Họ đã cảnh báo : thiệt hại do B.52 gây ra là trọng tâm tuyên truyền của Khmer Đỏ, mà theo CIA, ''đã tuyển mộ đươc một số lớn thanh niên, trong số những người chạy lánh nạn chiến sự".
John Pilger kết luận miả mai là Khmer Đỏ đã hoàn tất những gì mà Nixon và Kissinger đã bắt đầu. Thế nhưng Kissinger sẽ không ngồi vào ghế bị cáo ở Phnom Penh vì ông đang bận cố vấn cho tổng thống Barack Obama trên các vấn đề điạ lý chiến lược.
Nước Anh của Thatcher bí mật tiếp tay cho Khmer Đỏ

Nhưng không phải có Hoa Kỳ và Henry Kissinger bị lên án. John Pilger còn nêu tên một người khác : cựu thủ tướng Anh, bà Margaret Thatcher, và những viện chức cao cấp của Anh, nay đã về hưu. Họ đã bí mật hỗ trợ cho Khmer Đỏ, sau khi chế độ này bị Việt Nam đánh đuổi. Đây là giai đoạn 3.
Năm 1979, Hoa Kỳ và Anh Quốc đã áp đặt cấm vận đối với một nhà nước Cam Bốt bị kiệt quệ. Vì là người giải phóng Cam Bốt, Việt Nam đã không đứng về phe tốt trong thời kỳ chiến tranh lạnh.
Pilger còn nhận thấy là chưa bao giờ một chiến dịch do bộ ngoại giao Anh tổ chức lại trắng trợn và dữ dằn như thế. Anh Quốc đòi hỏi là chế độ không còn nữa của nước Kampuchéa Dân chủ, được giữ ''quyền'' đại diện cho nạn nhân của họ ở Liên Hiệp Quốc. Hoa Kỳ, Anh Quốc và Trung Quốc, đã biạ đặt ra một liên minh ''không cộng sản'' lưu vong,  mà thật ra chủ yếu gồm phe Khmer Đỏ. Ở Thái Lan, các cơ quan tình báo Mỹ CIA và  DIA (tình báo quốc phòng) đã duy trì quan hệ mật thiết với Khmer Đỏ.
Năm 1983, chính quyền Anh của bà Margaret Thatcher, còn cử lực lượng đặc biệt SAS đến huấn luyện cho các thành phần này, đặc biệt là các kỹ thuật gài mìn. Khi trả lời dân biẻu đối lập Neil Kinnock, bà Thatcher khi đó đã hoàn toàn phủ nhận, khẳng định rằng chính quyền Anh không hề dính líu vào việc huấn luyện, trang bị, hay một hình thức hợp tác nào, với lực lượng Khmer Đỏ hay đồng minh của họ. Có điều là năm 91, chính phủ kế nhiệm là John Major đã phải thú nhận trước Quốc Hội Anh là lực lượng đặc biệt SAS đã thực sự tham gia huấn luyện một cách bí mật cho lực lượng Pol Pot.
Tác giả bài báo kết luận, nếu công lý quốc tế không phải là một tấn hài kịch, thì phải gọi những người đồng hành với kẻ phạm tội ác ra trưóc toà án Phnom Penh. Ít ra là phải ghi tên họ vào ‘’danh sách nhục nhã’’. John Pilger là một chuyên gia về thời kỳ Khmer Đỏ, từng là phóng viên chiến trường, đồng thời là nhà văn, nhà đạo diễn phim. Ông là tác giả 2 bộ phim về thời kỳ Khmer Đỏ.
Hoa Kỳ đẩy Sihanouk vào vòng tay Khmer Đỏ
Le Monde 2, tạp chí hàng tuần của nhật báo Le Monde, đã ghi nhận một hệ quả khác của chiến dịch Mỹ tiến hành ở Cam Bốt : đẩy quốc vương Sihanouk đến với Khờ me đỏ.
Dưới tựa đề ‘’Sihanouk trong bóng Khmer Đỏ’’, tạp chí đăng lại một số bức ảnh ông Sihanouk chụp với các chiến sĩ trẻ hoặc bên cạnh các lãnh đạo Khmer Đỏ như Khiêu Samphan, trong bức ảnh đến tham quan thác Phnom Kulen ở vùng giải phóng, hay ảnh hoàng hậu Monique đứng bên cạnh vợ của Pol Pot. Theo lời chú thích, hai tấm ảnh này chụp vào tháng 3 và tháng tư năm 1973.
Một bức ảnh nữa cũng chụp Khiêu Samphan và Sihanouk ở Siem Reap, gần đền Angkor, chụp thời kỳ ông trở lại Phnom Penh, sau tháng 4 năm 1975. Hàng chú thích dưới bức ảnh  giải thích : đây là một trong nhũng lần hiếm hoi mà ông Sihanouk rời cung điện ở Phnom Penh. Ông là nguyên thủ quốc gia nhưng không có quyền hạn gì và thật ra là tù nhân của Khmer Đỏ, từ tháng tư năm 1975 cho đến đầu năm 1976 (lúc ông từ chức).
Tạp chí Le Monde 2 cho biết là các bức ảnh trên nằm trong  tài liệu lưu trữ cá nhân mà cưụ quốc vương Cambốt đã tặng cho Trưòng Viễn Đông Bác Cổ vào năm 2004. Hàng trăm ngàn tài liệu mà công việc kiểm kê, sắp xếp lại số tài liệu này chỉ vừa mới kết thúc. Tạp chí hoan nghênh thái độ minh bạch hoá lịch sử hiếm thấy của một nguyên thủ quốc gia.
Về bức ảnh đầu tiên, Francis Deron, tác giả bài báo dài lược qua thời kỳ này, và giải thích rằng : vào một ngày tháng 3 năm 1973, ở một góc rừng Cam Bốt, những chiến sĩ Khmer Đỏ đươc chọn lựa kỹ càng, đã được đưa đến chào người Cha đất nước, trước ống kính của một nhiếp ảnh gia do Trung Quốc đào tạo và trang bị.
Do đâu ông Sihanouk đã đến với Khmer Đỏ ? Dĩ nhiên là do chiến dịch của Hoa Kỳ ở Cam Bốt, việc dựng lên chính quyền Lon Nol, năm 1970. Bị quân đội lật đổ, không còn đươc hậu thuẩn của phưong Tây, Quốc vương Sihanouk, lánh nạn ở Bắc Kinh, đã không còn con đường nào khác là nghe lời của Trung Quốc liên minh với du kích quân Khmer Đỏ, mà trước đó ông vẫn cho săn đuổi.
Trong bài lược lại tình hình, Francis Deron nêu bật trở lại sự thay đổi thái độ của Henry Kissinger. Theo bài báo khi Pol Pot lên nắm quyền ở Phnom Penh, các nhà phân tích của CIA đã cố cảnh báo về chế độ độc tài đang đươc thiết lập ở đây. Nhưng CIA không phải là một nguồn tin đáng tin cậy. Chỉ có một người lắng nghe họ : Henry Kissinger, nhưng không phải là để ngăn chặn .
Bài báo trích lại lời của Kissinger, ngày 26 tháng 11 năm 1975,  trong buổi ăn trưa ở bộ Ngoại giao với một đoàn đại diện Thái Lan : ‘’Chúng tôi nghĩ là mối đe doạ lớn nhất đối với Đông Nam Á hiện giờ, đến từ Miền Bắc Việt Nam. Chiến lược của chúng tôi là, là lôi kéo Trung Quốc đến Lào và Cam Bốt để ngăn chăn Việt Nam. Hãy nói với những người ở Cam Bốt rằng chúng tôi sẽ là bạn của họ. Họ là những tên côn đồ sát nhân, nhưng nói riêng giữa chúng ta thì điều đó không quan trọng. Chúng tôi sẳn sàng cải thiện quan hệ với họ. Hãy nói lại vớI họ phần cuối những gì tôi vừa nêu, đừng lập lại phần đầu’’.
(Những lời lẽ này nằm trong số tài liệu giải mật ngày 27 tháng 7 năm 2004). Và dĩ nhiên phía Thái Lan đã tường thuật lại cho Trung Quốc, và Bắc Kinh lập lại cho Khmer Đỏ.
Francis Deron nhận định là để trừng phạt Việt Nam, Henry Kissinger không ngần ngại sử dụng mọi phương cách. Việc Khmer Đỏ thù ghét Việt Nam là một công cụ tốt. Vả lại từ năm 1972, Bắc Kinh và Washignton không còn là kẻ thù nữa. Năm 1976, Trung Quốc ở vào một thờI điểm then chốt. Mao Trạch Đông qua đờI, Đặng Tiểu Bình sẽ cầm cương Trung Quốc. Đặng Tiều Bình, theo Deron, thù ghét Việt Nam không kém gì Kissinger.
Bài báo cũng nhắc lại là từ 1975 đến cuối 1978, Khmer Đỏ thực hiện kế hoạch thảm sát. Được sự hổ trợ của Trung Quôc và sự đồng ý ngầm của Phương Tây.
Như trả lờI thắc mắc của đồng nghiệp John Pilger, không thấy nhũng nguời bạn của Khmer Đỏ ở đâu trong vụ xét xử hiện nay, Deron cho là đã có những cuộc mặc cả gay go và thoả hiệp để chỉ xét xử những hành vi Khmer Đỏ trong giai đoạn từ năm 1975 đến ngày mùng 7 tháng giêng 1979. Phần còn lại, lịch sử sẽ phán xét.
Thái Lan chưa thoát khỏi quá khứ phong kiến
Tiếp tục nhìn sang Châu Á, le Courrier International chú trọng đến Thái Lan. DướI tựa đề ‘’Bất bình đẳng như là nền tảng của xã hội’’, tạp chí  trích dẫn tờ Bangkok Post, lấy làm tiếc là khái niệm nhân quyền chưa thâm nhập thực sự vào xã hội Thái, và sở dĩ Thái Lan vẫn là đứa học trò kém cỏi về nhân quyền, đó là vì chưa thóat ra khỏi quá khứ phong kiến.
Bài báo nhắc lại là sau khi bị tố cáo ngược đãi ngườì tỵ nạn sắc tộc Rohingya (Miến Điện), chính quyền Bangkok đã mở cửa cho Cao ủy Tỵ nạn Liên Hiệp Quốc, và cho các tổ chức phi chinh phủ để vào điều tra.
Nhưng câu hỏi được nêu ra là chính quyền có thực sự giải quyết tận gốc vấn đề hay không ?  Theo bài báo, người Thái Lan không chia sẻ khái niệm nhân quyền như người ta thấy ở phương Tây, ví dụ như đối với người hồi giáo Thái Lan. Việc họ bị đẩy ra bên lề xã hội là một thực tế, và phần lớn xã hội không thấy đoái hoài, tỏ cảm tình đối vơí thành phần này.
Suy nghĩ là mọi người đều có những quyền bình đẳng như nhau không có ở Thái Lan. Xã hội được xây dựng trên một nền tảng tôn ti trật tự. Thời phong kiến, mỗi tầng lớp xã hội có những quyền lợi khác nhau, trong mỗi tầng lớp thì đàn ông vẫn có quyền hơn đàn bà.
Cho đến nay thì người ta cũng không thực sự  đòi hỏi quyền bình đẳng, Mọi người có vẻ an phận với chỗ đứng của mình bất kỳ là trong tầng lớp xã hội nào. Người Thái đã không thoát khỏi cơ cấu xã hội cứng nhắc dù quyền lợi của họ bị chà đạp. Không ai muốn thay đổi, kể cả giới chính trị.
Bài báo kết luận nếu thủ tướng Abhisit muốn thật sự cải thiện, tìm giải pháp cho vấn đề nhân quyền hiện nay thì ông phải thay đổi cả hệ thống xã hội, chính trị Thái, cách quan hệ giữa con người và con người. Tóm lại điều khó thể hay chưa thể làm được.

Trung Quốc : từ đại nhảy vọt đến đại hoài nghi
Tạp chí Anh The Economist tuần này chú trọng đến việc Bắc Kinh kềm hãm Tây Tạng với bàn tay sắt, trong lúc tạp chí kinh tế Pháp l'Expansion thì nhìn kinh tế Trung Quốc, và tóm lược tình hình trong hàng  tựa hóm hỉnh : "Trung Quốc đi từ đại nhảy vọt đến đại hoài nghi". Tất cả các vùng miền, các vùng phát triển nhất cũng như tầng lớp trung lưu, không ai thoát khỏi tác động khủng hoảng kinh tế.
Năm nay theo l'Expansion, tình hình càng nguy hiểm với những lễ kỷ niệm lịch sử, 60 năm ngày Mao Trạch Đông nắm quyền ở Trung Quốc, 50 năm ngày Đức Đạt Lai Lạt Ma lưu vong, 20 năm ngày đàn áp phong trào sinh viên Thiên An Môn.
L'Expansion ghi nhận yếu tố đáng ngại đối với chính quyền là người dân không còn sợ xuống đường để đấu tranh cho quyền lợi của mình. Năm 2005, theo số liệu chính thức, đã có 87.000 cụôc biểu tình, phần lớn do các do vụ trưng thu đất đai. Nhưng bây giờ tình hình càng nguy hiểm do nạn thất nghiệp, đặc biệt trong số các dân công, ước tính có 20 triệu người mất việc làm. Ngày càng nhiều các công ty bị lỗ lã phải đóng cửa, và thường khi là không trả đươc lương công nhân. Tình cảnh bị sa thải, lại không tiền, họ là một thách thức lớn lao về mặt xã hội đối với chính quyền.
Trở lại vớí tạp chí Anh the Economist, nhận định về đối  sách của Bắc Kinh đối với Tây Tạng, Tạp chí này nhìn thấy Trung Quốc chọn biện pháp mạnh vì có nhiều thuận lợi : tình hình êm xuôi, Tây Tạng không còn được thế giới quan tâm như vào năm ngoái. Trong chuyến công du vừa qua, tân ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton không đặt nặng vấn đề nhân quyền và  Tây Tạng.
Nhưng the Economist cảnh báo là đàn áp không phải phương thức dẫn đến thành công chính trị. Theo tạp chí Anh, cái gai đối với chính quyền Bắc Kinh vẫn là Đức Đạt lai Lạt Ma. Lãnh đạo Trung Quốc nghĩ là mọi vấn đề sẽ đươc giải quyết khi ngài mất đi. Nhưng theo the Economist hệ quả có thể ngược lại, và Bắc Kinh có thể sẽ tiếc nuối ảnh hưởng ôn hoà của ngài.
_______________ 

NHỮNG ĐỒNG MINH CỦA POLPOT Ở MỸ VÀ ANH

Tác giả: John Pilger (nhà báo và nhà làm phim tài liệu điều tra đoạt giải Pulitzer người Australia)
Nguồn: http://www.freerepublic.com/forum/a3902258f0b7b.htm
17 tháng Tư năm nay (2000), là 25 năm từ khi Khmer Đỏ của Polpot tiến vào Phnom Penh. Trong lịch của sự cuồng tín, đó là Năm Số Không; khoảng hai triệu người, một phần năm dân cư của Campuchia, sẽ chết như một hệ quả của ngày hôm đó. Để đánh dấu ngày kỷ niệm này, tội ác của Polpot sẽ được nhắc đến, gần như một hành động mang tính nghi thức cho những người tò mò về những trò chính trị đen tối và không giải thích được. Đối với những người cầm chịch của sức mạnh phương tây, những bài học đúng sẽ không được rút ra, vì không có những kết nối nào sẽ được dẫn tới họ và tới những người đi trước của họ, những người đã từng là đối tác kiểu Faust (nhân vật huyền thoại thời trung cổ đã bán linh hồn cho ác quỉ để đổi lấy kiến thức và sức mạnh) với Polpot. Tuy vậy, sự thật vẫn là sự thật, nếu không có sự đồng lõa của phương Tây, Năm Số Không có thể đã chưa bao giờ xảy ra, hay sự đe dọa trở lại của nó đã không được nuôi dưỡng lâu dài đến như vậy.
Những tài liệu giải mật của chính phủ Mỹ để lại rất ít nghi ngờ rằng việc ném bom bí mật và bất hợp pháp lên lãnh thổ nước Campuchia trung lập lúc đó bởi Tổng thống Richard Nixon và Henry Kissinger giữa 1969 và 1973 đã gây ra chết chóc và tàn phá trên bình diện rộng, và nó đã tạo điều kiện cho sự hình thành sức mạnh của lực lượng Polpot. "Họ đang sử dụng thiệt hại gây ra bởi những vụ ném bom B52 như là đề tài chính để tuyên truyền" Giám đốc hoạt động của CIA tường trình tháng 2/1973. "Cách tiếp cận này đã dẫn đến sự tuyển mộ thành công thanh niên. Dân chúng nói rằng chiến dịch tuyên truyền đã có hiệu quả với những người tị nạn trong những vùng là mục tiêu của B52." Qua việc thả một khối lượng bom tương đương với năm quả bom ở Hiroshimas lên một cộng đồng nông dân, Nixon và Kissinger đã giết chết ước tính khoảng một nửa triệu người. Năm Số Không bắt đầu, trên thực tế, là với họ (Nixon và Kissinger); việc ném bom bừa bãi là một chất xúc tác cho sự nổi lên của một nhóm bè phái nhỏ, Khmer Đỏ, mà chủ trương là sự kết hợp giữa Chủ nghĩa Mao và nếp sống thời Trung cổ trước đó không có sự ủng hộ trong đại chúng.
Sau hai năm rưỡi nắm quyền, Khmer Đỏ bị lật đổ bởi quân đội Việt nam vào Ngày Lễ Noel, 1978. Và những tháng năm sau đó, Mỹ cùng với Trung Quốc và những đồng minh của họ, đáng chú ý là chính phủ Thatcher (Thủ tướng Anh lúc đó), đã chống lưng cho Polpot đang đào tị trên đất Thái. Ông ta là kẻ thù của kẻ thù của họ: Việt Nam. Công giải phóng Campuchia của nước này đã không thể được công nhận, vì họ ở bên kia chiến tuyến của cuộc Chiến tranh Lạnh. Đối với người Mỹ, bây giờ đang ủng hộ Bắc Kinh chống lại Moskva, có một bàn thua cần phải gỡ cho mối nhục của họ khi phải tháo chạy khỏi Sài Gòn trên những mái nhà.
Về việc này, Liên Hiệp Quốc đã bị lạm dụng bởi những cường quốc. Mặc dù chính phủ Khmer Đỏ ("Kampuchea Dân chủ") đã ngừng tồn tại từ tháng Giêng, 1979, những người đại diện của nó vẫn được phép tiếp tục chiếm giữ cái ghế của Campuchia tại Liên Hợp Quốc; Thực vậy, Mỹ, Trung quốc và Nước Anh đã đòi hỏi như thế. Cùng lúc đó, một lệnh cấm vận của Hội đồng Bảo an lên nước này đã làm tăng thêm sự khốn khổ mất mát của một đất nước đang bị tổn thương nặng nề, trong khi Khmer Đỏ đang đào tị thì gần như muốn gì được nấy. Vào 1981, cố vấn An ninh quốc gia của Tổng thống Mỹ Jimmy Carter, Zbigniew Brzezinski, nói: "Tôi động viên người Trung hoa hỗ trợ Polpot". Nước Mỹ, ông ta thêm rằng, "nháy mắt công khai" khi Trung quốc gửi vũ khí cho Khmer Đỏ.
Sự thật là Mỹ đã bí mật tài trợ cho Polpot lúc đang đào tị từ tháng Giêng, 1980. Qui mô của sự hỗ trợ này -- 85 triệu USD từ 1980 đến 1986 -- đã được tiết lộ ra qua một bức thư gửi tới một thành viên của Ủy ban Quan hệ Nước ngoài của Thượng viện. Trên biên giới Thái Lan với Campuchia, CIA và các cơ quan tình báo khác thiết lập một cơ quan gọi là Nhóm Cứu cấp Campuchia, mà nhiệm vụ là bảo đảm hàng cứu trợ nhân đạo sẽ đến những khu của Khmer Đỏ trong những trại tị nạn và bên kia biên giới. Hai người Mỹ làm việc cứu trơ, Linda Mason và Roger Brown, sau đó viết "Chính phủ Mỹ nhấn mạnh rằng Khmer Đỏ phải được nuôi... Mỹ thích việc nuôi cơm cho Khmer Đỏ đó được hưởng dưới uy tín của hoạt động cứu trợ mà cả thế giới biết đến. "Dưới sức ép Mỹ, Chương trình Thực phẩm Thế giới đã trao hơn 12 triệu USD giá trị thực phẩm cho quân đội Thái Lan để chuyển qua cho Khmer Đỏ; "20.000 tới 40.000 kháng chiến quân Polpot đã hưởng lợi", Richard Holbrooke, trợ lý bộ trưởng ngoại giao Mỹ lúc đó, viết.
Tôi chứng kiến điều này. Đi cùng đoàn xe của Liên Hợp Quốc gồm 40 xe tải, Tôi đến một khu căn cứ hoạt động của Khmer Đỏ ở Phnom Chat. Người chỉ huy cơ sở này là Nam Phann, một người khét tiếng, được nhân viên cứu trợ biết đến với cái tên "Đồ tể" và "Himmler của Polpot". Sau khi đồ cung cấp đã được bốc dỡ hết, ngay dưới chân mình, ông ta nói "Cám ơn bạn rất nhiều, và chúng tôi muốn có thêm nữa".
Trong tháng Mười Một của năm đó, 1980, tiếp xúc trực tiếp giữa nhà Trắng và Khmer Đỏ đã được bố trí khi Bác sĩ Ray Cline, một cựu phó giám đốc của CIA, làm một cuộc viếng thăm bí mật đến một trụ sở hoạt động chính của Khmer Đỏ. Lúc đó Cline là một cố vấn về chính sách đối ngoại trong nhóm chuyển tiếp của Tổng thống vừa đắc cử là Reagan. Đến năm 1981, một số chính phủ trên thế giới đã trở nên rõ ràng khó chịu với trò đố chữ của Liên Hợp Quốc đang tiếp tục công nhận cái chế độ đã chết từ lâu của Polpot. Cần phải làm một cái gì đó để cải thiện tình hình. Năm sau đó, Mỹ và Trung Quốc sáng chế ra Liên minh của Chính phủ Dân chủ Campuchia, mà thực sự không phải là một Liên minh, cũng không phải Dân chủ, hay là một Chính phủ, hay hiện hữu trên đất Campuchia. Nó là cái mà CIA gọi là "Một ảo tưởng bậc thầy". Hoàng tử Norodom Sihanouk được chỉ định làm cái đầu của nó; ngoài ra không có gì khác nhiều cả. Hai nhóm "không cộng sản", nhóm một là những người theo Sihanouk, thì được dẫn dắt bởi con trai của Hoàng tử là Norodom Ranariddh, nhóm thứ hai là Mặt trận Giải phóng Quốc gia của người Khmer, mà về ngoại giao và quân sự, bị khống chế bởi phe Khmer Đỏ. Một trong số những bạn thân của Polpot, Thaoun Prasith, là người điều hành văn phòng đại diện của họ tại Liên Hợp Quốc ở New York.
Ở Bangkok, người Mỹ cung cấp cho "liên minh" này những kế hoạch tác chiến, đồng phục, tiền và tình báo từ vệ tinh; vũ khí thì đến trực tiếp từ Trung quốc hay từ phương tây, theo đường Singapore. Phe không cộng sản đáng xấu hổ trên đã trở thành cái cớ cho phép Quốc hội -- được thúc đẩy bởi một người cuồng tín về Chiến tranh Lạnh là Stephen Solarz, một chủ tịch ủy ban có thế lực -- phê duyệt 24 triệu USD giá trị viện trợ cho "kháng chiến".
Cho đến 1989, vai trò của Anh ở Campuchia vẫn còn nằm trong bí mật. Những tường trình đầu tiên xuất hiện trên tờ Sunday Telegraph, viết bởi Simon O'Dwyer- Russell, một phóng viên ngoại giao và quốc phòng có những tiếp xúc nghề nghiệp và gia đình gần gũi với SAS (lực lượng đặc biệt của Anh). Ông ta tiết lộ rằng SAS đang huấn luyện lực lượng do Polpot cầm đầu. Không lâu sau đó, tờ Jane's Defense Weekly lại cho biết rằng việc huấn luyện của Anh cho những thành viên "không cộng sản" của "liên minh" đó đã được thực hiện "tại những căn cứ bí mật trên đất Thái trong hơn bốn năm rồi". Huấn luyện viên được cử đến từ SAS, "Tất cả bọn họ đều là những nhân viên quân sự đang tại ngũ, cựu chiến binh của cuộc xung đột Falklands, được dẫn dắt bởi một đại úy".
Việc huấn luyện ở Campuchia đã trở thành riêng của Anh sau khi vụ "Irangate", vụ vũ khí đổi con tin, vỡ lở ra ở Washington vào năm 1986. Nếu Quốc Hội biết được chuyện người Mỹ có dính dáng đến chương trình huấn luyện bí mật ở Đông Dương, chưa nói đến việc đó là huấn luyện cho lực lượng Polpot", một nguồn tin từ Bộ Quốc phòng cho O'Dwyer- Russell cho biết, "Cái bong bóng đó chắc đã bay ngay lên. Đó là một trong những vụ dàn dựng ăn ý cổ điển giữa Thatcher và Reagan". Hơn nữa, Margaret Thatcher đã vuột miệng, trước sự kinh ngạc của Bộ Ngoại giao, rằng "những người ôn hòa hơn trong lực lượng Khmer Đỏ sẽ phải đóng vai trò nào đó trong chính phủ tương lai". Vào 1991, tôi phỏng vấn một thành viên của Đội "R" (đội dự bị) của SAS, một người đã từng phục vụ ở vùng biên giới. "Chúng tôi đã huấn luyện Khmer Đỏ về rất nhiều những nội dung kỹ thuật -- rất nhiều về mìn," anh ta nói. "Chúng tôi đã sử dụng mìn nguyên thủy đến từ Kho Đạn dược Hoàng gia ở nước Anh, đi qua đường Ai-cập để đổi nhãn mác... Chúng tôi thậm chí còn huấn luyện họ về tâm lý. Lúc đầu, họ muốn đi vào làng để chém người thôi. Chúng tôi đã bảo họ cách làm sao để cảm thấy thư thái hơn..."
Bộ Ngoại giao đã phản ứng trước những thông tin này bằng cách nói láo. "Nước Anh không có một sự giúp đỡ quân sự dưới bất kỳ hình thức nào cho các đảng phái ở Campuchia", một nghị viên phát biểu. Thủ tướng Anh lúc đó, Thatcher, viết cho Neil Kinnock, "Tôi xác nhận rằng không có sự liên can nào giữa chính phủ Anh dưới bất kỳ hình thức nào tới việc huấn luyện, trang bị hay hợp tác với Khmer Đỏ hay những nhóm đồng minh với họ." Vào 25 tháng Sáu, 1991, sau hai năm chối quanh, chính phủ cuối cùng cũng phải thừa nhận rằng SAS đã bí mật huấn luyện "quân kháng chiến" từ 1983. Một tường trình bởi Asia Watch đã mô tả chi tiết: SAS đã dạy "cách sử dụng những thiết bị nổ tự tạo, bẫy và chế tác, sử dụng những thiết bị kích nổ chậm". Tác giả của bản tường trình, Rae McGrath (người cùng đoạt Giải thưởng Nobel Hoà bình từ cuộc vận động quốc tế về mìn), viết trên tờ Guardian rằng "Việc huấn luyện của SAS là một chính sách phạm tội vô trách nhiệm và đê tiện".
Khi cuối cùng, một "lực lượng gìn giữ hoà bình" của Liên Hợp Quốc cũng đã đặt chân đến ở Campuchia vào 1992, bản hiệp ước bán linh hồn cho ác quỉ đã lộ rõ hơn bao giờ hết. Được gọi đơn thuần nhẹ nhàng là một "thành phần trong cuộc chiến", Khmer Đỏ được chào đón quay trở lại Phnom Penh bởi viên chức của Liên Hợp Quốc, nếu không phải là bởi người dân. Một chính khách phương tây, người đã giành công kiến tạo "tiến trình hoà bình", Gareth Evans (ngoại trưởng Úc lúc đó), lên tiếng trước bằng việc yêu cầu nên có một cách tiếp cận "vô tư" đối với Khmer Đỏ và đặt ra câu hỏi rằng liệu gọi việc họ làm là diệt chủng có phải đã tạo ra "một viên đá cản đường rõ ràng" không.
Khieu Samphan, thủ tướng của Polpot trong thời gian những năm diệt chủng, tiếp nhận dàn chào của quân đội Liên Hợp Quốc với người chỉ huy của họ, tướng người Australia John Sanderson, đứng bên cạnh ông ta. Eric Falt, người phát ngôn của Liên Hợp Quốc ở Campuchia, nói với tôi: "Mục tiêu của tiến trình hoà bình là cho phép [Khmer Đỏ] gầy dựng lại tiếng tăm."
Hệ quả của việc nhúng tay vào của UN là việc tách ra không chính thức ít nhất một phần tư Campuchia cho Khmer Đỏ (theo bản đồ quân sự của Liên Hợp Quốc), cùng sự tiếp tục của một cuộc nội chiến âm ỉ và cuộc bầu cử của một chính phủ bị chia rẽ hết thuốc chữa giữa "hai thủ tướng" Hun Sen và Norodom Ranariddh.
Chính phủ Hun Sen kể từ sau đó đã thắng cuộc bầu cử thứ hai một cách dứt khoát. Một người độc đoán và đôi khi thô bạo, tuy vậy theo tiêu chuẩn Campuchia vẫn là ổn định lạ thường, chính phủ được dẫn dắt bởi một người bất đồng quan điểm với Khmer Đỏ cũ, chạy trốn sang Việt Nam từ những năm 1970, đã giải quyết xong những thoả thuận với những nhân vật lãnh đạo thời Polpot, đáng chú ý là nhóm ly khai của Ieng Sary, trong khi từ chối những người khác việc miễn tố.
Một khi chính phủ Phnom Penh và Liên Hợp Quốc có thể đồng ý về một khuôn mẫu, một tòa án tội ác chiến tranh quốc tế sẽ có nhiều khả năng tiến hành. Người Mỹ không muốn có sự tham gia nhiều của người Campuchia; mối quan tâm của họ thật dễ hiểu vì không chỉ có Khmer Đỏ sẽ bị buộc tội.
Luật sư Campuchia bảo vệ Ta Mok, người lãnh đạo quân Khmer Đỏ bị bắt năm ngoái, đã nói: "Mọi người ngoại quốc liên quan phải được gọi ra trước tòa án, và sẽ không có những ngoại lệ... Madeleine Albright, Margaret Thatcher, Henry Kissinger, Jimmy Carter, Ronald Reagan và George Bush... Chúng tôi sẽ mời họ tới để nói cho thế giới biết rằng tại sao họ đã hỗ trợ cho Khmer Đỏ".
Đó là một nguyên lý quan trọng, mà Washington và Whitehall, hiện thời nếu đang nuôi dưỡng những tên bạo chúa tay dính đầy máu ở nơi nào đó trên thế giới, thì nên ghi nhớ lấy.
Theo DIEHARD CAT
Nguồn: Reds
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Trường phái thơ "Con cò":

Đừng tưởng

(Thơ dân gian)


Đừng tưởng cứ núi là cao
Cứ sông là chảy, cứ ao là tù
Đừng tưởng cứ dưới là ngu
Cứ trên là sáng cứ tu là hiền
Đừng tưởng cứ đẹp là tiên
Cứ nhiều là được cứ tiền là xong
Đừng tưởng không nói là câm
Không nghe là điếc không trông là mù

Đừng tưởng cứ trọc là sư
Cứ vâng là chịu cứ ừ là ngoan
Đừng tưởng có của đã sang
Cứ im lặng tưởng là vàng nguyên cây
Đừng tưởng cứ uống là say
Cứ chân là bước cứ tay là sờ
Đừng tưởng cứ đợi là chờ
Cứ âm là nhạc cứ thơ là vần
Đừng tưởng cứ mới là tân
Cứ hứa là chắc cứ ân là tình


Đừng tưởng cứ thấp là khinh
Cứ chùa là tĩnh cứ đình là to
Cứ già là hết hồ đồ
Cứ trẻ là chẳng âu lo buồn phiền
Đừng tưởng cứ quyết là nên
Cứ mạnh là thắng cứ mềm là thua
Dưa vàng đừng tưởng đã chua
Sấm rền đừng tưởng sắp mưa ngập trời
Khi vui đừng tưởng chỉ cười
Lúc buồn đừng tưởng chỉ ngồi khóc than

***
Đừng tưởng cứ nốc là say
Cứ hứa là thật, cứ tay là cầm
Đừng tưởng cứ giặc - ngoại xâm
Cứ bè là bạn, cứ dân là lành
Đừng tưởng cứ trời là xanh
Cứ đất và nước là thành quê hương


Đừng tưởng cứ lớn là khôn
Cứ bé là dại, cứ hôn... là chồng
Đừng tưởng chẳng có thì không
Chẳng trai thì gái, chẳng ông thì bà
Đừng tưởng chẳng gần thì xa
Chẳng ta thì địch, chẳng ma thì người
Đừng tưởng chẳng khóc thì cười
Chẳng lên thì xuống, chẳng ngồi thì đi
Đừng tưởng sau nhất là nhì
Gần quan là tướng, gần suy là hèn
Đừng tưởng cứ sáng là đèn
Cứ đỏ là chín, cứ đen là thường

Đừng tưởng cứ đẹp là thương
Cứ xấu là ghét, cứ vương là tình
Đừng tưởng cứ ghế là vinh
Cứ tiền là mạnh, cứ dinh là bền
Đừng tưởng cứ cố là lên
Cứ lỳ là chắc, cứ bên là gần
Đừng tưởng cứ đều là cân
Cứ đông là đủ, cứ ân là nhờ
Đừng tưởng cứ vần là thơ
Cứ âm là nhạc, cứ tờ là tranh
Đừng tưởng cứ vội thì nhanh
Cứ tranh là được, cứ giành thì hơn
Đừng tưởng giàu hết cô đơn
Cao sang hết ốm, tham gian hết nghèo


Đừng tưởng cứ bến là neo
Cứ suối là lội, cứ đèo là qua
Đừng tưởng chồng mẹ là cha
Cứ khóc là khổ cứ la là phiền
Đừng tưởng cứ hét là điên
Cứ làm là sẽ có tiền đến ngay
Đừng tưởng cứ rượu là say
Cứ gió là sẽ tung bay cánh diều
Đừng tưởng tỏ tình là yêu
Cứ thơ ngọt nhạt là chiều tương tư

***
Đừng tưởng đi là sẽ chơi
Lang thang dạo phố vào nơi hư người
Đừng tưởng vui thì sẽ cười
Đôi hàng nước mắt lệ rơi đầm đìa
Đừng tưởng cứ mực là bia
Bút sa gà chết nhân chia cộng trừ...
Đừng tưởng cứ gió là mưa
Bao nhiêu khô khát trong trưa nắng hè
Đừng tưởng cứ hạ là ve
Sân trường vắng quá ai khe khẽ buồn...
Đừng tưởng thu là lá tuôn
Bao nhiêu khao khát con đường tình yêu.


Đừng tưởng cứ thích là yêu
Nhiều khi nhầm tưởng bao điều chẳng hay
Đừng tưởng tình chẳng lung lay
Chỉ một giấc ngủ, chẳng may ... có bầu.
Đừng tưởng cứ cầu là hên,
Nhiều khi gặp hạn, ngồi rên một mình.
Đừng tưởng vua là anh minh,
Nhiều thằng khốn nạn, dân tình lầm than.
Đừng tưởng tìm bạn tri âm,
Là sẽ có kẻ mạn đàm suốt đêm.
Đừng tưởng đời mãi êm đềm,
Nhiều khi dậy sóng, khó kềm bản thân.

***
Đừng tưởng cười nói ân cần,
Nhiều khi hiểm độc, dần người tan xương.
Đừng tưởng trong lưỡi có đường
Nói lời ngon ngọt mười phương chết người
Đừng tưởng cứ chọc là cười
Nhiều khi nói móc biết cười làm sao
Đừng tưởng khó nhọc gian lao
Vượt qua thử thách tự hào lắm thay
Đừng tưởng cứ giỏi là hay
Nhiều khi thất bại đắng cay muôn phần
Đừng tưởng cứ quỳnh là thơm
Nhìn đi nhìn lại hóa ra cúc quỳ
Đừng tưởng mưa gió ầm ì
Ngày thì đã hết trời dần về đêm
Đừng tưởng nắng gió êm đềm
Là đời tươi sáng hóa ra đường cùng
Đừng tưởng góp sức là chung
Chỉ là lợi dụng lòng tin của người
Đừng tưởng cứ tiến là lên
Cứ lui là xuống, cứ yên là mằn

Đừng tưởng rằm sẽ có trăng
Trời giăng mây xám mà lên đỉnh đầu
Đừng tưởng cứ khóc là sầu
Nhiều khi nhỏ lệ mà vui trong lòng
Đừng tưởng cứ nước là trong
Cứ than là hắc, cứ sao là vàng
Đừng tưởng cứ củi là than
Cứ quan là có, cứ dân là nghèo
Đừng tưởng cứ khúc là eo
Cứ lúc là mạc, cứ sang là giầu
Đừng tưởng cứ thế là khôn!
Nhiều thằng khốn nạn còn hơn cả mình
Đừng tưởng lời nói là tiền
Có khi là những oán hận chưa tan
Đừng tưởng dưới đất có vàng
Vàng đâu chả thấy phí tan cuộc đời

***
Đừng tưởng cứ nghèo là hèn
Cứ sang là trọng, cứ tiền là xong.
Đừng tưởng quan chức là rồng,
Đừng tưởng dân chúng là không biết gì.
Đời người lục thịnh, lúc suy
Lúc khỏe, lúc yếu, lúc đi, lúc dừng.
Bên nhau chua ngọt đã từng
Gừng cay, muối mặn, xin đừng quên nhau.
Ở đời nhân nghĩa làm đầu
Thủy chung sau trước, tình sâu, nghĩa bền.
Ai ơi nhớ lấy đừng quên...!


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Sợ đón thuổng chứ chả "đón đầu" được đâu, thưa các cụ!

Đón đầu đi là vừa

phải gấp rút triệu về nước ngay số sinh viên, nghiên cứu sinh hiện đang du học ở các nước như Mỹ, Úc, Anh, Pháp để tiết kiệm ngân sách nhà nước cũng như tiền bạc của dân. Nhưng quan trọng hơn là phải có phương án đón đầu du học sinh các nước nói trên sẽ ồ ạt đổ bộ vào ta nay mai.

Minh họa: Ngọc Diệp
Minh họa: Ngọc Diệp
- Cụ ơi, mấy hôm này vui quá! Mà cả làng, cả xã chứ chẳng riêng gì mình tôi.
- Chuyện gì mà ông hớn hở ra mặt vậy?
- Cụ không hay biết gì cả sao? Giáo dục nước mình vừa được thế giới xếp hạng trên cả Mỹ, Úc đấy!
- Ông cứ đùa! Ai chả biết dư luận bấy lâu nay kêu ca giáo dục nhà mình “bết bét”, thế giới nào mà lại hồ đồ vậy?
- Thế cụ không tin à. Báo chí, ti vi rành rành ra đấy. Mà thôi, ta không nên tranh cãi chuyện đúng sai nữa mà nên tính chuyện tương lai đi là vừa.
- Thế ông định tính kiểu gì?
- Thứ nhất là mình kiến nghị bộ GD&ĐT không nên đổi mới giáo dục làm gì cho tốn kém và nhọc sức nữa, giờ thì cứ ung dung mà tiến.
- Ừ, có lí, đã đứng trên những anh tài như Mỹ, Úc rồi thì đổi mới không còn cần thiết nữa.
- Thứ hai là mình đã vượt những nước lâu nay có nền giáo dục được cho là tiên tiến hiện đại nhất thế giới thì cũng có nghĩa là gió đã đổi chiều. Người ta không ai lại đi học kẻ thấp kém hơn mình cho nên tui dám chắc chẳng bao lâu nữa, một trào lưu du học Việt Nam sẽ ồ ạt diễn ra ở các nước phương Tây.
- Quả là gió đã đổi chiều thật.
- Cho nên việc tiếp theo là phải gấp rút triệu về nước ngay số sinh viên, nghiên cứu sinh hiện đang du học ở các nước như Mỹ, Úc, Anh, Pháp để tiết kiệm ngân sách nhà nước cũng như tiền bạc của dân. Nhưng quan trọng hơn là phải có phương án đón đầu du học sinh các nước nói trên sẽ ồ ạt đổ bộ vào ta nay mai.
- Xem ra viễn cảnh này xán lạn đấy nhỉ?
- Chứ sao! Cánh mình cũng nên nhanh chóng nghĩ cách để mà hưởng lợi cụ ạ.
- Bọn mình thì làm được gì?
- Thiếu chi cách hả cụ. Nội cái khoản nhà trọ cho sinh viên ngoại quốc thuê cũng đã thu khẳm rồi.
- Ừ nhỉ, lại còn bao thứ dịch vụ ăn theo khác nữa…
- Đấy, cụ thấy chưa. Vậy thì còn chần chừ gì nữa mà không lo đón đầu đi, kẻo không lại lỡ mất cơ hội làm giàu!
- Dưng mà… để tui về bàn với bà nhà đã.
- Trời đất! Chịu cụ thôi, lúc nào cũng kính vợthế.
- Thì vưỡn. He he…
Nguyễn Duy Xuân

Phần nhận xét hiển thị trên trang