Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Chủ Nhật, 30 tháng 6, 2013

Bài này láo, nhưng đọc biết chơi:

TƯỚNG NHÀ THƠ MỞ RỘNG RA NỀN THƠ

 Nguyễn Hoàng Đức
 .
Trong bài “Tướng mạo nhà văn” của tôi đăng trên blog Nguyễn Tường Thụy có một lời bình: “Tui thấy đầu Trần Đăng Khoa cũng tròn và mặt thi hào nhập thần HQT cũng mày tằm mắt phượng chứ bộ”.
Đây chắc hẳn là một cách nói nửa đùa nửa thật, có nghĩa nó vừa khen lại vừa chê. Vậy tôi xin qua đây bàn sâu hơn. Cách tôi bàn xin xác định không phải xem tướng mạo thuần thúy mà là “xem mặt đặt tên”, “trông giỏ bỏ thóc”, và nhìn người đoán việc, dựa trên những gì của con người đã để lại dấu vết của sự trưởng thành. Có nghĩa nó không thuần túy là tướng mạo mà còn là khoa học.
Nhà thơ Trần Đăng Khoa, hiển nhiên có một cái đầu tròn khá lớn. Một khuôn mặt cũng tròn khá phúc hậu. Nhưng khuôn mặt đó giống một cánh đồng hơn là một cao nguyên.
Và nhà thơ T Đ Khoa cũng là một nhà thơ rất thành công trên phương diện cánh đồng như những bài “Hạt gạo làng ta” hay “Cua ngoi lên bờ, mẹ em xuống cấy”, rồi “lá rơi rất mỏng như là rơi nghiêng”… anh là nhà thầnđồng đệ nhất trong lịch sử Việt Nam, cũng như hàng đầu trên thế giới. Về đường quan chức anh cũng thành công bậc nhất, là nhà thơ nhưng anh còn giữ chức vụ giám đốc đài phát thanh có hình của Đài tiếng nói Việt Nam. Danh tiếng của anh thì khỏi phải bàn, anh là chứng minh thư nhà văn cho toàn thể các nhà văn quân đội. Dù đoàn nhà văn quân đội đi ít hay đông bao nhiêu, khi được giới thiệu “đoàn nhà văn quân đội”, dân Việt đâu có yêu gì sách vở và văn học, họ lơ đãng như không. Nhưng khi nghe nói “Kia kìa, Trần Đăng Khoa kìa”. “Đâu đâu?” họ hỏi nhau và chỉ tay nháo nhác, và lập tức họ tin cái đoàn đông đông này là đoàn nhà văn quân đội vì có chú thần đồng làm thơ từ bé.
Nhưng tướng mạo Trần Đăng Khoa hãm chỗ nào? Trong tướng mạo người ta nói “Nhất thanh, nhì sắc, tam hình”, tức là: thứ nhất âm thanh, thứ nhì đến sắc diện, thứ ba mới đến hình thù”. Tướng âm thanh rất quan trọng, thậm chí người ta chỉ cần nghe qua bức tường, không cần thấy cũng đoán ra người sang kẻ hèn. Giọng nói của TĐK dù rất có duyên, rí rủm, tình củm, nhưng hơi bèn bẹt, toèn toẹt, giống như người nhà quê hay đập chiếu xuống mặt ao… Tóm lại đó là giọng lúa nước khá ẻo lả, với giọng đó người ta chỉ có thể làm thơ. Đó cũng là giọng đặc trưng của khá nhiều người Việt, đặc biệt các nhà thơ. Nếu để ý kỹ các nhà thơ Việt Nam ít khi nói được mệnh đề dài, mà cứ hay ngắt dòng xuống câu như đang đọc một bài thơ vậy. Nghe ít thì êm tai, nghe nhiều như nước đường, pha nhạt lờ lợ, gây buồn ngủ và yếu đuối.
Từ Bắc vào Nam càng đi càng thấy đặc điểm ngôn ngữ của người Việt. Từ Huế trở vào chẳng hạn, nước sông nhiễm mặn, vì đất thấp, mặt sông thấp hơn mặt biển, nên bị nước biển chảy ngược vào, nước ngọt thành nước lợ, nên giọng nói của người ta cũng bị lợ, tính cách cũng “lợ” luôn. Người ta nói như hát và rất thích làm thơ. Vào miền Nam, đất càng thấp, quanh Sài Gòn chẳng hạn, lau lách đìu hiu, nước và bờ nhòe nhoẹt không phân biệt, người ta nói giọng rất võng như “ở trển” (ở trên), “ở trỏng” (ở trong), “cổ ấy” (cô ấy)… Những đoàn ca nhạc hải ngoại, dù nhạc tây rất mạnh mẽ nhưng khi cất tiếng hát thì toàn hát giọng thấp “xuống tông” nghe như hát giả vờ.
Nói chung cái giọng của người Việt rất ẻo lả yếu ớt, nó thể hiện là giọng lúa nước ở vùng trũng, không bao la quảng đại mã hiệp như giọng bình nguyên. Đó cũng là giọng thiếu lý trí và khoa học. giọng như thế chỉ có thể làm thơ với điệu ngâm nga của cảm xúc nhũn nhẽo.
Thêm một điều khác trong thực tế, tuy TĐK là một thần đồng, nhưng anh vẫn không vượt qua được thói quen “học nhi ưu tắc sĩ” của người Việt và người Trung Quốc, là thần đồng nghĩa là người ta có sở trường cao nhất, vậy mà anh lại không dùng sở trường quí nhất của mình. Người Trung Quốc và người Việt nói chung đều từ mọi ngả đổ về “ăn cơn chúa múa tối ngày”. Học để làm quan, buôn cũng để làm quan “mua quan bán tước”, đá cầu như Cao Cầu cũng để làm quan, làm thơ như Lý Bạch cũng lọ mọ về kiếm tí quan trong triều… vì thế mà không có nhà thơ chuyên nghiệp. Thêm nữa vì thể tạng người Việt yếu nên không có ý chí để thành chuyên nghiệp trong bất kể việc gì, may ra có 1/1000 người có chuyên môn vững vàng theo đuổi chuyên nghiệp từ đầu đến cuối.
Một con người vĩ đại là gì? Theo triết gia Hegel, đó chắc hẳn phải là người dùng ý chí để trở thành con người mình hướng tới. Đấy là con người biến khả năng của mình thành hiện thực giống như hạt giống thiên bẩm phải lớn lên nở hoa kết trái. Vậy người ta đâu có thấy ý chí của Trần Đăng Khoa khi từ hạt giống vươn lên. Ta được trời sinh ra làm cục sắt nhưng không mài làm sao thành kim?
Giờ đến tướng mạo của HQT. Hiển nhiên anh ta có khuôn mặt phương phi trên một cái đầu khá lớn. Nhưng mắc hãm tướng về “sắc diện”. Mặt anh ta đỏ ửng, và có tướng “mặt trơ trán bóng”, hay như nhân gian nói “thua thì mặt đỏ như vang, được thì mặt vàng như nghệ”. Trong lịch sử Tầu, Kinh Kha kia có vẻ quân tử lắm, nhưng khi nhìn thấy tần Thủy Hoàng sắc diện liền đó ửng, thế là bị chém đầu, thật tiếc lắm thay! Có người còn phát hiện anh ta có tướng “diện bất sầu tâm bất quảng”, nghĩa là mặt không buồn thì tâm không thể lớn. Vì mặt trơ nên anh ta mới đi chép cả trăm bài thơ làm của mình. Giá anh ta chép bài biết sào sáo, như trộn các bài với nhau thành một bài dài, thì cái ban giám khảo đọc sách không gáy của hội không cách nào nhận ra ( kỳ thực ngay cả khi anh ta chép nguyên si, ban giám khảo có nhận ra đâu, lại còn đưa anh ta đi đề cử giải Nobel ).
Nhân bàn về “diện mạo” của HQT, thấy rằng người Việt mắc bệnh mặt tiền trầm trọng, như “nhà mặt phố, bố làm to”. Một ngôi nhà cao quí thì kín cổng cao tường, từ đường vào đến cổng có khoảng cách, từ cổng qua vườn, qua sân mới đến nhà, nhưng người Việt ở dạng buôn bán vặt nên rất thích nhà trương ra mặt phố, vì người ta cần buôn bán chứ đâu cần ưu tư. Các nhà thơ thì đổ lên mặt báo, lên mặt đài, lên mặt vô tuyến để kiếm tí danh tức thời hơn là cái danh ở chiều sâu. Ở đời có nhiều đẳng cấp danh. Mặt tiền ra sân khấu là diễn viên. Phía sau là đạo diễn. Phía sau nữa là tác giả kịch bản. Nhưng các nhà thơ lèo tèo dăm câu ba chữ tiểu nông Việt chỉ thíc ăn xổi ở thì ăn ngay tiến lên mặt báo, cũng là cơ quan quyền lực thứ tư để kiếm chút danh tức khắc. Cho nên mới là nhà thơ không thể vượt qua được vai nhà báo.
 Tại sao các nhà thơ Việt không mấy ai dám sống trọn vẹn thuần khiết với văn chương? Trong dàn nhạc không phải nhạc cụ nào cũng có thể chơi một mình. Trống chẳng hạn, nó không thể đọc tấu hay võ vẽ lâu nếu chỉ chơi một mình, cây kèn và sáo hay violoncelle cũng vậy, chỉ có cây piano  có thể độc tấu một mình bởi lẽ nó có cả giai điệu và hòa thanh. Nó tự làm no đủ và đầy ắp chính mình. Các nhà thơ Việt có giống không, khi người ta với chính mấy vần thơ lẻ đã không thể tự tồn một cách độc lập phong phú mà cứ phải đứng vào dàn nhạc tập thể? Câu trả lời là rất rõ.
HQT không chỉ mắc tướng sắc diện, mà anh bị phá cách giữa hình thức và tâm hồn, mặt mũi thì to lớn phương phi, trong khi lại ẻo lả mấy vần thơ vụn, không khác gì một công-ten-nơ lớn lại đựng có một trăm viên sỏi – là những câu tứ tuyệt. Có những  nhà thơ đã đem thơ của mình ra sân khấu biểu diễn. Một anh bạn trẻ đi tham dự về có nói: thơ ngắn quá không thể leo lên cao trào được.
Đúng vậy, một mét không thể là con đường lên dốc. Người ta phải đi độ dài đủ nhiều để lên dốc. Đèo Pha Đin chẳng hạn, nó dài 36 km, đèo Hải Vân cũng dài hơn vài chục cây số… nếu không lên đèo đổ dốc người ta sẽ không hiểu thế nào là độ cao. Thơ Việt cũng vậy, nó quá ngắn để người ta được dâng lên dốc. Trong tình ái, nếu không có độ căng thẳng của khao khát nằm trong tâm trí người ta sẽ không thể đạt tới độ căng khoái lạc. Dây đàn phải đủ căng mới ra tiếng nhạc, còn nếu trùng nó chỉ là tiếng dây thép. Khi hát, phải đạt đến độ cao nhất định, thanh quản mới rung lên, khi đó mới tạo ra cảm xúc lớn. Thơ Việt hầu hết chỉ là những đoản ca nghiệp dư, chưa có độ rung của thanh quản, chưa có độ căng của cao trào xung đột mỹ học, làm sao đạt tới khoái cảm sung mãn?
Thơ nói chung chỉ dành cho những người ít học hay vô học vì mục đích đầu tiên của nó là để truyền khẩu cho người mù chữ. Ở Hy lạp hàng vạn nhà thơ hát rong chỉ để đọc văn vần dễ nhớ thay thế những tấm da thú viết chữ đắt tiền mà các bình dân không thể mua. Và Homer xuất hiện đã xóa đi tên gọi của cả vạn nhà thơ đoản ca. Ở Trung Quốc hàng vạn nhà thơ Đường kia không tụ hợp nổi một trăm câu hay, và không thể đổi lấy một cái tên Ngô Thừa Ân viết Tây Du Ký. Trời ơi cả vạn người không bằng một góc của người ta, tự hào kiêu hãnh làm gì cho nhọc lòng ra!
Trong  giá trị phổ quát nhà thơ có một tầm vóc bé nhất. Có một phương ngôn, tầm vóc của ngôn ngữ qui định tầm vóc của mỗi con người. Nhà vật lý  có ngôn ngữ của nhà vật lý. Nhà hóa học có ngôn ngữ của nhà hóa học. Nhà nông có ngôn ngữ đơn giản và nghèo nàn của nhà nông, và những nhà nông Việt chiếm 90% dân số. Nhà thơ đa phần cũng từ 90% đó mà ra, nên ngôn ngữ cũng loanh quanh đồng ruộng cá tôm như một nhà thơ có nhiều giải thú nhận: chúng ta chỉ là tép riu.
Cuộc đời không bao giờ chỉ là nông nghiệp mà nó là ý chí toàn thể của triết học, thần học, khoa học, kiến trúc, âm nhạc, hội họa, kỹ nghệ, thông tin…và những điều khác nữa. Không ai bắt thơ chỉ giới hạn trong nông nghiệp, mà nhà thơ phải leo dần lên tất cả những lãnh vực cao siêu của cuộc sống. Chỉ có thế thơ mới trở nên tầm vóc và giá trị. Hàng trăm mẩu thơ viên sỏi cũng như những đoản ca không cách gì đạt tới cao trào.
Thơ Việt làm sao lớn với các nhà thơ từ chối cả thiên bẩm quí báu của mình đi săn tìm ghế và giải của cơ chế quyền lực xin chơ? Những chiếc đàn không thể độc tấu một mình luôn hòa trộn vào tập thể để tìm sự ưu tiên của quyền lực thì làm sao nó cất được lên lời ca mỹ học? Người phương Tây có câu, “mọi con dường đều đổ về La Mã”, trong khi đó dường như các nhà thơ Việt sống theo phương châm: mọi con đường đều đổ về dạ dầy. Ghế cao, giải cao mà không có tiêu chí mỹ học chỉ là cách nối dài của dạ dầy mà thôi. Rút cục nhà nông lo trồng lúa trên cánh đồng, rồi nhà thơ vẫn là nhà nông muốn gặt lúa danh lợi trên cánh đồng giấy trắng. Nếu tâm hồn không nâng cấp, thì thơ cũng chỉ là cách gieo trồng lúa mà thôi. Liệu chúng ta có cách trả lời nào khác hơn?
.
NHĐ    25/06/2013

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Không có nhận xét nào: