Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Sáu, 15 tháng 5, 2015

Cảnh sát Trung Quốc bị tố tra tấn, ép cung nghi can

TTO - Ngày 13-5, tổ chức Giám sát nhân quyền (HRW) công bố báo cáo chỉ trích cảnh sát Trung Quốc thường xuyên tra tấn và ép cung các nghi can phạm tội hình sự.
Cảnh sát Trung Quốc tuần tra ở Thiên An Môn - Ảnh: Reuters
Theo AFP, HRW cho biết đã phân tích hàng trăm cáo trạng tòa án và phỏng vấn 48 nghi phạm, thành viên gia đình, luật sư và cựu quan chức tư pháp ở Trung Quốc để viết báo cáo này. Theo đó, cảnh sát Trung Quốc thường xuyên tra tấn nghi can phạm tội hình sự bằng roi điện, đánh họ theo cách không để lại dấu vết chấn thương trên người.
Cảnh sát nước này cũng cắt dựng những đoạn video quay cảnh nghi can bị tra khảo và nhận tội theo cách chỉ có lời nhận tội xuất hiện trên video, còn những màn tra tấn thì bị cắt đi. Nhiều nghi can bị nhốt trong “lồng cọp” kim loại nhiều ngày, bị bỏ đói, không được ngủ.
“Chúng tôi được nghe những câu chuyện khủng khiếp về các nghi can bị treo ngược nhiều ngày, bị gông cùm hàng năm trời” - bà Sophie Richardson, giám đốc HRW tại Trung Quốc, cho biết.
Báo cáo khẳng định cảnh sát Trung Quốc thường sử dụng một số tên tội phạm đóng vai trò làm “ông trùm trại tạm giam” để khủng bố các nghi can hình sự.
HRW cũng nhấn mạnh cơ quan kiểm sát và tòa án Trung Quốc luôn phớt lờ mọi dấu hiệu và bằng chứng rõ ràng cho thấy nghi can bị tra tấn và ép cung. HRW kêu gọi chính phủ Trung Quốc chuyển quyền quản lý các trại tạm giam từ lực lượng cảnh sát sang cho Bộ Tư pháp.
Trên thực tế trong năm 2009 và 2010, truyền thông Trung Quốc cũng tố cáo hàng loạt vụ cảnh sát tra tấn và ép cung nghi can. Khi đó chính phủ Trung Quốc đã cam kết cải tổ và sửa chữa luật hình sự nhằm bảo vệ quyền lợi các nghi can, hạn chế hành vi ép cung.
Nhưng giới truyền thông nhà nước Trung Quốc khẳng định những vụ ép cung “vẫn không phải là hiếm” ở quốc gia này. Thống kê cho thấy 99,93% nghi can phạm tội hình sự bị kết án, một con số cực cao. 
Bộ Công an Trung Quốc từ chối bình luận về báo cáo của HRW. 
NGUYỆT PHƯƠNG

























































Phần nhận xét hiển thị trên trang

Obama đã thay đổi hẳn lập trường về Biển Đông


(GDVN) - Đa Chiều cho rằng, nói thẳng ra là Mỹ đang ủng hộ Việt Nam, Philippines, Nhật Bản. Trên thực tế quân đội Hoa Kỳ đã thu thập các chứng cứ Trung Quốc bồi lấp..

.
Tổng thống Mỹ Barack Obama.
Đa Chiều ngày 15/5 bình luận, chính sách của Mỹ trong vấn đề Biển Đông đã có những thay đổi về bản chất kể từ khi Trung Quốc đẩy mạnh hoạt động xây dựng, bồi lấp đảo nhân tạo (bất hợp pháp) trên 7 bãi đá ở quần đảo Trường Sa (thuộc chủ quyền Việt Nam) trong 1 năm qua.
Từ chỗ bày tỏ quan ngại nghiêm trọng, Washington đã gây áp lực ngoại giao buộc Bắc Kinh ngừng hoạt động (phi pháp) này nhưng không hiệu quả. Bây giờ Hoa Kỳ quyết định chuyển hướng sang gây sức ép về mặt quân sự, tích cực can dự vào tranh chấp trên Biển Đông.
Lập trường "không ủng hộ bên nào" trong các bên tranh chấp Biển Đông của Nhà Trắng đã thay đổi, chính quyền Tổng thống Mỹ rõ ràng đã ủng hộ bên yêu sách không phải là Trung Quốc. Đây là sự thay đổi lớn không chỉ của riêng chính phủ Obama, mà của Nội các Hoa Kỳ qua nhiều thế hệ.
Trong thời điểm Ngoại trưởng John Kerry sửa soạn công du Bắc Kinh, Thượng viện Mỹ hôm 13/5 tổ chức phiên điều trần về các hoạt động của Trung Quốc ở Biển Đông và Hoa Đông, trong đó vấn đề bồi lấp xây dựng đảo nhân tạo (bất hợp pháp) ở  Trường Sa trở thành tiêu điểm.
Trợ lý Ngoại trưởng Mỹ Daniel Russel và Trợ lý Bộ trưởng Quốc phòng David Shear cùng đăng đàn giải trình chiến lược của Nhà Trắng và Lầu Năm Góc ngăn chặn các hoạt động (phi pháp) của Trung Quốc trên biển. Ông Daniel Russel nhấn mạnh dùng con đường ngoại giao gây áp lực với Bắc Kinh, trong đó cho biết ngày 17/5 tới khi gặp Tập Cận Bình, ông John Kerry sẽ nói thẳng với chủ nhân Trung Nam Hải về chuyện Trung Quốc bồi lấp ở Trường Sa.
Ông David Shear thì tuyên bố Lầu Năm Góc sẽ tăng cường sự hiện diện quân sự trên Biển Đông và tăng cường hiệp đồng tác chiến với các đồng minh.
Về hoạt động bồi lấp xây đảo nhân tạo của Trung Quốc, cả 2 quan chức Mỹ đồng xác nhận: Một là chính phủ Obama đã xác định rằng chính sách của Bắc Kinh ở Biển Đông đã vấp phải phản đối gay gắt từ các nước láng giềng. Mục tiêu của Trung Nam Hải trong chiến lược ở Biển Đông bao gồm 3 yếu tố: Phản đối chỉ trích, phản đối quốc tế hóa Biển Đông và phản đối đưa Biển Đông ra cơ quan tài phán quốc tế. Nhưng cả 3 chính sách này đều đã thất bại.
Thứ hai, chính quyền Tổng thống Obama sẽ thay đổi tư thế quân sự của mình ở Biển Đông. Đa Chiều cho rằng đây là thay đổi về chất sau khi đề nghị đóng băng tranh chấp Biển Đông mà Mỹ đưa ra năm ngoái thất bại.
Các chính quyền tiền nhiệm của ông Obama đều xác định "không ủng hộ bên nào" trong các bên tranh chấp Biển Đông, và ông chủ Nhà Trắng hiện tại đã thay đổi nó. Đa Chiều cho rằng, nói thẳng ra là Mỹ đang ủng hộ Việt Nam, Philippines, Nhật Bản. Trên thực tế quân đội Hoa Kỳ đã thu thập các chứng cứ Trung Quốc bồi lấp, xây dựng ở Trường Sa từ lâu.
Thượng nghị sĩ Marco Rubio: Sẽ rắn với Trung Quốc nếu trở thành Tổng thống.
Điều này đã được tiết lộ trên tờ Financial Times ngày 10/7 năm ngoái khi ông Danile Russel đề xuất đóng băng tranh chấp ở Biển Đông: Các bên không chiếm các thực thể ở Trường Sa, không đặt công sự tiền tiêu, không thay đổi địa hình địa mạo khu vực tranh chấp, không có hành động đơn phương chống nước khác.
Ứng viên Tổng thống Mỹ: Phải rắn với Trung Quốc ở Biển Đông
Trong một động thái có liên quan, tờ Financial Times ngày 14/5 đưa tin, Thượng nghị sĩ đảng Cộng hòa gốc Cuba Marco Rubio là ứng cử viên tranh cử Tổng thống Hoa Kỳ khóa tới tuyên bố sẽ có chính sách đối ngoại cứng rắn với Trung Quốc, Nga, Iran nếu ông thắng cử. Ông cam kết sẽ sử dụng sức mạnh của Hoa Kỳ để phản đối các hành vi vi phạm luật pháp quốc tế trên các vùng biển như Biển Đông hoặc eo biển Hormuz.
Phác thảo chính sách đối ngoại của ông Marco Rubio cho thấy Thượng nghị sĩ này sẽ tập trung vào 3  trụ cột chính: Phát huy sức mạnh của Mỹ, bảo vệ nền kinh tế Hoa Kỳ trong thế giới toàn cầu hóa và bảo vệ sự trong sáng của các giá trị đạo đức, giá trị cốt lõi của Mỹ. Trung Quốc, Nga, Iran hay bất cứ quốc gia nào khác cố gắng ngăn chặn tự do thương mại toàn cầu sẽ vấp phải phản ứng tương xứng của Hoa Kỳ. Mỹ kiên quyết phản đối chủ nghĩa bành trướng lãnh thổ.
Trung Quốc đang ngày càng hung hăng hơn trong việc theo đuổi yêu sách (vô lý, phi pháp) ở Biển Đông. Tờ The New American ngày 14/5 cũng dẫn lời Thượng nghị sĩ Rubio trước Ủy ban Đối ngoại Thượng viện rằng, cần phải bảo vệ vai trò của Hoa Kỳ trong việc đảm bảo an ninh thế giới, và cần có hành động can thiệp sớm trong các cuộc khủng hoảng quốc tế.
"Nếu trở thành Tổng thống, tôi sẽ sử dụng sức mạnh của Hoa Kỳ chống lại bất kỳ hành vi vi phạm nào trên các vùng biển, vùng trời quốc tế, không gian mạng hoặc không gian bên ngoài. Điều này bao gồm sự gián đoạn kinh tế gây ra khi một nước làm tổn hại nước khác, cũng như sự hỗn loạn gây ra bởi gián đoạn trong các tuyến hàng hải huyết mạch như Biển Đông hay eo biển Hormuz", The New American dẫn lời ông cho biết.























































































































































Phần nhận xét hiển thị trên trang

Khi văn chương bị thiến, và nhà văn là tội phạm ngôn từ

Mấy năm gần đây Mộ Dung Tuyết Thôn (慕容雪村, Murong Xuecun), sinh năm 1974, là một hiện tượng văn học Trung Quốc nổi lên nhờ lưu truyền tác phẩm đầy đủ trên mạng song song với bản in bị kiểm duyệt. Trong năm qua, anh trở thành một trong những tiếng nói mạnh mẽ phê phán kiểm duyệt ở Trung Quốc. Hôm nay (7/11), tờ New York Times có bài dài giới thiệu về anh và vấn đề này (khi nào rảnh sẽ dịch bài đó). Dưới đây là diễn từ lẽ ra anh đọc tại Bắc Kinh hồi tháng 11 năm ngoái khi nhận giải Giải Văn học Nhân dân 2010, nhưng bị ban tổ chức cấm đọc. Anh đọc bài này tại Hong Kong hồi tháng 2/2011. Tựa đề entry này do mình đặt.

Ảnh của Shiho Fukada / The New York Times

Diễn từ nhận Giải Văn học Nhân dân 2010

Nhà văn Mộ Dung Tuyết Thôn
Nếu tôi không lầm, “giải thưởng hành động đặc biệt” của tạp chí Văn học Nhân dân được trao không phải cho thành tựu văn chương của tôi, mà cho lòng can đảm của tôi. Tôi ngượng vì mình không phải là người can đảm.
Lòng dũng cảm thực thụ đối với một nhà văn không phải là đấu tranh với một băng đảng lừa đảo kinh doanh đa cấp. Mà là bình tĩnh nói sự thật khi mọi người khác bị bịt miệng, khi sự thật không thể được biểu lộ. Mà là phát biểu với một tiếng nói khác, chấp nhận rủi ro lãnh cơn thịnh nộ của nhà nước và làm mất lòng mọi người, vì mục đích nói lên sự thật, và vì lương tâm của nhà văn. 
Khi tôi lật tẩy một âm mưu kinh doanh đa cấp, tôi chỉ làm điều mà bất cứ công dân nào cũng nên làm: tôi trình báo một tội ác. Việc này chẳng hề là một hành động can đảm thực sự, và tôi thiển nghĩ cũng chẳng hề xứng đáng nhận giải gì. Thực ra, tôi là kẻ hèn nhát. Tôi chỉ nói những gì nói ra thì an toàn, và tôi chỉ phê phán những gì có thể được phép phê phán.
Có cuốn sách nọ tôi đã viết xong cách đây ít lâu, và lý do quan trọng nhất khiến chậm xuất bản là tôi đụng phải một biên tập viên khá kỳ khôi. Trong hai tháng trời, ông ta và tôi đã vài lần đấu khẩu rất kịch liệt. Tôi quẳng tách xuống nền nhà vỡ tan tành, tôi nói nặng lời với ông ta. Tôi điên tiết đấm vào tường ở nhà, nhưng cuối cùng tôi đành chịu thua.
Biên tập viên này là người rất cẩn trọng. Bất luận ra sao, điều đầu tiên ông ta nghĩ đến là an toàn. Theo ông ta, lẽ ra tốt hơn là dẹp luôn không xuất bản cuốn sách của tôi; đó là cách an toàn nhất. Ngay cả khi ông ta buộc phải cho xuất bản, ông ta bảo tôi rằng tốt nhất là tránh đụng đến bất cứ điều gì thực tế, vì những điều thực tế dính đến rủi ro. Nếu tôi không thể tránh đụng đến một vài sự thật, thì tôi nên nhớ đừng bày tỏ ý kiến gì về những điều đó. Ngay lúc tôi bày tỏ ý kiến, tôi đã trở thành mối nguy hiểm. Tôi không đồng ý với ông ta, nhưng tôi biết ông ta không phải là người duy nhất nghĩ như vậy.
Cuốn sách mới của tôi kể về thời gian tôi cải trang tham gia một tổ chức kinh doanh đa cấp phi pháp. Băng đảng thực hiện trò lừa đảo này có câu: “Nếu bạn đầu tư 3.800 tệ trong vòng hai năm bạn sẽ kiếm được năm triệu tệ”. Để đáp lại, tôi viết như sau:
Tôi tính nhẩm rằng mạng lưới địa phương chúng tôi có gần 200 người. Nếu mỗi người kiếm năm triệu tệ, như vậy là gần mười tỉ tệ, hóa ra doanh thu gần bằng với mức của một chi nhánh cấp tỉnh của công ty China Mobile. Nếu toàn bộ bảy triệu người tham gia ngành kinh doanh đa cấp của Trung Quốc đều có thể kiếm được chừng đó, số tiền sẽ lên đến ba mươi lăm ngàn tỉ tệ, vượt xa GDP của Trung Quốc trong năm 2008. Cứ tiếp tục cái đà này, thì sẽ chóng đến ngày mà kinh tế Trung Quốc qua mặt Mỹ, chẳng mấy chốc Trung Quốc sẽ thống trị thế giới, hệt như Mạnh Tử đã nói, bằng cách ‘dùng gậy đánh bại quân Tần quân Sở lợi hại’. Chúng ta chỉ cần huy động bảy triệu nông dân Trung Quốc đang đói trang bị gậy gỗ là đủ hạ gục những máy bay chiến đấu tàng hình đế quốc. Chúng ta đâu cần phát triển công nghiệp, hay nông nghiệp, hay ngành dịch vụ; thậm chí chúng ta chẳng cần đến quân đội.
Biên tập viên cắt nguyên cả đoạn từ chỗ ‘qua mặt Mỹ’ trở đi, và tôi hỏi ông ta tại sao. Quá nhạy cảm, tôi được trả lời thế. Tôi nói rằng ngay cả một kẻ đần cũng hiểu đoạn văn này có ý châm biếm. Vậy có gì nhạy cảm nào? ‘Dù châm biếm cũng không chấp nhận được. Phải bỏ.’ Tôi đề nghị: ‘Thôi được. Nếu châm biếm quá cay nghiệt không được phép, thì ta thử châm biếm nhẹ nhàng vậy.’ Rồi ông nói cụm từ ‘Trung Quốc sẽ thống trị thế giới’ nhạy cảm. Tôi chấp nhận. ‘Được, cắt đi’. Rồi đến ‘nông dân Trung Quốc’ cũng bị xem là nhạy cảm, nhưng lần này tôi ngớ ra không hiểu. Chắn chắn đó là từ trung dung, có gì nhạy cảm đâu? Biên tập viên nói từ ‘nông dân’ chứa đựng yếu tố thành kiến. ‘Được,’ tôi đáp, giả vờ linh động, và đổi từ đó thành ‘người kinh doanh đa cấp’.
‘Hạ gục những máy bay tàng hình đế quốc’ cũng nhạy cảm. Tôi bảo biên tập viên là tôi hiểu ý ông và đề nghị đổi thành ‘những máy bay tàng hình không người lái’. Biên tập viên nói như vậy cũng chưa ổn, và ‘máy bay tàng hình’ cũng nhạy cảm vì nó đụng đến một đề tài quân sự. Tôi bảo ông thử suy ngẫm một chút: các tiệm sách Trung Quốc có biết bao sách về các đề tài quân sự. Nếu những cuốn sách đều được xuất bản, tại sao tôi thậm chí không thể đụng đến đề tài quân sự? Ông đáp rằng đề tài này không phải để bàn luận, và những từ đó nhất định phải được chỉnh lý. Nhưng vì những từ đó là chủ đề cốt lõi của đoạn văn, không có cách nào chỉnh lý chúng được, nên tôi đành phải viết lại toàn bộ.
Cuốn sách cũng có cụm từ này: ‘Nhóm này chủ yếu gồm dân Hà Nam, ông gọi họ là “mạng lưới Hà Nam” ’. Sách cũng nói đến ‘mạng lưới Quảng Tây’, ‘mạng lưới Sơn Đông’, ‘mạng lưới Tứ Xuyên’, vân vân. Tất thảy đều là những ám chỉ vô hại, nhưng với biên tập viên này, ngay cả kiểu diễn đạt thường nhật này cũng làm nảy sinh vấn đề an toàn vì cụm từ ‘dân Hà Nam’ nghe có vẻ kỳ thị địa phương. Ông đề nghị chúng tôi viết lại là ‘Họ là những nông dân Hà Nam, vì thế mạng lưới này được gọi là mạng lưới Hà Nam, và chủ yếu gồm dân Hà Nam’. Tôi vẫn cự lại và bảo ông đọc lại câu chữ gốc của tôi rồi cho tôi biết có chỗ nào kỳ thị dân Hà Nam hay không. Một vấn đề nữa là tôi không thể nào nhận ra sự khác biệt giữa ngôn từ gốc của tôi và gợi ý của ông. Tại sao chúng tôi phải thay đổi như vậy? Ông đáp rằng bằng cách thay đổi từ ‘dân Hà Nam’ sang ‘nông dân Hà Nam’, những người Hà Nam có trình độ hơn hơn không cảm thấy bị coi thường. Tôi cố mặc cả với ông: “Bản gốc của tôi có hai câu, nếu thành ba câu thì dài dòng quá. Sao ta không cắt câu đầu tiên?” Ông ta suy nghĩ một hồi lâu thật lâu rồi đồng ý, và chúng tôi gút được bản cuối. Bản gốc tôi viết thế này: ‘Nhóm này chủ yếu gồm dân Hà Nam, và nó được gọi là ‘mạng lưới Hà Nam’ ’. Sau khi thay đổi, bản mới trở thành: ‘Nhóm này được gọi là ‘mạng lưới Hà Nam’, nó chủ yếu gồm dân Hà Nam’.
Ở một đoạn khác tôi viết rằng rắm của một kẻ nào đó có ‘hương vị Ấn Độ’. Tôi phải công nhận rằng chỗ này có thể bị xem là hơi dung tục, nhưng hẳn nhiên có gì quan trọng lắm đâu? Nhưng biên tập viên cương quyết bắt tôi thay đổi vì ám chỉ đến Ấn Độ. Về điểm này, ông không chịu nhượng bộ: cái trung tiện mang hương vị Ấn Độ là không được phép. Tôi thông cảm với ông, vì hẳn là ông thực tình sợ gây ra một biến cố ngoại giao giữa Trung Quốc và Ấn Độ. Nhưng tôi cũng tự hỏi liệu Trung Quốc và Ấn Độ có thực sự khai chiến với nhau chỉ vì một cái rắm.
Trong một trong những cuốn sách trước của tôi, xuất bản lần đầu vào năm 2005 và đã tái bản nhiều lần, tôi dùng một thuật ngữ địa lý: Nam Hoa. Tôi ngạc nhiên khi biết cụm từ này giờ đây hóa ra nhạy cảm và biên tập viên nhất quyết đòi đổi. Lý do ông nêu ra là ta không bao giờ thấy cụm từ này trong những ấn phẩm chính thức. Tôi không thể không thắc mắc tại sao những từ dùng được hồi năm 2005 thì không còn được phép dùng vào năm 2010. Sau đó tôi tra tìm trên mạng và phát hiện không chỉ có một khách sạn Nam Hoa, mà còn có một tạp chí Nam Hoa, và một bộ phim tên Nam Hoa (1994) giành được giải Kim Kê. Những cơ quan ngôn luận có thẩm quyền nhất của Trung Quốc cũng dùng đi dùng lại cụm từ ‘Nam Hoa’. Tôi có tin vui để báo: về điểm này, tôi đã thắng.
Như quý vị chắc cũng đã đoán được, biên tập viên này không chỉ bỏ vài từ như ‘dân Hà Nam’, ‘nông dân’, ‘chủ nghĩa đế quốc’ và cái rắm đê tiện, mà còn cắt xén nhiều câu, nhiều đoạn, và thậm chí cả phần và cả chương. Qua nhiều năm kinh nghiệm viết lách và xuất bản, tôi có thể viết ra một ‘từ điển những từ nhạy cảm’, trong đó chắc chắn có những từ như ‘cơ chế’, ‘luật’, ‘chính phủ’, cũng như rất nhiều danh từ khác, một số động từ, không ít tính từ, và thậm chí cả một vài con số đặc biệt. Trong từ điển này, những từ bị cấm dùng cũng bao gồm tất cả các tên tôn giáo, tất cả tên của những người quan trọng, tất cả các quốc gia, đương nhiên gồm cả Trung Quốc, và cả cụm từ ‘người Trung Quốc’. Ở nhiều chỗ trong cuốn sách mới của tôi, ‘người Trung Quốc’ bị đổi thành ‘một số người’, hay thậm chí ‘một số ít người’. Nếu tôi phê bình một số phần của văn hóa Trung Quốc cổ truyền, biên tập viên sẽ đổi nó thành ‘văn hóa quan liêu của Trung Quốc cổ đại’. Nếu tôi nêu ra bất cứ chuyện đương đại nào, ông sẽ yêu cầu tôi nói về Chu Nguyên Chương (Minh Thái Tổ) hay Võ Tắc Thiên (nữ hoàng khét tiếng nhà Đường) hay Châu Âu hay Thời Trung Cổ. Sau khi cuốn sách này được xuất bản, độc giả có thể nghĩ rằng tác giả bị điên: rõ ràng anh ta viết chuyện đương đại, vậy sao cứ cần phải phê phán Võ Tắc Thiên mãi thế? Phải thôi, độc giả chẳng sai đâu, bởi vì vào thời đại này, ở chốn này, văn chương Trung Quốc bộc lộ những triệu chứng của một căn bệnh tâm thần. Tôi không giống một nhà văn Trung Quốc, mà giống một kẻ mắc bệnh tâm thần hơn.
Có người sẽ nói rằng đừng nên dùng trường hợp của một biên tập viên kỳ khôi để chê trách cả cơ chế. Tôi đồng ý, nhưng vẫn muốn hỏi: Điều gì tạo ra một biên tập viên luôn hoang tưởng sợ sệt như vậy? Tôi thú nhận là nỗi sợ của ông ta đã nhiễm qua tôi, và tôi cũng muốn hỏi cơ chế kiểu gì mà lại khiến tôi, một công dân tuân thủ luật pháp, một nhà văn, phải sống trong nỗi sợ không mô tả được.
Ở đây có nhiều nhà báo và có lẽ nhiều nhà khác nữa, sau này họ có lẽ tường thuật rằng tôi đã có một bài phát biểu khá giận dữ. Tôi đâu có giận; tôi chỉ đang mô tả tình cảnh của mình, vì tôi tin rằng chắc chắn đây không chỉ là tình cảnh của tôi, mà còn là tình cảnh toàn thể giới văn sĩ Trung Quốc đang lâm vào. Và nỗi sợ tôi đang cảm nhận không chỉ là nỗi sợ theo cảm nhận của một nhà văn, mà của tất cả những nhà văn chúng ta. Đáng buồn thay, tôi đã dành nhiều công sức cho việc biên soạn ‘từ điển những từ nhạy cảm’ này, và tôi đã trau giồi nhuần nhuyễn những kỹ năng lọc văn của mình. Tôi biết những từ, những câu nào phải bị cắt, và tôi đã chấp nhận việc cắt xén như thể đó là cách nên làm. Quả thực, tôi thường tự mình cắt bỏ vài từ để tiết kiệm thời gian. Cái này tôi gọi là ‘văn chương bị thiến’ – tôi là một thái giám chủ động, tôi đã tự thiến mình trước khi bác sĩ giải phẫu cầm dao mổ.
Chẳng có gì mới mẻ khi biết rằng trong thế giới này có điều viết được và có điều không được viết; có điều nói ra được, nhưng có điều chỉ có thể nằm trong suy nghĩ. Tiếng mẹ đẻ của chúng ta đã bị cắt thành hai phần: một an toàn, và một đầy rủi ro. Có từ hợp lòng cách mạng, có từ lại là phản động; có từ dùng được, nhưng có từ lại thuộc về kẻ thù. Điều tai hại nhất là dù kinh nghiệm đến thế, tôi vẫn không luôn luôn biết từ nào hợp pháp, từ nào phi pháp, nên tôi thường vô tình phạm ‘tội ác ngôn từ’. Tối hôm qua tôi xem một quảng cáo ở Bắc Kinh hỏi rằng: ‘Bạn sẽ nói gì nếu bạn trở thành vô địch thế giới? Câu trả lời của tôi thế này: tôi là một nhà văn. Thật khó gọi tôi là nhà văn, ngay cả khi tôi đứng trên bục nhận giải thưởng, tôi cảm thấy khó chịu khi gọi mình là nhà văn – tôi chỉ là một tội phạm ngôn từ.
Có người sẽ nói rằng thực tế đành phải vậy thôi. Tôi có cảm giác mình đã sắp bị bóp nghẹt. Tôi đánh vật chọn những từ an toàn trong một bãi mìn ngôn ngữ. Dường như từng từ từng ngữ trong tiếng Trung đều có vẻ đáng ngờ. Tôi muốn nói rằng điều này không chỉ gây hại cho tác phẩm của tôi, mà còn gây hại cho ngôn ngữ chúng ta. Đây là tiếng mẹ đẻ của chúng ta, ngôn ngữ vĩ đại của chúng ta, ngôn ngữ của triết gia Trang Tử, các nhà thơ Lý Bạch và Tô Đông Pha, và đại sử gia Tư Mã Thiên. Có thể cháu chắt của chúng ta sẽ tái khám phá nhiều từ ngữ đẹp mà nay không còn tồn tại. Nhưng đáng buồn thay, ngay cả bây giờ, chúng ta tiếp tục ngạo mạn tuyên bố rằng ngôn ngữ của chúng ta đang thịnh.
Sự thật duy nhất là chúng ta không thể nói sự thật. Quan điểm duy nhất có thể chấp nhận được là chúng ta không thể bày tỏ quan điểm. Chúng ta không thể chỉ trích cơ chế, chúng ta không thể bàn các vấn đề thời sự, thậm chí chúng ta không thể nhắc tới nước Ethiopia xa xôi. Đôi khi tôi không thể không tự hỏi: Cách Mạng Văn Hóa thực sự đã chấm dứt chưa?
Tại sao Trung Quốc đương đại thiếu tác phẩm phát biểu trực tiếp? Vì những nhà văn chúng ta không thể phát biểu trực tiếp, hay nói đúng hơn, chúng ta chỉ có thể phát biểu một cách gián tiếp.
Tại sao Trung Quốc đương đại thiếu tác phẩm hay phê phán tình cảnh hiện tại của chúng ta? Vì không được phép phê phán tình cảnh hiện tại của chúng ta. Chúng ta không chỉ mất quyền được phê phán, mà mất luôn cả lòng dũng cảm để phê phán.
Tại sao Trung Quốc hiện đại thiếu những nhà văn vĩ đại? Vì tất cả những nhà văn vĩ đại đều bị thiến khi vẫn ươm mầm sáng tác.
Người ta hỏi tôi tại sao tôi viết, và tôi thường trả lời: cho một thế giới rộng lớn hơn. Đó là giấc mơ của tôi. Vì giấc mơ này, tôi có thể chịu đựng một thế giới đầy những búp bê Barbie, nhưng tôi không thể chịu nổi một thế giới bắt buộc những búp bê Barbie phải mang đai trinh tiết.
Tôi biết những lời này không phù hợp cho thời đại này và chốn này. Những lời này có thể bị xem là ngây thơ. Nhưng ở thời đại này và chốn này, tôi vẫn trung thành với kiểu lập luận ngây ngô này: khi chất lượng không khí giảm đi, tôi cảm thấy ta nên làm gì đó, chứ không chỉ ngậm miệng và ngưng thở. Thay vì thế, chúng ta phải hành động, để bảo vệ ngôn ngữ của chúng ta, để làm sạch môi trường của chúng ta. Trên hết thảy, đây là điều một nhà văn nên làm. Chỉ cần phát biểu quan điểm kiểu này là tôi xứng đáng nhận giải thưởng văn học.
Tôi hy vọng chúng ta có thể đồng ý với nhau vài điều:
Văn học không thể phục vụ chính quyền; ngược lại, chính quyền nên làm mọi thứ trong khả năng của mình để tạo ra môi trường thuận lợi cho văn học.
Nếu chúng ta không thể loại bỏ được kiểm duyệt, thì tôi hy vọng chúng ta có thể nới lỏng hơn một chút về kiểm duyệt; nếu chúng ta không thể nới lỏng được, thì ít nhất hãy để cho chúng ta thông minh hơn một chút.
Nếu thực sự có một ‘từ điển những từ nhạy cảm’, tôi hy vọng rằng nó sẽ được xuất bản; như vậy ít ra chúng ta đều có thể tiết kiệm được nhiều thời gian và giảm khả năng vô ý phạm những ‘tội ác ngôn từ’.
Nhà văn không nên là con vẹt, không nên là cái loa biết đi, và nhất định đừng nên là những con thú nuôi kiểng suốt ngày nhặng xị; họ nên có một đầu óc trong sạch và phát biểu bằng tiếng nói trung thực. Khi cầm bút, họ không là nô lệ của ai, họ có quyền không thề trung thành với bất cứ ai; và phát biểu sự thật và chân thật với chính lương tâm của họ.
Cuối cùng, tôi muốn nói rằng tôi không phải là một kẻ thù giai cấp, tôi không phải là kẻ phá rối hay kẻ lật đổ chính quyền. Tôi chỉ là một công dân đề xuất ý kiến. Ngôn từ của tôi có thể gay gắt, nhưng xin hãy tin những hảo ý của tôi. Giống như hầu hết mọi người, tôi mơ sống trong một thế giới hoàn hảo, nhưng tôi vẫn sẵn lòng hiến dâng tất cả cho một thế giới không hoàn hảo.
Đọc tại Hội quán Phóng viên Ngoại quốc Hong Kong vào tháng 2/2011. 
Bản tiếng Anh do Harvey Thomlinson, Jane Weizhen Pan và Martin Merz dịch từ tiếng Trung. Nguồn: The New York Times, 6/11/2011

Phần nhận xét hiển thị trên trang

An ninh Việt Nam trước tư thế quân sự của Mỹ-Nhật trên Biển Đông?



Quốc tế hóa Biển Đông là sách lược của Việt Nam trong chiến lược bảo vệ chủ quyền biển đảo là một trong những nội dung giải quyết tranh chấp trên Biển Đông bằng biện pháp hòa bình, tuân thủ luật pháp quốc tế UNCLOS.
Kể từ vụ hạ đặt trái phép giàn khoan HD 981 đến nay, Trung Quốc càng ngày càng thể hiện quyết tâm chiếm đoạt Biển Đông, biến Biển Đông thành “ao nhà” của mình.
Với khả năng của một quốc gia có nền kinh tế thứ 2 thế giới, Trung Quốc bất chấp DOC, UNCLOS ngang nhiên bồi đắp đảo nhân tạo trên quần đảo Trường Sa để tạo ra những căn cứ quân sự, sẵn sàng lập ADIZ trên Biển Đông…hòng khống chế Biển Đông, tuyến hàng hải quốc tế. Dù đó có thể là một “Vạn lý trường thành bằng cát trên biển” hay gì đi nữa thì hành động đó của Trung Quốc là vô cùng nguy hiểm cho an ninh khu vực và an toàn hàng hải thế giới.
Đương nhiên, hành động này đã xâm phạm đến lợi ích quốc gia của Mỹ và đặc biệt là của Nhật Bản và buộc Nhật Bản và Mỹ phải thay đổi “tư thế quân sự”.
Rõ ràng, hành động quân sự của Trung Quốc ảnh hưởng đến an ninh Nhật không phải đến từ Senkaku mà từ Biển Đông mới là mối nguy hiểm lớn. Mất Senkaku, Nhật Bản chỉ mất một hòn đảo nhưng mất Biển Đông, Nhật Bản bị bóp nghẹt cửa hầu của nền kinh tế mang tính “quốc đảo”.
Với Mỹ, Biển Đông không chỉ là một tuyến hàng hải quốc tế như eo biển Hocmuz hay kênh đào Xue mà mất Biển Đông, khu vực địa chính trị cực kỳ quan trọng tại Đông Nam châu Á của Mỹ bị mất trắng về tay Trung Quốc và do đó, chiến lược xoay trục sang châu Á-TBD của Mỹ bị sụp đổ hoàn toàn. Nước Mỹ phải đối phó nguy hiểm với một vị trí xuất phát tấn công có lợi của Trung Quốc trên Tây TBD và chiến lược bao vây, kiềm chế Trung Quốc bị phá sản.
Tàu khu trục USS Sampson và USS Pinkney của hải quân Mỹ trên biển Đông
Do địa chiến lược về chính trị, quân sự, kinh tế của Biển Đông quan trọng như vậy nên Mỹ, Nhật Bản buộc phải đối đầu với Trung Quốc trên Biển Đông là không có gì lạ.
Sự thay đổi lớn đường lối quốc phòng của Nhật Bản trong và sau chuyến thăm Mỹ của Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe đã đi đến một điểm kết là Mỹ-Nhật cùng nhau tuần tra chung trên Biển Đông, hiểu nôm na là Nhật Bản và Mỹ sẵn sàng tác chiến hỗ trợ nhau trên Biển Đông nếu tình huống xung đột quân sự xảy ra.
Như vậy, hiện nay trên Biển Đông có 2 mâu thuẫn lớn xảy ra. Một là mâu thuẫn giữa Trung Quốc với Mỹ-Nhật Bản và mâu thuẫn giữa Trung Quốc với các nước tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông trong đó có Việt Nam.
Một bất ngờ lớn xảy ra khi những nước có tính an bài nhất trên khu vực nhưSingapoIndonesia và Malaysia lại đang tổ chức tuần tra chung trên Biển Đông. Đây là một thông điệp nhưng cũng là một phản xạ có điều kiện trước mối nguy hiểm bởi hành động quyết tâm, bất chấp của Trung Quốc để chiếm trọn Biển Đông. Phải chăng, Mỹ cùng Nhật Bản đang đưa IndoMalaysia, Sing và Philipines vào cuộc và thật như vậy thì Trung Quốc sẽ gặp vô vàn khó khăn.
Với Việt Nam, việc quốc tế hóa Biển Đông dựa trên luật pháp quốc tế UNCLOS là sách lược của Việt Nam trong chiến lược bảo vệ chủ quyền biển đảo là một trong những nội dung giải quyết tranh chấp trên Biển Đông bằng biện pháp hòa bình hiệu quả nhất.
Việc Trung Quốc mở rộng những đảo, bãi cạn mà họ chiếm đoạt của Việt Nam vi phạm nghiêm trọng đến chủ quyền, an ninh Việt Nam.
Về đối nội, Việt Nam đương nhiên, không ngồi nhìn mà hành động bằng mọi cách để bảo vệ chủ quyền biển đảo, tạo ra sức mạnh răn đe lớn. Sẵn sàng cho mọi tình huống xấu nhất khi Trung Quốc tuyên bố lập ADIZ trên Biển Đông.

Về đối ngoại, Việt Nam hoàn toàn ủng hộ những hành động chống Trung Quốc bành trướng ở Biển Đông của Mỹ và Nhật Bản, sẵn sàng chấp nhận những sự giúp đỡ quý báu về tinh thần, vật chất phương tiện để bảo vệ an ninh hàng hải và chủ quyền biển đảo của các nước lớn có lợi ích quốc gia ở Biển Đông nhưng sẽ không làm phức tạp thêm tình hình. Việt Nam phải khôn khéo, tỉnh táo, cảnh giác để làm chủ tình hình tranh chấp giữa Việt Nam và Trung Quốc. Bởi một điều rất đơn giản là Mỹ và Trung Quốc chẳng bao giờ đánh nhau.

Lê ngọc thống bloger
Phần nhận xét hiển thị trên trang

'Trung Quốc sẽ không đối đầu với Mỹ ở Biển Đông'

Carl Thayer

Trung Quốc không đối đầu trực diện với Mỹ, nhưng sẽ tìm các cách loại trừ sự can dự của Washington và cáo buộc ngược các nước cùng có tranh chấp ở Biển Đông.
carl-8793-1400803035-7443-1431661181.jpg
Giáo sư Carl Thayer. Ảnh: CSIS
Giáo sư Carl Thayer, Học viện Quốc phòng Australia, Đại học New South Wales, trao đổi vớiVnExpress về những động thái mới của Trung Quốc ở Biển Đông gần đây và dự báo diễn biến sắp tới.
- Vì sao quan chức Trung Quốc và truyền thông nước này từ đầu năm liên tục công khai hoạt động cũng như mục đích cải tạo các đá ở Trường Sa?

- Trung Quốc bắt đầu các hoạt động cải tạo ở Biển Đông năm 2014. Hiện họ đã hoàn thành 4 trong số 7 thực thể. Họ đang xây dựng cơ sở hạ tầng và các thiết bị ở 4 đảo nhân tạo này. Trung Quốc đang cho thấy "sự đã rồi" với ASEAN và cộng đồng quốc tế. Ban đầu Trung Quốc sẽ thúc đẩy việc sử dụng cho mục đích dân sự và sau đó triển khai tàu quân sự khi thích hợp.
Trung Quốc đang cố đón trước bất kỳ phán quyết nào của Tòa án trọng tài quốc tế về vụ kiện của Philippines, chứng minh với các thành viên ASEAN rằng việc phản đối hay chống lại Trung Quốc là vô ích. Cách tiếp cận "đường ray kép" này của Bắc Kinh sẽ được tiếp tục áp dụng để khẳng định quan điểm đàm phán song phương với Philippines và Việt Nam. Trung Quốc cũng sẽ phối hợp với ASEAN để giải quyết vấn đề an ninh ở Biển Đông nhằm loại trừ sự can thiệp của Mỹ.
- Trung Quốc đang đưa giàn khoan Hải Dương 981 ra Biển Đông, ông có cho rằng họ sẽ hạ đặt trái phép vào vùng biển Việt Nam một lần nữa? 
- Trung Quốc sẽ không đưa giàn khoan vào vùng biển của Việt Nam, khu vực chồng lấn với đường 9 đoạn phi lý mà Bắc Kinh đưa ra. Trung Quốc muốn tìm kiếm sự ổn định, nhưng theo luật chơi của họ.
- Ông đánh giá thế nào về kế hoạch Mỹ triển khai tàu và máy bay đến Biển Đông, gần khu vực Trung Quốc đang bồi đắp các đá?
- Dường như chính quyền của Tổng thống Mỹ Barack Obama đang đáp ứng lá thư hồi tháng 2 của các chủ tịch Ủy ban Đối ngoại của Thượng viện, Hạ viện Mỹ cùng Ủy ban Quân vụ Thượng viện, để tiến đến thực hiện một chiến lược đối phó với sự hung hăng của Trung Quốc ở Biển Đông. Từ khi lá thư được công bố hồi tháng 3, có một loạt quan chức cấp cao Mỹ công khai chỉ trích Trung Quốc, từ Chỉ huy Hạm đội 7 của Hải quân Mỹ, Chỉ huy Hạm đội châu Á – Thái Bình Dương, Bộ trưởng Quốc phòng Ashton Carter và cả Tổng thống Obama. Một báo cáo bị rò rỉ còn cho thấy Lầu Năm Góc đề nghị các tàu Hải quân Mỹ thực hiện tuần tra tự do hàng hải trong phạm vi 12 hải lý của 7 thực thể mà Trung Quốc đang cải tạo.
Ít nhất, các tàu tuần tra của Hải quân Mỹ sẽ kiềm giữ Trung Quốc, không để họ nhất quyết đòi kiểm soát trên thực tế với khu vực bên ngoài 12 hải lý xung quanh 7 thực thể nói trên. Đây là một nỗ lực lớn nhằm kiềm chế Trung Quốc, tức là: nếu Bắc Kinh khăng khăng, thì Mỹ can dự.
- Trung Quốc sẽ đối phó như thế nào?
- Trung Quốc và Mỹ đang chuẩn bị cho cuộc gặp giữa Tập Cận Bình và Obama vào tháng 9 tới khi ông Tập đến thăm Mỹ. Trung Quốc sẽ muốn thử Mỹ nhưng không đi quá xa để gây hại đến cuộc gặp này. Tuy nhiên Bắc Kinh cũng đã hoàn thành việc xây dựng ở 4 trong số 7 đá và đang hướng tới việc củng cố sự hiện diện của mình bằng cách xây dựng cơ sở hạ tầng. Trung Quốc có thể thay đổi nhịp độ các hoạt động xây dựng ở đây. Nhưng với tất cả ý định và mục tiêu của mình, Trung Quốc đã xoay xở xong việc mở rộng các thực thể. Phép thử thực sự là Trung Quốc có muốn thách thức Hải quân Mỹ trên biển và trên không hay không. Tôi cho rằng Trung Quốc sẽ không đối đầu trực diện với Mỹ.
Hành động của Mỹ khiến Trung Quốc bị đặt vào tình thế phải chấp nhận nguyên trạng mới hoặc leo thang bằng cách đưa Hải quân PLAN trực tiếp can dự. Tôi không nghĩ Trung Quốc sẽ đi vào con đường này vì Mỹ có vị trí lợi thế để phản ứng nhanh.
Trung Quốc rất khôn ngoan trong việc tiết chế cách hành xử của mình để phù hợp với các hoàn cảnh. Trung Quốc sẽ hoàn thành việc xây dựng cơ sở hạ tầng và chỉ đưa đến các tài sản dân sự, chủ yếu là các hàng hóa dùng cho công cộng như dữ liệu thời tiết, các thiết bị tìm kiếm và cứu nạn.
Đáng chú ý, Trung Quốc sẽ cố lôi kéo từng nước ASEAN trong một số hoạt động mang tính biểu tượng để làm giảm vai trò của Mỹ. Phép thử thực sự sẽ đến vào cuộc họp của Nhóm làm việc chung ASEAN - Trung Quốc để thực hiện Các nguyên tắc DOC ở Biển Đông sắp tới. Trung Quốc sẽ phàn nàn và cố gắng thuyết phục các nước ASEAN rằng Mỹ đang gây bất ổn trong khu vực. 
- Ông có thể so sánh ý định của Mỹ khi muốn đưa tàu và máy bay vào gần Trường Sa với mục tiêu của họ khi đưa máy bay vào Khu vực nhận dạng Phòng không (ADIZ) Trung Quốc đơn phương áp đặt ở Hoa Đông năm 2013?
- Mỹ đơn phương thực hiện các cuộc tuần tra bảo vệ tự do hàng hải, phản đối bất cứ nước nào cố gắng mở rộng các khu vực của mình vượt ra bên ngoài sự cho phép của Công ước Luật biển năm 1982 của Liên Hợp Quốc (UNCLOS). Mỹ phản ứng với ADIZ là một chuyện khác vì "động" đến các đồng minh của Mỹ là Nhật Bản và Hàn Quốc. Việc cải tạo các đá ở Biển Đông thì ảnh hưởng đến đồng minh của họ là Philippines. Nếu Mỹ khởi đầu việc tuần tra trên biển và trên không, điều đó cho thấy họ hành động nhất quán.
tai-xuong-7328-1431648555.jpg
Lực lượng Mỹ tập trận với Philippines tại Biển Đông ngày 21/4. Ảnh: Reuters
- Khả năng xảy ra xung đột ở Biển Đông lớn đến đâu?
- Trung Quốc không muốn đối đầu với Mỹ. Họ không có những tàu chiến lớn được triển khai thường xuyên ở khu vực. Hải quân Mỹ mạnh hơn rất nhiều. Mỹ sẽ không đi quá 12 hải lý và Trung Quốc sẽ tôn trọng điều này, khi tàu Trung Quốc hiếm khi đi vào khu vực 12 hải lý xung quanh các đảo Senkaku do Nhật Bản quản lý ở Hoa Đông.
Trung Quốc sẽ không tuyên bố ADIZ ở Trường Sa vì họ không có các phương tiện thực hiện. Ngay khi Trung Quốc tuyên bố ADIZ thì Mỹ sẽ đưa máy bay đến.
- Những khuyến cáo của ông với Việt Nam trong tình hình hiện nay?
- Việt Nam cần phát triển đối thoại về vấn để Biển Đông với Trung Quốc, và tách bạch vấn đề này với các mối quan hệ khác trong bức tranh tổng thể. Việt Nam phải củng cố quan điểm của ASEAN trên hương diện đấu tranh ngoại giao với Trung Quốc. Việt Nam phải vận động các cường quốc biển cùng can dự và tạo sức ép để Trung Quốc không được quân sự hóa các thực thể mà họ đang bồi đắp.
- Vấn đề Biển Đông sẽ được nêu lên thế nào ở Đối thoại Shangri-la (Hội nghị an ninh cấp cao châu Á Thái Bình Dương) cuối tháng này tại Singapore?
- Tình hình Biển Đông sẽ được nêu lên đặc biệt tại Shangri-la. Mỹ, Nhật và Australia sẽ lớn tiếng nhất. Trung Quốc sẽ phải đối diện với những câu hỏi khó từ các chuyên gia an ninh. Tôi dự đoán các quan chức Trung Quốc sẽ rất hiếu chiến và cố gắng chuyển thảo luận sang việc cáo buộc Philippines xúi giục bất ổn ở Biển Đông. Sẽ rất thú vị khi quan sát xem Trung Quốc thể hiện ở mức độ nào.

Việt Anh 

Nguồn: Vnexpress
Phần nhận xét hiển thị trên trang