Thứ Ba, 31 tháng 3, 2015

Cản trở quyền tự do ngôn luận có thể bị tù 7 năm



Dự thảo bộ luật Hình sự có một số điểm mới đáng chú ý như: Tội xâm phạm quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, quyền biểu tình của người dân.
Chưa bỏ án tử hình với tội tham nhũng
Giải trình về dự thảo bộ luật Hình sự sửa đổi trước UB Tư pháp QH chiều nay (31/3), Thứ trưởng Tư pháp Đinh Trung Tụng cho biết sẽ hạn chế hình phạt tử hình:
"Giảm tử hình là chủ trương lớn của Đảng, thể hiện trong các nghị quyết về cải cách tư pháp và trong thực tiễn luật pháp hình sự. Chủ trương này hoàn toàn phù hợp với tinh thần bảo vệ các quyền con người, quyền công dân trong Hiến pháp 2013, và xu hướng hội nhập của nước ta. Vì vậy, việc tiếp tục giảm hình phạt tử hình nhận được sự ủng hộ tuyệt đối trong quá trình xây dựng bộ luật Hình sự sửa đổi".
Ông Tụng cho biết các ý kiến đều thống nhất quan điểm về tiêu chí giảm tử hình cũng như chủ trương sửa đổi bổ sung các quy định của bộ luật về hình phạt tử hình theo hướng: quy định rõ, cụ thể và chặt chẽ các điều kiện áp dụng hình phạt tử hình nhằm thu hẹp phạm vi áp dụng hình phạt này; mở rộng diện không áp dụng hình phạt tử hình; mở rộng các trường hợp không thi hành án tử hình và chuyển hình phạt tử hình thành tù chung thân nhằm góp phần hạn chế hình phạt tử hình trên thực tế; thu hẹp diện các tội danh có quy định hình phạt tử hình.
Thứ trưởng thường trực Bộ Tư pháp Đinh Trung Tụng: 
Bỏ hình phạt tử hình đối với tội tham ô tài sản
và nhận hối lộ dễ dẫn đến cách hiểu là 
pháp luật nương tay với các quan chức tham nhũng.
                                                      Ảnh: PLXH
"Nhưng với các phương án đề xuất bỏ hình phạt tử hình với các tội danh cụ thể thì vẫn còn ý kiến khác nhau", Thứ trưởng cho biết.
Trong ban soạn thảo có những ý kiến đồng ý bỏ hình phạt tử hình đối với 7 trong số 22 tội danh có hình phạt tử hình hiện hành: cướp tài sản; phá hủy công trình, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia; chống mệnh lệnh; đầu hàng địch; phá hoại hòa bình, gây chiến tranh xâm lược; chống loài người; và tội phạm chiến tranh.
Có những ý kiến muốn bỏ hình phạt tử hình với thêm 3 tội danh nữa là sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, phòng bệnh; tham ô tài sản; và nhận hối lộ, vì "suy cho cùng các tội phạm này mang tính chất kinh tế, vụ lợi".
Thứ trưởng Đinh Trung Tụng cho biết ý kiến của Chính phủ: "Hiện ta đang đấu tranh không khoan nhượng với tệ nạn tham nhũng, nhiều biện pháp đã được ban hành nhưng chưa có hiệu quả, việc đặt vấn đề bỏ hình phạt tử hình đối với tội tham ô tài sản và nhận hối lộ là chưa phù hợp, dễ dẫn đến cách hiểu là pháp luật nước ta nương tay với các quan chức tham nhũng và không được nhân dân đồng tình ủng hộ".
Còn tội sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, phòng bệnh hiện đang phổ biến, gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng cho tính mạng, sức khỏe của nhiều người, nên vẫn cần tiếp tục duy trì hình phạt tử hình.
Bước đầu cho ý kiến, nhóm nghiên cứu của UB Tư pháp có thêm một loại ý kiến là không bỏ hình phạt tử hình đối với các tội phá hoại hòa bình, gây chiến tranh xâm lược, chống loài người và tội phạm chiến tranh. Lý do đây là loại tội nghiêm trọng nhất trong các tội đặc biệt nghiêm trọng, nước ta lại nằm trong khu vực có sự phức tạp về an ninh, nguy cơ chiến tranh xung đột vẫn hiện hữu, Phó chủ nhiệm UB Tư pháp QH Nguyễn Công Hồng cho biết.
Xâm phạm quyền biểu tình có thể bị 7 năm tù
Dự thảo bộ luật Hình sự còn có một số điểm mới đáng chú ý như: Tội xâm phạm quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, quyền biểu tình của người dân.
Cụ thể, người nào cản trở công dân thực hiện quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, quyền biểu tình và các quyền tự do, dân chủ khác của công dân, bị phạt cải tạo không giam giữ đến 2 năm hoặc phạt tù 3 tháng đến 2 năm. Nếu phạm tội có tổ chức, lợi dụng chức vụ, quyền hạn, gây hậu quả nghiêm trọng, thì có thể bị phạt tù đến 7 năm.
Một số hành vi khác cũng có thể bị phạt tù là lợi dụng chức vụ, quyền hạn cản trở việc khiếu nại, tố cáo, việc xét và giải quyết các khiếu nại, tố cáo hoặc việc xử lý người bị khiếu nại, tố cáo; có trách nhiệm mà cố ý không chấp hành quyết định của cơ quan có thẩm quyền xét và giải quyết các khiếu nại, tố cáo gây thiệt hại cho người khiếu nại, tố cáo.
Phạm tội trả thù người khiếu nại, tố cáo; gây hậu quả nghiêm trọng có thể bị phạt tù 2-5 năm. Trong các trường hợp có tổ chức; gây mất trật tự, an toàn xã hội; làm nạn nhân tự sát; gây hậu quả rất nghiêm trọng; đặc biệt nghiêm trọng khác, thì phạt tù 3-7 năm.
UB Tư pháp QH sẽ dành cả ngày mai 1/4 để thẩm tra dự thảo bộ luật Hình sự sửa đổi.
Chung Hoàng/VnN

Phần nhận xét hiển thị trên trang

NGƯỜI ĐỜI CÓ MUÔN VẠN LÝ


Truyện ngắn HG

Hôm nào giờ này, con bé mới được về. Hai bên hàng phố đã lên đèn. Các nhà hàng ăn uống đã sắp đóng cửa vì đã muộn. Những dịch vụ khác người ta cũng thu dọn đồ nghề. Lác đác vài bàn bán chè nóng vỉa hè đã dọn hai bên đường..Chưa hôm nào lão chủ cho nó về sớm hơn hôm nay. Mặc dù khi nó vào làm lão chủ hứa như đinh đóng cột rằng: “bảo đảm ngày làm tám tiếng theo quy định.. Cháu sẽ được hưởng chế độ bảo hiểm như cơ quan nhà nước, không phải lo..” 
Nghề phục vụ, “thượng đế khách hàng” chủ yếu tranh thủ thời gian  “cứng”, sau giờ làm việc, nên đi sớm về muộn làm sao mà tránh được?
Đấy là “đặc thù riêng” của cửa hàng công ty lão. Cũng chả thể trách lão được, có phải mình lão đâu? Ai bỏ tiền ra thuê người chả tận dụng thời gian, tận dụng sức lao động của nhân viên? Lúc đầu con bé  thấy gò bó, khổ sở, miễn cưỡng, lâu dần rồi cũng quen.

Làm thì làm, nó biết cũng chả trông mong gì nhiều ở “triển vọng” ở nơi này như ông bạn vong niên của bố giới thiệu.  Nghề ảnh cũng như rất nhiều nghề đang xã hội hóa, chả còn nhiều lợi ích như ngày xưa. Máy ảnh, máy quay bán rẻ  như khoai, ai cũng có thể mua được. Tự động hóa, kỹ thuật số chả cần học hỏi nhiều, chỉ cần chỉ dẫn sơ sơ, ai cũng có thể làm được. Rồi Aipon Ai pác nhan nhản có đủ tính năng kết nối mạng intenet. Thích người ta đưa lên lưu lại trên mạng dung lượng hàng tăm mê. Lúc nào sướng thì xem, tùy thích. Đâu có như ngày xưa, hồi bố nó thập thõm làm phó nháy, có lúc in ảnh “đếm” bằng ánh sáng đèn dầu. Ngầy ấy nghề ảnh là nghề sang trọng, hái ra tiền. Bố kể người ta xếp hàng từ sáng tới trưa để chụp tấm ảnh kỷ niệm. Phần vì đời sống vật chất khó khăn, công nghệ ảnh như một bù đắp sự thiếu thốn cái ăn cái ở.  Nó trở thành “mốt”, nhà nào khá giả lịch lãm mới có được mấy khung ảnh lớn treo trong nhà. Nó như sự thể hiện đẳng cấp của thời kỳ khó khăn. Nhưng bây giờ thì xưa rồi “Diễm ơi”. Chả mấy người còn chuộng chụp thật nhiều ảnh treo lên tường. Có chăng những bức kỷ niệm người ta cũng chỉ dán anbum, cất vào hộc tủ. Chỉ còn những đám cưới là chẳng thể đừng. Dù muốn dù không cũng phải có tấm hình lớn treo lên ngày đại hỉ. Thêm số người chụp ảnh thẻ dán hồ sơ các loại. Mà thứ này đâu có đáng mấy tiền?
Nói chung kỹ nghệ ảnh cảnh phát triển, thu nhập của các cửa hàng làm nghề này càng teo dần, trong khi đầu tư thiết bị lại tốn kém hơn ngày xưa rất nhiều.
Đại loại sơ qua vài nét như thế, nó chỉ làm mấy buổi là hiểu ra ngay. Nhưng nó vẫn phải chấp nhận, cho dù đồng lương quá bèo, trong lúc không công ăn việc làm. Chẳng qua như một bước đệm, chả nhẽ ngồi không, ăn bám bố mẹ mãi?

 Cái không may của rất nhiều đứa có hoàn cảnh như nó vào lúc này chứ không phải chỉ có nó là một mình kém may mắn. Kết quả của nền đào tạo thiếu gắn bó thực tế, đòi hỏi, nhu cầu thời đại, chỉ chú trọng đầu vào, ít để tâm đến đầu ra. Một nền giáo dục đang ngày càng bộc lộ nhiều khiếm khuyết chưa có cách khắc phục. Không ít cơ sở kinh doanh, sản xuất tỏ ra thất vọng khi phỏng vấn tuyển người làm. Nói gì đến cơ sở nghiên cứu, phát minh? Hệ quả là hàng ngàn sinh viên ra trường như nó trở thành bơ vơ, chả thể bấu víu vào đâu. Khủng khoảng, suy thoái như một tai nạn kép làm không ít người trẻ lo lắng cho ngày mai của mình.

Bốn năm miệt mài, ăn đói, nhịn khát, ở chật chội theo “Sê ry con nhà nghèo” để theo hết chương trình đại học. Ra trường đúng vào giai đoạn kinh tế suy trầm, chưa biết khi nào mới gượng dậy. Chỗ nào người ta cũng rục rịch giảm biên chế với tỷ lệ “Ra ba, vào một”. Công ty ngoài chả thấy mở thêm, cứ teo đi, tuyên bố phá sản như sung rụng cuối mùa. Tỉnh quê nhà nó lại chả có đường sắt, đường biển, đường không lại càng không, lại không phải vùng kinh tế trọng điểm chả được ưu tiên gì. Cơ sơ sản xuất, kinh doanh có đếm trên đầu ngón tay chưa hết. Một nơi như thế, không dễ có được việc làm. Thôi thì có còn hơn không, chả vui vẻ gì, vẫn phải chấp nhận..

Ngay đến Hà nội, cũng còn khó kiếm việc hiếm chi là nơi này. Còn chút an ủi cho bản thân, so với công việc làm ở kinh thành trước đây, bây giờ thu nhập có kém hơn, nhưng được cái gần nhà. Bố mẹ trên nhà có bề gì chỉ cần chưa đến nửa giờ là nó đã có mặt ở nhà. Với lại chỗ ăn, chỗ ở dù sao trên này cũng thoải mái hơn. Không phải ba bốn đứa con gái chen chúc nhau thuê cùng một phòng hơn chục mét vuông. Người không quen đến chịu hơi người đã muốn ốm.

Nhà cô nó ở cuối thành phố, nơi hơn chục năm trước chỗ này cực vắng về đêm. Chỗ đó gần “vườn thánh” kề nhà thờ, bên bãi tha ma, có rất nhiều ngôi mộ vô chủ.
Những người già kể rằng năm 1945 chính là nơi người ta gom xác người chết đường chết chợ về chôn chung trong các mộ tập thể.
Đêm đêm thường có những loạt đạn bất thình lình nổ lúc gần sáng làm cho cư dân gần đấy choàng tỉnh giấc. Đấy là  khi các phe nhóm thanh toán lẫn nhau, người Nhật, người Pháp thủ tiêu tù cộng sản. Còn chuyện chém giết vặt về đêm của bọn cờ bạc, xã hội đen xảy ra trên quãng đường sát bờ sông này cũng không hề hiếm.  Chuyện cướp giật, hãm hiếm thường xảy ra chỗ đầu non, cuối bãi này.

Bây giờ thì khác.  Cái thị xã  tranh tre nứa, lá ấy đã lên thành phố. Nhà cửa nhiều thêm, tràn cả ra khu ngày xưa vắng vẻ này. Nhìn bề ngoài đó là sự thay đổi ghê gớm. Thực ra  người dân công ăn việc làm cũng chẳng thay đổi bao nhiêu. Cô chú nó ngày trước đãi sỏi dưới sông, gánh cát lên bờ. Nay các công việc ấy có máy móc làm theo băng chuyền. Đội quân cát sỏi đông đảo mấy chục năm có từ thời bao cấp như có phép màu mất dạng, biến đi đâu hết. Người quay ra chạy xe ôm, kẻ bán hàng rong, người theo chân cửu vạn cho xe đường dài.
Riêng  cô chú nó chuyển sang nghề khác. Ai cần bốc xếp hàng, lau dọn nhà..linh tinh đủ thứ việc hai người nhận làm. Mà việc thì lúc có lúc không. Ngồi rỗi cả buổi, gần tối lại có người gọi bốc xi măng, giữa trưa có người kêu chuyển đồ.. nói chung công việc chả có giờ giấc nào nhất định.

Trời lất phất mưa bay. Chưa năm nào đầu năm mưa phùn kéo dài đến thế. Có hôm về muộn gặp bữa mất điện nó cứ thấy gợn gợn. Ngoài vườn thánh đom đóm ra nhiều vô kể. Đúng ra phải hơn tháng nữa mới là mùa đom đóm, chả hiểu vì sao giống này năm nay lại có sớm như vậy. Người ta bảo thời buổi bây giờ đảo nghịch nhiều quy luật thiên nhiên và cả quy luật đời sống con người. Nó không tin lắm. Nhưng những con đom đóm to gần bằng bóng đèn dầu xanh lét chập chờn nơi mộ địa khiến nó cũng hoảng,  muốn chạy nhanh khi đi qua chỗ này, dù ở đây đã gần ba tháng trời rồi.
Ngày còn sống, bà nội vẫn bảo: “Ma thì có ma tốt ma xấu, cũng như con người ở dương gian, chả có gì phải sợ. Người xấu luôn gặp ma xấu và ngược lại. Làm việc tốt sẽ gặp điều tốt, trần sao âm vậy chả việc gì phải sợ hãi khi mình sống ngay thẳng, không độc ác hay làm hại ai cháu à..”
**

Hai vợ chồng cô chú nơi nó đang trọ đang lay hoay với đống đồ gỗ gũ kỹ  chất đống ngay lối vào nhà. Nó dừng xe dọn một lối đủ để dắt được xe  vào nhà. “Hôm nay thắng lớn..” Chú dượng nó có vẻ hoan hỉ, đang nói chuyện với vợ. Nó chưa biết một đại gia nào đó vừa thay bộ bàn ghế cũ bán thanh lý cho họ.  Giờ thì cả hai vợ chồng đang lau chùi, đóng thêm một vài chiếc đinh. Chỉ cần đánh qua lượt vẹc ny nữa, ngày mai chú nó có thể chở lên một làng vùng xa nào đấy bán cho người ta.
Ai bảo  “Cũ người, mới ta” không là niềm hạnh phúc? Một nhà có hoàn cảnh nào đấy sẽ cảm thấy hãnh diện với thứ đồ người ta vất đi này! Nói là mua cho nó lịch sự chứ cô chú nó chẳng phải bỏ ra đồng tiền mặt thực sự nào. Số tiền mua thanh lý bộ đồ cũ này, chủ của nó triết khấu vào tiền công dọn dẹp khuôn vác cho chủ nhà đến dinh thự mới. Người giàu có luôn biết tiêu tiền và sử dụng tài sản của họ một cách đích đáng. Với họ ngay cả đến đồ thải loại vẫn còn ít nhiều giá trị. Đại gia tỉnh lẻ khác đại gia ở kinh thành là vậy.
Hồi nó trọ học ở Hà Nội, ban đêm thường thấy các nhà giàu có vất trộm các thứ này ngoài đường. Những người có hoàn cảnh như chú dì nó cứ gần sáng chỉ cần đi dọc theo các dãy phố gom về, chả mất tiền mua.
Người vất đồ, không may bị vớ được còn bị xử phạt hành chính, nói gì chuyện bán mua?
Ông chủ nhà trọ nó ở lúc bấy giờ là chủ “vựa” những thứ đồ cũ này nên nó biết.
Đúng là con người ta có trăm ngả đường mưu sinh nơi thế gian vốn chật chội và luôn nhiều khó khăn này. Ông ta thuê hẳn tốp thợ mộc gồm ba người, chuyên tu sửa những thứ đồ gỗ cũ kỹ. Có lần ông nói:” Cũ thì cũ thật, nhưng chất gỗ hơn hẳn đồ thời bây giờ. Làm gì còn gỗ lát, gỗ gụ như mấy thứ đồ này?”. Nghe thấy ông nói như vậy với mấy người thợ mộc nó biết ông nói có lý. Quê nó ở miền ngược, núi đồi bây giờ trọc lóc như đầu ông sư. Nơi nào có rừng cũng toàn rừng trồng, keo tai tượng, bồ đề chưa già người ta đã khái thác hết, lấy đâu ra gỗ tốt?
Như mọi hôm, nó sẽ nhanh nhảu cất xe, xắn tay áo ra phụ với cô chú. Nhưng hôm nay nó lẳn lặng đi vào nhà, một lúc lâu không thấy ra. Cô nó thấy khang khác chạy vào, thấy nó ngồi thừ ra, mặt buồn rười rượi. Cô nó hỏi:
-  Có chuyện gì ngoài chỗ làm à?
- Dạ không..
- Sao nom mặt mày cứ như ngày xưa người ta bị “mất sổ gạo”?
- Chả có gì đâu cô ạ. Chỉ là lão chủ khó tính ..Mà ngày nào lão chả vậy, cô quan tâm làm gì, cứ mặc cháu!
- Sao dạo đầu thấy mày nói: Ông Trọng râu này quý cháu lắm. Ông ấy bảo cứ làm tốt, tháng sau cháu sẽ được tăng lương?
- Ông ấy nói thế chứ có tăng gì đâu. Mấy đứa làm cùng cháu mấy năm nay rồi có đứa nào được tăng?
- Tao chả rành lắm chế độ lương bổng, nhưng lương của mày là loại lương dưới mức tối thiểu như thế thì làm làm gì? Chả nhẽ không còn cách gì để sống hay sao mà phải cố thiết như thế? Mà tao bảo mày nói với ông ấy làm cho cái hợp đồng lao động, mày đã nói chưa? Làm gì ở đâu cũng phải có hợp đồng rõ ràng. Thuận thì không sao, nghịch là rất khó giải quyết..Nếu người ta muốn cho mày nghỉ ngang xương, cũng phải có trợ cấp phần trăm để mày đi tìm việc chỗ khác. Không khéo lúc ấy trắng mắt, trắng tay cháu ạ. Tao nghe người ta nói vợ chồng lão này không phải người vừa. Nhiều đứa làm đấy trước mày rớt nước, phải bỏ cuộc cả đấy. Chả biết mày trụ được bao lâu. Đứa nào cũng thử việc không lương. Tháng sau có trả, lương cũng không bao nhiêu, rồi thì kiếm cớ đuổi việc. Chung quy là lợi dụng công người làm. Mày có biết chuyện này chưa?
Nó ngồi im, không trả lời. Cô nó thấy thế cũng thôi không hỏi. Bà cô có biết đâu chiều nay nó vừa gặp chuyện rắc rối ở chỗ làm..
Lão chủ sai nó đi nhập tiền thuế qua ngân hàng. Lão đưa nó cục tiền bọc trong tờ giấy bảo nó: ” Chỗ này chẵn hai mươi triệu, mày sang nhập vào tài khoản, nhớ lấy hóa đơn về”. Nó định mở ra kiểm lại. Gì thì gì, nguyên tắc tài chính nó được học ở trường như một nhất thiết, một ràng buộc, không thể thiếu. Nhưng lão bảo: “ Tao kiểm rồi, mày không cần đếm nữa đâu. Sang nhập nhanh chóng, rồi về còn làm việc khác. Lão đã nói thế, tuy có chút lưỡng lự, nhưng nó không dám cưỡng lại. Cố tình đếm, chả hóa ra bỉ mặt, coi thường lão sao? Nó sang bên kia đường, chỗ ấy người ta thu ngân, ngay trước mặt cửa hàng nơi nó đương làm.  Chị thu ngân kiểm đi kiểm lại đến mấy lần, số tiền trong gói lão đưa vẫn thiếu hai triệu. Nó quá hoang mang, không hiểu vì sao? Đi từ đấy sang đây gói tiền để nguyên trong túi xách. Nếu rơi thì rơi cả cục, chả nhẽ rơi mỗi hai triệu? Bọc tiền bên ngoài có sơi dây thun vẫn còn nguyên không bị đứt, không thể rơi tiền ra như vậy được. Nó vội bấm điện thoại về cho lão chủ. Lão bảo lão đưa đủ cơ mà! Nó rơm rớm nước mắt chạy về. Nghe nó thuật lại, lão còn hỏi: “Có đúng cháu không lấy không?” Một hồi lão đưa thêm hai triệu nữa cho nó sang nộp. Cử chỉ của lão rõ ràng là khang khác. Nó phân vân không biết nó nhầm hay lão nhầm? Dù sao cũng tại nó lúc nhận tiền lão đưa không kiểm lại. Nếu lão không nhầm, có dễ lão đưa thêm tiền để đi nộp lại không? Nhưng nhận là mình nhầm đối với lão là chuyện  không bao giờ. Không bao giờ có chuyện sếp nhận mình sai trước mặt nhân viên, điều này như một tất yếu, khó thay đổi.
Đưa thêm cho nó rồi lão vẫn nói: “Cháu thử nhớ lại xem hay sang bên đó chỗ đông người, rút ra rút vào, rơi ra không để ý?” Nói như vậy rõ ra là lão có ý kết luận luôn rồi!

Về đến nhà bà cô rồi, đầu óc nó vẫn rối bung lên, không hiểu sự việc xảy ra chiều hôm nay là ra sao nữa. Cũng không hiểu tại sao lão cho nó nghỉ sớm hơn tất cả mọi ngày, kể từ khi nó đến đây làm? Trong lúc chưa hết giờ làm buổi chiều, đang lúc đang đông khách. Hay lão đang bực không muốn nó ở đấy cho thêm vướng mắt, hay có ngụ ý gì? Đang lúc đầu óc đang rối tung lên như thế, được nghỉ sớm, nó mừng như chim sổ lồng. Nó muốn được một mình cho đầu óc nhẹ đi, bớt căng thẳng, đang muốn đứt dây thần kinh vào lúc này. Nó không biết mình lại thêm một sai lầm nữa, nó sẽ gặp phải rắc rối vào buổi sáng hôm sau. Đáng lẽ phải bàn giao lại sổ ghi chép, tiền bán hàng cho vợ lão rồi mới về..

Đêm ấy nó trằn trọc không sao chợp được mắt.
Sao số nó vất vả thế không biết. Mấy chỗ làm rồi mà không chỗ nào đậu được lâu. Gặp toàn điều ngang ngược không đâu.
Tại mình vụng về hay tại chủ khó khăn, tai ngược? Nó tự vấn, tự kiểm điểm bản thân. Càng nghĩ nó càng không tìm ra câu trả lời.
Hay tại thời buổi khó khăn, công ăn việc làm khó tìm như mọi người hay nói với nhau. Nhưng sao những đứa khác, cùng hoàn cảnh như nó vẫn kiếm được việc làm? Có phải chúng gặp được người chủ bao dung, nhân đức, giàu tình người? Chưa khi nào nó tự giận mình, giận thân giận đời như lúc này.
Không có lẽ mọi cánh cửa vào đời trước mặt sau lưng nó đều đóng lại cả sao?
Gian phòng nó ở, mọi khi là của một đứa em con bà cô vừa mất nửa năm trước. Đó là căn phòng cửa sổ rất hẹp, thiếu ánh sáng và gió từ bên ngoài vào, dành riêng cho đứa em mắc bệnh tâm thần của cô nó. 
Lúc mới đến ở nó rất sợ. Một nỗi sợ hãi mơ hồ bởi nào đấy, cảm giác lạnh lẽo của gian phòng tường để mộc không sơn, không quét vôi, xám xịt, lại áp mái này.
May là chưa đến mùa hè, chưa nóng bức, nhưng vẫn ngột ngạt khi khép cửa lại. Nơi ăn chốn ở đối với nó đã lâu, không thành vấn đề, chịu mãi nó đã quen đi rồi. Nhưng cái cảm giác lạnh lẽo ma quái của gian phòng này mất mấy tuần đầu nó mới quên được dần dần. Phần vì làm việc căng thẳng, ngày cả mười tiếng đồng hồ, cơm nước xong, tắm rửa qua quýt nó mệt, lăn ra ngủ. Đâu có thời gian để nghĩ và sợ vớ vẩn bất cứ thứ gì.
Mãi đến gần sáng mệt quá nó mới thiếp đi. Nó thấy mình theo mẹ vào rừng hái nấm. Đó là khu rừng rất lạ, cây cối chẳng giống những khu rừng nó từng qua. Những con thú kỳ dị thấp thoáng sau lùm cây, nửa ngợm nửa người, không hẳn giống người, cũng không phải thú. Nó ngác ngơ sợ hãi, nghoảnh lại đã không thấy mẹ đâu nữa?  Trước mặt nó là con suối hung hãn đang cuồn cuộn chảy, chỉ có cây cầu bắc tạm bằng hai cây tre non èo uột chả lấy gì làm chắc chắn. Cái cầu sơ sài tạm bợ ấy cứ đong đưa theo từng đợt nước tràn về. Trời lại đang xậm dần, có thể đã quá chiều. Có đám mây dông kỳ dị đang mỗi lúc che lấp dần khoảng rừng còn lại. Chợt phía bên kia thân hình quái gở, to lớn kỳ dị của đứa em con bà cô hiện ra. Tay nó cầm một cái khăn màu đỏ rực như lửa đang vẫy vẫy. Đứa em bị bệnh tâm thần do hậu quả bất thành của ca mổ tim hiện ra rõ ràng như ngày nó còn sống. Cái mặt nó to gấp đôi người mình thường nhưng mặt mũi dăn dúm táu hạu lại cả một đám, nom rất hãi. Ngày nó còn sống mỗi lần tới nhà cô chơi nó cũng sờ sợ, hai hãi rồi. Giờ gặp nó ở đây, nơi rừng sâu này cảm giác ấy như muốn nghẹt thở. Nó đứng chờ hay làm gì ở đây? Nó hét lên sợ hãi, choàng tỉnh dậy, mồ hôi ra ướt đầm hai bên thái dương, chỗ cổ áo và cả lòng hai bàn tay. Nó vừa trải qua một cơn ác mộng chưa từng gặp bao giờ, kể từ ngày bước sang thì con gái.
Sáng hôm ấy nó không dám kể gì về giấc mơ vừa qua của nó. Chắc hẳn cô chú nó sẽ rất đau lòng nếu nghe nó kể. Dù sao họ cũng đã nguôi ngoai về sự ra đi của đứa con tật nguyền.  Cha mẹ nào không đau lòng khi mất một đứa con? Cho dù đứa con ấy khiếm khuyết, tàn tật thế nào đi chăng nữa?

Nó lẳng lặng  thu xếp đến chỗ làm. Cô chú nó cũng đang vội. Họ đang vội cho kip chuyến xe tải đang gọi tấp tới bốc xi măng ở đâu đó. Cô nó chỉ kịp dặn: “ Vợ chồng cô chú có khi trưa không ăn cơm nhà..” Rồi tất tưởi đèo nhau trên cái Drem Tàu màu nâu xậm, mất gần hết chắn bùn, phóng vào thành phố.

Vừa chạy xe nó vừa nhớ lại hôm đầu nó mới vào nhận việc.  Một đứa bằng tuổi nó làm Sốp hỏi: “ Chắc chị vào thay chị Mai nghỉ đẻ phải không?” Nó không biết chị Mai là chị nào, nhưng vẫn gật đầu.
Làm được mấy ngày, thấy mấy đứa cùng làm thì thầm. Nó nghe câu được câu chăng mỗi khi vợ chồng lão chủ vắng mặt, hay đi đâu đó. Chuyện rằng chị Mai mà đứa kia nói cũng làm công việc như nó bây giờ. Ông chủ và nhà chị này lằng ngoằng với nhau thế nào đó, bà vợ ghen. Ông ta thèm đứa con trai và cái thai của người làm có thể ông ta là tác giả. Chị ta buộc phải thôi việc là do ý quyết của bà vợ lực lưỡng của ông ta.

Nó chào, hai vợ chồng lão chủ không nói gì. Lão đang chú mục vào cuốn sổ ghi chép, vợ lão tay vẫn cầm sệp tiền nhìn nó như mới gặp lần đầu. Linh tính cho nó biết hai người vừa có cuộc bàn luận gì đó về nó. Cử chỉ và cái nhìn của mụ vợ khiến nó nghĩ như thế.
Tạo hóa thường có sự sắp đặt vô lí về các cặp vợ chồng như thế. Lão chồng dáng nho nhã, để tóc dài cặp như phái nữ phía sau kiểu lập dị của các nghệ sĩ muốn thể hiện khác người. Mụ vợ phốp pháp tướng con nhà võ. Hai bắp tay mụ to chả kém mấy cặp giò đang ở trong cái quần lửng quá đầu gối của chồng. Lão văn hoa bao nhiêu thì mụ vợ thô thiển, cộc cằn bấy nhiêu.
Từ khi làm ở đây nó chưa bao giờ thấy vợ chồng nhà này cười nói vui vẻ với nhau lấy một lần. Có lẽ họ gắn bó với nhau vì đồng tiền kiếm được ở cái tiệm này  hơn là tình nghĩa ái ân. Cũng có thể vì hai đứa con gái. Một đứa ục ịch y hệt mẹ, một đứa lẻo khẻo giống bố. Đó là sự công bằng duy nhất trong sự cộng trừ zen di truyền từ hai người. Mọi khi nó cứ cố hình dung ra khi về đến nhà họ sống với nhau ra sao?  Nên hôm nay thấy họ ngồi gần nhau, có cùng vẻ mặt, nó rất phân vân. Cái gì vừa làm nên sự hài hòa đột xuất này?
Nó không phải chờ đợi lâu khi mụ vợ gọi nó lại bảo:
- Tiền bán hàng hôm qua mày có mang về chỗ mày ở không?
Nó giật mình, sao bà ta lại hỏi mình như vậy?  Rõ ràng khi lão chủ bảo nó về nghỉ chiều hôm trước, có cả mụ đứng đấy, nó đã đưa chùm chìa khóa quầy cùng sổ sách ghi chép rõ ràng, mụ không nói gì cả. Cũng không kiểm tiền, sao bây giờ lại hỏi lại?
- Tiền bán hàng được bao nhiêu cháu đều ghi sổ và để trong hộc tủ, cô đã nhận sao giờ còn hỏi cháu?
- Nhưng mày có bàn giao cho tao cụ thể đâu?
Nó choáng thật sự. Đúng là nó không bàn giao chi tiết  thật. Không hiểu tại sao lúc đó nó lại làm như vậy? Nguyên tắc tối thiểu về tài chính tại sao mình lại lú lẫn như vậy? Nhưng mọi lần nó vẫn giao lại quầy và sổ sách như vậy có lần nào mụ chủ phải hỏi lại đâu?
- Có thiếu nhiều không ạ?
Mụ chủ mặt tỉnh bơ, không nói không rằng bỏ vào gian hàng phía trong.  Không khí nặng nề như sắp có cơn dông bão tràn đến. Nó đứng ngây ra một lúc chưa hiểu ra sao.
Rõ ràng mụ đã không coi có nó còn đứng đấy, cũng không dặn dò nhắc nhở công việc buổi sáng, như mọi khi.
Lão chủ từ nãy đến giờ lặng lẽ theo dõi, không nói câu nào. Bây giờ lão mới lên tiếng:
- Cô kiểm tiền và xem sổ, thiếu mất năm trăm ngàn. Cháu có cầm số tiền này mà không ghi sổ không?
- Dạ không. Cháu không cầm đồng nào. Bán được tiền hàng, thu của khách bao nhiêu cháu đều ghi chép đầy đủ. Cháu cũng không cất riêng. Cửa hàng có gắn camera, cô chú không tin cháu có thể mở xem lại để kiểm tra.
- Chú hỏi để xem mức thành thật của cháu. Ca me ra cháu biết là đã hỏng kiểm tra cũng không tác dụng.
- Nhưng cháu không lấy số tiền đó. Nếu sơ suất bị thiếu, cháu sẽ xin bố mẹ cháu đền cho chú.
- Với chú số tiền đó không lớn, chú không yêu cầu cháu phải hoàn trả. Nhưng chú rất buồn từ khi cháu vào đây làm, tinh thần trách nhiệm của cháu không có. Đây là lần thứ hai cháu làm thất thoát. Cháu mới làm, có thể kinh nghiệm non nớt, sự cẩn thận, chu đáo còn thiếu..Kể cả điều này chú cũng có thể bỏ qua. Nhưng có những cái chú dù muốn cũng không thể bỏ qua được. Cháu có biết đó là gì không?
Nó không biết là có chuyện gì nữa. Nhưng nó đoán lão chủ đang kiếm cớ cho mình thôi việc. Một phần thu nhập gần đây thu không đủ chi các khoản thuế má, tiền thuê nhân công, tiền thuê nhà. Điện, nước thứ gì cũng tăng. Hai là cô bồ cũ của lão đã muốn đi làm trở lại. Bằng cách nào đó lão đã thuyết phục bà vợ la sát, ục ịch củ mình chịu chấp nhận sự có mặt trở lại của chị ta. 
Lão liệt kê những cái lão không thể bỏ qua được: Nào là đám tang bố vợ lão nó không đến viếng. ( Lão quên mất rằng mấy ngày hôm đó lão phân công nó ở lại trông quầy. Giờ có cãi lại cũng vô ích, nó thừa biết như vậy) Rồi cái đêm lão gọi điện bảo nó đến trông nhà cho lão hôm đám tang ấy. Nó đã định đi, nhưng bà cô bảo con gái không đi qua đêm ở nhà người khác. Với lại lão chủ này cũng không phải người khả tín. Nó lưỡng lự rồi không đi..

Lão bảo nó “không biết đường ăn ở”. Lão đang cần người nhưng phải là người chịu khó, ngoan ngoãn chứ không phải đứa chểnh mảng, vô trách nhiệm như nó. 
Giời ạ, với đồng lương chết đói lão trả cho nó mấy tháng nay, làm việc căng thẳng thời gian đến mức ấy lão chưa bằng lòng, nó không biết nói thế nào bây giờ. Nhưng nó biết trong bụng lão đang nghĩ gì.
 Tất cả những việc lão vừa nói xem bề ngoài đều đúng cả. Đúng một cách khốn nạn là đằng khác. Nhưng không phải là lý do chính.
Điều lão ngấm ngầm chưa nói ra, nó linh cảm chắc chắn ngày nào đó nó sẽ xảy ra. Dù lão không đuổi việc, nó cũng sẽ xin thôi làm.
Đây đâu phải là chỗ béo bở, tử tế gì?
Nó từ hôm ra trường đã chịu nhiều điều không như ý, vất vả, gian nan. Có lúc tưởng chừng tuyệt vọng. Giờ có thêm lần thử thách nữa cũng chẳng sao!
Bạn bè nó cử nhân bằng ưu cả đấy, bây giờ cả đống ngồi không ăn bám bố mẹ. Có đứa kiếm được việc thì toàn việc linh tinh. Đứa đi làm bảo vệ, gác cổng cơ quan. Đứa chạy bàn cho hàng ăn, Đứa chạy chợ đêm hôm đầu đường, cuối phố,  lem lem chả việc gì ra việc gì. Tuyệt không có đứa nào nhờ vào được tấm bằng, xin được việc làm đúng với ngành đào tạo mình theo học. Cuộc sống cứ như thể vô tình chối bỏ cả một lớp người trẻ tuổi ham học. Ngày mai còn mờ mịt chưa biết ra sao nơi phía chân trời!

Nó chỉ buồn, không biết chiều nay về nhà nói với bố mẹ thế nào. Con gái lớn tưng đây tuổi rồi vẫn phải để bố mẹ lo lắng, nghĩ ngợi mãi sao?
Chiều hôm ấy nó về. Nó kể lại chuyện, vẻ mặt bố rất buồn. Một lúc bố mới bảo:
- Không làm việc này thì làm việc khác, đừng chán nản. Con người ta khi gặp khó khăn mà buông xuôi là hỏng con ạ. Mà đâu phải mình con gặp chuyện éo le lúc này? Khó khăn chung của cả nước, cùng lứa với mày.. Cánh cửa này đóng, sẽ là lúc mở ra cánh cửa khác!
Nó biết bố nói vậy, nhưng trong bụng ông rất buồn. Chắc bố tự trách mình âm thầm như mọi khi vì sự bất lực của mình không lo được cho con.  Nhưng bố ơi, người như bố lo làm sao được cho con vào lúc này, khi bố không có tiền và chẳng có chút quyền hành nào cả? Bố chỉ là người người ta tỏ ra trân trọng bề ngoài, thực ra trong bụng người ta không thích và có ý đề phòng?
Tối hôm đó ông bạn lớn tuổi hơn bố gọi điện đến. Ông là người giới thiệu nó vào làm chỗ đó và là người tán dương triển vọng về sau này của nghề này.  Ông kể lại tình tiết câu chuyện cho bố nó nghe khác hẳn mhwmngx gì xảy ra và nó tận mắt chứng kiến. Chắc ông đã bị tác động khi nghe qua lão chủ là chỗ quen biết cũ kể lại.

Trong trường hợp này người ta có thể nói được gì? Chẳng lẽ ông ta khen ngợi nó và chê trách lão chủ hay sao? Ông ta biết đâu những điểu lẩn khuất sau những sự việc vừa rồi?
Nghe xong, nét mặt bố rất buồn, nhưng bố vẫn gượng cười:
- Vâng, dù sao em cũng cám ơn bác. Con dại cái mang mà bác. Chỉ tiếc cháu bỏ mất chỗ làm cũ về đây để gần nhà hơn, hóa ra lại thế này..
Đúng là nó dại thật. Nếu không dại, câu chuyện đã không xảy ra như thế. Nhưng nếu bảo tiếc một chỗ làm như thế, tuy bây giờ tâm trạng chới với, chưa biết ngày mai sẽ tìm việc gì, nó vẫn nghĩ rằng không.

Người đời có muôn vạn lí. Nhưng cái lí để tồn tại phải chính đáng, không hổ thẹn với lương tâm, dù có gặp khó khăn, trắc trở như thế nào.
Không lẽ trên đời này không có, không còn cái lí đơn giản như vậy sao?

=== =========



Phần nhận xét hiển thị trên trang

CÁC “TAI NẠN” VĂN CHƯƠNG ĐƯƠNG ĐẠI (1)

Trong lịch sử Việt Nam, không hiếm những “tai nạn văn chương” lớn nhỏ, từ bài thơ “phản nghịch” của con trai cả đại thần Nguyễn Văn Thành thời Gia Long khiến cha con tác giả mất mạng đến vụ mới nhất là “luận văn thạc sĩ Nhã Thuyên” với hậu quả "nhẹ" hơn nhiều (tác giả bị tước bằng, đuổi việc; người hướng dẫn bị cho về hưu). Hồ sơ “Các tai nạn văn chương đương đại” của Văn Việt xin hệ thống lại những vụ tiêu biểu trong khoảng 60 năm lại đây, mở đầu là vụ tiểu thuyết “Nỗi buồn chiến tranh” những năm đầu thập kỷ 1990, rồi đi ngược thời gian đến sau vụ “Nhân văn-Giai phẩm” (hồ sơ vụ án lịch sử này đã được nhiều công trình tổng kết nên xin phép không nhắc lại nữa). Lịch sử không nên và không thể bị quên. Những ai cố tình quên hoặc bất chấp các bài học lịch sử thì không thể làm được việc gì tử tế trong hiện tại, còn những việc không tử tế thì dù mưu gian kế hiểm hay tàn trắng bạo trợn cũng sẽ thất bại, đặc biệt trong lĩnh vực văn chương nghệ thuật, các sản phẩm tinh thần cao cấp của con người.

“NỖI BUỒN CHIẾN TRANH” HAY NỖI BUỒN PHÊ BÌNH VĂN HỌC (1)
BAONINHTiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh của nhà văn Bảo Ninh, công bố năm 1990 dưới nhan đề Thân phận tình yêu (Nxb. Hội Nhà Văn, Hà Nội, 1990), được dư luận trong các giới văn học và phê bình đánh giá cao, được tặng Giải thưởng Văn học năm 1991 của Hội nhà văn VN. Sau khi xuất hiện bản dịch tiếng Anh (The Sorrow of War, translators: Phan Thanh Hảo and Frank Palmos) và được tặng giải thưởng cho tiểu thuyết nước ngoài của báo Anh Independent (1994), thì trên báo chí trong nước xuất hiện một đợt phê phán khá nặng nề đối với tác phẩm này. Hậu quả trực tiếp là suốt một thời gian dài khoảng 10 năm sau đó, tác phẩm này của Bảo Ninh không được cấp giấy phép tái bản trong nước. Chỉ từ 2006, tình trạng kể trên mới chấm dứt.
Dưới đây, chúng tôi giới thiệu lại một phần các bài báo trong đợt phê phán kể trên. Văn bản rút từ tập tài liệu “Đời sống văn nghệ thời đầu đổi mới” do hai nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân và Nguyễn Thị Bình cùng một số sinh viên, nghiên cứu sinh thực hiện cuối năm 2006.
CÁC BÀI:
- Trần Duy Châu: Từ đâu đến nỗi buồn chiến tranh? // Tạp chí Cộng sản, Hanoi, s. số 10 (tháng 10-1994)
- Phạm Chí Dũng: Suy nghĩ về cái tang tóc của “Nỗi buồn chiến tranh” // Công an Tp.HCM. (11/8/1995)
- Nguyễn Quang Sáng: Trả lời phỏng vấn của báo “Công an Tp.HCM.” về quyển “Nỗi buồn chiến tranh” của Bảo Ninh // Công an Tp.HCM. (13/9/1995)
- Nguyễn Khải: Trả lời phỏng vấn của báo “Công an Tp.HCM.” về quyển “Nỗi buồn chiến tranh” của Bảo Ninh // Công an Tp.HCM.(20/9/1995)
- Vũ Tú Nam: Trả lời phỏng vấn của báo “Công an Tp.HCM.” về quyển “Nỗi buồn chiến tranh” của Bảo Ninh // Công an Tp.HCM.(27/9/1995)
- Nguyễn Thị Ngọc Tú, Vũ Quần Phương: Trả lời phỏng vấn của báo “Công an Tp.HCM.” về quyển “Nỗi buồn chiến tranh” của Bảo Ninh // Công an Tp.HCM. (04/10/1995)
- Nguyễn Đình Ước, Huỳnh Khái Vinh: Trả lời phỏng vấn của báo “Công an Tp.HCM.” về quyển “Nỗi buồn chiến tranh” của Bảo Ninh // Công an Tp.HCM.(11/10/1995)
- Vũ Hạnh: Khi các vị giám khảo xét lại lá phiếu của mình // Công an Tp.HCM. (18/10/1995)
- Thanh Lê: Thấm đòn qua “Nỗi buồn chiến tranh”// Công an Tp.HCM. (18/10/1995)
- Linh Hòa: Thảo luận về “Nỗi buồn chiến tranh” // Công an Tp.HCM. (01/11/1995)
- Nguyễn Đình Thi: Tôi mong anh em tỉnh táo hơn, có trách nhiệm hơn về những điều mình viết, mình suy nghĩ…(trả lời phỏng vấn của báo “Công an Tp.HCM.) // Công an Tp.HCM. (29/11/1995)
1. TỪ ĐÂU ĐẾN NỖI BUỒN CHIẾN TRANH?
TRẦN DUY CHÂU
Tiểu thuyết Thân phận tình yêu (Nỗi buồn chiến tranh) của Bảo Ninh được Giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam 1991-1992 đã gây phản ứng khác nhau của bạn đọc và một số nhà phê bình. Tạp chí Cộng sản đã nhận được ý kiến của một số bạn đọc và trên một số bài cũng đã đề cập đến vấn đề này. Gần đây Nỗi buồn chiến tranh được một số tờ báo nước Anh trao giải thưởng trên cơ sở bản dịch tiếng Anh của một dịch giả người Anh, dường như có ý muốn xóa nhòa ranh giới giữa chiến tranh cứu nước và chiến tranh xâm lược. Trong dịp này, chúng tôi lại nhận được ý kiến của bạn đọc phản ứng đối với giải thưởng trên. Dưới đây, chúng tôi trích đăng ý kiến của một bạn đọc.- T.C.C.S.
Không thể nào thực hiện được bằng những tư tưởng, những suy luận sáng sủa rõ ràng, Bảo Ninh phải cầu viện đến sự rối rắm, mơ hồ, hỗn độn của cái gọi là "trực giác" "vô thức" để tạo nên một hình ảnh đảo ngược của hiện thực, chuyển đổi các giá trị, biến trắng thành đen, thay khúc ca khải hoàn của toàn dân tộc thành tiếng hát bi thương của bài ai điếu của những kẻ lạc loài. Người viết (cũng như nhân vật) phải biến mình thành một kẻ mộng du lang thang chập chờn với cái tâm trí huyền thuật (mentalité magique) của người mơ mộng, đúng hơn là của kẻ mắc bệnh tâm thần, nghĩa là những người được "miễn truy cứu trách nhiệm" trước tòa án lương tâm thời đại, được miễn trừ sự phán xét của lý trí lành mạnh, tỉnh táo của bạn đọc xa gần. Vì vậy, theo tôi, cái siêu nhiên, cái hoang đường trong Nỗi buồn chiến tranh chỉ là thuần túy kỹ thuật - một sự khéo tay nếu có - nó không hề mang lại một ý nghĩa nào có giá trị trên bình diện triết học, cũng như trên bình diện thẩm mỹ.
Tác giả cuốn hút người đọc vào không khí hư hư thật thật bằng những lối biểu hiện quanh co, lối diễn đạt nghịch lý (nếu đúng chỗ cũng tạo nên sự thú vị nhất thời cho người đọc) nhưng rõ ràng Bảo Ninh đã không thành công trong việc quấn chặt lấy người đọc (Đây không chỉ là cảm tưởng của người viết bài này; những người quan tâm đến vấn đề thử làm một cuộc điều tra xã hội học xem sao!). Mỗi lần muốn cùng đi với tác giả, hòa nhập vào nhân vật để tìm thử cái lý của nó, tôi - người đọc - lại cứ thoát ra, như một phản xạ tự nhiên, khỏi sự huyễn hoặc, để ngắm, để nhìn, như nhìn vào một cỗ máy được dàn dựng - có lẽ cũng khéo tay, nhưng thiếu hẳn một cái gì đó. Cái thiếu hẫng ấy gọi là "linh hồn của văn học" theo nghĩa người đọc không tìm thấy trong tác phẩm nghệ thuật những điều giúp con người giữ được hình ảnh lý tưởng mà nó có về con người, được thừa kế từ nền văn hóa của dân tộc và của cả nhân loại.
Tác phẩm Nỗi buồn chiến tranh còn được mang một tên khác khi mới ra đời: Thân phận của tình yêu. Cả hai tên sách đều đúng, và nếu đặt bên nhau, người đọc sẽ nắm được ngay ý đồ của tác giả hình thành từ lúc tác phẩm còn trong thời kỳ thai nghén. Bảo Ninh đã trừu xuất tất cả ra khỏi hoàn cảnh lịch sử cụ thể để trình diễn cuộc "xung đột vĩnh hằng" giữa con người (tình yêu) và cái con người đã tạo ra (chiến tranh), tức là phản ánh tình trạng con người đánh rơi mất bản thân mình, nói theo ngôn ngữ triết học. Thêm nữa, trong Nỗi buồn chiến tranh, dụng ý trực tiếp của tác giả còn là muốn vẽ nên huyền thoại về tình yêu để đối lập với một sức mạnh xã hội mù quáng làm cho con người mất hết "nhân hình và nhân dạng". Tình yêu ở đây - trong quan hệ của Kiên và Phương, một thiếu nữ có "một dạng thánh nhân và tiên nữ", có một "vẻ đẹp lạc thời và lạc loài" - là sự gần gũi tuyệt đối của "hai chữ tự do". Họ là những con người không tin vào bất cứ giá trị nào ngoài tình yêu của họ, họ luôn cảm thấy ngột ngạt khi đặt mình vào một tổ chức hay một quan hệ xã hội nào. Họ là "những kẻ xa lạ" trên mảnh đất đã sinh ra và nuôi dưỡng họ. Do đó học không tìm thấy chỗ đứng trong cuộc sống chung của dân tộc. Tình yêu trở thành nơi ẩn náu duy nhất của họ để phản ứng lại cái mà họ xem là phàm tục... Kết cục tình yêu ấy đã bị chiến tranh vùi dập.
Đúng là trong đấu tranh chống lại cái gọi là số phận, tình yêu thường chiếm một vị trí quan trọng, thể hiện những khát vọng của con người, để làm cho "con người trở thành người hơn trong thế giới con người".
Vậy thì, thử hỏi chiến đấu vì phẩm giá con người gắn liền với phẩm giá dân tộc có làm cho con người trở nên người hơn không?! Với Nỗi buồn chiến tranh, Bảo Ninh muốn gây sự phẫn nộ, muốn gieo sự khiếp đảm cho người đọc. Nhưng tác giả cũng nhận thức được là mình sẽ gặp không nhiều may mắn. Từ trong bề dày lịch sử, người Việt Nam rất nhạy cảm trước những lợi ích sống còn của dân tộc, luôn đủ thông minh và tỉnh táo để phân biệt đâu là "đại nghĩa", đâu là "hung tàn", đâu là "chí nhân" và đâu là "cường bạo". Do đó ở đây một mặt cần phải "viết sao cho xao xuyến nỗi lòng, nỗi dạ, xúc động nổi trái tim con người như thể viết về tình yêu..." (tr.59), mặt khác cần phải có "ảo thuật" trong viết và lách bằng cách luôn luôn công khai phơi bày sự tự mâu thuẫn; không phải là thứ "mâu thuẫn thống nhất" nằm trong sự vật, cũng chẳng phải là những phản đề va chạm nhau trong tư duy biện chứng để tìm ra chân lý, mà là sự mâu thuẫn của những luồng suy nghĩ không những khác nhau mà còn đối địch nhau nhằm đặt lại vấn đề cơ bản trong tinh thần hoài nghi hàm chứa sự phủ định đối với những giá trị đã được xác lập, đối với cả con đường đi lên của đất nước hiện nay và mai sau.
Trong Nỗi buồn chiến tranh, không phải là "cái thật" được chiếc đũa thần của nghệ thuật "làm cho thật hơn", mà ngược lại "ảo thuật và kỹ thuật" đã làm nó biến dạng, biến chất "như thể ấy là một cuộc chiến tranh chưa từng được biết tới" (tr.53). Chỉ có một cái thật - thật một cách trần trụi và không che giấu: "sự vỡ mộng đau đớn với đời", đưa đến sự hằn học và cái "cao ngạo" của người viết. Chính những xung lực này đã tạo nên Nỗi buồn chiến tranh và dệt nên bắc tranh phản hiện thực. Cứ nhìn vào hình ảnh của "cuộc chống Mỹ cứu nước" được vẽ nên trong tác phẩm: "Chân trời chết chóc mở ra mênh mang, vô tận những nấm mồ bộ đội mọc lên nhấp nhô tựa sóng cồn, "bên bếp lửa" đàn ghi ta bập bùng, quân lính thời 74 hát, lời ca khốc liệt làm ớn lạnh những đêm trường, "ôi chiến trận: không bến không bờ - ngày mai hay hôm nay, hôm nay hay ngày mai, nói đi số mệnh ơi, bao giờ tôi sẽ..." (tr.17). Hoặc "Hết trận thắng này đến trận thắng khác, nhưng dường như chiến tranh vẫn hun hút, mịt mù, tuyệt vọng vô phương" (tr.16). Và đây, những nét khắc họa về hình ảnh người lính mang "tính chất nghĩa quân nông dân", "thích hợp tuyệt đối với cảnh địa ngục chiến hào". Nào là "đồng đội của anh(Kiên) mỗi người một kiểu say sưa mơ màng trong khói hồng ma"; nào là "cùng với thời kỳ bài bạc và hút xách ấy là thời kỳ mà khắp trung đoàn đầy rẫy những lời đồn đại, những sấm truyền và những điều tiên tri"; nào là "nạn đào ngũ lan rộng khắp trung đoàn, chẳng khác gì những cơn ói mửa làm ruỗng nhiều trung đội, không thể chắn giữ ngăn bắt nổi" (tr.24).
Những người lính "mang tính chất nghĩa quân nông dân" ấy chỉ bị nhồi nhét một thứ: "liên miên chính trị, chính trị sáng, chính trị tối, tối lại cũng chính trị. Ta thắng địch thua, miền Bắc được mùa, thế giới chia làm ba phe rõ rệt" (tr.10), để biến họ thành những máy giết người và bị người giết!
Cái chết bao trùm, cái chết khắp nơi, nó biến cuộc đời thành số phận. Khi luôn luôn phải đối diện với cái chết như cuộc đời những người lính trận; mà không thấy rõ cái lý của sự hy sinh chắp cánh cho họ, thì con người chỉ là trò chơi trong bàn tay số mệnh nghiệt ngã, ý thức hiện hữu trước hết gắn liền với ý thức về hư vô, và cuộc đời trở thành vô nghĩa và phi lý! Nhưng những người lính chống Mỹ hay đúng hơn là tuyệt đại bộ phận trong họ lại không phải thế! Cả nhân loại tiến bộ qua hình ảnh của chính họ đã nhìn thấy "cái giới hạn của sức mạnh kỹ thuật khi đương đầu với Con Người" (La-cu-tua, dẫn lại Trần Văn Giàu trong Vĩ đại một con người - Văn nghệ, số 37).
Nhân đây, xin bày tỏ một suy nghĩ của người viết: Bằng sự bôi nhọ sự nghiệp chống Mỹ của nhân dân ta, Bảo Ninh không chỉ xúc phạm đến những người đang sống, đang tiếp tục đi theo con đường lớn mà cuộc chiến tranh cách mạng đã tạo nên một "đột phá khẩu", "một cái đã sống" để đi lên và đi xa. Tác giả Nỗi buồn chiến tranh còn muốn giết chết hẳn những người đã vĩnh viễn nằm xuống để cho "dân tộc quyết sinh". Lần thứ nhất, những cái chết của họ là sự hy sinh cao cả - những người có lương tri cần phải biết ơn, không chỉ bằng tượng đồng bia đá, mà cả suy nghĩ, hành động, xử thế hàng ngày. Còn lần sau? Đó là sự khai tử của một ngòi bút quá nhẫn tâm đã coi họ là vật hy sinh mù quáng cho những cuồng vọng của con người. Và hãy nhìn vào những gia đình liệt sĩ, những thương binh, bệnh binh... họ sẽ như thế nào khi mất đi những giá trị làm vật chống đỡ cho cuộc đời bất hạnh của họ? Chẳng lẽ đó không phải là chủ nghĩa nhân đạo, là vấn đề của con người?
Cũng xin nói thêm "Khi đề cập đến con người phải nghĩ rằng con người không chỉ là tổng số những cái nó tự tạo cho nó, mà còn là cái nó đang suy nghĩ, đang hy vọng, còn là cái đang biến đổi nó, tách nó ra khỏi hoàn cảnh và quá trình phát triển của nó. Không như thế thì không bao giờ hiểu đúng con người và nói đúng những vấn đề của con người...
w Nguồn: Tạp chí Cộng sản, Hà Nội, số 10 (tháng 10-1994)
2. SUY NGHĨ VỀ CÁI TANG TÓC
CỦA NỖI BUỒN CHIẾN TRANH
PHẠM CHÍ DŨNG
Đúng ra, một cuốn sách văn học phải là một tác phẩm nghệ thuật, một cái gì đó mang tính chân lý, lạc quan trong cuộc sống. Tuy nhiên, Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh lại dường như đi ngược lại chân lý trên.
Thấm thoắt đã 20 năm trôi qua kể từ ngày miền Nam được giải phóng, đất nước thống nhất trọn vẹn. Và chúng ta vừa kỷ niệm hai thập kỷ của một niềm vui khôn xiết nhưng phải trả bằng vô vàn máu xương của những người đã vĩnh viễn nằm lại nơi chiến trường, trong cuộc chiến đấu hào hùng của dân tộc ta chống đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai của chúng. Đúng, hẳn chưa một ai, nếu còn lý trí, lại có thể quên đi điều đó.
Nhưng ngay từ những trang đầu của Nỗi buồn chiến tranh, lý trí đã có thể bắt đầu bị tha hóa. Đi suốt chiều dài cuốn tiểu thuyết là chiều dài không gian và thời gian của cuộc chiến tranh diễn ra vào năm 1969, 1972, 1974, thời hòa bình vào năm 1976, rồi lại dội về ký ức của những năm máu lửa. Hơn bất kỳ cuốn tiểu thuyết nào trước đây, cái năm tang tóc và mùi tang tóc ngùn ngụt bốc ra từ Nỗi buồn chiến tranh. Cái tang tóc đó không phải nằm trong những xác người thối rữa, mà kinh khủng hơn lại chính từ những người sống, những người "thoát khỏi cuộc chiến tranh". Sự dằn vặt, tranh chấp triền miên giữa cái sống và cái chết, giữa cái nhân tính và phi nhân tính trong nhân vật chính - một người có rất nhiều mâu thuẫn. Tại sao lại có nhiều mâu thuẫn như vậy? Tại sao tác giả lại khẳng định rằng sở dĩ con người thoát khỏi cuộc chiến tranh, bởi họ biết buồn về chiến tranh? Như vậy Kiên - một chiến sĩ giải phóng quân, chiến đấu cho cái gì, hay chỉ cho một thứ chủ nghĩa anh hùng cá nhân và suy tôn cá nhân? Chính sự mâu thuẫn về mặt triết học giữa cái chung và cái riêng của nhân vật đó đã dẫn anh ta đến việc nhìn nhận xã hội như một cái ổ của sự u ám, bế tắc, nơi diễn ra cảnh hỗn loạn tinh thần, đầy rẫy những kẻ điên khùng, gái điếm, ăn mày, vô số những con người hung dữ, sẵn sàng xé xác nhau vì một câu chửi thề. Và sau hết, nhân vật chính cho rằng đó là kết quả tất yếu của chiến tranh, một cuộc chiến tranh vô nghĩa. Và nếu như tác giả căm giận cái "cuộc chiến tranh vô nghĩa" đó bao nhiêu, thì tôi lại thất vọng bấy nhiêu vì bi kịch giả tạo của tác giả khi phản ánh cuộc chiến tranh ấy, thông qua nhân vật Kiên.
Anh ta, một người đã chứng kiến "tất cả những đau thương đổ vỡ" của cuộc chiến tranh, đã hành động như thế nào? Dưới làn mưa đạn khi đối mặt với kẻ thù, anh ta cứ lừng lững tiến lên. Khi anh ta giết chết kẻ thù một cách tàn nhẫn, thì đồng đội anh ta cũng giết không thương tiếc một kẻ đào ngũ. Ở đây, những cái chết đều như nhau, và tác giả đã đồng hóa thẳng thừng những chiến sĩ cộng sản và bọn thám báo ngụy, không một sự phân biệt về nhân cách, để tất cả đều dẫn đến cái chung nhất là sự chết chóc. Chỉ có duy nhất, tác giả đã "thành công" khi mô tả Kiên như một kẻ đào ngũ về mặt tinh thần, như một người hùng giữa hằng hà sa số thứ nhơ nhớp bẩn thỉu. Cuối cùng, người hùng ấy cũng không tìm thấy lối ra trong cuộc sống. Trở về nhà sau chiến tranh, anh ta lại tiếp tục rơi vào trạng thái bình thản đến điên loạn, với những bực bội trong người không thể viết ra được, những mảnh tình chớp nhoáng với một cô gái ăn sương, một người tình cũ có mệnh danh là "đĩ thập thành", một người đàn bà câm... Tôi bật cười, té ra cái "hùng" của con người ấy lại được kết thúc bằng những hành vi theo kiểu "bản năng gốc" như vậy. Có đáng học hỏi chăng? Có và không, thực chất là một bài học khốn khổ cho những kẻ lạc lối trong cuộc đời, những kẻ "nô lệ của tình dục", biết "núm vú đàn bà còn hơn cả một chú bé con" mà chúng ta vẫn đôi khi gặp phải.
Với cái logic như thế, tác giả đã dùng nhân vật chính để phản chiếu cái thế giới "Các chiến sĩ giải phóng quân ăn nhậu ngay bên cạnh xác đàn bà lõa lồ vào ngày 30-4-1975 ở sân bay Tân Sơn Nhất". Trong số các trung đoàn đã đánh chiếm sân bay, ai sẽ là người đứng ra làm chứng cho Bảo Ninh về những hành động đó? Nếu không có bằng chứng gì, chẳng lẽ tác giả có cái quyền "hư cấu" đến mức như vậy sao? Cũng với cái logic như thế, tác giả đã nói với kẻ ăn mày: "Ăn mày mà lập trường gang thép gớm chưa! Mẹ kiếp, cái dân An Nam nhà mình chỉ giỏi chống ngoại xâm chứ đến ăn xin cũng chả biết đường. Ê, hạ lập trường xuống, thì cho". Đến đây, tôi giật mình tự hỏi: mỗi dân tộc đều có phẩm giá, mỗi con người đều có lòng tự trọng tối thiểu, vậy có còn đạo lý hay không khi tác giả cố ý dẫm nát phẩm giá và lòng tự trọng đó xuống bùn đen? Đâu là cái nhân tâm của người cầm bút?
Thêm vào đó, trong cái thế giới nội tâm của nhân vật chính, rừng rú luôn tồn tại ma quái, xã hội luôn đầy rẫy những hình ảnh siêu linh. Thật khó hiểu là với cái mớ bòng bong vàng thau lẫn lộn như thế, anh ta có thể sống sót được đến hết cuộc chiến tranh và thậm chí một phần thời hòa bình, và cũng thật dễ hiểu, vì trong xã hội đã và đang có những kẻ như vậy, cam chịu làm kiếp "con sâu cái kiến" để bào mòn cuộc đời trong ký ức cặn bã của mình.
Cuối cùng, tác giả kết luận "Nghĩa vụ của một con người trước trời đất là sống chứ không phải là hy sinh nó, là nếm trải sự đời một cách đủ ngành ngọn chứ không phải là chối bỏ... Không phải ta khuyên con trọng mạng sống hơn cả, nhưng mong con hãy cảnh giác với tất cả những sự thúc giục con người lấy cái chết để chứng tỏ một cái gì đấy" (tr.61) và "Chao ôi! Chiến tranh là một cõi không nhà, không cửa, lang thang khốn khổ và phiêu bạt vĩ đại, là cõi không đàn ông, đàn bà, là thế giới thảm sầu vô cảm và tuyệt tự khủng khiếp nhất của dòng giống con người" (tr.32).
Tôi hiểu, điều tác giả muốn thể hiện ở đây là một quân đội cộng sản lộn xộn, vô kỷ luật, nằm trong một xã hội đầy bất công và nhung nhúc những kẻ tha phương khốn nạn theo kiểu Chí Phèo, một bản năng tình dục theo thuyết hiện sinh vương vấn chút mùi vị vô luân, một cái chết từ từ không tưởng của tất cả những kẻ nào sống bế tắc. Thật tồi bại, đó là một cái nhìn hoàn toàn sai lệch về cuộc chiến tranh của tác giả! Đối với những chiến sĩ cộng sản đã kinh qua cuộc chiến tranh, đó là cách nhìn bệnh hoạn của những kẻ bệnh hoạn.
Tôi đã đi theo tác giả từ trang đầu đến trang cuối của cuốn sách, nặng nề, bi đát, chán ngán, đủ cả. Nhưng sau tất cả, tôi phải quay về với hiện thực mà nói với tác giả bằng bài thơ tôi đã được đọc ở đâu đó:
Cuộc chiến tranh thần thánh
Đồng đội tôi nằm đâu
Trái đắng các anh nhận
Trái ngọt dành đời sau
Cuộc chiến tranh thần thánh
Trái ngọt hẳn ngọt môi
Ai nhận phần trái ngọt
Có nhớ đồng đội tôi?
Tất cả là như vậy, cuộc chiến tranh của dân tộc Việt Nam chống đế quốc Mỹ và những tàn dư của chúng, là chân lý! Chân lý đó, không ai có quyền phủ nhận, trước biết bao xương máu của hàng triệu con người đã phải nằm xuống để chúng ta có cái nhìn cuộc đời như ngày hôm nay. Chính nghĩa của cuộc chiến tranh đó, như tôi đã nói, chỉ có những kẻ mất trí mới không thấy được, chỉ có những kẻ hèn nhát mới trốn chui trốn nhủi trước số phận.
Được biết Nỗi buồn chiến tranh đã nhận giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam, tôi vô cùng kinh ngạc. Chẳng lẽ người ta đang quên đi cái gốc gác của mình sao? Chỉ có điều cần nhắc lại, nguyên nhân chính của sự tan vỡ Liên Xô là sự xét lại, và ngay lúc này đây sự xét lại đó vẫn luôn ngấm ngầm ẩn trong cái "diễn biến hòa bình" của người phương Tây.
w Nguồn: Công an thành phố Hồ Chí Minh, Tp. HCM (11-8-1995)
3. PHỎNG VẤN NHÀ BÁO NGUYỄN QUANG SÁNG VỀ QUYỂN NỖI BUỒN CHIẾN TRANH CỦA BẢO NINH
NGUYỄN QUANG SÁNG
Cuốn tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh sau khi được giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam đã gây ra nhiều cuộc tranh cãi trong giới văn học. Nhiều bài viết phê phán tác phẩm này đã in trên các báo và dư âm của nó vẫn còn trong dư luận không chỉ riêng với văn học mà đã trở thành nỗi quan tâm trong dư luận quần chúng.
Tại sao tác phẩm bị nhiều tai tiếng ấy lại được Hội Nhà văn Việt Nam trao giải, bối cảnh "lịch sử" lúc ấy như thế nào và suy nghĩ của các thành viên Ban Giám khảo ra sao? Bức xúc trước vấn đề của bạn đọc quan tâm, vừa qua báo Công an thành phố đã có cuộc trao đổi với nhà văn Nguyễn Quang Sáng, Tổng thư ký Hội Nhà văn thành phố Hồ Chí Minh và là một thành viên của cuộc bỏ phiếu trao giải cho tác phẩm nói trên.
Sau đây là bài trả lời của nhà văn Nguyễn Quang Sáng, với tựa nhỏ là "Lời báo trước của một bạn đọc".
Lời báo trước của một bạn đọc
Nhắc đến tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh của anh Bảo Ninh, tôi xin trích một đoạn trong Dự thảo báo cáo của Ban Chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam trong Đại hội Nhà văn lần thứ V trong vấn đề này, như sau:
"... Hội đã thực hiện đều đặn việc trao giải thưởng hàng năm. Nhìn chung, các tác phẩm được giải đều lành mạnh, được bạn đọc quan tâm. Tuy nhiên, thời gian đã và đang sàng lọc có giá trị. Một vài cuốn sách đã gây nên những ý kiến khen chê rất trái ngược nhau. Đáng chú ý nhất là tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh. Khi thảo luận để xét trao giải, Ban chung khảo và Ban Chấp hành Hội đều có một số ý kiến thấy cuốn sách có những mặt mạnh cần biểu dương, khuyến khích; nhưng ngược lại, có những nhược điểm quan trọng.
Trong phiếu giám định cuốn sách của Bảo Ninh, có hai ủy viên Ban chung khảo thiên về khen ngợi.
Một số ủy viên chung khảo khác chấp nhận những mặt được, nhưng có sự đánh giá khác không giống hai ý kiến trên:
"... Chủ đề có chiều sâu. Nhưng cái nhìn hiện thực có nét chủ quan, không đúng hẳn với hiện thực lịch sử. Tác giả muốn đứng cao hơn cả hai phe trong cuộc chiến đó. Nhưng tác giả chưa đủ điều kiện để giữ được thăng bằng".
"... Cách nhìn nhận lại quá khứ chiến tranh và cả cách nhìn hiện tại có những biểu hiện chủ quan thiên lệch đến nặng nề tối tăm mà độc giả thông thường kể cả những người đã trải qua cuộc chiến đấu khốc liệt như trong truyện khó có thể chấp nhận và coi đó là chân lý lịch sử".
"... Có những điều khiến người đọc phân vân: Địch và ta vào cuộc chiến phải có cái khác nhau cơ bản chứ. Toàn truyện thiên về các mặt tiêu cực bi kịch. Có cái gì đó hơi quá khích, quá liều lượng. Có thể là do tâm trạng nặng nề ảnh hưởng vào cách nhìn".
"... Nhưng không ai nghi ngờ tác giả muốn tạc tượng đài cả thế hệ bạn bè mình đã hy sinh, nhưng chỉ quá một tý nữa thì tác giả sẽ phản lại đồng đội mình, tả họ như là hy sinh vô ích".
"Sau đó Ban Chấp hành có trao đổi bàn bạc, giao cho báo Văn nghệ tổ chức lấy ý kiến về cuốn sách. Đến nay, đa số trong Ban Chấp hành thấy việc tổ chức thảo luận khi ấy chưa thật kỹ, chưa qua thử thách của dư luận, việc trao giải cho Thân phận của tình yêu (Nỗi buồn chiến tranh) năm 1991 là thiếu chín chắn, nặng về khuyến khích một cây bút trẻ đã trải qua chiến đấu, mà coi nhẹ tính định hướng của giải thưởng.
Sự mơ hồ và u ám trong cách nhìn của Bảo Ninh khi miêu tả cuộc kháng chiến chống Mỹ đã bị một số người thiếu thiện ý ở nước ngoài lợi dụng, nhằm xóa ranh giới giữa chiến tranh chính nghĩa và phi nghĩa; thêm nữa, chính tác giả cuốn sách khi trả lời nước ngoài phỏng vấn cũng bộc lộ những quan điểm sai trái. Bạn đọc trong nước phê phán cuốn sách này càng ngày càng nhiều. Đó là sự nhắc nhở chính đáng của dư luận, là bài học kinh nghiệm của chúng ta...".
Thái độ của Ban Chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam khóa IV đối với quyển sách Nỗi buồn chiến tranh của anh Bảo Ninh là nghiêm túc và khá đầy đủ.
Nếu hỏi trách nhiệm của riêng tôi và suy nghĩ của cá nhân tôi đối với quyển sách Nỗi buồn chiến tranh, thì tôi là người chịu trách nhiệm chung với Ban Chấp hành.
Giải thưởng Văn học của Hội Nhà văn Việt Nam 1991, tôi không có chân trong Ban Giám khảo, nhưng với tư cách là thành viên của Ban Chấp hành, tôi có quyền bỏ một lá phiếu chấp nhận hoặc phủ nhận giải thưởng.
Tôi nhận ra mặt mạnh cũng như mặt yếu của tác phẩm, và bỏ phiếu thuận với ý nghĩ đây là một cây bút trẻ xuất thân từ một người lính cầm súng, học viên Trường viết văn Nguyễn Du, với tác phẩm đầu tay đã viết với tâm huyết của mình. Lá phiếu của tôi là phiếu khuyến khích một cây bút trẻ trong bối cảnh xã hội lúc bấy giờ. Tôi nghĩ rằng, đối với người hiểu biết văn học không ai có thể coi đây là một tác phẩm tiêu biểu của nền văn học Việt Nam, lại càng không thể coi đây là một tác phẩm tiêu biểu về cuộc chiến tranh đánh Mỹ của nhân dân ta.
Nhưng cái điều không ngờ nó lại đến. Không ngờ những người trong nước cũng như nước ngoài thiếu thiện chí đã khoét sâu cái mặt nhược của tác phẩm để thực hiện ý đồ chính trị của mình.
Tôi có một người bạn lớn hơn tôi vài tuổi, vừa sành ăn, vừa sành đọc. Lần nào đọc của tôi, anh cũng có lời khen và lời chê. Bao nhiêu năm qua tôi thấy anh chưa chê sai lần nào. Nhân đọc Nỗi buồn chiến tranh, anh bảo tôi:
" ...Đọc vô đầu, tôi thấy đây là kiểu mở đề theo kiểu Số phận một con người của "Solokhov", vừa đọc tôi vừa nhớ "Romac" và nhớ quyểnTấc đất của một nhà văn Nga viết về chiến tranh. Nhưng đọc được, có đoạn cảm động, nhưng buồn quá. Ngay cái tên sách cũng đã nói rõ cái ý của người viết. Chiến tranh, dứt khoát không thể là niềm vui, nhưng không chỉ có nỗi buồn. Cuộc chiến tranh của một dân tộc chống xâm lăng là "khúc ca bi hùng". Ở đây chỉ có bi mà không có hùng, chỉ có phân nửa sự thật thôi. Phân nửa sự thật thì không phải là sự thật, dễ bị xuyên tạc. Các ông trao giải cho tác phẩm này, trước sau gì các ông cũng bị "ăn đòn".
Qua lời kiểm điểm của Ban Chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam về giải thưởng Nỗi buồn chiến tranh trong báo cáo đọc trước Đại hội, tôi thấy lời báo trước của anh là đúng, tôi là một trong những người bị "ăn đòn" của nhân dân.
w Nguồn: Công an thành phố Hồ Chí Minh, Tp.HCM (13-9-1995)

4. TRẢ LỜI PHỎNG VẤN VỀ CUỐN
NỖI BUỒN CHIẾN TRANH CỦA BẢO NINH
NGUYỄN KHẢI
Nhà văn Nguyễn Khải là một cây bút rất cẩn trọng, ông có nhiều tác phẩm gây được tiếng vang và để lại ấn tượng trong lòng người đọc. Trong "bối cảnh lịch sử" của giai đoạn tặng giải thưởng cho cuốn Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh, nhà văn Nguyễn Khải cũng là một thành viên trong Ban Giám khảo. Vừa qua, báo Công an thành phố đã phỏng vấn ông về vấn đề này, và sau đây là nội dung cuộc phỏng vấn...
P.V. - Thưa anh, là một thành viên trong Ban Giám khảo, anh có suy nghĩ như thế nào khi bỏ phiếu trao giải cho cuốn Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh. Sau khi có dư luận phản ứng, anh nhìn vấn đề này như thế nào?
NGUYỄN KHẢI - Tôi là người đã bỏ phiếu ủng hộ ba cuốn tiểu thuyết: Nỗi buồn chiến tranh, Mảnh đất lắm người nhiều ma  Bến không chồng vào giải thưởng hàng năm của Hội Nhà văn. Lần đầu được đọc ba cuốn sách đó, tôi rất mừng vì những mảng hiện thực khá gai góc đã được miêu tả kỹ lưỡng và tài hoa, và cả những tìm tòi rất đáng ghi nhận trong nghệ thuật viết tiểu thuyết. Chúng tôi cũng có bàn nhiều tới mặt yếu kém của từng tác phẩm, nhất là cuốn Nỗi buồn chiến tranh vì cách nhìn chiến tranh của tác giả còn phiến diện và cái không khí ngột ngạt, u ám bàng bạc trong nhiều chương sách. Riêng tôi thì nghĩ đây là tác phẩm đầu tay của một tác giả còn trẻ. Nếu được khuyến khích thì anh ta sẽ nhanh chóng khắc phục được cách nhìn chủ quan, hạn hẹn của tác phẩm đầu. Tôi nói thế nhưng có mấy anh trong Ban chung khảo vẫn rất phân vân. Khi bỏ phiếu, riêng cuốn tiểu thuyết của Bảo Ninh không được toàn thể số phiếu. Sau khi giải thưởng được công bố, sự phản ứng của dư luận bạn đọc là tức thì, vượt khỏi cách nghĩ ban đầu của tôi. Nhiều bạn bè trong quân đội đã gặp tôi để bày tỏ sự phản đối việc trao giải của Hội Nhà văn cho Nỗi buồn chiến tranh. Các anh ấy nói với Bảo Ninh thì chẳng có gì để nói nhiều. Sự từng trải của anh ta ở chiến trường là thế, tâm sự của anh ta là thế thì cũng chỉ viết được đến thế, không thể đòi hỏi hơn. Nhưng Hội Nhà văn lại tuyên dương một cuốn sách viết về chiến tranh với một tâm trạng và cách nhìn của một người bi quan thì thật hết sức lạ lùng. Các anh ấy có quyền hỏi chúng tôi: Vậy chúng tôi là những người như thế nào? Chúng tôi muốn gì? Nghe xong mà tôi ớn lạnh cả người. Tôi chỉ còn biết tự rút ra một kết luận: phàm đã đọc và đánh giá một tác phẩm văn học không nên chỉ căn cứ vào những cảm hứng ban đầu thuần túy văn chương của mình, mà còn phải biết nghĩ đến tác động của nó về mặt xã hội và chính trị tới đông đảo bạn đọc không chỉ ở trong nước mà còn cả ở ngoài nước. Không phải mình muốn bày vẽ ra thế, mà sự đời nó buộc mình không thể không nghĩ rộng ra như thế.
P.V. - Vừa qua đã có những cuộc tranh luận trên lãnh vực văn học mà một số tác phẩm đã tạo sự tranh cãi giữa các nhà phê bình văn học với nhau hoặc với chính tác giả của tác phẩm bị phê phán. Qua đó anh nghĩ gì về tình hình văn học hiện nay?
NGUYỄN KHẢI: Theo tôi, tình hình sáng tác văn học hiện nay là rất đáng lạc quan. Các thể loại văn học: tiểu thuyết, truyện ngắn, bút ký, phóng sự và phê bình văn học đều có sức sống mới với nhiều cách viết khác nhau. Tác phẩm thật hay thì còn hiếm, nhưng đọc được, đọc thích thì nhiều. Ngay những bài báo của hôm nay đọc cũng rất thích. Dân trí phát triển thì những cây bút chuyên nghiệp và bán chuyên nghiệp cũng phải tự nâng mình lên. Tất nhiên cũng như các mặt hoạt động khác của một xã hội đang phát triển, có nhiều cái hay xuất hiện thì cũng không thiếu cái dở xen lẫn vào. Cuộc đấu tranh giữa cái tốt và cái xấu, cái đúng và cái sai, cái hay và cái dở là mãi mãi. Nó chính là sự sống của một nền văn học. Nó có ý nghĩa rất tích cực nếu các cuộc tranh luận ấy đều nhắm tới mục tiêu là đoàn kết đội ngũ, mong muốn giúp nhau gạt bỏ mọi trở ngại để cùng tiến lên cho kịp với bước đi của xã hội, của bạn đọc.
Trong số bạn bè quen biết nhau đã lâu năm, có nhiều anh rất mẫn cảm về cái đẹp, cái mới trong nghệ thuật, lại có những anh đặc biệt sắc bén về chính trị, thường có những nhận định chính xác trước mọi diễn biến phức tạp của thời cuộc. Nếu họ biết cách nói với nhau và chịu khó nghe nhau thì mọi sự sẽ tốt đẹp biết mấy. Tôi vốn là người không được chín chắn về chính trị nên rất thích kết bạn với những anh từng trải hơn để mở rộng sự hiểu biết của mình. Chả có gì phải ngượng ngùng, phải tự ái cái chuyện đó cả. Có mấy ai được hoàn toàn đâu. Mình biết nghe và chịu nghe, dẫu những lời được nghe không phải bao giờ cũng dễ chịu, thì dễ vứt bỏ được những hành lý thừa. Đời nhiều việc, việc nào cũng khó, buộc chặt những thứ không cần thiết vào người làm sao mà đi nhanh, đi xa được. Huống chi tuổi cũng đã lớn rồi.
Tôi thiển nghĩ, người có lẽ phải từ xưa tới nay luôn luôn là người có tấm lòng khoan dung, nhân hậu. Vì bản thân lẽ phải không cần tranh thua hơn với ai, cũng không cần căm ghét hoặc loại bỏ ai, tự nó đã có đủ sức mạnh để thuyết phục, đoàn kết mọi người cùng làm việc trong niềm vui, trong niềm tin cho sự nghiệp đổi mới trong văn học.
P.V. - Thưa anh, với một dư luận chung rất quan tâm đến vấn đề văn học như hiện nay, cũng có nghĩa là dự báo cho tương lai. Vậy theo anh, có thể hy vọng một sự phục hưng về văn hóa dân tộc trong tương lai không?
NGUYỄN KHẢI: Thời này đối với chúng ta là thời phục hưng dân tộc. Quang cảnh đất nước bừng sáng ở mọi nơi, tất nhiên có nơi sáng nhiều, có nơi còn sáng ít nhưng tất cả đã đổi thay, nhanh chóng đến kinh ngạc. Không phải mọi việc đều đã tốt nhưng mọi sự tốt đẹp đều đã bắt đầu. Trong tình hình đó nếu ta hy vọng một sự phục hưng về văn hóa dân tộc cũng không có gì là quá đáng. Nên tôi rất tin vào sự phát triển mới của văn học Việt Nam vừa rất dân tộc vừa rất hiện đại, vừa là chính mình, vừa là một phần của nhân loại. Nếu không là chính mình thì cũng mong ai trọng mình. Mà mình đâu có tầm thường. Dân tộc Việt Nam, tính cách Việt Nam, tâm hồn Việt Nam đã là một đề tài được bàn luận, được nghiên cứu, được viết trong nhiều cuốn sách của bạn bè khắp năm châu. Còn chúng ta, là người Việt Nam, người trong cuộc lại chưa đóng góp được bao nhiêu trong sự giải đáp nhiều câu hỏi của bạn bè. Tôi đã hỏi chuyện nhiều anh hùng trong chiến tranh và trong lao động. Việc làm của họ gần như một kỳ tích, một huyền thoại nhưng họ lại bảo là chả có gì và chỉ kể lại một cách bình thường về những sự "chả có gì" của họ. Khi tôi viết xong đưa các anh ấy đọc, họ có vẻ ngạc nhiên và khen: "Nhà văn viết có khác". Suốt một đời sống với cái hàng ngày, lo lắng buồn vui với bao nhiêu chuyện vặt vãnh hàng ngày nên đã quên mất tầm nhìn bao quát của con đại bàng bay lượn trên tầng cao. Phải sống với cái hàng ngày, đó là điều tất nhiên, không thế thì sống làm sao? Nhưng cũng lại phải biết tự tách mình ra để ngẫm nghĩ, để nhìn lại chính mình và đồng loại, nghĩ về hôm nay và cội nguồn sâu xa của nó thì rồi sẽ có lúc nhận được cái ánh sáng kỳ diệu của sự kết tinh, là phần hồn của những hình tượng nghệ thuật độc đáo có sức quyến rũ lâu dài.
P.V. - Xin cám ơn nhà văn Nguyễn Khải.
P.V. thực hiện
w Nguồn: Công an thành phố Hồ Chí Minh, Tp.HCM (20-9-1995)
5. TRẢ LỜI PHỎNG VẤN CỦA BÁO CÔNG AN THÀNH PHỐVỀ CUỐN NỖI BUỒN CHIẾN TRANH CỦA BẢO NINH
VŨ TÚ NAM
Nhà văn Vũ Tú Nam, nguyên Tổng thư ký Hội Nhà văn Việt Nam khóa IV, là thành viên của Ban chung khảo trao giải thưởng cho cuốn Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh. Vừa qua, báo Công an thành phố đã phỏng vấn ông về bối cảnh lịch sử để đi đến quyết định trao giải thưởng này và phần trách nhiệm của riêng ông khi bỏ lá phiếu "thuận" cho một cuốn sách đã gây nhiều cuộc tranh cãi và nhận nhiều điều phê phán của dư luận trong thời gian qua.
Bằng cái nhìn thẳng thắn vào sự kiện, với cái tâm của một ngòi bút và trách nhiệm của một thành viên trong Ban chung khảo, nhà văn Vũ Tú Nam đã trả lời nghiêm túc qua cuộc trao đổi với báo Công an thành phố như sau:
P.V. - Thưa anh, là Tổng thư ký Hội Nhà văn Việt Nam khóa IV, anh đã suy nghĩ như thế nào khi bỏ phiếu trao giải cho cuốn Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh? Sau khi có dư luận phản ứng, anh nhìn vấn đề này như thế nào?
VŨ TÚ NAM - Tôi hoàn toàn nhất trí với sự đánh giá về cuốn Nỗi buồn chiến tranh và việc tự phê bình của tập thể Ban Chấp hành Hội Nhà văn khóa IV trong Báo cáo trước Đại hội lần thứ V mà anh Nguyễn Quang Sáng đã nêu lên trên quý Báo, số 478, ra ngày 13-9-1995. Tôi xin phép không nhắc lại ở đây.
Về phần cá nhân, khi bỏ phiếu trong Ban chung khảo, tôi đã thiên về khuyến khích một cây bút trẻ có năng khiếu văn học, đã trải qua chiến đấu thực sự. Tôi cũng đã rất phân vân về những mặt yếu kém của cuốn sách, như: Sự mơ hồ của tác giả giữa chiến tranh chính nghĩa và phi nghĩa, cái nhìn u ám nặng nề, chỉ thấy sự mất mát riêng tư mà không thấy chiến thắng lớn lao do đóng góp của toàn dân. Tôi không cho rằng khi viết, tác giả có ý đồ xấu về chính trị, nhưng sự mơ hồ và cái nhìn u ám của anh đã khiến cuốn sách phản ánh méo mó cuộc chiến đấu thiêng liêng của dân tộc.
Trong cuộc họp Ban Chấp hành để xét giải thưởng, vì còn rất phân vân trước những đánh giá khác nhau, tôi đã nêu lên ý kiến Ban Chấp hành có nên bác bỏ quyết định của Ban chung khảo về cuốn Nỗi buồn chiến tranh không. Nhưng rồi giải thưởng vẫn được thông qua, và tôi cũng vẫn bỏ phiếu thuận. Trách nhiệm thuộc về toàn thể Ban Chấp hành, nhưng tôi là người chịu trách nhiệm trước nhất. Sự phê phán của công luận sau đó là chính đáng. Tuy nhiên, tôi phải nói rằng các đồng chí trong Ban chung khảo và Ban Chấp hành - tuy sự đánh giá của mỗi người về cuốn sách của Bảo Ninh có khác nhau - nhưng các đồng chí đều là những người có thiện chí, muốn đóng góp cho văn học phát triển.
Việc một số người nước ngoài thiếu thiện ý, cố tình xuyên tạc khi dịch và bình luận về cuốn Nỗi buồn chiến tranh rất cần được phê phán để phân rõ trắng đen.
Sau khi cuốn Nỗi buồn chiến tranh ra đời, anh Bảo Ninh viết tiếp những gì, trả lời phỏng vấn báo nước ngoài, hay dở, đúng sai ra sao, cá nhân anh ấy chịu trách nhiệm. Con đường thử thách trước cây bút ấy còn dài lắm.
P.V. - Vừa qua đã có những cuộc tranh luận trên lĩnh vực văn học, xin anh cho biết ý kiến của mình. Anh nghĩ gì về tình hình văn học nước ta hiện nay?
V.T.N. - Các cuộc tranh luận đều có những điều bổ ích, nhưng nên trung thực, nhằm mục đích đoàn kết đội ngũ, tạo môi trường lành mạnh cho văn học phát triển. Chủ nghĩa cơ hội dưới mọi màu sắc, ở lĩnh vực nào cũng gây ra những hậu quả tai hại.
Tôi lạc quan về tình hình văn học nước ta, nhiều nhà văn đang lặng lẽ viết và viết, không ồn ào, không phô trương, cố gắng nói những điều tâm huyết. Các anh các chị đã đóng góp nhiều trong những năm đổi mới, và sẽ tiếp tục có những tác phẩm có chất lượng trong những năm cuối thế kỷ này.
P.V. - Xin cám ơn nhà văn Vũ Tú Nam.
P.V. thực hiện
Nguồn: Công an thành phố Hồ Chí Minh, Tp.HCM, (27-9-1995)

Phần nhận xét hiển thị trên trang

VIỆT NAM THÀNH TÂM ĐIỂM CUỘC CHIẾN VIỆN TRỢ TRUNG-NHẬT

VE – Hai cường quốc châu Á đang ganh đua nâng tầm ảnh hưởng kinh tế trong khu vực, thông qua chính sách viện trợ và đầu tư.

Tờ Wall Street Journal cho rằng cả Bắc Kinh và Tokyo đều đang dồn đầu tư và viện trợ vào Việt Nam, với mục tiêu gây dựng cơ sở sản xuất giá rẻ tại đây. Vị trí chiến lược của quốc gia Đông Nam Á trên tuyến đường vận chuyển dầu mỏ quốc tế là một trong những nguyên nhân dẫn đến cuộc đua này.
jp-fin-1-5780-1427705183.jpg
Ảnh hưởng kinh tế của Trung Quốc tại Việt Nam rõ ràng đang gặp thách thức, do căng thẳng chính trị gia tăng từ năm ngoái. Từ đó, nước này đã tìm nhiều cách lấy lại ảnh hưởng này bằng các cam kết về vốn phát triển và thỏa thuận gia nhập ngân hàng đầu tư mới (AIIB) do họ sáng lập.
Trong khi đó, những năm gần đây, Tokyo cũng đang tăng cường viện trợ cho Việt Nam hơn bất kỳ quốc gia nào khác trên thế giới. Năm 2014, họ rót vào đây 1,8 tỷ USD xây đường cao tốc và nhà ga mới tại Sân bay Nội Bài.
Trung Quốc cũng đang tăng cường sự hiện diện tại Việt Nam khi xây dựng hàng loạt nhà máy điện, vốn do Ngân hàng Xuất Nhập khẩu Trung Quốc cung cấp. Tuy nhiên, giới chức và doanh nghiệp Việt phàn nàn những nhà máy này thường xuyên hỏng hóc và công ty Trung Quốc cũng thích mang nhân công từ nước mình sang hơn là tuyển dụng lao động địa phương.
Căng thẳng chính trị leo thang cũng khiến Việt Nam ngày càng chịu sức ép phải thoát dựa dẫm vào đầu tư và viện trợ từ Trung Quốc. “Những vấn đề chính trị trong quan hệ với Trung Quốc đã khiến chúng tôi phải đa dạng hóa”, ông Đỗ Thắng Hải – Thứ trưởng Bộ Công Thương gần đây cho biết.
Việt Nam không phải quốc gia duy nhất lưỡng lự trước dòng tiền từ Trung Quốc. Chính phủ mới của Sri Lanka tháng này cũng đã yêu cầu ngừng một dự án tại thủ đô Colombo, do cho rằng dự án chưa được cấp phép bởi chính quyền cũ.
Indonesia cũng phàn nàn về chất lượng các nhà máy điện do Trung Quốc xây. Còn Myanmar mở cửa cho đầu tư phương Tây một phần cũng vì muốn giảm phụ thuộc kinh tế vào láng giềng này. Năm 2011, Myanmar đình chỉ một dự án xây đập 3,6 tỷ USD của Trung Quốc. Năm ngoái, họ lại hoãn một kế hoạch xây đường sắt cao tốc nối hai quốc gia.
Đáp lại, Nhật Bản đã tích cực bơm tiền vào Myamar, xóa nợ hàng tỷ USD và liên tục thực hiện các chương trình viện trợ cho nước này.
Hiện tại, nỗ lực xây dựng ngân hàng mới của Bắc Kinh đang là thách thức với Nhật Bản – quốc gia kiểm soát Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) từ thập niên 60. Nhật Bản và Mỹ đều lo ngại về cam kết môi trường và quản trị của nhà băng này.
Dù vậy, tín hiệu tích cực từ Trung Quốc, trong đó có đề xuất bỏ quyền phủ quyết dù nước này đóng góp tới 50 tỷ USD vốn ban đầu, đã phần nào xoa dịu các nghi ngờ và lôi kéo nhiều quốc gia vào đây. Trong đơn đăng ký gia nhập, Anh còn cho biết họ muốn tạo cơ hội cho các công ty nước mình tại châu Á, đồng nghĩa với công nhận sức ảnh hưởng đang lên từ Trung Quốc.
Năm 2013, Trung Quốc đã viện trợ tổng cộng 7,1 tỷ USD ra nước ngoài. Đây là con số lớn thứ 6 thế giới, sau Anh, Mỹ, Đức, Pháp và Nhật Bản, theo một nghiên cứu năm ngoái của Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JICA). Một báo cáo gần đây của Chính phủ Trung Quốc cũng cho thấy họ đã cung cấp 14,4 tỷ USD viện trợ quốc tế giai đoạn 2010-2012.
Quy mô viện trợ hiện tại của Trung Quốc đã tương đương Nhật Bản, khiến họ trở thành nước cấp viện trợ lớn tại châu Á – nơi các chương trình của Mỹ đang ngày càng bị lấn át khi Washington chuyển hướng sang Afghanistan và Pakistan.
Cho đến cuối những năm 2000, các công ty Nhật Bản, châu Âu và Mỹ vẫn đóng vai trò lớn trong xây dựng các nhà máy điện ở Việt Nam. Sau đó, các công ty quốc doanh Trung Quốc xuất hiện, được hỗ trợ bởi nguồn vốn giá rẻ từ Chính phủ. Nhật Bản cho biết việc này đã giúp Trung Quốc xây dựng các nhà máy với giá chỉ bằng một phần ba.
Các công ty Trung Quốc đã đóng góp khoảng hai phần ba trong số 19.000 megawatt Việt Nam đưa vào lưới điện từ năm 2007, Kazuyoshi Kume – lãnh đạo cấp cao tại mảng nhà máy điện thuộc Mitsubishi Việt Nam cho biết.
Rất nhiều nhà máy Trung Quốc gặp phải vấn đề về chất lượng, trong đó có hoạt động dưới công suất, ông Nguyễn Quốc Trường – chuyên gia nghiên cứu tại Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho biết. “Các nhà cung cấp Trung Quốc không đáp ứng được tiêu chuẩn của chúng tôi”, ông nói.
Hiện tại, Nhật Bản đang xem sự thận trọng của Việt Nam với Trung Quốc là một cơ hội. Năm ngoái, các công ty Nhật Bản từng cho rằng Trung Quốc sẽ giành được hợp đồng xây nhà máy nhiệt điện Duyên Hải 3 công suất 688 megawatt. Nhưng cuối cùng, Việt Nam lại trao hợp đồng cho Sumitomo.
“Áp lực độc lập so với Trung Quốc đang ngày càng lớn”, Hiroshi Fukuda – đại sứ Nhật Bản tại Việt Nam nhận xét. Ông cho biết Tokyo đang nỗ lực thắt chặt quan hệ ngoại giao với Hà Nội.
Trước đây, Việt Nam nhập khẩu phần lớn phân bón từ Trung Quốc. Nhưng năm ngoái, con số này giảm tới 20% so với 2013. Thay vào đó, nhập khẩu từ Nga và Đài Loan (Trung Quốc) lại tăng đáng kể.
Hồi tháng 1, Itochu cho biết sẽ mua cổ phần hãng dệt may quốc doanh lớn nhất Việt Nam – Vinatex. Một trong các mục tiêu là phát triển ngành công nghiệp vốn đang dựa vào 3 tỷ USD nguyên liệu nhập khẩu hàng năm từ Trung Quốc.
Dù vậy, Trung Quốc vẫn được kỳ vọng sẽ đóng vai trò lớn trong sự phát triển của Việt Nam. Ít nhất là vì họ có ngân sách lớn và có thể xây dựng với giá rẻ, quan chức Nhật Bản cho biết.
Trong vài tuần tới, Trung Quốc và Việt Nam sẽ lên kế hoạch kết nối đường cao tốc giữa Hà Nội và Côn Minh để thúc đẩy thương mại. Ông Kenichi Yamamoto – Phó trưởng đại diện JICA Hà Nội nhận xét: “Chính phủ biết rằng họ cần phải có mối quan hệ gần gũi”.
Hà Thu (theo Wall Street Journal)

Phần nhận xét hiển thị trên trang